Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label DI SẢN VĂN HÓA. Show all posts
Showing posts with label DI SẢN VĂN HÓA. Show all posts

Thursday, March 19, 2026

NGÔI NHÀ CỔ BÊN DÒNG Ô LÂU - Bài: Hoàng Thư Uyên - Ảnh: Nguyễn Hải

Dòng Ô Lâu huyền thoại trước khi hòa mình vào đầm phá Tam Giang rộng lớn đã để lại bên mình một không gian ấn tượng: Hội Kỳ – ngôi làng cổ lưu dấu nhiều giá trị văn hóa.


Làng Hội Kỳ bên dòng Ô Lâu

Có lẽ sẽ là thiếu sót khi đề cập đến vùng đất miền Trung mà không gợi nhớ cuộc hôn nhân lịch sử giữa nàng công chúa nhà Trần – Huyền Trân với vị vua Champa Chế Mân vào đầu thế kỷ 14 (năm 1306). Sau cuộc hôn nhân này, châu Ô và châu Lý của Champa nhập vào lãnh thổ nước Đại Việt như một món quà sính lễ với tên gọi châu Thuận và châu Hóa – vùng đất Quảng Trị và Thừa Thiên Huế hiện nay. Giữa 2 miền đất, dòng Ô Lâu tự xưa đã như là ranh giới của tự nhiên, của khu vực hành chính cho đến thời hiện đại, và còn là ranh giới của những vùng văn hóa, của giọng nói, của tập quán sinh hoạt… Là ranh giới, nhưng chính bản thân nó lại là con đường nối kết, từ văn hóa của bộ phận người cư trú trên vùng bán sơn địa ở thượng nguồn tới văn hóa của làng xã nông nghiệp, của những làng nghề truyền thống, và của những cộng đồng cư dân sinh sống trên mặt nước. Những địa danh như Hội Kỳ, Câu Nhi, An Thơ, Hưng Nhơn, Phú Kinh, Văn Quỹ… phía tả ngạn; hay Phước Tích, Mỹ Xuyên, Ưu Điềm, Phò Trạch, Vân Trình, Thế Chí… ở hữu ngạn, đều là những danh hương lưu dấu làm nên hình ảnh của một miền di sản.

Chân dung làng cổ…

Nằm trải dài chừng 1km bên dòng Ô Lâu, với chiều rộng khoảng 0,5km, Hội Kỳ (xã Hải Chánh, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị) là ngôi làng có diện tích khá khiêm tốn với hơn 100 hộ, lấy kinh tế nông nghiệp làm chủ đạo.

Ngược dòng lịch sử, sau cuộc Nam chinh của vua Lê Thánh Tông vào năm 1471, vị khai canh của làng đã lựa chọn mảnh đất bồi tụ phù sa bên khúc quanh của dòng sông để làm nơi dừng chân, đặt tên là Hội Kỳ. Ngôi làng từ ấy luôn hướng mặt về phía dòng nước như nguồn sống, lấy lũy tre ngà làm thành trì, mở những ngõ xóm hình xương cá về phía ruộng đồng mặt sau như hậu phương vững chắc.


Đình làng Hội Kỳ


Từ buổi đầu, thập nhị tông phái (12 dòng họ) của làng như Nguyễn, Nguyễn Văn, Dương Quang, Dương Văn, Trần, Ngô, Nguyễn Đức… đã cùng nhau vỡ đất khai hoang, chọn nghề nông làm sinh kế. Trải qua hơn 500 năm, làng Hội Kỳ có đầy đủ các thiết chế văn hóa tín ngưỡng đình, miếu, nhà thờ tộc họ, tất cả đều hướng mặt ra bờ sông. Đình làng là nơi dân làng tổ chức nghi tiết xuân thu nhị kì hàng năm, là nơi trao truyền văn hóa truyền thống với các lễ tục, lệ làng. Bên cạnh đó, những ngôi nhà thờ họ là nơi lưu giữ các văn bản gia phả, sắc phong, văn sớ cúng tế, nơi cố định nề nếp, gia phong của dòng họ. Đặc biệt, trong không gian của làng, khoảng đất phía sau khu vực cư trú hiện còn lăng tẩm của bà phi Dương Thị Ngọt – người con tài sắc của làng, vị cửu giai tài nhân – phi tần của vua Thành Thái – vị vua thứ 10 của triều Nguyễn.

Làng Hội Kỳ nhỏ, hẹp, nhưng ẩn mình bên trong không gian ấy lại là cảnh sắc trữ tình với hệ thống di sản văn hóa đồ sộ được hun đúc qua nhiều thế hệ.

… với những nốt trầm mộc mạc

Trong một chuyến khảo sát vào năm 2014, ông Kitani Kenta, chuyên gia thuộc Viện Di sản Thế giới của UNESCO, đại học Waseda, Nhật Bản đã từng nhận xét “… nhìn chung, các cung điện ở Huế không đạt độ tinh xảo, chi tiết như những ngôi nhà rường ở Hội Kỳ”. Sự tinh xảo và chi tiết ấy đến từ bàn tay tài hoa của những người thợ mộc ở Quảng Trị, vốn là những kíp thợ xây dựng nhà rường nổi tiếng ở miền Trung.

Có khoảng hơn 20 ngôi nhà rường có tuổi đời hàng trăm năm ở làng Hội Kỳ. Kết cấu của chúng là dạng 1 gian 2 chái (phương đình/ nhà bánh ú), 3 gian, hoặc 3 gian 2 chái. Bộ rường nhà được làm từ gỗ mít, liên kết với nhau bằng các ngàm, mộng, nêm, chốt mà không dùng đinh, ốc, vít, dây néo hay bất cứ chi tiết nào làm bằng kim loại. Cột được đặt trên các chân bằng đá đẽo thành hình khối vuông hoặc hình trái bí để chống ẩm, mối mọt. Mái nhà lợp ngói liệt, phía trước mở 18 lá cửa thượng song hạ bản, tường xây gạch, nền bằng đất nện, lát gạch hoa hoặc tráng xi măng. Nét tinh xảo trên những bộ rường nhà thể hiện ở chi tiết chạm khắc hình rồng, cù… các đề tài trang trí mang chủ đề tứ thời, bát bửu, những hình tượng hoa mai – chim hạc, hoa cúc – con bướm, chùm nho – con sóc.


Cổng làng đượm màu thời gian


Điển hình trong số những ngôi nhà rường ở Hội Kỳ là Tích Khánh Đường, được dựng vào năm Thành Thái nguyên niên (1889) bởi ông Dương Văn Vĩ – vị chánh tổng tổng An Thơ dưới thời Nguyễn. Ngoài lối kiến trúc đặc trưng, ngôi nhà này có những vật dụng như sập gụ, tràng kỷ, tủ chè, cùng với hoành phi, câu đối được bố trí hài hòa, tôn trí lẫn nhau. Đây thực sự là một tác phẩm nghệ thuật về kiến trúc, sắp đặt.

Đến với Hội Kỳ, chúng ta cảm nhận một cách trọn vẹn vẻ đẹp của những ngôi nhà rường nằm ẩn mình thấp thoáng trong các khu vườn được bao bọc bởi một vòng rào tạo bởi những cây chè Tàu luôn cắt xén phẳng phiu… Từ cổng ngõ, sau lối đi giới hạn bởi hàng cây là bức bình phong, bể cạn, hòn non bộ, khoảng sân nhỏ. Sắp bày nơi khoảng sân là những chậu trồng cây kiểng, vài giò phong lan được treo rải rác dưới mái hiên, 2 bên và sau vườn trồng cây lưu niên, hoa trái, cây gia vị.

