Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, May 17, 2009

Thành cổ Quảng Trị



Thành cổ Quảng Trị - miền đất tâm linh

XUÂN VIÊN

Thành cổ Quảng Trị là điểm dừng chân thu hút nhiều du khách trên hành trình xuyên Việt vì những câu chuyện huyền thoại và chứng tích bi tráng của nơi từng diễn ra trận đánh đẫm máu 81 ngày đêm năm 1972 giữa quân dân ta với Mỹ-ngụy.

Di tích nằm ngay trung tâm thị xã Quảng Trị. Thành cổ Quảng Trị đón du khách bằng một không gian rất đặc biệt: vừa u buồn trầm mặc, vừa hào hùng, lãng mạn và bi tráng. Không gian của thị xã Quảng Trị – đặc biệt là ở Thành cổ - khiến người ta có cảm giác luôn phảng phất khói hương tưởng nhớ những người đã khuất. Được biết, trong trận đánh 81 ngày đêm năm xưa tại Thành cổ, 14.000 cán bộ, chiến sĩ và đồng bào hy sinh với vô vàn câu chuyện về lòng dũng cảm, sự hy sinh quên mình của rất nhiều chiến sĩ tuổi đôi mươi. Đến thăm Thành cổ, du khách sẽ được nghe kể lại những câu chuyện huyền thoại bởi các hướng dẫn viên của Di tích Thành cổ. Đặc biệt trong ngày lễ, kỷ niệm, ngày rằm, mùng một... sông Thạch Hãn chảy quanh Thành cổ trở thành dòng sông hoa tươi và hoa đăng do những cựu chiến binh và nhiều người dân của thị xã thả xuống. Từ rất lâu rồi, việc thả hoa xuống sông Thạch Hãn đã trở thành một tập quán đẹp của chính quyền và nhân dân địa phương. Đến Thành cổ trong những dịp này, trong lòng du khách sẽ lưu lại dấu ấn rất sâu đậm. Du khách sẽ cảm thấy như đang có một sợi dây vô hình kết nối hiện tại với quá khứ, hiểu thêm những nét đẹp trong tình cảm và đời sống tâm linh của người dân sống quanh Thành cổ.

Tại Thành cổ Quảng Trị, không thể không chiêm ngưỡng tượng đài tưởng niệm các liệt sĩ hy sinh trong trận đánh năm xưa. Tượng đài có hình tròn tượng trưng nấm mồ cho những người đã mất. Phía dưới của tượng đài là hành trang người lính gồm nón, ba lô và một cây thiên mệnh hướng lên trời xuyên qua ba áng mây. Phía trên cây thiên mệnh có một ngọn nến và ánh hào quang, dưới tầng mây cuối cùng có gắn hình tượng chung là ba bát cơm tiễn người đã khuất. Ngoài vòng tròn gắn 81 tờ lịch, thể hiện 81 ngày đêm chiến đấu ác liệt của các chiến sĩ giải phóng quân. Trong khuôn viên Thành cổ có tháp chuông lớn được đặt tại quảng trường nối liền Thành cổ và bờ sông Thạch Hãn thường xuyên vang lên những hồi chuông ngân dài với ý nghĩa cầu mong linh hồn các liệt sĩ đã hy sinh được siêu thoát. Góc phía Tây Nam của Thành cổ là Bảo tàng với rất nhiều chứng tích chiến tranh được lưu giữ và thuyết minh đầy cảm xúc, khiến bất cứ ai thăm nơi này đều xúc động, bồi hồi.

Thành cổ được vua Gia Long ra lệnh xây dựng từ những năm đầu thế kỷ 19, trên một khu đất cao với sông Thạch Hãn ở phía Tây, sông Vĩnh Định ở phía Bắc và vùng dân cư đồng bằng Triệu Hải ở Đông và Nam. Từ Thành cổ có thể ra Bắc, vào Nam bằng đường bộ lẫn thủy thuận tiện. Theo sử liệu, ban đầu thành chỉ đắp bằng đất, sau được vua Minh Mạng cho xây lại với chức năng quân sự với 4 pháo đài, có 4 cửa ra vào, bao quanh là hệ thống hào thành sâu hơn 3 mét, rộng hơn 18 mét. Các cửa thành đều được xây vòm cuốn với vọng lâu, mái cong lợp ngói âm dương. Bên ngoài mỗi cửa đều có một chiếc cầu uốn cong bắc qua hào thành. Bên trong thành có hành cung được bảo vệ bởi hệ thống tường cao, dày, có nhà ở của các vị Vua khi đi kinh lý qua hay dự lễ thăng chức của các quan. Dưới thời Nhà Nguyễn, Thành cổ Quảng Trị là trung tâm kinh tế, chính trị, quân sự của tỉnh Quảng Trị, là thành lũy quân sự bảo vệ kinh đô Huế. Sau trận chiến năm 1972, Thành cổ gần như bị san phẳng; chỉ còn sót lại một cửa hướng Đông tương đối nguyên hình và vài đoạn tường thành cùng giao thông hào bên ngoài chi chít vết bom đạn. Hiện nay, chỉ có vài đoạn tường thành và bốn cổng chính của Thành được phục chế. Dù không còn những dấu ấn xưa, nhưng Thành cổ vẫn là “Đất tâm linh” của nhiều người dân Quảng Trị nói riêng và Việt Nam nói chung, vì nơi đây mỗi tấc đất đều thấm máu của các chiến sĩ ta.

