Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Trần Thoại Nguyên. Show all posts
Showing posts with label Trần Thoại Nguyên. Show all posts

Sunday, April 9, 2023

TRĂNG TRONG THƠ HÀN MẠC TỬ - Trần Thoại Nguyên



Ngắm vầng trăng huyền mộng chợt nhớ hồn thơ Hàn Mặc Tử. Xin chia sẻ bài viết của tôi 25 năm trước (1998) vẫn còn nguyên giá trị, đọc lại vẫn thấy hay, sâu sắc!
 
TRĂNG TRONG THƠ HÀN MẠC TỬ
 
Qua 2 câu thơ 

"Thuyền ai đậu bến sông trăng đó 
Có chở trăng về kịp tối nay".
 
HÀN MẠC TỬ (1912-1940) bậc tài hoa yểu mệnh, thiên tài kiệt xuất của thơ ca hiện đại Việt Nam với một hồn thơ trăng láng lai bất tuyệt rất đặc biệt, hết sức độc đáo, tôi đoan chắc rằng thơ ca nhân loại chúng sinh xưa nay không có một nhà thơ, thi nhân, thi sĩ nào có thể gùn ghè cập kè so sánh!
 
READ MORE - TRĂNG TRONG THƠ HÀN MẠC TỬ - Trần Thoại Nguyên

Saturday, March 25, 2023

GẶP NHAU GIỮA MÙA ĐẦU TIÊN – Thơ Trần Thoại Nguyên


 


GẶP NHAU GIỮA MÙA ĐẦU TIÊN
(Tặng anh Đỗ Tư Nhơn, anh trai của Bạn Vàng Đỗ Tư Nghĩa.)
 
Nửa thế kỷ đã già nua
Còn duyên nhau, gặp giữa mùa đầu tiên!
Hẹn nhau từ bữa sinh tiền
Đỗ Tư Nghĩa đã về miền Bồng Lai!
 
Bây giờ mới gặp nhau đây!
Đỗ Tư Nhơn hỡi! Sáng nay Hoa Vàng
Phạm Thiên Thư ngó nhìn sang
Cùng vui cười nói rộn ràng quán không!
 
Bây giờ tóc trắng như bông
Đỗ Tư Nghĩa! Nhắc Bạn! Lòng nhớ thương!
Trần gian ngọn gió vô thường
Bạn đi trước! Hẹn quán đường thiên thu!
 
Ở đây sương khói bụi mù
Vui từng khoảnh khắc theo phù hoa bay!
Chén tình rót uống hồn say
Cõi nhân gian mộng cỏ cây xanh bờ!
 
Gặp anh đây, tặng vần thơ
Chút tình lưu niệm giấc mơ cuộc đời!
Mai sau nhật nguyệt mù khơi
Còn xanh rêu đá mây trời nghìn thu.
 
Quán Hoa Vàng, sáng 27/9/2022.

BỤI ĐỜI THI SĨ Trần Thoại Nguyên

READ MORE - GẶP NHAU GIỮA MÙA ĐẦU TIÊN – Thơ Trần Thoại Nguyên

Friday, March 17, 2023

XIN TRẢ NỢ EM – Thơ Trần Thoại Nguyên, nhạc Quang Đẩu


 

Nhân đọc BÀI THƠ GỬI CAO NHẬT THANH của Nhà thơ Châu Thạch Trương Văn Trạn tôi dựa vào tâm tình của anh và comment bài thơ nầy XIN TRẢ NỢ EM Nhat Thanh Cao. Như đã hứa với em lâu lắm rồi, Bụi Đời Thi sĩ TTN sẽ làm tặng em một bài thơ!
  
    

 
XIN TRẢ NỢ EM
(Tặng Cao Nhật Thanh)

Tiếng ai hát vang lừng trong gió
Mái trường xưa Quảng Trị - Nguyễn Hoàng!
Người yêu hỡi! Sân trường nỗi nhớ!
Thuở học trò guốc mộc xa khơi...
 
Ngày mới lớn tóc huyền mắt biếc
Em hồn nhiên hoa cỏ vườn xanh
Trang lưu bút ghi "Mùa thu chết" (*)
Đã trở thành định mệnh chờ anh...!
 
Sầu giã biệt quê, hè đỏ lửa
Hạ tang thương! Đại lộ kinh hoàng!
Đời má phấn thanh xuân lần lữa
Dạt xứ người, bến nước tình tang...!
 
Năm tháng vèo bay nửa thế kỷ
Tiếng ca buồn nức nở dung nhan!
Chiều thu trở lại khung trời cũ
Kỷ niệm lời yêu cũng võ vàng...
 
Em trở về Quảng Trị trường xưa
Thương nhớ người ơi! Biết mấy vừa!
Trăng của nhà ai lưu lạc xứ
Cổ thành cánh mộng đã về chưa?!
 
Xin trả nợ em, bài thơ đã hứa
Chút tình duyên lỡ dở mây bay!
Giọng ca vàng ngọt tình chan chứa
Xao xuyến lòng ai còn đắm say!
 
Bụi Đời Thi sĩ Trần Thoại Nguyên
 
............... 
 
(*) Ca khúc MÙA THU CHẾT của NS Phạm Duy.
Nguyên tác ban đầu của “Mùa Thu chết” là một bài thơ tuyệt tác của nhà thơ Pháp Guillaume Apollinaire (1880 - 1918) có nhan đề L’Adieu với 5 câu thơ:
 
“J’ai cueilli ce brin de bruyère
L’automne est morte souviens-t’en
Nous ne nous verrons plus sur terre
Odeur du temps brin de bruyère
Et souviens-toi que je t’attends”.
 
