Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Xuân Diệu. Show all posts
Showing posts with label Xuân Diệu. Show all posts

Wednesday, August 7, 2019

LẼ VÔ THƯỜNG TRONG THƠ TRANG TỬ, NGUYỄN BÍNH, XUÂN DIỆU… - La Thụy


  
                 “Học làm Trang Tử thiêu cơ nghiệp

              Khúc Cổ bồn ca gõ hát chơi”


LẼ VÔ THƯỜNG TRONG THƠ TRANG TỬ, NGUYỄN BÍNH, XUÂN DIỆU…

Tình cờ lướt web, đọc bài Đạo Chích (chương 29, Trang Tử Nam Hoa Kinh), tôi cứ tủm tỉm cười. Trang Tử khá “độc” khi đem “vạn thế sư biểu” Khổng Tử của Nho giáo ra đùa cợt. Hình ảnh uy nghi, khẳng khái “uy vũ bất năng khuất” đâu chẳng thấy mà chỉ còn là hình ảnh lão già tầm thường run như cầy sấy trước hành động hung cuồng bạo ngược của Đạo Chích – kẻ bị cho là “đào tường khoét vách, lùa ngựa bò, bắt cóc vợ và con gái người ta, tham lợi tới quên cả thân thích, không đoái hoài tới cha mẹ anh em, không cúng giỗ tổ tiên”. Đạo Chích vừa mới cất vài lời “cường ngôn” phản bác mà “Khổng Tử vái hai vái rồi vội vàng chạy ra cửa, lên xe ba lần mới nắm được dây cương vì hoảng hốt, mắt không thấy rõ, mặt tái như tro tàn, ngồi dựa vào cái đòn ở trước xe, đầu cuối xuống, thở không ra hơi”. Trang Tử khéo giễu quá đi thôi! Đạo giáo cùng Nho giáo Tàu cũng “chỏi” nhau ra trò đó chứ!

Nhắc đến Trang Tử, tôi chợt nhớ hai câu thơ của Vũ Hoàng Chương:

“Học làm Trang Tử thiêu cơ nghiệp
Khúc Cổ bồn ca gõ hát chơi”

Qua hai câu thơ ấy, hình tượng Trang Tử có vẻ tiêu sái thoát tục, tôi tò mò tìm đọc nội dung khúc Cổ Bồn Ca xem thế nào. Hoá ra Trang Tử thiêu cơ nghiệp và gõ bồn hát, cảm khái vì lẽ vô thường “vợ mình thằng khác xài, con mình thằng khác sai”... Sao bi hài thế nhỉ !

CỔ BỒN CA

Kham ta phù thế sự
Hữu như hoa khai tạ
Thê tử ngã tất mai
Ngã tử thê tất giá.

Ngã nhược tiên tử thời
Nhất trường đại tiếu thoại
Điền bị tha nhân canh
Mã bị tha nhân khóa
Thê bị tha nhân luyến
Tử bị tha nhân mạ.

Dĩ tử đổng thường tình
Tương khan lệ bất hạ
Thế nhân tiếu ngã bất bi thương
Ngã tiếu thế nhân không đoạn trường
Thế sự nhược hoàn khốc đắc chuyển
Ngã diệc thương sầu lệ vạn hàng.

                                  TRANG TỬ

BÀI HÁT CỔ BỒN

Ôi cuộc đời nổi trôi
Khác nào hoa nở, rụng
Vợ chết trước ta lo mai táng
Ta chết vợ sang ngang.

Ví bằng ta chết trước
Thật một trường đại hài hước
Ruộng ta người sẽ cày
Ngựa ta người sẽ cỡi
Vợ ta người sẽ thương
Con ta người mắng chửi.

Tình thế là như vậy
Nếu lệ ta chẳng rơi
Thế gian cười tớ vô tình
Tớ cười thiên hạ như bình lệ chan
Khóc mà đổi được tuần hoàn
Thì ta đã khóc muôn ngàn năm nay.