Cùng với những địa danh như địa đạo Vịnh Mốc, nhà tù Lao Bảo, hàng rào điện tử McNamara, căn cứ Cồn Tiên, Dốc Miếu, Khe Sanh, sân bay Tà Cơn, Đường 9, cầu Hiền Lương... Thành cổ Quảng Trị là điểm đến thu hút đông đảo khách du lịch trong nước và quốc tế của tỉnh Quảng Trị.

Xuân Viên

http://www.baocantho.com.vn/


READ MORE - Thành cổ Quảng Trị

Cao dao Quảng Trị

Hoàng hôn ở Quảng Trị

Những khúc ca về tâm lực người

nông dân trong giêng hai nghiệt ngã

NGUYỄN HOÀN


Hồi thơ ấu, đứa con trai nào chẳng có lúc “nghịch tử” để đến nỗi bị cha mẹ mắng như tôi: “Con cái chi mà Ô châu ác địa”. Lúc những người nông dân giận nhau, tôi cũng nghe họ mắng nhau: “Đồ Ô châu ác địa”. Tôi nghe mà chẳng hiểu gì cả. Kỳ thực về sau lớn lên, tôi mới hiểu ra rằng “gửi gắm” vào lời mắng đó có cả lời chửi thề của người Quảng Trị quyết không cam chịu bị trói buộc bởi hoàn cảnh nghiệt ngã ở đất dữ châu Ô. Người Quảng Trị đã đột phá được những ba-ri-e thách đố của tạo vật bằng tâm và lực dồi dào của chính mình, để khai thông hành trình vươn tới tương lai ấm no, hạnh phúc, đồng thời trên hành trình ấy khai mở luôn dòng ca dao dân ca mang âm hưởng tươi tắn, lạc quan.

*Từ cái quán “bạn nghèo gặp nhau”

Ngày trước, giữa buổi giáp hạt giêng hai, lúc rơi đúng vào ranh giới mất, còn nghiệt ngã của sinh nhai, khó tránh xảy ra chuyện “bần cùng sinh đạo tặc”, thế nhưng tình nghĩa giữa những người nông dân qua nhiều phen thử thách càng trở nên đậm đà, sâu nặng bội phần. Tình nghĩa ấy được gửi gắm trọn vẹn qua bài ca dao sau đây của miền “kẻ chợ” Diên Sanh, Hải Lăng, Quảng Trị:

Tháng giêng, tháng hai, tháng ba, tháng bốn, tháng khốn, tháng nạn

Đi vay đi dạm được một quan tiền

Ra chợ Kẻ Diên mua một vác tre

Về che cái quán

Ai thù ai oán

Đốt quán tôi đi

Tôi thương cái cột

Tôi nhớ cái kèo

Tôi thương cái đòn tay

Tôi nhớ cái cửa

Bạn nghèo gặp nhau

Các thủ pháp nghệ thuật ở đây được sử dụng đa dạng, linh diệu như ngắt nhịp 2-2, vần lưng, vần chân...đã tạo nên giọng điệu vừa gắt, vừa khoẻ trong câu ca dao của mạch tự sự diễn tả nỗi bi phẫn của người làm quán trước kẻ càn bậy. Mạch trữ tình thay thế mạch tự sự ở năm câu thơ cuối khiến cho dòng cảm xúc bài ca dao vận động sang ngã rẽ hoài niệm, tiếc nuối. Có hai cái quán được nhắc đến ở đây. Cái quán thứ nhất là cái quán hiện hữu cụ thể mà ta nắm bắt được bằng trực quan những bộ phận hợp thành nó như: cột, kèo, đòn tay, cửa...Cái quán thứ hai là cái quán biểu tượng của tâm hồn, tình nghĩa người Quảng Trị. Không biết có ước hẹn gì không chứ có khi người nông dân lam lũ với người trí thức uyên bác cũng đã tri ngộ nhau qua việc lập quán. Nguyễn Bỉnh Khiêm lúc cáo quan về làng, ra chơi bến Trung Tân, một thắng cảnh đẹp, bèn bàn với các kỳ lão về chuyện dựng ở đây một cái quán “để cho người đi đường nghỉ ngơi”. Dùng lời Chế Lan Viên luận về ý nghĩa việc lập quán Trung Tân của Nguyễn Bỉnh Khiêm ứng vào bài ca dao trên nhằm lý giải ý nghĩa biểu tượng cái quán của nông dân Quảng Trị sao mà ăn nhập đến thế: “Cái đẹp của cha ông là như vậy. Ở nơi thắng cảnh, đầu tiên không phải nghĩ đến Văn, mà phải nghĩ đến Người. Cái quán bé thôi mà lớn lao thay ý nghĩa. Cái quán chưa hẳn đẹp như một bài thơ, nhưng chúng ta có thể làm trăm bài thơ về cái quán này. Nó phục vụ sự sống-con người-người dân. Và vì thế, dẫu chưa là chữ nghĩa, nó đã là văn hoá”(1).