Thi sĩ Bùi Giáng đã đồng cảm tài tình với tứ thơ và chuyển ngữ qua tiếng Việt thành bài thơ “Lời vĩnh biệt” đầy tính cách thơ tình Việt Nam duyên dáng:
 
“Ta ngắt đi một cành hoa thạch thảo
Em nhớ cho Mùa Thu đã chết rồi
Chúng ta sẽ chẳng tương phùng được nữa
Mộng trùng lai không có ở trên đời
Hương thời gian, mùi thạch thảo bốc hơi
Và nhớ nhé, ta vẫn chờ em đó…”
 
Bùi Giáng đã chuyển dịch tài hoa qua vần thơ tám chữ Việt Nam hết sức kiêu sa và lãng mạn, đã khơi mở tâm hồn của Phạm Duy để người Nhạc sĩ lãng mạn và đa tình này ngân rung lên giai điệu tuyệt vời da diết, khắc khoải của “Mùa Thu chết"!
 
Ca từ kết thúc bài hát lặp đi lặp lại làm xao xuyến lòng ai!

"Anh nhớ cho rằng em vẫn chờ anh!
Vẫn chờ anh vẫn chờ anh vẫn chờ anh!
Vẫn chờ... vẫn chờ...
Đợi anh!"
 

     
                                 Nhà thơ Trần Thoại Nguyên


       
Thơ: Trần Thoại Nguyên
Phổ nhạc và trình bày: Quang Đẩu
 
READ MORE - XIN TRẢ NỢ EM – Thơ Trần Thoại Nguyên, nhạc Quang Đẩu

Thursday, February 9, 2023

ĐẦU NĂM ĐỌC “MỞ CỬA TRÁI TIM” THƠ TRẦN THOẠI NGUYÊN – Châu Thạch


           
                      Châu Thạch và Trần Thoại Nguyên    

Suốt những ngày tết Quý Mão trời mưa lạnh, tôi nằm đọc thơ. Có lẽ một phần bị ảnh hưởng thời tiết làm tâm trí không phấn khởi, một phần không tìm thấy bài thơ nào gây cảm xúc bắt buộc tôi ngồi dậy để viết, nên tôi để cho lảng phí thời gian. 

Sáng nay, 12 tháng 1 Quý Mão, nhà thơ Trần Thoại Nguyên gắn thẻ vào trang facebook của tôi bài thơ “Mở Cửa Trái Tim” có mãnh lực làm cho tôi cảm tác đươc một bài thơ sáng tác nhanh để comment dưới bài thơ của ông và buộc tôi phải trổi dậy để viết hầu “mở cửa” cho cảm xúc lòng mình bay đi, biết đâu cũng làm lan toả niềm vui trong tôi đến một đôi người.

Đọc khổ thơ đầu của “Mở Cửa Trái Tim” ta đã thấy tình yêu, thiên nhiên và con người hoà hợp với nhau nhuần nhuyễn đến độ như mùa xuân đã chín, ngào ngạt hương hoa trong tâm hồn thi sĩ:

Anh mở cửa Trái Tim cùng Xuân Mới
Nắng hoa hương theo gót ngọc Em về,
Bờ ảo mộng trần gian anh vẫn đợi
Tấm lòng son cây lá cỏ vườn quê.
 
Cả khổ thơ đưa mùa xuân vào hồn ta một cách êm ái. Câu Thơ “Nắng hoa hương theo gót ngọc em về” làm tôi nhớ ngay đến bốn câu thơ trong bài thơ “Áo Trắng” của Huy Cận:
 
“Áo trắng đơn sơ, mộng trắng trong
Hôm qua em đến mắt như lòng
Nở bừng ánh sáng. Em đi đến, 
Gót ngọc dồn hương, bước toả hồng”
 
Khổ thơ của Huy Cận tả được tà áo và bước đi của em. Sự liên tưởng từ khổ thơ nầy qua khổ thơ của Trần Thoại Nguyên cho ta hình dung được bước đi, dáng dấp, nhịp đập con tim của chàng và không gian, thời gian đọng lại trong phút giây em đến.
 
Qua khổ thơ thứ hai của “Mở Cửa Trái Tim” ta thấy Trần Thoai Nguyên bày tỏ quan niệm sống của mình: Sống yêu, sống vui, sống thật và sống hết mình:
 
Dù năm tháng phôi phai râu tóc bạc
Với nhân gian anh vẫn nở nụ cười
Vui khoảnh khắc trong lòng tay vạn vật
Sống mỗi ngày cạn chén Tình Yêu ơi!
 
Đọc khổ thơ nầy tôi lại nhớ đến bài thơ “Phụng Hiến” của Bùi Giáng có những câu thơ sau:
 
“Còn ở lại một ngày còn yêu mãi
Còn một đêm còn thở dưới trăng sao
Thì cánh mộng còn tung lên không ngại
Níu trời xanh tay với kiễng chân cao”
 
Sự liên tưởng từ khổ thơ thứ hai của “Mở Cửa Trái Tim” đên bài thơ “Phụng Hiến” của Bùi Giáng cho ta thấy tâm hồn hai nhà thơ hoà hợp trong cùng một nhịp đập, họ yêu trần gian đến độ phụng hiến tất cả, dầu đã “phôi phai tóc bạc”, dầu “còn một ngày”“còn một đêm” thì họ vẫn “cạn chén tình yêu”, vẫn “cánh mộng còn tung lên không ngại/ Níu trời xanh tay với kiễng chân cao” nghĩa là họ phụng hiến cho đời đến phút cuối cùng.
 
Khổ thơ thứ ba của “Mở Cửa Trái Tim” mở ra khung cảnh một thiên đàng hạnh phúc tuyệt vời:
 
Em yêu hỡi! Chim rừng ca lảnh lót
Ngàn bướm ong bên suối mộng dập dìu
Bao dưỡng chất của trần gian mật ngọt
Vườn địa đàng mầu nhiệm ngát hương yêu!
 
Đây là cảnh tiên trong trần gian, là dự phóng về một khung trời mà đôi uyên ương sẽ sống. Khung trời mơ ước đó khó có ở đời này nhưng nhà thơ có quyền mộng mơ, có quyền cho hồn mình bay theo đàn bướm trong tâm tưởng đến “suối mộng dập dìu”, đến “vườn địa đàng mầu nhiệm” để làm cho bài thơ thành viên ngọc lưu ly phụng hiến cho em, phụng hiến cho đời và phụng hiến cho chính tình yêu xây nên sự huyền mơ trong lòng tác giả.
 