               VÕ TƯ NHƯỢNG dịch

Sự tích Trang Tử đốt nhà và gõ bồn hát, như sau:

Trang Tử đi chơi về, nằm lăn xuống phản kê giữa nhà, chân chữ ngũ, chàng cười, cười như nắc nẻ, cười mãi. Vợ Trang Tử thấy lạ, lấy ghế ngồi bên cạnh, hỏi chồng: “Mình có việc gì mà cười lắm thế?” Trang Tử ngồi nhỏm dậy, nói: “Thế này nhé...” rồi lại cười. Khi ngớt cơn cười, Trang Tử mới kể:
Trang Tử đi qua một cánh đồng chợt thấy một thiếu phụ xinh đẹp, đội khăn tang che mái tóc mượt mà, đang cố sức quạt lấy quạt để; trước mặt nàng là một nấm mồ mới đắp, cỏ chưa mọc, đất còn ẩm. Trang Tử lấy làm lạ; chàng dừng lại, chăm chú nhìn. Thiếu phụ xinh đẹp quạt rất nhiệt tình, mỏi tay này đổi tay khác. “Hay là nàng thương người dưới mồ nóng bức?”. Nghĩ vậy, chàng đánh liều hỏi: “Thưa quí nhân, nàng quạt mồ là nghĩa làm sao?”. Người đẹp ngước đôi mắt đen long lanh, đáp: “Ðây là mồ chồng thiếp. Trước khi chết, chồng thiếp trối trăn hai, ba lần: Phải đợi đất mồ chàng khô rồi hãy lấy chồng. Thiếp thương chồng, không quên lời căn dặn cuối cùng của chàng, nên thiếp quạt mồ chóng khô.” Trang Tử lại tỏ lòng thương xót người thiếu phụ biết làm theo lời trăn trối của chồng.
Nghe câu chuyện, vợ Trang Tử ngúng nguẩy đứng dậy, nhăn nhó: “Thế mà mình cười được. Ðàn bà đâu trơ trẽn đến thế”. Trang Tử thở dài: “Chỉ mong khi tôi chết, mình quàn tôi một trăm ngày rồi hãy chôn, sau đó hãy tái giá nhé!”. Vợ Trang Tử trách móc chồng vì đã nói gỡ, nàng đoan chắc nếu Trang Tử có mệnh hệ nào, thì nàng nhất quyết cư tang, suốt đời thủ tiết thờ chồng không tái giá. Không bao lâu, Trang Tử bỗng nhiên đột tử. Thi hài Trang Tử liệm trong quan tài, quàn trong nhà. Ðược dăm hôm, một chàng trai trẻ đẹp, hào hoa đến. Chàng thư sinh nhận mình là học trò thầy Trang Tử, đến phúng viếng thầy. Chàng nói: “Nhà tôi ở mãi chân núi, xin cô cho ở lại mấy hôm”. Vợ Trang Tử vừa thấy chàng, đã đem lòng vấn vương; nàng vội nhận lời. Từ đêm ấy, hai bên quấn quít nhau, không rời nhau được. Bỗng một hôm, chàng ôm bụng lăn lộn trên giường, mồ hôi nhễ nhại. Chàng trai kêu đau, rên la thảm thiết. Chàng ú ớ nói chàng khó qua khỏi. Người thiếu phụ hoảng hốt. Chàng bảo vốn chàng bị bệnh đau bụng kinh niên, chỉ một thứ thuốc duy nhất cứu được chàng: lấy sọ người mới chết, mài ra, uống ngụm nước nóng, thế là khỏi. Vợ Trang Tử, ngay đêm ấy, lấy cái vồ đập săng đựng xác chồng, định lấy cái sọ chồng chữa bệnh cho người tình. “Thịch, thịch, thịch” vồ nện mấy nhát, nắp săng bật tung. Trang Tử nhổm dậy hỏi “nàng làm gì vậy ?” Sau cơn hoảng sợ, vợ Trang Tử trấn tĩnh lại, nàng đáp: “thiếp nghe trong quan tài có tiếng động, nên nghĩ rằng chàng tỉnh lại nên cậy quan tài ra”.
Trang Tử bước ra khỏi quan tài, cùng vợ trở về phòng. Vợ Trang Tử bước đi mà lòng lo lắng… Về đến phòng, không thấy thư sinh đâu cả. Đang bần thần thì Trang Tử bảo: “Ta gọi người tình của nàng đến nhé”. Ngọn đèn trong phòng chao chao và mờ dần, Trang Tử đột nhiên biến mất và chàng thư sinh trẻ đẹp hiện ra…Vợ Trang Tử biết chồng dùng phép thuật để thử lòng vợ. Nàng xấu hổ quá, nàng ốm, vài hôm sau nàng chết. Nàng chết, Trang Tử nực cười cho đời người. Chàng lấy cái chậu, vừa gõ vừa ca bài Cổ bồn, bài ca vừa như cười, cái cười hềnh hệch, vừa như khóc, cái khóc xót xa cho thân phận con người: “Ôi thói đời! Nghĩ mà đau lòng...! Nhìn nhau lệ chẳng rơi lã chã...! Ta cười cuộc đời lắm nỗi đau thương...”.
(Phỏng theo Kim cổ kỳ quan của Ủng Bảo lão nhân)