*Đến việc đánh thức tiềm lực: Còn da lông mọc còn chồi nảy cây

Có tâm hồn, tâm huyết rồi còn phải có lực nữa mới tạo nên thế tấn hai chân chững chạc. Không phải ngẫu nhiên mà cũng ở vùng Diên Sanh, Hải Lăng, Quảng Trị có thêm bài ca dao thứ hai về tiềm lực người nông dân xuất hiện:

Tháng giêng, tháng hai, tháng ba, tháng bốn, tháng khốn, tháng nạn

Đi vay đi dạm được một quan tiền

Ra chợ Kẻ Diên mua con gà mái

Về nuôi ba tháng, hắn đẻ ra mười trứng

Một trứng: Ung

Hai trứng: Ung

Ba trứng: Ung

Bốn trứng: Ung

Năm trứng: Ung

Sáu trứng: Ung

Bảy trứng: Cũng ung .

Còn ba trứng nở ra ba con

Con diều tha

Con quạ cắp

Con mặt cắt lôi

Đừng than phận khó ai ơi!

Còn da lông mọc còn chồi nảy cây!

Người làm quán bị đốt quán nhưng vẫn còn cái quán của ký ức rủ bóng xuống tâm tưởng. Người mua gà mái mới thực trắng tay, lại mắc nợ. Điệp khúc bi ca “trứng ung” bảy lần vang lên lạnh lùng và lê thê xoáy vào tim nhức nhối. Tưởng như đấy là đoạn “thắt nút” duy nhất của bi kịch mà tiếp nối sau đó ắt là đoạn “mở nút”: “Còn ba trứng nở ra ba con”. Nhưng không, đoạn thắt nút thứ hai, tức “thắt nút của thắt nút” xuất hiện, khi tia hy vọng mong manh loé lên từ ba quả trứng nở bị dập tắt. Phản ánh sự thực ở tận cùng giới hạn của nó như thế thường là khó có thể đưa ra cách kết thúc thoả đáng, thường là một thách thức không nhỏ cho việc “mở nút”, nói theo cách của nhà viết kịch. Bài ca dao này kết thúc có hậu mà tránh được giả tạo là vì tác giả dân gian không áp đặt ý định chủ quan cực đoan buộc hiện thực phải khuôn vào mà biết dự cảm sự vận động nội tại của hiện thực, ở đây là sự vận động của tiềm lực nội tại trong nhân tố con người xuất hiện rõ nét nhất ở hoàn cảnh nghiệt ngã: “Còn da lông mọc còn chồi nảy cây”. Tư duy phương Đông, tư duy Kinh Dịch đã từng phát hiện ra quy luật vận động theo chiều hướng lạc quan của sự vật: “Cùng tắc biến, biến tắc thông”, trong suy có thịnh, lúc cùng kiệt của sự suy sẽ có mầm thịnh trỗi dậy. Người nông dân không phát hiện ra quy luật biện chứng đó nhưng bằng trải nghiệm thực tiễn, bằng trực cảm, họ đã nắm bắt được sự vận động có tính quy luật nêu trên. Vì thế mà họ không thở than lúc suy biến khi biết rằng trong suy biến, sẽ có một nguồn lực mới "hoài thai". Vì thế mà niềm tin của nông dân Quảng Trị: “Còn da lông mọc còn chồi nảy cây”, niềm tin của nông dân Việt Nam: “Ai giàu ba họ, ai khó ba đời” là một niềm tin hoàn toàn có căn cứ từ trong chính minh triết Việt Nam, minh triết phương Đông. Hai bài ca dao không chọn những khoảnh khắc êm ái của đời thường mà chọn những tình huống ranh giới giữa sinh-tử-mất-còn đầy nghiệt ngã mà người Quảng Trị lâm vào để diễn tả, nên đã nêu bật được những nét đặc trưng của tâm và lực người nông dân “phát sáng” trong gian khó.

N.H

-----------------------

(1) Chế Lan Viên, Từ gác Khuê Văn đến quán Trung Tân, NXB Tác phẩm mới, Hội nhà văn Việt Nam, 1981, tr. 250.

READ MORE - Cao dao Quảng Trị

Phan Quang

Sông Thạch Hãn vào lúc sáng sớm


Cội Nguồn là Quê Hương

PHAN QUANG

Quê hương chưa hẳn là nơi ta sinh sống dài lâu nhất. Đối với những nông dân sớm rời xa đồng ruộng mong tìm cuộc sống ấm êm hơn nơi đất khách quê người, hoặc những chàng trai ra đi theo tiếng gọi của Tổ quốc từ thuở vị thành niên, thời gian sống ở quê hương đối với họ đôi khi gói gọn trong những tháng ngày náo nức tuổi ấu thơ. Nhưng bất luận với ai, quê hương luôn luôn hiện hữu, và càng đau đáu hơn trong lòng người xa xứ.

Cũng tương tự mối tình đầu, nào ai đã ăn ở với ai, sớm cách ly biền biệt, vậy mà làn hương toả ra từ mái tóc người thương một thời xa vắng vẫn đeo đẳng người thương mãi tới lúc đầu bạc răng long.