Mang đầy đủ thuộc tính của một loại hình kiến trúc đặc thù, những ngôi nhà rường ở Hội Kỳ hiện lên trong mắt người quan sát với một vẻ gì đó e ấp, thầm kín và tĩnh lặng… Tuy thế, ta vẫn có thể cảm nhận được chất mãnh liệt, mạch sống ẩn tàng dưới vẻ hiền hòa ấy. Đây cũng là thế ứng xử rất thông minh của con người với môi trường sống.

Hoàng Thư Uyên

Nguồn:

https://heritagevietnamairlines.com/


 

READ MORE - NGÔI NHÀ CỔ BÊN DÒNG Ô LÂU - Bài: Hoàng Thư Uyên - Ảnh: Nguyễn Hải

Monday, January 19, 2026

BÁNH AYƠH: HƯƠNG VỊ ĐỘC ĐÁO CỦA NGƯỜI VÂN KIỀU QUẢNG TRỊ - Video từ Facebook Trúc Dương - Bài của Nguyễn Khắc Phước

 

Bánh Ayơh: 

Hương Vị Độc Đáo Của Người Vân Kiều Quảng Trị

 

Dọc theo dãy Trường Sơn hùng vĩ, nơi đại ngàn Quảng Trị nắng gió, người Bru - Vân Kiều từ bao đời nay đã tạo nên một nền văn hóa ẩm thực vô cùng phong phú và độc đáo. Giữa vô vàn những món ăn mang hương vị của núi rừng, có một loại bánh không chỉ đơn thuần là món ăn, mà còn là biểu tượng của lòng hiếu khách, sự gắn kết cộng đồng và những giá trị tâm linh sâu sắc. Đó chính là bánh Ayơh – món bánh giã tay truyền thống mang đậm bản sắc của người Vân Kiều.

Ảnh từ Facebook  Ẩm Thực Bru Vân Kiều

 


1. Nguồn gốc từ hạt lúa rẫy và sự chắt chiu của đất trời

 

Để hiểu về bánh Ayơh, trước hết phải hiểu về hạt lúa rẫy của người Vân Kiều. Khác với lúa nước ở đồng bằng, lúa rẫy (người địa phương gọi là nếp Than hoặc nếp Nhung) được trồng trên những sườn đồi cao, lớn lên nhờ nước trời và linh khí của núi rừng.

 

Bánh Ayơh ra đời từ chính sự trân trọng những hạt ngọc của Giàng (Trời) ban cho. Theo các già làng kể lại, bánh Ayơh đã có mặt trong đời sống người Vân Kiều từ rất lâu đời. Chẳng ai rõ nó xuất hiện chính xác từ khi nào, chỉ biết rằng khi những bản làng bắt đầu biết canh tác lúa rẫy, biết làm lễ mừng lúa mới, thì mùi thơm của bánh Ayơh đã bắt đầu lan tỏa khắp gian bếp của những ngôi nhà sàn.

 

2. Quy trình chế biến: Sự kỳ công từ đôi bàn tay khéo léo

 

Bánh Ayơh nhìn vẻ ngoài có vẻ đơn giản, giống như bánh dày của người Kinh, nhưng quy trình để tạo nên một chiếc bánh chuẩn vị lại đòi hỏi sự tỉ mỉ và sức lực đáng kể.

 

Lựa chọn nguyên liệu

 

Nguyên liệu quan trọng nhất chính là nếp rẫy. Nếp phải là loại mới thu hoạch, hạt tròn, mẩy và có mùi thơm nồng nàn. Bên cạnh đó, một thành phần không thể thiếu tạo nên hương vị đặc trưng là vừng (mè) đen. Vừng đen được người dân trồng ngay trên rẫy, hạt nhỏ nhưng rất bùi và thơm.

 

Công đoạn chế biến

 

Ngâm và đồ xôi: Gạo nếp được vo sạch, ngâm trong nước suối khoảng vài tiếng cho mềm rồi cho vào chõ gỗ để đồ (hấp). Người Vân Kiều có bí quyết riêng để xôi chín đều, dẻo nhưng không được nát.

Giã bánh (Công đoạn quan trọng nhất): Đây là lúc cần đến sức mạnh của những chàng trai và sự khéo léo của những người phụ nữ. Khi xôi còn nóng hổi, người ta cho vào cối gỗ. Vừng đen đã rang chín, thơm lừng cũng được cho vào cùng. Hai người đàn ông lực lưỡng sẽ dùng chày gỗ giã liên tục, đều tay.

Giã bánh Ayơh không chỉ là làm nhuyễn xôi, mà là làm sao để hạt vừng đen hòa quyện hoàn toàn vào từng thớ nếp, tạo nên một màu xám đậm đặc trưng và mùi thơm béo ngậy.

Nặn bánh: Sau khi khối bột nếp đã mịn màng và dẻo quánh, những người phụ nữ sẽ thoa một ít dầu thực vật (hoặc mỡ lợn) lên tay để nặn bánh. Bánh thường có hình tròn dẹt, to bằng lòng bàn tay.

 

3. Hương vị độc bản của đại ngàn

 

Thưởng thức bánh Ayơh là một trải nghiệm vị giác thú vị. Ngay từ miếng đầu tiên, bạn sẽ cảm nhận được độ dẻo quánh của nếp rẫy – cái dẻo không hề dính răng mà lại rất mềm mại. Ngay sau đó là vị bùi, béo ngậy của vừng đen tan tỏa trong khoang miệng.

 

Cái hay của bánh Ayơh là sự mộc mạc. Bánh không cần thêm đường hay bất kỳ loại gia vị phức tạp nào. Vị ngọt thanh tự nhiên từ tinh bột nếp hòa quyện với mùi thơm đặc trưng của khói bếp và nắng gió Trường Sơn tạo nên một sức hút khó cưỡng. Đối với người đi rừng, một chiếc bánh Ayơh có thể cung cấp đủ năng lượng cho cả một ngày dài làm việc bền bỉ.

 

4. Giá trị văn hóa và tâm linh

 

Đối với người Vân Kiều tại Quảng Trị, bánh Ayơh không phải là món ăn hằng ngày mà thường xuất hiện vào những dịp đặc biệt quan trọng:

 

Lễ mừng lúa mới (Lễ hội đâm trâu): Đây là lúc bánh Ayơh được dâng lên các vị thần linh, tổ tiên để tạ ơn một mùa màng bội thu và cầu mong cho năm tới mưa thuận gió hòa.

Cưới hỏi: Bánh là lễ vật không thể thiếu trong các nghi thức dạm ngõ, cưới hỏi, thể hiện sự gắn kết bền chặt giữa hai dòng họ.

Đãi khách quý: Khi có khách quý đến thăm bản, người Vân Kiều sẽ tổ chức giã bánh Ayơh. Tiếng chày giã bánh vang lên rộn ràng khắp bản làng như một lời chào đón nồng hậu nhất.

 

 "Bánh Ayơh không chỉ là món ăn, nó là tấm lòng của người Vân Kiều. Giã bánh càng kỹ, bánh càng dẻo, cũng như tình cảm dân làng càng bền chặt." - Một già làng tại huyện Hướng Hóa chia sẻ.

 

 5. Bảo tồn và phát huy giá trị di sản

 

Trong xu thế hội nhập, dù có nhiều loại bánh công nghiệp tiện lợi ra đời, nhưng người Vân Kiều ở Hướng Hóa, Đakrông (Quảng Trị) vẫn giữ thói quen làm bánh Ayơh. Ngày nay, bánh Ayơh không chỉ nằm lại ở các bản làng xa xôi mà đã bắt đầu xuất hiện tại các lễ hội văn hóa, các hội chợ đặc sản vùng miền, trở thành một sản phẩm du lịch độc đáo.