Cuối cùng Trần Thoại Nguyên một cách kín đáo đã thờ phượng em trong khổ thơ chót:
 
Anh mở cửa Trái Tim ngày Chúa Nhựt
Ngày mặt trời, đêm lộng lẫy trăng sao
Em rón rén phút thần tiên duy nhứt
Mộng tình mình vây bọc bởi chiêm bao!
 
Ngày Chúa Nhựt là ngày thờ phượng Chúa, Trần Thoại Nguyên mở cửa trái tim ngày Chúa Nhựt là cách nói bóng gió em là chúa của lòng anh.
 
Trần Thoại Nguyên cũng thổ lộ vào giây phút cuối “mộng tình mình vây bọc bởi chiêm bao”, nghĩa là em có thật hay em chỉ là tưởng tượng thì không biết, nhưng toàn bộ bài thơ chỉ là ao ước, chỉ là mộng mơ, chỉ là chiêm bao để cho anh tự mình mở cửa trái tim anh, chắc là trái tim đang cô đơn giữa mùa “Xuân Mới”
 
Đây là một bài thơ đầu năm gây nhiều cảm xúc trong lòng tôi, cảm xúc vì tình yêu trong thơ thánh thiện, ý tứ trong thơ lảng mạn đến vô cùng, âm thanh trong thơ trong veo thánh thót, và tình yêu trong thơ quyến luyến đến vô biên. Bởi thế tôi phải viết và phải viết ngắn vì chữ nghĩa trong tôi đã bị bánh tết làm vơi đi gần hết!
                                                                    
                                                         Châu Thạch
 
 
MỞ CỬA TRÁI TIM
 
Anh mở cửa Trái Tim cùng Xuân Mới
Nắng hoa hương theo gót ngọc Em về,
Bờ ảo mộng trần gian anh vẫn đợi
Tấm lòng son cây lá cỏ vườn quê.
 
Dù năm tháng phôi phai râu tóc bạc
Với nhân gian anh vẫn nở nụ cười
Vui khoảnh khắc trong lòng tay vạn vật
Sống mỗi ngày cạn chén Tình Yêu ơi!
 
Em yêu hỡi! Chim rừng ca lảnh lót
Ngàn bướm ong bên suối mộng dập dìu
Bao dưỡng chất của trần gian mật ngọt
Vườn địa đàng mầu nhiệm ngát hương yêu!
 
Anh mở cửa Trái Tim ngày Chúa Nhựt
Ngày mặt trời, đêm lộng lẫy trăng sao
Em rón rén phút thần tiên duy nhứt
Mộng tình mình vây bọc bởi chiêm bao!

Trần Thoại Nguyên
READ MORE - ĐẦU NĂM ĐỌC “MỞ CỬA TRÁI TIM” THƠ TRẦN THOẠI NGUYÊN – Châu Thạch

Friday, October 8, 2021

THU VÔ NGÔN TRONG THƠ TRẦN THOẠI NGUYÊN – Châu Thạch - Lời bình của Zulu DC

 
 
                   Nhà thơ Trần Thoại Nguyên

                                                         
I - THU VÔ NGÔN
 
Thu rừng thông lặng câm
Đồi cỏ hoa âm thầm.
Vầng trăng khuya vàng lạnh 
Đáy hồ in thu tâm.
 
Lá úa ngàn thu phai
Cầu sương phủ sông dài 
Thu muôn đời không nói, 
Chỉ lệ sầu thu rơi!
 
Rưng rưng hồn hoa cúc
Gió thoảng hương biệt ly 
Gác vắng tiêu sầu khúc 
Lòng nhớ bạn cố tri. 
 
Thu bàng bạc chung trà
Ly rượu đời tài hoa 
Cùng vầng trăng huyễn mộng 
Sương mờ mái chùa xa.
 
Thu trên đỉnh linh hồn,
Trời Không. Thu vô ngôn. 
Chim Phượng Hoàng - Đá Trắng
Ráng chiều đỏ hoàng hôn.
 
                    Trần Thoại Nguyên
 
 
                                  Nhà thơ Châu Thạch


II – CẢM TÁC “THU VÔ NGÔN” THƠ TRẦN THOẠI NGUYÊN
 
Thu vô ngôn nghĩa là thu không nói
Thu ở trong tim Trần Thoại Nguyên
Nghĩa là thu như cõi thần tiên 
Vô vi trong trời đất!
 
Thu vô ngôn nghĩa là thu không mất
Thu đời đời đã nhập vào thơ
Nghĩa là thu không bến không bờ
Thu tồn tại không sầu không chán
 
Thu vô ngôn nghĩa là thu Bùi Giáng
Nghĩa là thu của Trần Thoại Nguyên
Nghĩa là thu trong dòng suối tinh tuyền
Nghĩa là thu trong rừng dát nguyệt
 
Nghĩa là thu thành thơ diễm tuyệt
Nghĩa là thu thành ý vô biên
Nghĩa là thu ở cõi thần tiên
Bàng bạc giữa trần, nhập hồn thi sĩ  
 
Nghĩa thu lưu ly
Nghĩa là thu tuyệt mỹ
Nghĩa là thu trong trẻo vạn lời thi
Nghĩa là thu bất tận những yêu vì
Thu nhân thế, thu trong hồn nhân thế!
 
Sáng hôm nay vào hồn tôi cả thể
Một mùa thu trong thơ Trần Thoại Nguyên
Một mùa thu đi qua trủng bình yên
Một mùa thu chứa lời tình tự!
 
Hồn tôi nhận một kho tàng dự trữ
Kho tàng thu có từ buổi khai nguyên
Kho tàng thu chất chứa rượu tinh tuyền
Rượu mùa thu từ thời sáng thế ký!
                             