Mỗi người giữ hình ảnh quê hương trong lòng theo mỗi cách. Đối với người nghệ sĩ, đó là chùm khế ngọt trong vườn, là vành nón nghiêng che của mẹ, đối với nhà thơ, là ấn tượng về "những ruộng đói mùa, những đồng đói cỏ/ những đồi sim không đủ quả nuôi người"... (Thơ Chế Lan Viên).

Đối với tôi, quê hương là tiếng hò, khi nồng thắm thiết tha, khi dập dồn tiết tấu cần lao. Làng tôi không có đầm rộng sông dài, vắng tiếng hò mượt mà sóng nước như ở phá Tam Giang, song vẫn có những câu hò đối đáp giữa những người đêm thanh dắt trâu đạp lúa ngày mùa. Không có nữ, toàn những lực điền làm việc tới khuya, mỗi người lụi cụi một sân lúa không ai nhìn thấy mặt ai ngoài con trâu làm bạn. Vậy mà khi ai đó cất lên câu hò ân tình, hơi xô tưởng biệt tăm trong cô đơn thanh vắng, vẫn có một bạn nào đó trên một sân lúa hoặc gần hoặc xa lắng tai. Và khi người xướng dứt lời, người kia sẽ cất lời đối lại. Nếu người khởi cất giọng hò theo ý của bên trai, thì người đáp sẽ đóng vai bên gái, và ngược lại. Cũng có thể, từ một sân đâu đó ở xóm xa, sẽ cất lên một lời phụ hoạ. Và con trâu, người bạn thuỷ chung trong khi vẫn kiên nhẫn đếm từng bước chậm rãi trên dàn gồm những bó lúa tươi tựa vào nhau như mâm xôi khổng lồ, hình như nó cũng đang vểnh đôi tai. Tiếng hò ân tình kéo dài từ đầu hôm cho đến lúc tàn canh, khi sân lúa đã "chín", lúc này người và trâu đều đã mệt nhoài. Hò từ đầu hôm, hò mãi đến khuya. Để chống chọi cái ngủ chực ập đến sau ngày dài làm việc dưới nắng chang chang. Để quên đi nhịp lao động đơn điệu, dễ nản lòng trên mảnh sân ngai ngái mùi rơm rạ tươi và mùi lúa vừa chín tới...

Đối với tôi, quê hương còn là tiếng hò đập bắp những đêm Hè. Làng tôi có bãi trồng ngô ở Ba Lòng, thượng lưu sông Thạch Hãn. Trong kháng chiến chống Pháp bãi bắp làng Thượng là một nguồn lương thực của chiến khu. Thuở thanh bình, hàng năm cứ đến mùa gió Lão nổi, dân làng đưa thuyền ngược sông bẻ bắp; những chiếc "nôốc" rõ to chở ngập mạn những bông bắp rực màu da cam thuận gió thuận nước xuôi về ngã ba Ngô Xá rồi từ đó theo dòng sông Vĩnh Định ngược lên bến xóm. Sân nhà nào nhà nấy đỏ rực bắp tươi. Bắp phơi qua mấy nắng, chờ đêm trăng người ta đổ lên một cái giàn có chân đỡ đặt chính giữa sân. Rồi bên nam bên nữ ngồi trên hai hàng ghế đối diện, mỗi người cầm một chiếc gậy ngắn cùng đập bắp theo nhịp rập ràng. Hò khoan dô khoan... nhịp hò cần lao ngắn gọn, dập dồn, những hạt ngô theo nhịp đập mà rụng xuống rào rào, và cùng tiếng hò lan theo ánh trăng. Trai gái các làng lân cận nghe câu hò mời gọi, tìm đến đập giúp, không ai đòi công xá, chỉ cốt chia vui. Chủ chào đón thân tình, khích lệ khách chớ có ngại ngùng mình là người nơi xa vừa đến:

Đến đây đầu lạ sau quen,

Bóng trăng lạ mặt, bóng đèn lạ duyên...

Mọi người dịch lại, nhường khách một chỗ ngồi, và ai đó trao cho khách chiếc gậy. Khách khẽ nhịp vào thành giàn bắp và cất giọng lịch sự đón rào:

... Chào bên nam mất lòng bên nữ,

Chào người quân tử, bẽ dạ thuyền quyên

Cho tôi được chào chung một tiếng kẻo chào riêng khó chào...

Quê hương thường xuyên níu kéo người tha hương. Dường như có ai đó từng ví tình cảm quê hương từa tựa sợi dây thun vô cùng bền vững. Khi bạn ở gần, sợi thun chùng lại, bạn không thường xuyên cảm thấy ràng buộc mà sợi dây vô hình vẫn giữ chặt bạn. Bạn càng đi xa, bạn mỗi năm thêm một tuổi, sợi dây vô hình thuận với không gian và thời gian, lại càng níu kéo. Bạn càng đi xa, càng lớn tuổi càng cảm thấy sức mạnh của sợi-dây-quê-nhà xiết chặt con tim.

Khi tóc bạc trên đầu trôi dạt mãi

Cội nguồn ơi chiếc lá lại rơi về.

(Thơ Nguyễn Đức Mậu)

Có thể chiếc lá rơi về cội. Cũng có thể nó cuốn theo chiều gió phương xa, để rồi sẽ nhẹ nhàng đáp xuống nơi chân trời xa xăm. Có thể rồi bạn sẽ yên nghỉ một góc nào đó trên đất nước hoặc trên hành tinh này. Nhưng chiếc lá vẫn về cội. Dù đi đâu về đâu, quê hương vẫn còn đó câu hò...