 

Du khách khi đến với các bản du lịch cộng đồng như bản Khe Đá, bản Phường hay thị trấn Khe Sanh thường rất hào hứng với trải nghiệm tự tay giã bánh cùng dân bản. Đó là cách tuyệt vời nhất để văn hóa truyền thống được sống mãi và lan tỏa.

 

 Lời kết

 

Bánh Ayơh là sự tinh túy được kết tinh từ những hạt gạo nếp thấm đẫm mồ hôi trên nương rẫy và sự cần cù của con người vùng cao. Nếu có dịp ghé thăm mảnh đất Quảng Trị nắng cháy, đừng quên dừng chân nơi những ngôi nhà sàn của người Vân Kiều để nghe tiếng chày giã bánh thình thịch và nhâm nhi vị dẻo thơm, bùi ngậy của chiếc bánh Ayơh. Bởi trong từng miếng bánh ấy, bạn sẽ cảm nhận được cả hơi thở của đại ngàn và tấm lòng hồn hậu, chất phác của con người nơi đây.

 

Liên kết:


FACEBOOK ẨM THỰC BRU VÂN KIỀU 

  FACEBOOK TRÚC DƯƠNG

READ MORE - BÁNH AYƠH: HƯƠNG VỊ ĐỘC ĐÁO CỦA NGƯỜI VÂN KIỀU QUẢNG TRỊ - Video từ Facebook Trúc Dương - Bài của Nguyễn Khắc Phước

Saturday, December 27, 2025

VÀI TÂM SỰ VỀ CUNG ĐIỀN TRẠCH VÀ CÁI DUYÊN CƯ NGỤ - Đặng Xuân Xuyến

Tác giả Đặng Xuân Xuyến


VÀI TÂM SỰ VỀ CUNG ĐIỀN TRẠCH

VÀ CÁI DUYÊN CƯ NGỤ 

Đặng Xuân Xuyến

 

Trong lá số Tử Vi, cung Điền Trạch chính là cái “giỏ” đựng nhà đất của mỗi người. Khi đã đi qua đủ những thăng trầm để tin vào sự an bài của định mệnh, đủ tĩnh tại để thấu hiểu lẽ nhân quả, ta sẽ nhận ra ngôi nhà không chỉ được xây bằng gạch đá, vôi vữa mà nó được dựng lên từ chính cái Phúc Đức hay Nghiệp Quả của mỗi người. Thế nên, việc cố tìm một chốn an cư hoàn hảo về phong thủy hay vắt kiệt tâm trí tìm kiếm địa thế đại cát, đôi khi lại chỉ là việc “Dã tràng xe cát” trước những sắp đặt của số phận. Phong thủy thực sự không nằm ở hướng cửa, màu sơn mà nằm ngay trong cái “giỏ” Điền Trạch mà ta đã tự tay đan dệt từ bao tiền kiếp. Nói thế, không có nghĩa là ta cứ mặc kệ cho số phận đưa đẩy. Khi phúc chưa đủ dày, việc cưỡng cầu những điều quá tầm tay thì cũng chỉ như “Dã tràng xe cát” nhưng nếu ta biết chăm chút cho gian nhà thêm ngăn nắp, sửa sang góc khuyết cho dòng khí luân chuyển hợp lý thì chính sự vun vén ấy sẽ bồi đắp thêm năng lượng cho mảnh đất mình cư ngụ. Một ngôi nhà mái tranh vách đất nếu lòng người an định và biết cách sắp đặt cho hài hòa, ấm cúng thì tự khắc đất ấy cũng hóa đất lành.

 

Tại sao vậy? Bởi lẽ, cung Điền Trạch đã mô tả rất rõ cái “hình”, cái “tướng” nơi cư ngụ, như một tấm bản đồ định mệnh mà mỗi người được trao tay. Cái nghiệp nhà đất vận vào ta như một định lý, khiến cơ duyên dẫn dắt ta đến với những không gian tương ứng với năng lượng của chính mình. Ví như người có cung Điền Trạch gặp Không - Kiếp hãm địa, dù có ôm cả đống tiền đi chọn đất cũng dễ rơi vào cảnh ở nhà tạm, nơi lắm thị phi, nhiều tranh chấp. Hay người có Điền Trạch gặp Đà La - Cô Thần hội tụ thì dẫu nhà hướng đại cát cũng thường vướng ngõ cụt, láng giềng khó tính khiến khí không thông, lòng người khó mở. Hoặc người có Điền Trạch gặp Vô Chính diệu dính Tuần - Triệt thì cả đời cứ như cánh chim không mỏi, vừa bén hơi ấm nhà này đã lại phải dời gót theo sự xoay vần của con tạo. Thấu hiểu Tử Vi không phải để cam chịu, mà để biết nơi đang cư ngụ “hổng” ở chỗ nào mà dùng Phong thủy tu chỉnh lại cho vẹn tròn. Thay vì mải miết đi tìm một hướng nhà hoàn hảo trong sách vở, người trí tuệ sẽ dùng Phong thủy như một liệu pháp để chuyển hóa sát khí: dùng ánh sáng hóa giải sự u uẩn của Cô Thần, dùng sự ngăn nắp và dòng chảy của khí để trấn an cái náo động của Không - Kiếp. Khi ta biết cách chủ động sắp xếp lại không gian sống cho hài hòa cũng chính là lúc ta đang từng bước tháo gỡ những nút thắt của Định Mệnh, để dù cái “giỏ” Điền Trạch có rách vẫn đủ vững chãi đi qua những giông bão của cuộc đời.

 

Tôi từng chứng kiến không ít gia đình chỉ vì nghe lời thầy phán hướng nhà không hợp mà sinh lòng nơm nớp lo sợ, tốn kém tiền bạc để xoay cửa, trấn yểm; nhưng rồi khi sửa xong, hướng rất đẹp mà tai ương vẫn kéo đến bởi cái “Hạn” của người đó đã đến lúc phải trả. Ngược lại, nhiều gia đình sống trong những ngôi nhà tập thể cũ kỹ, xét theo phong thủy là đại kỵ nhưng vẫn thọ trường, con cháu vẫn thành đạt nhờ “Phúc” lớn và “Đức” dày họ tu từ bao kiếp - chính nguồn năng lượng thiện lương ấy đã tựa như bức bình phong vô hình hóa giải những khiếm khuyết của địa lý. Tuy nhiên, dù Phúc - Đức luôn là gốc, cũng không nên nhầm lẫn rằng chỉ cần sống thiện lương là đủ để hóa giải mọi sát khí vật lý, bởi một ngôi nhà tối tăm, ẩm thấp hay khuyết hãm phương vị vẫn sẽ tác động tiêu cực đến hệ thần kinh và sức khỏe người cư ngụ trước khi “phúc” kịp đến, vì thế việc kết hợp giữa tu dưỡng tâm tính và cải thiện môi trường sống mới là giải pháp vẹn toàn nhất và đấy mới chính là “Phúc Đức thực tại” của người thấu hiểu.

 

Trong giới phong thủy, lâu nay người ta vẫn hay nhắc đến thuyết "Sơn hoàn thủy bão" hay "Tọa sơn" như một lẽ đương nhiên, rằng ngôi nhà nhất thiết phải có núi cao hay gò đất phía sau thì gia đạo mới vững, nhân đinh mới vượng. Nhưng nếu nhìn rộng ra thực tế ở những vùng quê đồng bằng Bắc Bộ hay miền Tây sông nước, ta sẽ thấy biết bao ngôi nhà phía sau chỉ là mảnh vườn, đồng lúa hay dòng sông chảy xiết, vậy mà từ những ngôi nhà "không có điểm tựa" đó, biết bao thế hệ đã trưởng thành, con cháu vẫn đỗ đạt, giàu sang. Cái “Tọa sơn” vững chãi nhất không phải là hòn đá hay ngọn núi mà chính là cái gốc Phúc - Đức mà ta và tổ tiên đã gieo trồng. Vì vậy thay vì loay hoay xây tường cao hay đắp núi giả để tìm sự yên tâm giả tạo thì hãy đơn giản hiểu rằng "Sơn" lúc này có thể là hàng cây xanh, là bức tường rào ngăn nắp hay chỉ là sự sắp xếp đồ đạc phía sau nhà cho gọn gàng để nhà cửa ấm cúng, khí trời lưu thông... Khi lòng đã an định, sống hòa hợp với cảnh quan thì chính cái "Tâm" thiện lành ấy mới là tòa “Tọa sơn” kiên cố nhất.