                                        Châu Thạch
 

                                    Nhà thơ  ZuLu DC


III - BÌNH LUẬN TRÊN FACEBOOK CỦA NHÀ THƠ ZULU DC VỀ “CẢM TÁC THU VÔ NGÔN THƠ TRẦN THOẠI NGUYÊN” CỦA CHÂU THẠCH:
 
 Cũng bài thơ “THU VÔ NGÔN” của Trần Thoại Nguyên, tôi đã viết:
 
 Thu vô ngôn, thu đánh động biết bao tâm hồn, thi sĩ cảm xúc thành thơ, thơ nói với ai qua dạng vô ngôn, vô ngôn hay bạch thư cũng như nhau, nghĩa là nó nói tất cả những điều gì muốn nói, vô ngôn ở đây là tầng cao của ngôn ngữ, là cảm thông, hiểu nhau mà bài thơ chỉ đóng vai cái phù điêu tâm hồn. Bao nhiêu hình bóng trên cái phù điêu bạn tôi ơi !
 
Thì ra cảm nhận của tôi lại ứng thành sự thực, sự thực khi tôi đọc bài thơ của tác giả Châu Thạch cảm tác cũng từ bài Thu vô ngôn, một bài thơ xuất thần, những cảm xúc vọt ra từ những hạt máu - máu của... Máu của một con dế ăn thơ trong sương, uống hồn của ánh trăng và hít thở bằng men tình trộn với cuộc đời bất sá. Thì cảm xúc của Châu Thạch qua bài thơ này là trần truồng của một người con gái diễm lệ, diễm lệ của hoang vu, trong trắng, uyên nguyên, thiện hiền và mộng mị. Bài thơ toát ra vẻ đẹp của tâm hồn, vẻ đẹp của hương trầm hoa lá mà thiên nhiên đã ban tặng cho người nghệ sĩ, vẻ đẹp đó thánh thiện, bình an chứ không a dua xu nịnh kiểu áo thụng bái lạy nhau !
 
 …Nếu tôi ví von có một mặt phẳng của tâm hồn, trên mặt phẳng đó là tấm gương, đặt bài thơ “Thu vô ngôn” của TTN phía trước, thì bên kia gương là bài thơ của Châu Thạch. Trong trường hợp này, bài thơ của Châu Thạch không phải là ảnh ảo, mà là sự phản chiếu từng lời, từng ý, từng chữ, từng nghĩa của bài thơ Thu vô ngôn rất tình tế, tài tình mà lại rất thơ, cá tính và bản lãnh rất đáng ngưỡng mộ, nể phục. Đó là khi hai tâm hồn gặp nhau, đồng cảm và tri âm !
Mến chào !
                                 
                                                               ZuLu DC
 
READ MORE - THU VÔ NGÔN TRONG THƠ TRẦN THOẠI NGUYÊN – Châu Thạch - Lời bình của Zulu DC

Thursday, August 19, 2021

VỊNH THI NHÂN - Thơ Châu Thạch

 
 


I- ĐẶNG XUÂN XUYẾN
 
Vần gieo như ánh sao sa
Cháy như thiên thạch bay qua vòm trời
Trải qua bất đắc cuộc đời
Tiếng thơ thành tiếng thành lời gió mưa.
Tái sinh tình tự xa xưa
Hiện dòng bút mới cho vừa tuyệt thi
Ghét cay bọn gối chân quỳ
Thù cay ác bá ngồi lỳ ghế cao 
Trăm chung rượu với má đào
Ngàn chung rượu với anh hào thời nay
Ý thơ càng thấm càng say
Tứ thơ lộng gió lung lay trăng vàng
Nỗi sầu non nước miên man
Luyến lưu vạn chuyến đò ngang giữa đời
Ngón tay ngồi tính vận Trời
Ngắm sao mà nói nhừng lời tuyết sương!

Châu Thạch
                           
 



II- LÊ THIÊN MINH KHOA
 
Mái tóc bồng bềnh mây xoắn
Quặn nghìn vạn sợi suy tư
Mắt buồn sau đôi kính trắng
Nhìn đời sương khói thật, hư 
 
Trán như khung chiều mặt biển
Nhọn cằm đỉnh núi đầy sương
Tâm hồn lộ ra hiển hiện
Thi tài trên khuôn mặt xương 
 
Người từ trăm năm với rượu
Thơ từ trăng xuống đầy chung
Văn từ ngàn be lóng lánh
Tình thi đẹp đến vô cùng! 
 
Túy lúy men đời men nhạc
Ngã nghiêng lối mộng tìm em
Hồn bay theo đường trăng tỏa. 
Nhà thơ Lê Thiên Minh Khoa.
 
Châu Thạch
 



III- TRẦN THOẠI NGUYÊN 
 
Tóc bay lộng gió bụi đời
Thuốc cầm tay lửa sao ngời mộng mơ
Mắt màu cô đọng ngàn thơ
Môi cười bát nhã tấp bờ Tây Phương
 
Người đang ở cõi vô thường
Thấy hình, thấy tịnh trong vườn Sa La
Thấy mây trắng ở trời xa
Thấy linh về ngự thiết tha trong hồn
Bỗng trong vạn sắc bồn chồn
Ngộ ra sa mạc ngựa bôn vó đời
Mắt nhìn vào cõi rong chơi
Ai như rằm nguyệt sáng ngời đường thơ 
Một đời tánh Phật tôn thờ
Tịnh thiền vào cõi mộng mơ chữ tình
Nghiệp còn vướng nợ ba sinh
Thuyền qua bờ giác chứa hình bóng em! 
 
 Châu Thạch
 
READ MORE - VỊNH THI NHÂN - Thơ Châu Thạch

Wednesday, June 23, 2021

ĐỌC “KHUNG TRỜI CŨ” THƠ TUỆ SĨ - Châu Thạch

                                        
 
                       Thiền sư Tuệ Sỹ

 
KHUNG TRỜI CŨ
                         
Ðôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ 
Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang 
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ 
Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn 
 
Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở 
Ðỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan 
Cười với nắng một ngày sao chóng thế 
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng! 
 
Ðếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ 
Bụi đường dài gót mỏi đi quanh 
Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ 
Suối nguồn xa ngược nước xuôi ngàn 
                   
Tuệ Sỹ 
 
Trước hết người viết xin lỗi bạn đọc vì bài viết hơi dài. Ai yêu nhà thơ Tuệ Sĩ, yêu bài thơ “Khung Trời Cũ” thì xin kiên nhẫn đọc, bởi người viết muốn đem đến cho bạn đọc nhiều dữ liệu về tác giả, nhiều cảm nhận khác nhau đối với một tuyệt tác để đời của một nhà thơ trí thức thông tuệ,  được yêu mến bậc nhất trên văn đàn từ  trước và hiện nay:
 
I - COMMENT VỚI BÀI BÌNH THƠ CỦA CHÂU THẠCH VỀ BÀI THƠ "KHUNG TRỜI CŨ" CỦA TUỆ SỸ. – TRẦN THOẠI NGUYÊN
Nhà thơ Trần Thoại Nguyên

Nhớ lại. Bài thơ nầy lần đầu tiên đăng trên Tạp chí Tư Tưởng của Đại Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, năm 1969 với nhan VÔ ĐỀ, lúc Thầy Tuệ Sỹ khoảng 26 tuổi đang là GS Triết giảng về Triết học Tánh Không của Khoa Phật học ĐH Vạn Hạnh. Năm sau, 1970 thì Nhà sư, GS Thích Nguyên Tánh Phạm Công Thiện bỏ đi Pháp giao lại Khoa Phật học và Tạp chí Tư Tưởng cho Thầy Tuệ Sỹ. 
 
Thời điểm đó tôi là SV ghi danh học Triết Viện ĐH Đà Lạt thỉnh thoảng nổi hứng lang bạt về Sài Gòn, có duyên Nhà Phật ghé thăm chơi với các nhà sư trẻ văn thơ học thuật rất mực lỗi lạc tài hoa cùng với đại ca Thi sĩ Bùi Giáng dưới trướng của Hòa thượng Thích Minh Châu Viện trưởng ĐH Vạn Hạnh tạo thành Nhóm văn nghệ học thuật trí thức nổi tiếng đình đám của Miền Nam. Tôi tá túc phòng Sư Chân Pháp Nguyễn Hữu Hiệu (em ruột Nhà thơ Viên Linh) tác giả Con Đường Sáng Tạo, có tối tôi cùng chơi bài văn nghệ với cả đại ca Bùi Giáng rất dzui dzẻ. 
 
Thầy Tuệ Sỹ người nhỏ con rất hiền lành với đôi mắt to tròn óng ánh tia sáng xanh rất thông thái mà đại ca Bùi Giáng hay cà tửng chọc ghẹo kiểu thượng thừa!
 
Sau 1975, Thầy Tuệ Sỹ tập trung vào dịch thuật & nghiên cứu kinh Phật và đã dịch Quỷ Thi của Lý Hạ thành tập bản thảo dày. Tôi không ngờ một Nhà sư nhỏ nhẹ hiền lành như Thầy Tuệ Sỹ mà có cái Dũng của Nhà Phật, Hùng Tâm đến như thế, không run sợ trước cường quyền, bị bắt giam năm 1984 rồi ghép tội tử hình năm 1988 rồi giảm án xuống tù chung thân và rồi Sư tuyệt thực không hề nhận một tội nào để được khoan hồng!
 
Cái Hùng Tâm ấy, bọn tôi loáng thoáng thấy từ bài thơ VÔ ĐỀ mà bọn tôi đã thuộc lòng:
 
Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối chưa tan.
 
Và Thi sĩ Bùi Giáng đã khai mở rõ hơn:
 
“Đỉnh đá và hạt muối là hai chốn kết tụ tinh thể của núi và biển. Đỉnh đá quy tụ về mọi hương màu trời mây rừng rú. Hạt muối chứa chất cái lượng hải hàm của trùng dương. Đó là cái bất tận của tâm tình dừng sững tại giữa tuyết nguyệt phiêu du”
 
Với cái Hùng Tâm kim cang ấy của Sư Tuệ Sỹ và cuối cùng được sự ngưỡng mộ, can thiệp của tổ chức Nhân quyền Thế giới thì Sư được ra tù hưởng quyền Tự Do của công dân của một Tu sĩ chân chính! 
Đời thật vô lường quả Vô Thường! 
 
Trong những ngày Thầy Tuệ Sỹ bị ghép án tử hình rồi giảm xuống tù chung thân, bọn tôi cùng xem bản thảo dịch thơ Quỷ Thi Lý Hạ của Thầy Tuệ Sỹ, mà cứ nghĩ Thầy như đã tiên đoán định mệnh đời mình từ thuở yên bình hồn nhiên trong sáng thơ mộng ngày đó của bài thơ VÔ ĐỀ ra đời:
 
 Giờ ngồi ngó bốn vách tường ủ rũ.
 
Nhưng không phải như vậy! Mà rồi là niềm vui khi Thầy Tuệ Sỹ đã ra tù, tự do tự tại chu du sơn thủy:
 
 Suồn xa, nước ngược xuôi ngàn
 
Và dù hiện nay Thầy Tuệ Sỹ đang ở bên nước Nhật chữa bệnh nhưng Người đang Phụng thừa Ủy thác của Cố Đức Đệ Ngũ Tăng Thống Viện Tăng Thống, Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống Lãnh đạo Giáo Hội Phât Giáo Việt Nam Thống Nhất.
 
 Bài bình thơ của Châu Thạch về bài thơ KHUNG TRỜI CŨ tức là bài thơ đăng báo lần đầu tiên nhan là VÔ ĐỀ, với cái nhìn Tuệ Nhãn của Nhà Phật thật liễu quán sâu sắc của một tầm cao đáng ngưỡng mộ ! Nhưng hương vị đời của bài thơ có nhạt nhòa đi chăng?
 