Phan Quang

http://diendan.bacgiangview.com/



ĐỌC THÊM
MỘT MÌNH GIỮA ĐẠI DƯƠNG, bút ký
READ MORE - Phan Quang

Câu hò Quảng Trị




CÂU HÒ THÔN DÃ


Đan Hà


http://www.vietmedia.com/literature/muiviquehuong/?ID=19


Nhiều người khi mới đến quê hương tôi nơi Quảng trị, thường hay có cảm giác e ngại, sợ sệt, vì khi mới nghe đến một vùng đầy lam sơn chướng khí, mảnh đất eo hẹp được giới hạn bằng một bên là biển, một bên rừng. Khí hậu quanh năm hai mùa với mùa hè nắng cháy, nắng nung người làm héo cỏ khô cây; mùa đông thì mưa dầm ướt đất, mưa không ngớt làm sũng lầy những vùng cao nguyên đất đỏ, làm úa tàn lúa mạ của vùng đồng bằng. Trong những ngày vừa chớm thu, các khu rừng lá cây sắp ngã màu vàng và rụng dần, bắt đầu những cơn mưa ngâu lành lạnh, gió thổi mạnh làm rung đổ những giọt nước mắt của "Chức nữ thương nhớ Ngưu lang", như trong một chuyện cổ tích dân gian xa xưa nào, câu chuyện đầy thơ mộng và lãng mạn mà khi nghe kể lại chắc không ai lại không khỏi bùi ngùi! Tiếp theo là những cơn bão làm trốc gốc đổ cây, rồi tiếp đến là lụt lội ướt át. Không có năm nào lại không xảy ra thiên tai làm hư hại mùa màng, làm hao tổn không biết bao nhiêu mồ hôi nước mắt của người dân quê đã đổ xuống trên ruộng vườn nương rẫy, tạo nên cảnh đói rách lầm than. Câu tục ngữ thường truyền tụng nơi đây là: "Làm cho có để mưa gió mà ăn" là vậy, mỗi năm có hai mùa,mùa tháng ba thì cũng nhờ Trời mưa thuận gió hòa nên thu hoạch được đầy đủ, còn vụ mùa tháng tám thường hay bị thất thu, cho nên nông dân phải trồng thêm các loại hoa màu phụ như khoai sắn để phụ lực... (No lòng chớ phụ môn khoai, đến năm Thân Dậu lấy ai bạn cùng!). Họ thường nói đến nạn đói của năm Thân Dậu (là hai năm 1944-1945), như nhắc nhở cho con cháu biết một bài học dắng cay, để mà tiết kiệm để mà tích trữ lương thực, của cải cho những việc bất thường như: quan, hôn, tương, tế...( năm Thân Dậu tại Quảng trị xảy ra nạn đói kinh hồn, gây cảnh chết chóc cho cả hàng trăm ngàn người, vì năm ấy bị xảy ra một cuộc khủng hoảng về chính trị và kinh tế rất trầm trọng, trong lúc người Nhật vừa đến tiếp thu lãnh thổ từ tay người Pháp, thì tức tốc áp đặt một thể chế quá khắc nghiệt đối với người dân, như ruộng vườn không được trồng lúa mà phải trồng đay, trồng dâu nuôi tằm để khuếch trương nền kỷ nghệ v/v...). Vì thế mà nẩy sinh ra những phong trào từ trong dân chúng đứng lên chống Pháp, kháng Nhật và như thế là chiến tranh lại tiếp diễn đến triền miên! Cho đến thời cận đại thì các cường Quốc lại sử dụng mảnh đất Quảng trị như là một phương tiện, một nơi chốn để tranh giành ảnh hưởng Quốc tế, "Họ dùng làm vùng phi quân sự" cho các cuộc thí nghiệm võ khí đạn dược, hằng ngày đã đổ xuống hằng ngàn tấn bom cùng với thuốc khai quang đã tàn phá hết nhựa sống của thiên nhiên, hàng rào điện tử với bãi chông mìn, kẽm gai dăng khắp đây đó đã tạo nên cảnh chết chốc và gây thương tật cho dân chúng địa phương. Hiện tượng ấy cho đến bây giờ sau hơn hai mươi năm chấm dứt chiến tranh, nhưng những vũ khí giết người ấy vẫn còn nằm đó, đầy dẫy như dang chờ chực những ai bất hạnh!...

Vì thế cho nên những người khi mới chân ướt chân ráo đến vùng Quảng trị thì họ thường hay than rằng : "Đến nơi đây đất nước lạ lùng, nghe con chim kêu cũng sợ nghe con cá vùng cũng run!".