 

Tôi nghĩ, người khôn ngoan nên biết chấp nhận và thuận theo những gì mình đang có để biết mình cần phải sửa từ đâu. Nếu lá số định sẵn ta ở trong căn nhà hẹp, ngõ sâu, hãy cứ bằng lòng sắp xếp sao cho gọn gàng, thuận tiện nhưng tuyệt đối đừng cẩu thả. Thay vì cố đục tường khoét vách để cầu một cái “Minh Đường” huyễn hoặc khi diện tích hoặc kết cấu ngôi nhà không cho phép, hãy biến ngõ tối thành lối đi sáng sủa và biến căn nhà chật chội thành một không gian tinh tế, hài hòa để khí lưu thông. Việc mình sống thế nào trong ngôi nhà đó quan trọng hơn nhiều việc phương vị ngôi nhà đó nằm ở đâu, vì vậy đừng để những lý thuyết phong thủy xơ cứng làm mình thêm lo lắng, nhưng cũng đừng lấy hai chữ “Số Mệnh” làm cái cớ cho sự an phận, tùy tiện trong không gian sống của chính mình. Một ngôi nhà được chăm chút, bù đắp các khiếm khuyết sẽ tạo ra năng lượng tích cực, giúp chủ nhân minh mẫn hơn để tích đức, hành thiện.

 

Suy cho cùng, cung Điền Trạch trên lá số chỉ là cái bản thiết kế thô mà cuộc đời giao cho mỗi người, còn việc kiến thiết nó thành một tổ ấm an lành hay không, lại phụ thuộc vào cái trí và cái tâm của chính mỗi người. Đừng chỉ cam chịu "ở" trong Định Mệnh mà hãy học cách "cải thiện" nó từ chính không gian sống của mình, đó mới chính là cách hành xử của người hiểu mệnh và thấu đời.

 

*.

Hà Nội, ngày 21 tháng 12-2025

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

baothang_xuanxuyen@yahoo.com.vn

READ MORE - VÀI TÂM SỰ VỀ CUNG ĐIỀN TRẠCH VÀ CÁI DUYÊN CƯ NGỤ - Đặng Xuân Xuyến

Sunday, October 25, 2020

TÊN DÂN GIAN ĐƯỜNG PHỐ HÀ NỘI – Nguyễn Khôi


    Nguyễn Khôi (Ủy viên BCH Hội VNDG Hà Nội)

 

I. VÀI NÉT LỊCH SỦ:

Năm 1009, Thân Vệ Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế, niên hiệu là Thuận Thiên.

Năm 1010 dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La gặp điềm Rồng vàng đón, nên đổi tên là thành Thăng Long (tên nôm = tên dân gian là Kẻ Chợ).

Qua các đời vua (Lý Thái Tông, 1028 - 1138), Lý Anh Tông (1054 - 1072), Lý Nhân Tông (1072 - 1127), Lý Nhân Tông (1128 - 1138), đến Lý Anh Tông (1138- 1175).

Một sự kiện đặc biệt: Năm Giáp Thân 1164 (Niên hiệu Chính Long - Bảo Ứng) Vua nhà Tống (Hoàng đế Trung Hoa) tấn phong vua Lý Anh Tông làm An Nam Quốc Vương, đổi Giao Chỉ quận làm An Nam Quốc, Nước ta gọi là nước (Quốc, kể từ đây, nguyên khi trước Trung Hoa gọi ta là Giao Chỉ Quận), rồi sau đó là Giao Châu, đến đời Đường đặt An Nam đô hộ phủ, nhà Đinh đặt tên là Đại Cồ Việt, Vua Lý Thánh Tông đã đổi là Đại Việt, nhưng Hoàng đế Trung Hoa vẫn chỉ phong cho vua ta là Giao Chỉ Quận Vương...

Thăng Long là Kinh thành của Đại Việt ta, là thành phố Thủ đô: trong đó có thành (Tử Cấm Thành - nơi ở của triều đình), ngoài có phố: dần dần hình thành nên 36 phố phường... đến đời Nhà Lê (với 27 đời vua kéo dài từ 1428 đến 1788 - dài hơn 3 thế kỷ) là thời kỳ "thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì phố Hiến".

 

Rủ nhau chơi khắp Long thành

36 phố rành rành chẳng sai:

Hàng Bồ, hàng Bạc, hàng Gai

Hàng Buồm, hàng Thiếc, hàng Hài, hàng Khay

Mã Vĩ, hàng Điếu, hàng Giầy

Hàng Lờ, hàng Cót, hàng Mây, hàng Đàn

Phố Mới, Phúc Kiến, hàng Ngang.

Hàng Mã, hàng Mắm, hàng Than, hàng Đồng

Hàng Muối, hàng Nón, Cầu Đông

Hàng Hòm, hàng Đậu, hàng Bông, hàng Bè

Hàng Thùng, hàng Bát, hàng Tre

Hàng Vôi, hàng Giấy, hàng The, hàng Gà

Quanh đi đến phố Hàng Da

Trải xem hàng phố thật là cũng xinh

Phồn hoa thứ nhất Long Thành

Phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ

Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ

Bút hoa xin chép vần thơ lưu truyền.

 

. Các tên phố hiện không còn:

Hàng Áo, hàng Bừa, hàng Cam, hàng Chè, hàng Cuốc, hàng Đàn, hàng Gạo, hàng Giò, hàng Hài, hàng Kèn, hàng Khóa, hàng Lam, Hàng Màn, hàng Mây, hàng Mụn, hàng Nâu, hàng Sắt, hàng Sơn, hàng Trứng.


. Các phố không có chữ "hàng" trong khu phố cổ:

Bát Đàn, Bát Sứ, Cần gỗ, Cầu Đông, Chả Cá, Chân Cầu, Chợ Gạo, Cửa Đông, Đông Xuân, Gầm Cầu, Gia Ngư, Hà Trung, Hài Tượng, Lãn Ông, Lò Rèn, Lò Sù, Mã Mây, Mã Vĩ, Nhà Hỏa, Ngõ Gạch, Ngõ Trạm, Ngõ Tạm Thương, Thuốc Bắc, Tô Lịch, Yên Thái, Cao Thắng, Đào Duy Từ, Đinh Liệt, Lương Ngọc Quyến, Lương Văn Can, Nguyễn Siêu, Nguyễn Thiện Thuật, Phùng Hưng, Tạ Hiện, Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải.


. Các phố có chữ "Hàng" nhưng không nằm trong khu phố cổ theo quy định:

Hàng Bột, Hàng Bún, Hàng Cháo, Hàng Muối, Hàng Cỏ, Hàng Cơm, Hàng Đẫy, Hàng Lọng, Hàng Vôi.


CÁCH ĐẶT TÊN XƯA & NAY:

Theo các tác giả Nguyễn Vinh Phúc, Giang Quân, Đoan Trang thì:

Tên "địa danh" đường phố ở mỗi địa phương, quốc gia trên thế giới đều có một "Quy tắc" nhất định. Nhiều thành phố có "Chính sách" riêng cho việc này: ở Brisbane (Queensland - Úc) thì các phố trung tâm được đặt theo tên Nhà vua và Nữ Hoàng, các phố tên Vua song song nhau và cắt các phố có tên Nữ Hoàng.