Nhớ lại, năm 1970, 1971, Thi sĩ Bụi Đời Trần Thoại Nguyên cũng có hàng loạt 5 bài thơ đăng trên Tạp chí Tư Tưởng ĐH Vạn Hạnh. Thuở ấy, Thầy Tuệ Sỹ có Phật sự lên chùa Linh Sơn Đà Lạt và đã nghe chuyện người đẹp là con gái của gia đình Phật tử đã suỵt chó cắn thi sĩ và Thầy Tuệ Sỹ đã đến gia đình Phật tử ấy (cũng chỗ thân thuộc của Sư Chơn Hạnh - Nhà thơ Trần Xuân Kiêm cùng đang là GS ĐH Vạn Hạnh ngày ấy) 
 
Chuyện vắn tắt thế nầy: Tôi lên ghi danh học Triết Viện ĐH Đà Lạt năm 1968 và đã lẽo đẻo theo nàng Xuân Hạnh lớp 11 trường Nữ Trung học Bùi Thị Xuân, hết trồng cây si ở cổng trường Nữ BTX rồi đến cổng Viện Đại Học Đà Lạt khi nàng lên học năm thứ nhất ĐH Đà Lạt! Đến Tết Tây năm đó ra Giai Phẩm Xuân Văn Khoa Viện Đại Học Đà Lạt có đăng bài thơ của TTN với 2 câu mở đầu:                      
 
“Ô hô! Xuân Hạnh chửa hoang                        
Đẻ ta nằm khóc hoang đường nửa đêm!”
 
Và thế là, sau đó trong một đêm trăng sáng thi sĩ lãng vãng ngoài đường trước cổng nhà nàng thì bị chị của nàng (cũng cùng học một năm với tôi) đã suỵt chó cắn thi sĩ! 
 
Cách nay độ gần chục năm, nghĩa là gần 40 năm sau, hôm Thầy Tuệ Sỹ mời cơm chay tại Nhà sách Hương Tích (mà cũng là căn nhà Phật tử cúng dường cho Thầy Tuệ Sỹ tịnh tu) có Sư Chơn Nguyên, có Thi sĩ và là Nhà Hán học Nguyễn Tôn Nhan (nay đã mất) và Nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ ở Mỹ về (nay cũng đã mất), Thầy Tuệ Sỹ đã kể lại chuyện đến nhà người đẹp là con gia đình Phật tử Đà Lạt ngày xưa năm 1970 để xem coi người đẹp con gia đình Phật tử như thế nào mà đã suỵt chó cắn thi sĩ? Tôi đã thưa: “Ngày đó Thầy cho con biết, con đi theo xách dép cho Thầy!” Hihi!
 
Tôi kể chút chuyện hơi cá nhân, nhưng rất thật để ta hiểu tâm hồn nghệ sĩ gắn với chất đời thường trần gian của hồn thơ Thi sĩ Tuệ Sỹ ngày trai trẻ sáng tác bài thơ VÔ ĐỀ, để cảm nhận vẻ đẹp thơ gắn với đời sống thực trần gian chứ không cao siêu quá “cái tâm ngài đã đi vào cõi tịnh, không khóc cười cho sinh diệt của trần gian.” Hay ĐÔI MẮT ƯỚT ấy là Tuệ Nhãn Nhà Phật:“Đôi mắt thấu rõ, thông suốt, vượt ra ngoài chấp trước, không hề vương vấn, không hề lưu lại, không chìm nơi cảnh, chẳng đọng nơi tâm, phủ sạch mê mờ. Nhìn mà không đắm, thấy mà không vương không khởi, thấy đơn thuần chỉ là thấy, thấy như là không thấy, thấy một cách rõ ràng chân thật, thấy trọn vẹn tận cùng thể tánh các pháp, cái thấy đó mới là đích thực”
 
Tôi nghĩ Châu huynh đã tung bút ngợi ca theo Huệ Nhãn Nhà Phật mà xưa nay đọc Thi Phật của Vương Duy tức Duy Ma Cật đa tài Thi Nhạc Họa, am hiểu sâu xa kinh Phật thời Thịnh Đường, ta chưa từng nghe những lời bình uyên viễn cao siêu thiền tâm đến như thế của Châu huynh về 2 câu thơ mở đầu VÔ ĐỀ:
 
Đôi mắt ướt tuổi vàng cung trời hội cũ
Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang
 
Bởi vậy, dù người yêu thơ Bùi Giáng có người gọi Bùi Giáng là vị Bồ Tát lúc sinh thời nhưng tôi vẫn thích hơn cách mở từng nếp gấp của câu chữ bật lên vẻ đẹp với hương màu thơ mộng trần gian cũng như thi ca tư tưởng của Bùi Giáng !
 
Rồi cái BỖNG THẤY MÌNH DU THỦ chẳng khác chi với Bùi Giáng “Sài Gòn Chợ Lớn đã đời du côn” của hương hoa du hí cõi trần gian, chứ không chỉ là nói về linh hồn trôi giạt trong cõi luân hồi và hoài niệm về hội tụ trong tiền kiếp xưa như lời bình của CHÂU THẠCH uyên viễn bằng Tuệ Nhãn về cõi luân hồi quá chăng? “ta có thể hình dung Tuệ Sĩ đang ngồi một mình trên đồi cao vắng vẻ, quán tưởng thấy tiền kiếp của mình, và bởi một phút nhìn thấy bất ngờ đó, nhà thơ biết được linh hồn mình lang thang qua bao thế hệ như là một tên du thủ”
 
 Tất nhiên, bài thơ hay như viên ngọc lấp lánh lung linh được người yêu thơ nhìn, cảm nhận với những vẻ đẹp sắc màu khác nhau và tiếp tục đồng sáng tạo cùng tác giả bài thơ. 
 
Bài thơ tuyệt bút sẽ còn sống mãi với thời gian, với các thế hệ muôn sau là như thế!
                                                     
Trần Thoại Nguyên
 
II - LỜI BÀN BÊN CẠNH LỜI BÌNH VỀ BÀI THƠ “KHUNG TRỜI CŨ” CỦA THẦY TUỆ SĨ – HẠ THÁI TRẦN QUỐC PHIỆT
 
Nhà thơ Hạ Thái Trần Quốc Phiệt 


Hễ mỗi khi đọc thơ Tuệ Sĩ
Ngỡ như mình đi lạc chốn hư không
Bỗng thấy hồn ta đi mây về gió
Để lại sau lưng khoảng trống mênh mông!
 