Cảm giác ấy không phải chỉ đối với những người vừa mới đến, mà người dân địa phương sống lâu năm tại đây cũng cảm thấy không thoải mái, không an nhàn! Vì ngoài khí hậu khắc nghiệt, lam sơn chướng khí, chiến tranh tàn phá còn có thú dữ hoành hành nữa! Như tại địa phương có câu tục ngữ: "Nác khe mèo, beo làng Rọng", (những con suối phát xuất từ vùng Tân lâm, Khe sanh đầu nguồn của con sông Vĩnh định, có con suối mang tên là"Khe mèo" vì nước suối trong vắt, đứng trên bờ có thể nhìn xuyên suốt dưới lòng khe, thấy được sỏi cát nằm dưới đáy, nước trong đến thế cho nên mới gọi là suối trong như mắt mèo, thế nhưng khi múc nước đem đun sôi thì nước ấy lại biến thành màu ti''m nhạt, nước uống rất độc. Cũng có thể giữa vùng thâm u cây cối là môi trường thích hợp cho muỗi mòng và các loại côn trùng có mang vi khuẩn truyền bệnh. Cư dân ở đây phần nhiều đều "mặt bủng da chì" nhất là trẻ em bỡi hậu quả cuả các chứng bệnh sốt rét và sán lãi! Ngành Y tế tại đây thì lại thiếu thốn đủ thứ nên không đáp ứng nhu cầu cho một chương trình phòng ngừa và trị liệụ( Nhớ lại trước đây khi còn làm lính, đi hành quân trên các vùng cao nguyên như Khe sanh, Lao bảo, Ba lòng, A sao, A lướị.. Đơn vị chúng tôi không ai tránh khỏi bệnh sốt rét rừng, mặc dầu ai nấy đều phải mang theo đầy đủ các loại thuốc phòng ngừa bệnh sốt rét và dầu nóng để trừ muỗi, vắt... Còn tại vùng Cuà là một thung lũng được bao bọc chung quanh bằng rừng núi, có một ngôi làng nằm giữa trũng thấp có nhiều chỗ làm ruộng, cho nên dân làng đặt tên là "làng Rọng", làng nầy nằm gần một khu rừng có rất nhiều thú dữ như cọp, heo rừng thường hay kéo về phá hoại mùa màng cũng như đe dọa tính mạng cuả dân làng, để đề phòng những bất trắc có thể xẩy ra, họ phải cất nhà sàn để ở hay làm nhà bằng cây rừng thật chắc chắn. Đêm đêm muốn đi đâu thì họ dùng cây đót bó lại thành bó, đốt lên làm đuốc soi đường và trừ thú dữ (tiếng địa phương gọi là cái chền) ngoài ra họ còn làm bẫy để sập thú rừng. Trâu bò cũng phải làm chuồng chắc chắn bằng cây rừng (gọi là cái ràn) chứ không thể buộc khơi khơi ngoài đường như các nơi khác.

Nhưng khi đến sinh sống tại Quảng trị một thời gian rồi thì họ đâm ra ghiền, không phải họ ghiền vì bùa mê thuốc lú, không phải họ ghiền vì nơi chốn ấy đã đem lại cho họ một cuộc sống vững chải về kinh tế, để được an nhàn mà vui sống cảnh điền viên! Bởi vì ngoài thiên tai, còn là nơi đã chịu nhiều oan nghiệt về chiến tranh dai dẳng, khiến cho tâm hồn họ phải chai lì, đời sống thì với những bất trắc chực chờ, đói nghèo và thiếu thốn đủ thứ ... Như vậy điều gì đã khiến cho họ phải gắn bó với cuộc sống nơi đâỷ Có lẽ chỉ còn là tình cảm, chỉ còn những kỷ niệm nào đó đã ghi lại trong tâm hồn họ, khiến cho họ phải luyến lưu phải gắn bó...

Kỷ niệm ấy có thể là hương lòng của Tiên tổ , có thể là nếp sống chất phác mà hiền hoà, đơn sơ mà hồn nhiên cùng với tình keo sơn của bà con làng xóm... Những mối liên hệ ấy là một chất keo gắn liền đời sống với nhau như anh em một nhà. (tình cảm ấy cũng có thể là tình đồng bào, được bắt nguồn từ huyền thoại Mẹ Âu cơ sinh trăm trứng, nở thành trăm con, năm mươi con lên núi, năm mươi con xuống biển nhưng núi và biển vẫn nằm trong một Tổ quốc, cho nên con cháu sau nầy đều vẫn là anh em) .

Các cuộc sinh hoạt làng xã, họ thường gặp gỡ nhau ở ngoài đồng ruộng, trong các buổi hội hè, gặp nhau trong những ngày mùa đang gánh lúa về trên con đường làng thơm mùi tóc rạ, họ chia xẻ cùng nhau những niềm vui khi đứng nhìn ra cánh đồng chín vàng trĩu đầy bông lúa và nhất là những điệu hò câu hát của những đêm giã gạo dưới trăng...

Hò ơị..

Đứng bên ni khe ngó qua bên tê khe thấy bụi tre,

bụi trừa bụi đựng

Ngó xuống dưới sông nọ có mấy hòn đá,

hòn dựng hòn nằm

Thiếp với chàng là đạo nghĩa trăm năm

Dẫu mai sau không thành chồng vợ, nhưng sớm

viếng tối thăm cũng tình!