Ở Mỹ: đặt theo con số, quang cảnh, cây cối (OaKhill = Đồi Sồi) Ở Trung Quốc rất hiếm dùng tên người.

Truyền thống đặt tên: danh nhân

Đặt theo nghề kinh doanh: Hàng cỏ


Ở Hà Nội: Tên Hà Nội do vua Minh Mạng nhà Nguyễn đồi từ "Thăng Long" (Thịnh Vượng) ra "Hà Nội" vào năm 1831.

Năm 1902 Hà Nội trở thành Thủ đô của Liên bang Đông Dương và được người Pháp (đô hộ) xây dựng và quy hoạch lại.

Tên đường và phố Hà Nội phổ biến nhất là đặt theo các danh nhân, anh hùng...

Cách đặt tên theo một trật tự rõ ràng (với Hà Nội khi chưa mở rộng): được đặt theo từng cụm (khu vực), mỗi cụm tương ứng với một thời, một triều đại nhất định trong lịch sử - vì thế có thể nói là tạo ra 1 cách học lịch sử trên đường phố: ví dụ:

- Quanh Hồ Gươm - Trung tâm Thủ đô là khu vực các triều đại mở đầu lịch sử đất nước "Ngô, Đinh, Lý như các phố Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng, Lý Thái Tổ đều là những đường lớn, đẹp và nằm gần nhau". Đi về hướng cung văn hóa Hữu Nghị (Việt Xô) là địa phận của Nhà Trần với các phố Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng, Yết Kiêu, Dã Tượng, Đỗ Hành.

- Phía Tây Thành phố là khu vực các văn nghệ sĩ nổi tiếng như Xuân Diệu, Đặng Thai Mai, Tô Ngọc Vân.

Dọc các doanh trại đường Trường Chinh (Đường Tàu Bay) là các vị tướng tài ba của quân đội nhân dân Việt Nam: Vương Thừa Vũ, Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn, đội trưởng du kích Nguyễn Ngọc Nại - người chỉ huy cản địch để trung đoàn Thủ đô rút ra khỏi Hà Nội, đêm 17 rạng 18-2-1947, trong trận đánh ở bãi Giữa, anh đã hy sinh cùng với 9 đồng đội, sau khi cho nổ quả lựu đạn cuối cùng.

Tuy nhiên "quy tắc" cũng chỉ là tương đối như đường phố Nguyễn Khuyến lại "gối đầu" vài đường phố Lê Duẩn...hoặc đặt tên có sự gần gũi lễ liên tưởng (dễ nhớ) như Trần Quang Khải gần Trần Nhật Duật...


TÁC GIẢ CỦA SÁNG KIẾN ĐẶT TÊN:

- Trước thời Pháp thuộc: dựa theo một số cách như: Phố Cầu Gỗ là do phố có cầu bằng Gỗ bắc qua con ngòi vào Hồ Gươm.

- Phố Tràng Tiền là nơi đúc tiền (bằng đồng, kền) cho Nhà vua (Trường đúc tiền xây dựng năm 1807)...hoặc lấy tên đặc điểm, sản vật, người buôn bán (phường) như Hòe Nhai (lối có cây Hòe), phố Hàng Điếu chuyên bán Điếu, hàng Dầu bán Dầu (thắp đèn)...

- Thời Pháp thuộc: chính quyền thực dân đã dịch tên phố sang tiếng Pháp:

Hàng Điếu = Rue des Pipes

Hàng Muối= Rue de Sel

Lấy danh nhân Pháp (mẫu quốc) đặt cho đường phố Hà Nội: Laveran (nay là Lê Văn Hưu), Henri Riviere (nay là Ngô Quyền), F. Garner (Đinh Tiên Hoàng mới mở), phố Tràng Tiền = Rue Paul Bert.

Tháng 3/1945 Nhật đảo chính Pháp.

Ngày 20 - 7 - 1945 bác sĩ Trần Văn Lai nhận chức Đốc Lý Hà Nội (còn chưa đầy 1 tháng là tới ngày tổng khởi nghĩa 19 - 8 - 1945).

Ông đã làm được một việc đáng ghi công với lịch sử Thủ đô ta:

1 - Sửa đổi lại toàn bộ hệ thống tên đường phố.

2 -  Kéo đổ 1 loạt tượng đài thực dân như tượng Bà Đầm Xòe (Thần tự do) ở vườn hoa cửa Nam, tượng Paul Bert ở vườn hoa Paul Bert (nay là vườn hoa Lý Thái Tổ). Cùng với các việc trên, chính quyền Trần Văn Lai đã bỏ hết các tên phố do Pháp đặt, đổi thành tên các danh nhân, anh hùng nước ta theo quy tắc cho đến nay vẫn được coi là mẫu mực: Tên các danh nhân lớn đặt tên cho phố lớn, phố chính; tên các danh nhân khác hoặc tên vùng đất (đã có từ xưa), có liên quan thì đặt cho các phố thứ, phố xương cá - Ví dụ:

- Trần Hưng Đạo là phố chính thì có 1 loạt phố nối vào mạng tên Trần Bình Trọng, Yết Kiêu, Đinh Lễ.

Mạn bờ sông Hồng thì vinh danh các tướng thủy chiến như Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Nguyễn Khoái.

 

Các nhà nghiên cứu (Hà Nội học) cho rằng: Tầm nhìn quy hoạch đường phố Hà Nội của BS Trần Văn Lai thuộc loại "có những phút làm nên lịch sủ" là thật đáng kính nể, do cách đặt tên có tính khoa học (hợp lý) khiến cho đường phố Hà Nội được hệ thống lại, nhờ đó những tên phố chính thì vẫn giữ ổn định (tồn tại) cho đến ngày nay, mặc dù chính quyền (chính thể) đã qua bao lần thay đổi (thăng trầm).

Ngay cái tên "Quảng trường Ba Đình" không ít người nhầm tưởng là do chính phủ Hồ Chí Minh đặt ...thực là có từ Bác sĩ Trần Văn Lai.


QUY HOẠCH TÊN PHỐ THỜI NAY

Có một thời tùy tiện: nên có trường hợp như đường phố Lê Duẩn gối đầu vào đường phố Nguyễn Khuyến....Tuy vậy, về tổng thể thì từ thời đã qua cho đến hiện nay vẫn tuân thủ đặt tên theo cụm:

- Phố nhà văn: Nam Cao, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Huy Tưởng... luôn có sự cân nhắc đặt ai vào đầu cho hợp lý? (sự không hợp lý, nổi cộm gây phản cảm vẫn được nhà đương cục xem xét dư luận xã hội rồi điều chỉnh, sửa đổi để tên đường phố Hà Nội ngày một hoàn thiện).


II. TÊN DÂN GIAN ĐƯỜNG PHỐ HÀ NỘI.

Thăng Long - Hà Nội đã trải qua 1000 năm lịch sủ, trải qua nhiều triều đại (chế độ), mỗi thời chính quyền (nhà đương cục) Thủ Đô đều đặt tên đường và phố theo chính kiến của mình. Tuy nhiên, song song với tên do chính quyền đặt (ghi trên địa bạ, bản đồ hành chính) vẫn luôn có cái tên do Dân gian đặt (truyền mồm) gần như bất tử nó mang ký ức thời gian, nhân chứng lịch sử gắn với các giai thoại lịch sử (gốc gác tại sao gọi như vậy) rất tiện cho việc hỏi thăm, tìm địa chỉ. (ví dụ: Khu tập thể thành công, Kim Liên, Trung Tự, Bãi Phúc Xá, bờ sông, bờ hồ, khu văn công Mai Dịch, khu Cao Xà Lá, cây đa Nhà Bò, bến Nứa, dốc hàng than - Yên Phụ, Bưởi, Ngã Tư Vọng, Mơ - Táo.....), cụ thể là:

1) Đường An Dương Vương: dài 3,5km từ ngã ba Nhật Tân đến đường Phạm Văn Đồng - tên dân gian: đê Nhật Tân - Phú Xá.