Từ câu chuyện trên, dân gian Việt Nam có câu: Quạt mồ còn hơn bổ quan tài.

Hay là:

Thương thay cho kẻ quạt mồ
Ghét thay cho kẻ cầm vồ bửa săng.

Thiên Chí Lạc, Nam Hoa Kinh viết :

“Vợ Trang Tử mất, Huệ Thi đến điếu, thấy Trang Tử ngồi duỗi xoạc hai chân vừa gõ bồn vừa ca. Huệ Tử hỏi:
- Cùng người ở tới già, có con lớn mà người chết lại không khóc, cũng là đã quá lắm rồi ! Lại còn vỗ bồn mà ca, không quá lắm sao?
Trang Tử đáp:
- Không ! Lúc nàng mới chết, tôi sao chẳng động lòng, nhưng nghĩ lại, hồi trước nàng vốn không sinh, chẳng những không sinh mà đó lại vốn không hình, chẳng những không hình mà đó vốn là không khí. Đó chẳng qua là tạp chất trong hư không biến ra mà có khí, khí biến ra mà có hình, hình biến ra mà có sinh, rồi lại biến ra nữa mà có tử. Khí, hình, sinh, tử, có khác nào xuân, hạ, thu, đông, bốn mùa vận hành. Vả lại, người ta đã nghỉ yên nơi Cự thất (nhà Lớn), mà tôi còn cứ than khóc, chẳng là tự tôi không thông Mệnh ư, nên tôi không khóc.”

Đọc sự tích “Trang Tử gõ bồn ca”, lòng tôi bâng khuâng cảm khái lẽ vô thường của đời người. Trang Tử là người đạt đạo mới có thái độ khác thường với nỗi bi thương chính mình. Có đâu như nhà thơ Nguyễn Bính hễ tơ lòng chạm phím là ai oán ngân nga. Khi người yêu “sang ngang”, nhà thơ Nguyễn Bính đã tỏ ra rất ngỡ ngàng:

Có người đêm ấy khoe chồng mới:
“Em chửa yêu ai, mới có mình”

Có người trong gió rét chiều đông
Chăm chỉ đan cho trọn áo chồng
Còn bảo: “Đường len đan vụng quá!
Lần đầu đan áo kiểu đàn ông”

Có lẽ khi đang ngây ngất men nồng tình ái, người yêu Nguyễn Bính cũng thầm thỉ bên tai chàng “Em chửa yêu ai, mới có mình”. Nhà thơ cay đắng thốt lên:

Vâng chính là cô chửa yêu ai
Lần đầu đan áo kiểu con trai
Tôi về thu lá ba đông lại
Đốt hết cho cô khỏi thẹn lời