Những hình ảnh như bụi tre, hòn đá chỉ là những biểu tượng để ví von, so sánh mà thôi, chứ nó không liên quan gì đến tình cảm của con người, mà ở đây "đạo nghĩa" mới là quan trọng, nó chính là rường cột của giềng mối, là chất keo để ràng buc và bảo vệ cái tình cảm thiêng liêng đã in sâu trong tâm khảm của mọi ngườị Những người đã sống chung với nhau cùng xóm, cùng làng thì dẩu không phải là bà con họ hàng, không phải là anh em ruột thịt, dẫu không thành tình nghĩa vợ chồng với nhaụ.. Nhưng cùng chia xẻ những niềm vui nỗi buồn, hay thăm viếng và giúp đở lẫn nhau trong lức hoạn nạn, thì đó cũng là những an ủi cần thiết cho chúng ta trong đời sống nầy rồi (Bà con xa không bằng láng giềng gần mà!). Tình cảm ấy cũng không hẳn chỉ dành cho những người đã chung sống với nhau lâu năm, mà còn đối với những người mới cùng hạnh ngộ, cho dù chỉ là một khách vãng lai:

Ai về phố Hi , sông Cầu

Để thương để nhớ, để sầu cho aỉ

Để sầu cho khách vãng lai

Để thương để nhớ cho aỉ để sầu!

Để sầu cho khách vãng lai, hay để sầu cho người ở lạỉ Cũng chỉ là những câu hỏi được lặp đi lặp lại như một nỗi i dùng dằng giữa kẻ ở người đi, như nỗi luyến tiếc một cái gì thật mơ hồ, nhưng biết rồi đây sẽ tàn phai theo ly biệt! Nghe nó thật là ngổn ngang trăm mối, bởi vì câu hỏi trước thì chỉ thuần tuý là một câu hỏi, chỉ cần một câu trả lời là xong thí dụ như: (nếu biết rằng em đã lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong!) , như vậy là đã được giải quyết một cách thoả đáng rồi, không còn gì để mà phân vân nữa cả. Thế nhưng câu hỏi cuối cùng mới chính là vấn đề cần phải suy luận, vì nó vừa là một câu hỏi mà cũng vừa là một lời than! Một câu mà thành ra hai câu, một câu hỏi và một lời than chăng? Cũng có thể lắm chứ, (Để thương để nhớ cho aỉ để sầụ..), mới nghe thì cũng chỉ lặp lại câu hỏi trước, nhưng nhìn kỹ thì đoạn sau lại được (hay bị) đảo ngữ, cho nên không biết đây là câu hỏi hay câu trả lời đâỷ Chữ "để sầu" treo lơ lững ở phía đàng sau như một nỗi than trách ai đó, nó không còn nằm trong phạm vi câu hỏi nưã, mà nó đã rớt lại đằng sau như còn lưu luyến một cái gì, thật thiết tha biết mấỷ Câu hỏi kế tiếp cũng bắt nguồn từ manh nha tình cảm:

Ra về có nhớ em không?

Hay là xuôi buồm thuận gió biệt mong xa chừng!

Ở đời cảnh hợp tan thì làm sao mà tránh khỏỉ Vẫn biết vậy nhưng khi đã dan díu với nhau rồi, thì ai bắt mình phải xa lánh những ước mơ thầm kín? Của một lần đã cùng ai hẹn biển thề non! Đã một lần cùng ai nói câu ước hẹn, cho nên nỗi phân vân cứ đeo đẳng mãi không thôi!

Ra về sao đặng mà về?

Bỏ non bỏ nước, bỏ mấy lời thề cho ai!

Bỏ non, bỏ nước... thì chắc là có thể bỏ được, vì đây không phải là nơi "chôn Nhau cắt Rốn", đây không phải là quê hương xứ sở chi của mình, thì đến hay đi cũng không thành vấn đề chi mấỵ.. Nhưng còn "mấy lời thề" nó mới là rắc rối làm saỏ Bỏ lại cho ai đâỷ ...

Đối với những người mới quen biết thì họ chỉ bóng gió, với lời lẽ tuy chơn chất nhưng thiết tha, tuy quê mùa nhưng gói ghém một tình cảm thiệt thâm thúy đến đường nàọ.. Còn đối với những người (xa xôi chi đó mà lầm, phải hương hương bén, phải trầm trầm thơm) thì saỏ Họ có đối đãi với nhau như thế chăng? Có lẽ là không đâu, vì họ có cần chi phải "bóng gió" cho thêm mệt, lại phải đi vòng vo tam quốc cho hao xăng tốn nhớt? Cho mệt trí phí sức, cứ đi thẳng một dường mực tàu, để "thâu ngắn đường về", mặc dầu đôi khi vẫn biết rằng: "Thẳng mực tàu thì đau lòng g " đấy! :