2) Đường Bà Triệu: dài 1,9 Km từ Hồ Gươm tới đường Đại Cồ Việt.

Tên dân gian: đoạn đầu có các tên phố hàng giò, đoạn giữa là dốc Hàng Kèn hoặc dốc Miếu cây thị, Đoạn cuối xưa là Trường bắn.

3) Bạch Mai: Xưa là vùng kẻ Mơ

4) Bãi Than Vọng: tên dân gian nay là khu tập thể văn phòng Quốc hội ở trọn 2 ngõ 255 và 259 Phố Vọng.

5) Bát Đàn: thời Pháp là Phố hàng chén (Rue Vielle des Tasses).

6) Bùi Thị Xuân: trước gọi là Huyền Trân Công chúa.

7) Bùi Xương Trạch: trước đây gọi là Xóm Cò.

8) Chương Dương Độ: phố dài 400m ngoài đê là đất xóm chài Thủy Cơ, thôn Đồng Trạch xưa.

Tên dân gian là: Phố Cầu Đất (thực ra bến Chương Dương nơi Thượng tướng Trần Quang Khải đánh thắng quân Nguyên năm 1285 thuộc xã Chương Dương bên hữu ngạn sông Hồng thuộc huyện Thường Tín).

9) Cổng Đục: phố dài 110m từ cuối phố Hàng Mã thông sang phố Hàng Vải (xưa có cổng đục thông ra tường thành phía đông) đó là tên dân gian, thời Pháp là ngõ Hàng Vải (Ruelle des étoffes).

10) Ngõ Cột Cờ: do dân đặt ở phường Đồng Tâm, nay là 1 ngõ của đường Lê Thanh Nghị.

11) Phố Dịch Vọng: dân gian gọi làng Vòng có món đặc sản "Cốm vòng" nổi tiếng.

12) Ngõ Đại Đồng (160 Khâm Thiên) nhân dân gọi Ngõ Giếng.

13) Phố Đại Từ: tên dân gian "làng Đầm" (Linh Đàm - Khu đô thị mới).

14) Đường Điện Biên Phủ: tên dân gian: Đường Cột Cờ.

15) Ngõ Đoàn Kết (304 Khâm Thiên) tên dân gian "ngõ ăn mày".

16) Phố Đội Cấn: xưa gọi là đường Quần Ngựa

17) Phố Đông Các: thường gọi là "ngõ Lao động Thịnh Hào" hoặc ngõ giếng.

18) Phố Đông Thái, tên dân gian "Ngõ Hàng Trứng".

19) Ngõ Đồng Tâm: 3 ngõ do dân gian đặt xế cổng bệnh viện Bạch Mai.

20) Phố Gia Ngư: dân gọi "Ngõ Gia Ngư".

21) Đường Giải Phóng: dài 3,3 km từ cuối phố Lê Duẩn đến Đuôi Cá (ga Giáp Bát) là 1 đoạn QL 1A, tên dân tự đặt ở đoạn cuối là phố Giáp Bát.

22) Phố Hàm Tử Quan, dân gian gọi phố Cầu Đất.

23) Ngõ Hàng Hương dài 65m từ Phùng Hưng qua gầm cầu lan sang phố Lý Nam Đế, còn có 1 phố Hàng Hương khác xưa chuyên làm hương đen, nay là phố hàng cháo.

24) Phố Hàng Khay - xưa là phố Thợ Khảm, thời Pháp là phố Anh Quốc (Great Britain Street).

25) Ngõ Hàng Lọng ở 102 Nguyễn Du rẽ vào còn phố Hàng Lọng xưa là đoạn đầu đường Lê Duẩn đến ga Hàng Cỏ.

26) Phố Hàng Lược - xưa là phố sông Tô Lịch.

27) Phố Hàng Mã - xưa gọi là phố Hàng Đồng.

Dân gian gọi thành 2 phố: Mã Mây, hàng Đồng.

28) Phố Hàng Ngang:

Tên dân gian là Hàng Lam, Đường nhân (Hoa Kiều) phố người Quảng Đông. Tên truyền thống là Hàng Ngang do 2 đầu phố có cổng chặn ngang đường, tối đóng lại thành 1 khu riêng cho người Tàu Quảng Đông cư trú.

29) Phố Hoàng Đạo Thành: tên nôm Lủ Cầu (đất làng Lủ - Kim Lủ).

30) Đường Hoàng Hoa Thám: tên dân gian là Đường Thành dài 3,3 km.

31) Đường Hoàng Mai: Tên cũ ngõ 103 Trương Định.

32) Đường Hoàng Văn Thái: Trước dân tự đặt là đường Đông Tây 2.

33) Ngõ Hồ Giám: 25 Tôn Đức Thắng rẽ vào.

Tên dân gian: Ngõ Hương Miến.

34) Phố Hồ Hoàn Kiếm dài 50m từ phố Cầu Gỗ tới Phố Đinh Tiên Hoàng - dân gian gọi là ngõ Hàng Chè.

35) Đường Hồ Tùng Mậu dài 2 km

Dân tự gọi: Phố Mai Dịch và phố Cầu Diễn.

36) Phố Hồng Mai: trước là ngõ Mai Hương (mới) ở số 421 Bạch Mai rẽ vào. Ngõ Mai Hương (cũ) ở 335 rẽ vào còn gọi là Ngõ Bạch, Ngõ Cổng Gạch.

37) Đường Khuất Duy Tiến: dân gian gọi đoạn cuối là đường bê tông Thanh Xuân.

38) Đường Khương Đình: dân gian tự đặt là phố Thượng Đình.

39) Phố Khương Thượng: dân gian gọi là ngõ xóm Tân Khương.

40) Đường Lạc Long Quân: đoạn cuối chợ Bưởi, dân gian gọi là phố Trích Sài.

41) Đường Lê Duẩn: 2,6km

Trước là 2 đường phố: Hàng Lọng (đến ga Hàng Cỏ) và đến phố Hàng Cỏ, sau 1954 là đường Nam Bộ và phố Kim Liên.

42) Phố Lê Trọng Tấn: dân gọi đường Sân Bay.

43) Ngõ Lệnh Cư (127 Khâm Thiên rẽ vào) dân gọi Ngõ Đội Khánh (tên người có nhiều nhà đất ở đây).

44) Phố Lý Thái Tổ dài 880km dân gian trước gọi phố Hàng Vôi trong.

45) Phố Mai Động: Tên nôm Mơ Đậu (Đậu Phụ ngon nổi tiếng).

46) Phố Minh Khai:

Xưa có các phố Mai Động, phố Hưng Ký (Chùa mới).

47) Phố Chợ "19/12" dài 150m dân gian gọi "chợ Âm phủ", sau cách mạng là phố Lê Chân (đây là mồ chôn chung của các chiến sĩ ở đồng bào ta bị Pháp giết trong 60 ngày đêm Liên khu I).

47) Ngõ Mỹ Ký: Ngõ rẽ từ 403 Bạch Mai vào, xưa chuyên làm đồ vàng bạc giả.

48) Phố Ngô Sĩ Liêm 260m từ phố Nguyễn Khuyến đến phố Quốc Tử Giám. Dân gọi phố Hàng Đũa.

49) Phố Ngô Tất Tố: 100m từ Văn Miếu chạy vào, có thời gọi là phố Trạng Bùng.