Câu thơ “Tôi về thu lá ba đông lại” có dị bản là “Tôi về thu cả ba đông lại”. Nhưng theo như một số bạn thơ của Nguyễn Bính, “lá” là từ ngữ dùng trong sáng tác ban đầu, nhà thơ Nguyễn Bính chỉnh sửa lại là“cả” trong các lần tái bản sau. “Lá” trong câu thơ trên là lá thư, phong thư. Nguyễn Bính đã nâng niu cất giữ những những lá thư tình trong 3 năm liền, thế mà “người ta” bỗng phút chốc thản nhiên coi như không. Hận tình đời đen bạc, nhà thơ uất nghẹn muốn đem đốt hết cho người yêu cũ thanh thản bên chồng. Nhưng, “người ta” quên chứ Nguyễn Bính có quên đâu. Nguyễn Bính chưa thấu lẽ vô thường trong tình ái nên vẫn u uất:

Tất cả mùa đông đan áo len
Cho người cho tất cả người quen
Còn tôi người lạ, tôi người lạ,
Có cũng nên mà không cũng nên.
            (“Vâng” - Nguyễn Bính)

Là nhà thơ tiền chiến đồng thời với Nguyễn Bính, nhưng Xuân Diệu tỏ ra khác hẳn và tỉnh táo hơn nhiều, ông đã thẳng thắn viết:

         Ai nói trước lòng anh không phản trắc
         Mà lòng em sao lại chắc trơ trơ
                   (“Giục giã” - Xuân Diệu)

Nhà thơ Xuân Diệu với những bài thơ tình lãng mạn được giới trẻ yêu thích một thời, có câu thơ mang chút ít triết lý:

Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt                            
                 (“Giục giã” - Xuân Diệu)

Mới đọc, ta thấy hơi khó hiểu, nhưng đọc đoạn thơ sau thì nhà thơ đã trình bày rõ ràng:

Hoa nở để mà tàn;
Trăng tròn để mà khuyết;
Bèo hợp để chia tan;
Người gần để ly biệt.
       (“Hoa nở để mà tàn” - Xuân Diệu)

Đúng thế “Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt”, chỉ vì có họp mặt mới có chia tay, “mầm ly biệt” đã nhú lên ngay từ khi mới quen nhau. Hoa nở rồi tàn, trăng tròn rồi khuyết đó là lẽ vô thường nhưng cũng là quy luật của sự vật. Nhưng, dù là quy luật thì khó có ai không bùi ngùi trong cảnh  chia tay:

Hoa thu không nắng cũng phai màu;
Trên mặt người kia in nét đau.
(“Hoa nở để mà tàn” - Xuân Diệu)

“Ôi cảnh biệt ly sao mà buồn vậy”
            (Quốc văn giáo khoa thư)

Gặp gỡ để rồi ngậm ngùi ly biệt. Xa nhau lại hoài niệm, nhớ nhung, nuối tiếc những tháng ngày mặn nồng dịu ấm hương tình:

Thôi hết rồi! Còn chi nữa đâu em!
Thôi hết rồi, gió gác với trăng thềm.
Với sương lá rụng trên đầu gần gũi,
Thôi đã hết hờn ghen và giận tủi.
(Được giận hờn nhau! Sung sướng bao nhiêu!)
Anh một mình, nghe tất cả buổi chiều
Vào chậm chậm ở trong hồn hiu quạnh.

Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh.
Anh nhớ em, anh nhớ lắm! Em ơi!
Anh nhớ anh của ngày tháng xa khơi,
Nhớ đôi môi đang cười ở phương trời.
Nhớ đôi mắt đang nhìn anh đăm đắm!
Gió bao lần từng trận gió thương đi,
- Mà kỷ niệm, ôi, còn gọi ta chi...