Mấy anh chưa vợ quanh năm

Đêm đông lạnh giá anh nằm với aỉ

Thiệt nghe cũng khó trả lời đây có phải không các bạn "tu mi nam tử"? Ai đâu lại đi hỏi cắc cớ như thế nầy, biết mần răng mà trả lời cho xuôi thuyền mát máỉ Biết làm sao mà trả lời cho nghe được cái lỗ taỉ Làm sao mà mở ra một con đường uyên nguyên cho cõi đi về khỏi cô đơn giá lạnh? Bởi vì anh vốn là một kẻ quê mùa dân dã, nghèo khó một đời thì làm sao dám cùng người để "gối phụng chăn loan"? Bởi vì anh chỉ là một gã tiều phu đốn củi thì làm sao dám mơ ước được nằm với aỉ Bởi vì thân phận của anh "Khó nghèo ở chốn sơn lâm, mai than chiều củi, gặp trầm họa may", cái họa may nầy cũng hiếm hoi lắm đó, vì trầm là một loại gỗ quý hiếm, thì làm sao mà bắt được giữa hư không? Cho nên câu hỏi nầy xem ra đã bí lối, không tìm được câu trả lời thì thấy cũng mất mặt cả "đấng nam nhi", mà câu trả lời không được chí lý thì làm sao tránh khỏi miệng đời hay dòm ngó, thị phỉ Cho nên cũng có người phải suy nghĩ nát óc để tìm ra câu trả lời để họa may cứu vãn tình thế! May thay một đấng nho thâm uyên bác đã thay thế chúng ta để "gở rối tơ lòng"!:

Em hỏi chi chuyện ấy cho mất công

Nếu nóng thì anh nằm ngủ thẳng, mà lạnh thì

nằm cong khó gì?

Lành thay, lành thay mọi việc đã được giải quyết ổn thỏa rồi, vì anh đây đâu phải còn cái diện "ăn chưa no, co chưa ấm" nữa đâu, mà phải đi mắc mưu cái phận "thuyền quyên" đánh cờ còn chưa sạch nước cản? Nếu còn câu nào hóc hiểm nữa thì cứ đem ra, nếu anh trả lời không đặng thì anh nguyện sẽ "làm phận đàn bà như em!".

Anh trèo lên cây sung cũng biết mùi sung sướng

Anh chê tơ anh kén lụa, thì lụa cũng là tằm

Em đố anh một năm mười hai tháng, tháng mô

không rằm rứa anh?

Đối thì phải đáp, hỏi thì dĩ nhiên phải trả lời nhưng câu hỏi nầy cũng hơi có phần gay cấn, vì tháng nào lại tháng không có rằm? "Nó" đã khôn ngoan đi nằm chính giữa để khỏi mất phần mền, dù ai có kéo qua kéo lại thì trên thân nó cũng đủ chăn ấm với nệm êm, bây chừ biết tìm mô ra một thằng "dại" đã được nằm giữa mà lại bỏ mất phần mền đây em? Thôi thì "phóng lao thì phải theo lao", đã lỡ leo lên lưng cọp rồi thì ai dại gì nhào xuống cho bị cọp vồ? Vẫn biết tơ với lụa thì cũng phát xuất tự tằm, mà con tằm thì cũng chỉ là loài sâu chớ quý hồ chi đây mà anh phải chọn? Nhưng một năm mười hai tháng mà tháng mô lại không có rằm thì lại là một câu hỏi "bất thường"! Nhưng dù sao đi nữa thì anh cũng phải vận dụng cái "trí thông minh" để trả lời cái câu lắt léo:

Em trèo lên cây cam cũng biết là cây cam khổ

Em che chài em chọn lái, thì lái cũng là gai

Một năm mười hai tháng, tháng đào hoa kết

trái là tháng không rằm em ơi!

Đối đáp như vậy thì còn bắt bẻ vào đâủ Vì chài và lái thì cũng lấy từ cây gai để thất để nối, mặc dầu lá gai còn dùng để làm bánh ít, được nhiều công dụng cho dân quê như cũng chỉ là loài cây cỏ dại mọc khắp ven rừng, thì có gì quý báu đâu mà phải chọn lựả

Còn "tháng đào hoa kết trái" thì mới chính là cái tháng hiếm quý nhất trên đời, cho nên tháng ấy không có "ngày rằm" là phải, nếu ai không tin thì hãy cứ trồng hoa đào mà đợi xem!

Bởi vì tháng ấy nó đằm thắm như tình cảm của các thanh niên thiếu nữ ở nơi đồng quê thôn dã tình cảm ấy nó thơm ngát như cỏ nội hoa đồng, chân phương như một màu bát ngát của cánh đồng lúa vàng, đang nằm trải dài phơi mình trong nắng sớm... Tình cảm ấy đã gói ghém một bản chất đôn hậu nhưng chân thành, đã thể hiện qua điệu hò câu hát của miền dân dã. Tâm sự ấy đã gắn liền với nếp sống hàng ngày như hơi thở, đem nguồn vui đến như bao tiếng cười dòn tan của trai gái trong làng, mỗi lần gặp nhau đầu ngõ.

Khi mới mở mắt chào đời chúng ta đã nghe tiếng ru của Mẹ, tiếng hát của anh, câu hò của chị...Hòa cùng bao niềm yêu mến của bà con xóm giềng, là những chất liệu đã nuôi dưỡng cho chúng ta khôn lớn, ấp ủ cho chúng ta có một tâm hồn phong phú về nền văn học dân gian, mà nó vẫn tiềm tàng trong chúng ta, nó vẫn chiếm ngự nguy nga giữa lòng mọi người dù còn ở nơi quê nhà, hay không may phải nghìn trùng xa cách! Vì nền văn học ấy đã chất chứa đầy tính chất của dân tộc Việt, tạo nguồn vui cho gia đình và xã hội ..

READ MORE - Câu hò Quảng Trị