50) Phố Nguyễn Công Trứ: Tên cũ phố Nghĩa Trang (có mả Tây) rồi là phố Yécxanh.

51) Phố Nguyễn Hữu Huân: Tên dân gian là phố Bê Thượng, phố Đê rồi đổi là Phố Bắc Ninh.

52) Phố Nguyễn Khắc Cần: Từng được gọi là phố Yên Đổ, Nguyễn Khuyến.

53) Phố Nguyễn Khắc Hiếu dài 230m chạy dọc bán đảo Ngũ Xã, từng gọi là phố Tản Đà.

54) Phố Nguyễn Khắc Nhu: Từng được gọi là phố Tiền Quân Thành (Nguyễn Văn Thành), Xứ Nhu.

55) Phố Nguyễn Khoái (Lương Yên) tên dân gian là phố Lò Sát Sinh.

56) Phố Nguyễn Khuyến: Cũ gọi là sinh từ (thời Pháp trong ngõ Hàng Đũa có "sinh từ"- đền thờ sống tên Việt gian Nguyễn Hữu Độ - Kinh lược sứ Bắc Kỳ) còn có tên là phố Bùi Huy Bích.

57) Phố Nguyễn Lương Bằng: tên dân gian là Nam Đồng, đường Đống Đa.

58) Phố Nguyễn Thái Học dài 1,7 Km tên dân gian là phố Hàng Đẫy. Có ngõ Nguyễn Thái Học, tên dân gian là Ngõ Bảo Anh.

59) Phố Nguyễn Thiếp dài 270m từ phố Nguyễn Trung Trực ra phố Hàng Khoai, bị gọi nhầm là Nguyễn Thiệp (Nguyễn Thiếp là viện trưởng viện sùng chính chăm lo công việc giáo dục cho vua Quang Trung).

60) Đường Nguyễn Tri Phương: dài gần 1km trước gọi là đường cửa nam, phố trong thành.

61) Phố Nguyễn Văn Siêu trước gọi là Nguyễn Siêu.

62) Phố Nguyễn Viết Xuân tên dân gian là phố Khương Mai.

63) Phố Nguyễn Xí: Từng gọi là phố chùa Quang Thượng (xưa có chùa Báo Ân).

64) Phố Nhà Chung: Trước gọi là phố Hội Truyền Giáo.

65) Ngõ Nhà Dầu: đầu phố Khâm Thiên rẽ vào xưa có nhà đầu hàng Sell cũ- nay là Tổng công ty xăng dầu.

66) Ngõ Nhà Giáo: 135 Nguyễn Lương Bằng rẽ vào, trước đây là Nhà giảng đạo lý của nhà thờ Nam Đồng. (Còn gọi là nhà 85 phố Nam Đồng cũ).

67) Phố Phạm Đình Hổ: dân gian gọi sai là Phạm Đình Hồ.

68) Phố Phạm Huy Thông: dân gọi là phố quan hồ Ngọc Khánh.

69) Phố Phạm Ngọc Thạch: dân gọi là phố Trung Tự.

70) Phố Phạm Ngũ Lão: có nhà Bác cổ, đồn Thủy - còn gọi "phố Nhượng Địa"

71) Phố Phạm Sư Mạnh: vốn xưa là Tràng Đúc Tiền (Bảo Toàn Cục) thời Nguyễn, gọi là phố Xưởng Đúc Tiền.

72) Phố Phạm Tuấn Tài: tên cũ dân tự đặt: Ngõ A76 dài 500m từ số 117A Hoàng Quốc Việt đến ngã tư phố Trần Quốc Hoàn.

73) Đường Phạm Văn Đồng dài 5,2km dân gọi trước là đường Nam Thăng Long.

74) Phố Phan Bội Châu: tên dân gian là Phố Nhi.

75) Phố Phan Chu Trinh: sau cách mạng là phố Trạng Trình, có ngõ cùng tên (còn gọi là ngõ Bạch Vân).

76) Phố Quang Trung: dài 1,1Km

Tên dân gian đoạn đầu là Phố Hàng Kèn.

77) Đường Quảng Bá: do dân tự đặt

78) Ngõ Quỳnh dài 1,48 Km/169 Bạch Mai rẽ vào - là gọi tắt chữ Quỳnh Lôi.

79) Phố Tạ Hiện thường bị đọc lệch là Tạ Hiền - liệt sĩ chống Pháp (1841 - 1893) quê Thái Bình làm Đốc Binh ở Tuyên Quang.

80) Phố Tạ Quang Bửu: dân tự gọi ngõ Bách Khoa.

81) Phố Tây Sơn: xưa gọi Phố Thái Hà và phố Ngã Tư Sở.

82) Đường Tây Tựu: tên nôm là làng Đăm.

83) Phố Thanh Hà gần cửa Ô Quan Chưởng, xưa gọi Ngõ Hàng Nâu.

84) Đường Thanh Niên: vốn là con đập tên Cố Ngự (giữ vững) bị đọc chệch là Cổ Ngư.

85) Phố Thiền Quang: dân quen goi là Thuyền Quang.

86) Ngõ Thọ Xương: trước đây dân gian gọi cả 2 ngõ: Huyện và Thọ Xương là Ngõ Huyện (lỵ sở huyện Thọ Xương xưa).

87) Phố Thợ Nhuộm: dân gian gọi là Hàng Bông Nhuộm.

88) Phố Tô Tịch dài 95m từ phố Hàng Quạt đến phố Hàng Gai, xưa bán "chiếu trắng".

89) Phố Tôn Đức Thắng dài 1,24Km từ phố Nguyễn Thái Học tới ô Chợ Dừa, dân gian gọi là phố Hàng Bột.

90) Phố Tôn Thất Tùng: dân gian gọi là phố Khương Thượng.

91) Phố Tống Duy Tân: tên cũ là Kỳ Đồng.

92) Phố Trần Cao Vân: tên cũ là Phố Chùa Vua.

93) Phố Trần Hưng Đạo: tên dân gian đoạn giáp ga là phố Hàng Cỏ.

94) Đường Trần Khát Chân: đoạn từ Ô Đống Mác đến Ô Cầu Dền, dân gian gọi là đê Bình Lao.

95) Phố Trần Nhân Tông: Tên dân gian là phố Nhà thương đau mắt (nay là viện mắt ở góc phố Bà Triệu).

96) Phố Trần Tế Xương dài 85m chạy ngang bán đả Ngũ Xã, xưa gọi là phố Tú Xương.

97) Đường Trương Định: Tên dân gian trước đây là các đoạn phố Hoàng Mai, phố Giáp Lục, Đuôi Cá....

98) Đường Trường Chinh: dài 2,3Km từ Ngã Tư Sở đến Ngã Tư Vọng (cũ) thời Pháp gọi là "Đường Vòng" gồm có phố Đại La, sau 1981 là đường chiến thắng B52, 1990 là Trường Chinh. Tên dân gian là đường Tàu Bay.

99) Phố Vạn Bảo dài 550m từ phố Đội Cấn sang Kim Mã - xưa là trại Vạn Bảo rồi đổi là Vạn Phúc, là ngõ 222 Đội Cấn.

100) Phố Vạn Hạnh: dài 1,1Km từ ngã 3 rẽ vào phố Trường Lâm, cạnh trụ sở UBND quận Long Biên.

101) Phố Văn Miếu: dân gian gọi Phố Hậu Giám.

102) Phố Vọng: dài 800m vốn là 1 đoạn QL 1A từ cửa bệnh viện Bạch Mai lượn vòng cắt ngang Ngã Tư Vọng rồi nhập vào với đường Giải Phóng (chỗ khu nhà ở Phương Liệt) - tên dân gian là phố Đồng Tâm (nay có phường Đồng Tâm).

103) Phố Vũ Hữu Lợi dài 100m từ phố Yết Kiêu tới phố Lê Duẩn - xưa gọi phố Vũ Lợi.