Để mà gẫm hồn thơ hong trong nắng
Những ngôn từ ấp ủ tận trong sương
Những ý thơ sâu thẳm cõi vô thường
Về tụ tại tuôn ra từ ngọn bút
 
Hồ quanh đây có hương trầm nghi ngút
Hồ như bao hồn phách lạc quay về
Cõi trần gian cởi gội những cơn mê!
"Khung Trời Cũ" trang hoàng chân dung mới!
 
Thơ quá là thơ! Còn gì phải nói
Ngực dẫu banh tự vỗ chả thành âm
Đọc thơ người và tay vuốt gáy mình
Vui quá nhỉ! đời sinh nhiều thi sĩ!
         
Hạ Thái
 
III- BÌNH BÀI THƠ “KHUNG TRỜI CŨ” – CHÂU THẠCH

Nhà bình thơ Châu Thạch
 
Tuệ Sĩ là một nhà thơ được mến mộ, một thiền sư được kính trọng. Ngài còn là một tù nhân lương tâm chịu án tử hình. Cuộc đời ngài và thơ ngài đã được viết hàng ngàn trang và sẽ đi vào lịch sử, văn học sử. Bài thơ “Khung Trời Cũ” của ngài là một bài được Bùi Giáng, cũng là một nhà thơ được trọng vọng bậc nhất Việt Nam đánh giá là một bài thơ “đã trùm lấp hết chân trời mới cũ Đường Thi Trung Hoa tới Siêu Thực Tây Phương.”
 
Trước hết, ta hãy thưởng thức khổ đầu của bài thơ “Khung Trời Cũ”:
 
Ðôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ 
Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang 
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ 
Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn
    
Bình về ba chữ “đôi mắt ướt”, nhà thơ Bùi Giáng đã viết: “Đôi mắt ướt? Đôi mắt của ai? Vì sao ướt? Vì lệ trào, hay là vì quá long lanh? Thi sĩ không nói rõ. Ấy là giữ một khoảng trống vắng lặng phóng nhiệm cho thơ. Tha hồ chúng ta tự do nghĩ hai ba lối. Hoặc là đôi mắt thi nhân ướt trong hiện tại vì nhớ nhung một trời hội cũ. Hoặc là đôi mắt giai nhân nào long lanh dịu mật như nước suối chan hòa, soi bóng một khung trời hội cũ bất tuyệt nào, mà ngày nay tại hạ đã đánh mất rồi chăng?”
 
Bùi Giáng không bình hai chữ “tuổi vàng”. Thế nhưng ta biết “tuổi vàng” cũng có nhiều nghĩa. Tuổi vàng là tuổi thời thanh xuân trẻ đẹp. Tuổi vàng cũng là tuổi về già như lá vàng ảm đạm.
 
Về cụm từ “khung trời hội cũ” Bùi Giáng viết: “Đôi mắt ướt tuổi vàng /Khung trời /Hội cũ”. Xin xuống giòng thư thả như thế. Ắt nhìn thấy chất trang trọng dị thường của hoài niệm. Hoài niệm gì? - Cung trời hội cũ. Một hội đạp thanh ? Một hội nao nức ? – “Giờ nao nức của một thời trẻ dại ?”.
 
Về câu thơ “Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang” nhà thơ Bùi Giáng viết: “Áo nào màu xanh? Màu xanh màu chàm của cô gái Mán gái Mường, gái núi nào xưa kia băng rừng và thi nhân đã ngẫu nhiên một lần nhìn đắm đuối?” Bùi Giáng cho biết, Tuệ Sĩ vốn xưa kia có một thời ở Lào nên có thể “áo màu xanh” là áo của cô gái Lào thuở ấy.
 
Đọc khổ thơ nầy, Châu Thạch liên nghĩ đến “đôi mắt ướt” không phải là đôi mắt lệ trào mà cũng không phải là đôi mắt long lanh. Ở đây Tuệ Sĩ không nói rõ đôi mắt của ai những có thể hiểu ngầm là đôi mắt cúa chính nhà thơ. 
 
Nhà thơ là một tu sĩ đầy đạo hạnh, cho nên khó mà ngài chú ý đến một đôi mắt long lanh của giai nhân nào đó để đến nỗi thành thơ, cho nên cũng khó mà làm cho đôi mắt ngài ướt lệ bởi cái tâm ngài đã đi vào cõi tịnh, không khóc cười cho sinh diệt của trần gian. 
 
 Vậy “đôi mắt ướt” của Tuệ Sĩ là đôi mắt gì? Đó là đôi mắt huệ. “Đôi mắt thấu rõ, thông suốt, vượt ra ngoài chấp trước, không hề vương vấn, không hề lưu lại, không chìm nơi cảnh, chẳng đọng nơi tâm, phủ sạch mê mờ. Nhìn mà không đắm, thấy mà không vương không khởi, thấy đơn thuần chỉ là thấy, thấy như là không thấy, thấy một cách rõ ràng chân thật, thấy trọn vẹn tận cùng thể tánh các pháp, cái thấy đó mới là đích thực”. Cái thấy đó nằm trong “đôi mắt ướt” của thi nhân.
 
Từ quan niệm về cái thấy trong đôi mắt ướt của thi nhân, Châu Thạch nghĩ rằng hai chữ “tuổi vàng” cũng không để chỉ thời thanh xuân trai trẻ hay thời già lão của đời người. Bởi vì với cái nhìn Phật pháp như thế, thì những biến động vô thường của kiếp sống con người không gây phiền não cho thi nhân để phải có lời tán than trong thơ. 
 
Vậy thì “tuổi vàng” ở đây là tuổi của linh hồn, tức là tuổi mà linh hồn tồn tại qua bao nhiêu kiếp cho đến nay. Hiểu như thế vì chúng ta suy diễn từ cụm từ “khung trời hội cũ” của câu thơ. Ta để ý đến chữ “hội”. Hội là tề tựu lại, là tập trung lại. Vậy “khung trời hội cũ” là khung trời của bao nhiêu kiếp sống mà nhà thơ đã trải qua được hoài niệm lại, hay được thấy lại trong đôi mắt ướt là đôi mắt thông tuệ bánh xe luân hồi đã quay trong những đời quá khứ của thi nhân. 
 