        (“Tương tư chiều” - Xuân Diệu)

Lẽ vô thường trong thơ Trang Tử, Nguyễn Bính, Xuân Diệu gieo nỗi man mác bâng khuâng trong lòng tôi mấy hôm nay. Sáng nay đi lễ, nghe bài giảng của cha xứ, trong đó có câu:

Vanitas vanitatum et omnia vanitas

Hư không của sự hư không - thế sự hư không!
                                          (Truyền đạo 1:2-3)
Phù vân, quả là phù vân. Tất cả chỉ là phù vân…
                                                           (Gv 1,2)
Mọi điều đó là sự hư không theo luồng gió thổi…
                                           (Truyền-đạo 2:1-26)

Sách Truyền đạo của Solomon (Kinh Thánh, Cựu Ước) ghi:“Hư không của sự hư không, hư không của sự hư không, thảy đều hư không. Các việc lao khổ loài người làm ra dưới mặt trời, thì được ích lợi chi?”

Thế sự phù vân và cái việc “làm chi cho mệt một đời” mà Kinh Thánh nêu ở trên có nét tương đồng với tư tưởng vô vi của Lão Trang trong thơ của Lý Bạch và Đỗ Phủ, những đại thi hào thời Thịnh Đường:

         Thế sự nhược đại mộng
         Hồ vi lao kỳ sinh

         Ở đời như mộng lớn
         Làm chi cho nhọc mình!
         (“Xuân nhật tuý khởi ngôn chí” – Lý Bạch)

         Thiên thượng phù vân như bạch y
         Tu tư hốt biến vi thương cẩu.

         “Trên trời mây nổi như áo trắng
         Phút chốc biến thành chó xanh”
                    (“Khả Thán” – Đỗ Phủ)

Thay đổi là nguyên lý của Vạn vật và Vũ trụ. Vì thế cách đây trên 2500 năm Đức Phật cũng đã nói đến Vô Thường.

Sự tương đồng giữa Kinh Thánh Thiên Chúa giáo với tư tưởng Phật giáo và tư tưởng Lão Trang thật thú vị ! Ô hay, tưởng rằng chỉ có Lão Trang mới nói đến phù vân, vô thường, vô vi trong đời sống và nguồn khởi dẫn của Đạo. Phật giáo mới nói đến hư vô, sắc không; giờ lại nghe Thiên Chúa giáo nhắc đến hư không, phù vân. Cuộc đời đúng là “bức tranh vân cẩu”, quả vô thường thật !

                                                                       La Thụy
                                                                      7/8/2019

READ MORE - LẼ VÔ THƯỜNG TRONG THƠ TRANG TỬ, NGUYỄN BÍNH, XUÂN DIỆU… - La Thụy

Thursday, April 27, 2017

NHÀ THƠ XUÂN DIỆU TRONG MẮT TÔI - Lâm Bích Thủy


               
                             Tác giả Lâm Bích Thủy


               NHÀ THƠ XUÂN DIỆU TRONG MẮT TÔI
                                                         Lâm Bích Thủy


Nhà thơ Xuân Diệu là nhân vật thứ hai sau cụ Đào Tấn được nhân dân Bình Định, quê tôi tự hào có được.

Bác Quách Tấn cho biết:

Xuân Diệu quê cha ở Hà Tĩnh, quê mẹ Bình Định. Nhưng Xuân Diệu thiên hẳn về quê cha, chỉ thường nhắc đến quê mẹ và không xấu hổ nhận mình là người Bình Định từ thời kháng chiến chống Pháp. Nhất là khi Bình Định trở thành trung tâm điểm của Liên Khu Năm. Đối với Bàn Thành Tứ Hữu, Diệu chỉ nể Chế. Diệu chê Hàn là một tên điên chạy cùng đường vừa ngâm thơ vừa la “tôi là thiên tài, tôi là thiên tài”…Yến Lan bị chê rằng “thơ còn non nớt, Quách Tấn bị đã kích: “Lạc hậu, cổ hủ”. Xuân Diệu nể Chế Lan Viên không phải về học vấn, tài năng mà nể về sự ứng phó lanh lẹ, sắc bén thôi.