104) Đường Xuân Diệu dân đặt là đường Tây Hồ.

105) Phố Y Miếu dài 90m từ phố Ngô Sĩ Liên tới phố Trầm Qúy Cáp - Thời Pháp gọi là đường 253, sau đổi là phố 224.

106) Đường Yên Phụ: thường gọi đê Yên Phụ.


NHẬN XÉT

- Khảo sát trong số 696 đường phố, ngõ ở Hà Nội thì 106 phố có tên do dân gian đặt (hoặc tương tự như vậy chiếm 15,2%); trong số 106 đường phố ngõ ấy có 54 là mang tên danh nhân, anh hùng (50,9%) còn 52 mang tên đặc điểm, sản vật, ngành nghề (49,1%).

- Tên mới (do chính quyền đặt) thường được người dân dùng kèm với tên dân gian hay địa danh cũ (tên nôm làng xã xưa) nó có tác dụng thuận lợi cho việc thăm hỏi, tìm địa chỉ (không cần bản đồ hành chính) trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của cư dân Thủ đô.

Ví dụ: hỏi thăm "Khu tập thể văn phòng Quốc hội - Bãi Than Vọng" thì nhiều người biết hơn là hỏi ngõ 255 và 259 phố Vọng.


III. KIẾN NGHỊ:

Tên dân gian đường phố Hà Nội là di sản văn hóa dân tộc (của người Thăng Long - Hà Nội). Nó vừa có ý nghĩa thực dụng vừa có ý nghĩa bảo tồn, trải qua những thăng trầm lịch sử, thử thách qua thời gian đến nay nó vẫn tồn tại trong tiềm thức người dân Thủ Đô, gợi nhớ (hoài niệm) về cội nguồn quê hương xứ sở mà ông cha ta về "về nơi hồn thiêng sông núi tụ bến bờ" với biết bao công lao (kể cả xương máu) để xây dựng, bảo vệ Thăng Long - Hà Nội nghìn năm văn hiến. Tên dân gian đường phố Thủ đô còn thể hiện nét đẹp truyền thống, gần gũi với cuộc sống lao động và chiến đấu - tình yêu và nỗi đau của dân tộc (ngõ Tạm Thương, chợ Âm Phủ.....). Nó có ý nghĩa lịch sử gắn với các giai thoại kỷ niệm của người xưa (ông cha) truyền lại cho người nay (con cháu), là 1 thứ của báu về văn minh tinh thần của người Hà Nội, cần được giữ gìn để khỏi mai một.

KIẾN NGHỊ:

1. Thành phố mỗi lần đặt tên (hoặc đổi tên) các đường phố mới cần nghiên cứu, xem xét kỹ lưỡng các địa danh (bản địa) - Nó là dấu ấn của cư dân ở đó từ xưa tới nay...mà ưu tiên chọn để đặt tên.

2. Các tên đường, phố, ngõ khi làm biển hiệu in nét to do chính quyền đặt bằng chữ in, nét to ở trên, nên có tên dân gian nhỏ để trong ngoặc đơn ở phía dưới, với ý nghĩa vừa hiện tại vừa tôn trọng lịch sử.

Ví dụ:

3. Việc in ấn xuất bản các bản đồ hành chính, du lịch về các tên đường phố Thủ Đô hiện hành cần ghi thêm tên dân gian, tên bản địa cũ... để vừa mang tính hướng dẫn và bảo tồn như những giá trị dân tộc.

4. Những thiên kiến chính trị có thời điểm mang tính thời sự khi bỏ tên cũ đổi tên mới các đường phố Thủ đô (Thiếu công bằng lịch sử hoặc đặt tên các "danh nhân", anh hùng chưa đủ tầm cở quốc gia, chưa đáng ghi vào lịch sử Thủ Đô...) thì cần được xem xét, cân nhắc kỹ lưỡng rồi hãy làm (tuyệt đối tránh các cái tên "vô nghĩa" mơ hồ như giải phóng, chiến thắng, Đồng Tâm, Hòa Bình, Thống Nhất, Lao Động, Tiến Bộ, Tự do,... chẳng biểu tượng, ấn tượng cho một địa danh, (tên đường, phố, ngõ) cụ thể nào, mà có thể rất chung chung gắn vào đâu cũng được ?).

5. Nên xem xét điều chỉnh lại một số tên đường phố cho nó hợp lý, thỏa tình hơn, ví dụ:

- Phố Bùi Thị Xuân nên đổi trở lại là phố Huyền Trân Công Chúa, đổi phố Trung Liệt là phố Bùi Thị Xuân để gắn liền với phố Trần Quang Diệu.

- Đổi đoạn đường Giải Phóng (từ công viên Thống Nhất tới ga Giáp Bát) là đường Lê Duẩn (mới), còn đường Lê Duẩn (cũ) lấy lại tên là phố Hàng Lọng (Cái Lọng che đầu Tam Nguyên Yên Đổ - phố Nguyễn Khuyến) như vậy là rất có ý nghĩa.


Lời bàn thêm:

Tác giả Nguyễn Văn Uẩn, trong cuốn "Hà Nội nửa đầu thế kỷ 20" - 1995 có đề xuất nên : điều chỉnh và thay đổi trên 60 tên đường và phố Hà Nội (4 Quận nội thành  cũ) với lý do: xét về lịch sử Hà Nội từ năm 1945 đã qua nhiều lần thay đổi tên phố, vào tháng 3 năm 1945, 2 lần thêm bớt thay đổi hoặc chuyển dịch... quan trong nhất là vào những năm 1954 và 1964.

Mặc dù vậy cũng còn tồn tại tình trạng 1 số tên phố được chọn hoặc phân bố chưa thỏa đáng. Có những tên đất và tên người có nhiều ý nghĩa lịch sử còn bị bỏ sót, không ít số tên phố đã đặt theo một hệ thống nhất định rồi, do đó không nên chắp vá làm mất sự nhất quán.

Cách đề xuất của Nguyễn Văn Uẩn khá kỹ lưỡng, hợp tình hợp lý, nhưng không có tính khả thi vì sự chuyển đổi (thay đổi)  như vậy là quá nhiều, gây đảo lộn trong sinh hoạt, rất tốn kém, phức tạp trong việc làm mới lại các địa chỉ trong sổ hộ tịch, các giấy tờ về nhà đất, chứng minh thư, hộ chiếu, giấy khai sinh và các giấy tờ khác trong các cơ quan công quyền là quá lớn.


KẾT LUẬN:

Mỗi đường phố, ngõ phố đều gắn với vận mệnh con người (cư dân) Thủ Đô... Mỗi cái tên thiêng liêng ấy, mỗi khi ta đọc lên là ta thấy thân quen, gắn bó với một phần cuộc đời của tiền nhân cũng như bản thân mình để ta thêm yêu, ta nhớ, ta bồi hồi tự hào với những đường ngõ, phố thân thương đông vui và rất có động của cái "đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà" ấy thật đúng là:

Nhẩm câu thơ Thăng Long thành hoài cổ

Màu thời gian còn phảng phất ưu tư.

 

Hà Nội, ngày 09 tháng 09 năm 2012.

NGUYỄN KHÔI

(Hội Văn nghệ Dân gian Hà Nội)

*

Bài viết đã báo cáo tại cuộc hội thảo về "Phát huy di sản văn hóa dân gian - thực trạng và nhu cầu phát triển" của Ban chỉ đạo - Ban tổ chức "ngày di sản văn hóa Việt Nam lần thứ 8" tại Hà Nội ngày 22 tháng 11 năm 2012.


READ MORE - TÊN DÂN GIAN ĐƯỜNG PHỐ HÀ NỘI – Nguyễn Khôi