 Vậy thì qua câu thơ “Đôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ” có thể hiểu Tuệ Sĩ đã “quán” được, nghĩa là đã thấy được quá khứ, thấy được những tiền kiếp của linh hồn mình.
 
Từ câu thơ thứ hai “Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang” ta liên nghĩ đến bốn câu trong bài thơ “Hợp Tan” của Vũ Hoàng Chương: 
 
Phải chăng từ độ ấy quan san 
Trời Đất cùng nhau nỗi hợp tan 
Nhưng chỉ mình ta phai áo lục 
Còn Khanh sau trước vẫn hồng nhan                       
(Hợp tan)
 
Đọc Vũ Hoàng Chương ta hiểu “áo lục” là áo của thi nhân hay nói chung là áo của kẻ sĩ, của người nho nhã. Do vậy ta suy diển được câu thơ “Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang” nói về sự phai màu của chiếc áo kẻ sĩ phải dãi đầu nắng mưa nơi thâm sơn cùng cốc.
 
Như thế “Áo màu xanh” chắc chắn không phải của một nàng trinh nữ nào đó trên đất Mường hay trên đất Lào xa xôi mà một tu sĩ Phật pháp cao thâm như Tuệ Sĩ có thể lưu lại trong tâm mình bởi “một lần nhìn đắm đuối”, dầu ông là một nhà thơ chăng nữa.
 
Vậy thì qua thơ, ta có thể hình dung Tuệ Sĩ đang ngồi một mình trên đồi cao vắng vẽ, quán tưởng thấy tiền kiếp của mình, và bởi một phút nhìn thấy bất ngờ đó, nhà thơ biết được linh hồn mình lang thang qua bao thế hệ như là một tên du thủ: “Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ”. Du thủ du thực hiểu nghĩa xấu là chơi bời lêu lỏng, xấu xa, hung bạo. hiểu theo nghĩa bình thường thì là người nay đây mai đó, sống lông bông không ổn định. 
 
Du thủ hiểu theo nghĩa thơ Tuệ Sĩ là một con người cô độc đi mãi mê trong vô định, từ kiếp nầy lang thang qua kiếp khác, để bây giờ ngồi đây “Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn”
 
Khuya là hình ảnh của đêm thế gian mờ tối, trăng tàn là sự sáng của trăng sắp tắt, hay là hình ảnh của đời người đi qua muôn kiếp, chẳng khác chi những đêm trăng tàn trên trần thế. Nhà thơ kể cho ai nghe đây? Kể cho mình nghe, trước sự vô thường, phôi pha, biến động thầm lặng của đất trời:
 
Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở 
Ðỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan 
Cười với nắng một ngày sao chóng thế 
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng!
 
Nhà thơ Bùi Giáng đã bình khổ thơ nầy như sau:
 
“Thy nhân đã mấy phen ngồi ngó trăng tàn? Ngồi trên một đỉnh đá? Bốn bề rừng thiêng giăng rộng ngút ngàn màu trăng xanh tiếp giáp tới chân trời xa xuôi đại hải? Đỉnh đá và hạt muối là hai chốn kết tụ tinh thể của núi và biển. Đỉnh đá quy tụ về mọi hương màu trời mây rừng rú. Hạt muối chứa chất cái lượng hải hàm của trùng dương. Đó là cái bất tận của tâm tình dừng sững tại giữa tuyết nguyệt phiêu du”
 
Nhà thơ Tuệ Sĩ đã đem đỉnh đá và hạt muối đặt ngang nhau. Ta thấy hạt muối tan mau, đỉnh đã tồn tại ngàn năm nhưng rồi cũng sẽ tan một thời kỳ nào đó, Hiện giờ cả hai chưa tan nhưng sự phù du của nó có khác gì nhau. Đối với thiên nhiên “ngàn năm như một ngày, một ngày như ngàn năm” vậy. Nhà thơ hiểu luật vô thường nên cười với một ngày nắng qua mau và tự tại khi thấy nay mùa đông mai đã mùa hạ rồi. 
 
 Khổ thơ cho ta thấy một thế giới lạnh lùng biến động, muôn vật đều đồng một thể, thay đổi trong cái thời gian lạnh lùng mà sự ngắn dài của tháng năm trở thành vô nghĩa. Khổ thơ cũng dạy nhìn đời bằng cái tâm trung tính, vắng lặng với nụ cười như nụ cười vô tư trong nắng.
 
Cuối cùng nhà thơ tự thú mình chưa già mà đã mỏi gối chồn chân:
 
Ðếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ 
Bụi đường dài gót mỏi đi quanh 
Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ 
Suối nguồn xa ngược nước xuôi ngàn 
 
 Ở khổ thơ trên Tuệ Sĩ nói mình đang ngồi trên “Đỉnh đá nầy” để thấy “đồi hoang”, “núi lạnh” và “biển im”. Vậy nhưng bây giờ nhà thơ “ngó lại” thì thấy “bốn vách tường ủ rũ”. Đây là bức tường của những kiếp nhân sinh, bức tường khổ đế, bức tường sinh lão bệnh tử. Đúng ra là bức tường thời gian nhốt bánh xe luân hồi trong đó để Tuệ Sĩ hay loài người cứ phải lang thang trong đó vạn ngàn năm. 
 
Bài thơ cho ta thấy một tuổi vàng, một tuổi muối, một tuổi đá đều như nhau cả, Tất cả sẽ từ tuổi nầy đi qua tuổi khác, lang thang trong thời gian vô định như bốn bức tường nhốt linh hồn ta trong trủng bóng chết đời đời mà dầu tu hành như thiền sư cũng chưa thể thoát ra! Đọc bài thơ linh hồn ta cảm nhận được hết cái thú đau thương là cái thú được nghe tiếng thơ trong sáng vô biên viết về sự trầm tư trong linh hồn cúa một thiền sư đức cao trọng vọng.                                                                                                                                                                   
Châu Thạch
 
READ MORE - ĐỌC “KHUNG TRỜI CŨ” THƠ TUỆ SĨ - Châu Thạch