Thư cho ba tôi có đoạn bác viết :

“Xuân Diệu đấm Hàn, thoi Yến, đá Quách bắt tay từ giã Chế, ra Hà Nội cùng Huy Cận lập nhóm Huy Xuân. Kế đó, Bích Khê ở Quãng Ngãi lẻ loi vào Bình Định. Năm thành viên trở thành “Ngũ Hành” Sau này, Xuân Diệu mới bắt tay với năm thành viên của nhóm Bình Định hợp thành “Lục Căn”.

Nhóm lấy những bộ phận cơ thể người “Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ý“ làm bút danh cho từng người.

Phần lớn các thành viên sống và sáng tác ở Bình Định, chỉ có bác Tấn ở Nha Trang. Hàng tháng, ít nhất một lần, vào những đêm trăng, lại thấp thoáng bóng họ chụm đầu bên nhau trò chuyện thâu đêm trên lầu cửa Đông Thành Bình Định. Chế Lan Viên gọi đây là “Lầu tư tưởng” hay “lầu Thơ”. Thi thoảng họ mới vào Nha trang với bác Tấn.

Nhà bác Tấn, trước sân có cây mận. Tối đến, họ quay quần dưới gốc mận, đọc thơ đường, thơ Pháp, thơ Tàu. Có lần bác Tấn nghe chú Chế Lan Viên và  chú Xuân Diệu tranh luận:

“Đến lúc này mà “người ấy” còn thốt ra những câu “cảm thương chiếc lá bay theo gió / riêng nhớ tình xưa ghé đến thăm”

Chú Chế phản đối  “Diệu công kích anh Tấn sao không nói tên mà gọi “người ấy”? Diệu cười một cách thích thú đáp "Diệu gọi “người ấy thì ai biết rằng Diệu nói anh Tấn thì biết, còn ai không biết thì thôi. Chớ kêu đích danh ảnh ra, thì tên ảnh được “người không biết” biết thêm, như thế là làm lợi cho ảnh !...
Chú Chế hóm hỉnh đáp lại: “Diệu có tính so đo và tính toán. So đo tính toán trong tình yêu “cho nhiều nhưng nhận được chẳng bao nhiêu, lại so đo tính toán cả trong việc chỉ trích”.

Thế nhưng, khi những nét đẹp trong văn hóa ứng xử ngày đang mai một, thì bác Tấn lại khen chú Xuân Diệu:

“Xuân Diệu là người khôn ngoan nhất. Trước kia tôi cứ cho rằng Xuân Diệu sống ích kỷ, nhất thiết không cho ai xem bản thảo, nhất thiết không nói cho ai biết những gì mình chưa in lên giấy hẳn hoi. Ngày nay tôi mới biết là Diệu khôn. Bọn đạo văn càng ngày càng nhiều, chú (tức Yến Lan-nv) cũng như tôi ưa giúp người quá nên chưa biết”.

Chú Xuân Diệu là đồng hương, nhưng tôi chưa gặp bao giờ. Thời còn học lớp 10H ở Trường Chu Văn An - Hà Nội, tôi thường nghe các bạn trong lớp bàn tán về chú. Vừa lúc tôi đi ngang  qua, một bạn bảo: “Muốn biết vê Xuân Diệu  thi bảo cái Thủy về hỏi ba nó là ra ngay thôi". Lập tức anh lớp trưởng kêu tôi lại bảo: “cậu về hỏi ba cậu, xem có phải nhà thơ Xuân Diệu là ái nam ái nữ không nhé?” Tôi khoái làm việc này lắm, vì tỏ ra ta đây là người hiểu biết mọi chuyện phía sau cuộc đời của các nhà thơ.

Về nhà nhân lúc ông già tôi ngồi ngắm sắc hoa hồng trong bồn trước lan can; tôi đến bên, hơi ngần ngại , rồi tự tin hỏi: “Ba ơi, các bạn lớp bảo con hỏi ba có phải chú Xuân Diệu là…là...” tôi chưa kịp nói ra cái từ khó nói đó thì ông già lập tức nạt: “con gái con lứa hỏi chi chuyện đó”. Tôi hết cả hồn, mất hứng và chẳng bao giờ dám hỏi về chú Xuân Diệu nữa.

Hình ảnh chú trong tôi là qua mô tả từ câu chuyện của các chú và ba thôi.
 Rồi, cuối cùng tôi cũng có dịp gặp chú; lần đầu và cũng là lần cuối ngay tại nhà 37 Hàng Quạt – Hà Nội. Đó là ngày ba má tôi tổ chức  tiệc mặn trong ngày cưới của tôi. Đám cưới tôi, thời đó cũng thuộc loại đình đám vào bậc nhất ở Hà Nội . Nhà tôi đãi tiệc ngọt tại 51 Trần Hưng Đạo, hai tiệc mặn tại nhà gái ở 37 Hàng Quạt và nhà trai ở 26 Hàng Bài. Nếu tính thành tiền, tốn hơn 2.000đ. Thời bao cấp (năm 1974) đám cưới nào chi đến 2.000đ, Nhà Báo mà biết sẽ phê phán kịch liệt chứ chăng chơi. Song, tất cả thực phẩm phục vụ cho đám cưới là tự tôi chuẩn bị. Tôi tự nuôi heo, gà, và trồng các loại củ, quả, rau dưa… tại nơi làm việc, ở Nông trường Ba Vì, rồi hai vợ chồng chở về Hà Nội dần bằng xe đạp

Hồi đó, việc cưới xin không cầu kỳ như bây giờ; không làm cho khách mời phải lo lắng quà mừng; nhà có gì mừng nấy. Ngày cưới được đông đảo bè bạn của hai bên đến dự là vinh hạnh lắm.

Ngày vui của tôi, các cô, chú bạn ba là những văn nghệ sĩ nghèo xác xơ, có gì đâu để mừng! Quà cưới chỉ mang ý nghĩa kỷ niệm là chính. Bác Khương Hữu Dụng tặng cho tôi quyển truyện vừa (không nhớ tên) của nhà văn Chu Lai. Chú Tế Hanh, buổi tiệc mặn mới có quà - đó là chiếc túi nhỏ bằng nữa bàn tay, màu mận chín, hàng thổ cẩm của Bungari, quà của ba chú “Nguyễn Thành Long-Nguyễn Đình - Phạm Hổ” là chiếc thuyền làm bằng sừng trâu v.v.. Còn quà của chú Xuân Diệu là chân dung hình bán thân, nhìn nghiêng của nhà thơ Puskin bằng mica tím đen... quà của vợ chồng bác Minh Vĩ là bức ảnh hình lập thể có hai con két mỏ đỏ… Thế mà chúng tôi rất trân trọng và thích lắm.

Hôm tổ chức tiệc mặn tại nhà, tôi thấy một người đàn ông to bệu, tóc xoăn, mặc chiếc quần màu cháo lòng, thủng một lỗ tròn ở bên hông trái. Ông ngồi ở góc phải, đang say sưa thưởng thức bát miến gà má tôi mang đến, không để ý đến xung quanh. Đằng sau tôi, có tiếng xì xào nghe rõ “kia là nhà thơ Xuân Diệu đấy”. Tôi cũng đoán thế. Nhìn bát miến đã hết cái mà chú vẫn cúi húp nước; tôi đến bên nhỏ nhẹ hỏi “chú Diệu, cháu múc thêm chú bát nữa nhé?”. Chú xua tay, vẻ thật thà “Ồ, không đâu cháu, còn chút nước chú húp kẻo bỏ đi thì phí!”.

Sau bữa đó thì tôi không gặp chú lần nào nữa nhưng nghe Nhà nghiên cứu Văn học Đinh Tấn Dung nói lại:

“Sau 1975 chú gặp Chế Lan Viên có hỏi thăm ba cháu, (lúc đó ông còn ở Hà Nội). Chế Lan Viên lắc lắc đầu vẻ thông cảm, nói “về cái nghiệp làm thơ của Yến Lan ít khi gặp may, Diệu không ưa Văn Cao, mà Văn Cao lại ca ngợi Yến Lan trong lời đề tựa Tập thơ “Những ngọn đèn” quá nên Yến Lan cũng bị ghét lây” ./.
                                                                                                                                                                    LÂM BÍCH THỦY

READ MORE - NHÀ THƠ XUÂN DIỆU TRONG MẮT TÔI - Lâm Bích Thủy

Saturday, May 28, 2016

HAI CÂU THƠ VẪN LÀ CỦA XUÂN DIỆU - Chử Văn Long


         
          Nhà thơ Chử Văn Long



               HAI CÂU THƠ VẪN LÀ CỦA XUÂN DIỆU

Không thể tin bài viết của Trần Đăng Khoa “Về hai câu thơ của Xuân Diệu”(1):
Trái đất ba phần tư nước mắt
Đi như giọt lệ giữa không trung
là của Huy Cận!
Dù bài viết đã được dàn dựng, che chắn, sắp xếp lớp lang như một vở diễn, vẫn để lại những sơ hở, mâu thuẫn rất dễ nhận ra cái tâm không thực ở người viết: Mở đầu, Trần Đăng Khoa vừa nhận Xuân Diệu là thầy dạy nghề của mình với lòng trân trọng và ngưỡng mộ sâu sắc, vừa đem hai câu thơ trên ca ngợi hết lời… kéo cả Lý Bạch, Đỗ Phủ, R.Tagor, Nguyễn Du, A.Pushkin, Walt Witman… vào so sánh, nếu mỗi thi sĩ chỉ được chọn ra hai câu thơ, có lẽ tất cả các thiên tài nhân loại kia đều phải ngả mũ trước Xuân Diệu! Ngoắt một cái Khoa quay lại đưa ra những lời tóm tắt hết sức bỗ bã: “Đời thơ Xuân Diệu, trước cách mạng là rạo rực yêu đương và sống cuống quýt bay bổng… Sau cách mạng ông kéo thơ về mặt đất cần lao và cố gắng đưa thật nhiều thực tế đời sống vào thơ, đọc chỉ thấy quý tấm lòng của ông đối với công việc sản xuất, còn bài thơ thì đã chệch ra khỏi văn chương và trượt xuống việc bốc đất bốc đá hay kỹ thuật muối dưa chuột!”. Liệu có ai tin đây là chân dung một đời thơ Xuân Diệu, lại do nhà thơ phó chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam Trần Đăng Khoa vẽ ra để tưởng niệm trên tờ văn nghệ số kỷ niệm một trăm năm ngày sinh Xuân Diệu?
Vì sao có sự ngoắt ngoéo làm vậy? Người đọc mẫn cảm sẽ thấy đây là thao tác đã được tính toán để Khoa gài cắm “cái thước lý luận do Khoa tự chế” khi khen hai câu thơ là “rất điêu luyện đưa thực tế đời sống vào thơ” để so sánh với thơ Xuân Diệu do Khoa tóm tắt: “sau cách mạng ông đưa thật nhiều thực tế đời sống vào thơ… nhưng đã chệch ra khỏi văn chương, trượt xuống việc bốc đất bốc đá hay kỹ thuật muối dưa chuột”, để nói “Xuân Diệu không có tài đưa thực tế đời sống vào thơ”, không phải là người làm hai câu thơ tuyệt vời ở trên mà Khoa đã “linh cảm” từ thuở viết “Chân dung đối thoại” đã thấy “nó bay ra ngoài quỹ đạo thơ Xuân Diệu”, nó nhuốm “màu Huy Cận” có “hơi Huy Cận”! Mục đích bài viết không dừng lại ở việc tước đi hai câu thơ của Xuân Diệu để trao cho Huy Cận, để hạ bệ Xuân Diệu. Nhưng cũng không nhằm đề cao Huy Cận, mà nhằm để tự tôn vinh cái tài “linh cảm, thần đồng” của Khoa, người nhìn ra được hai câu thơ tột đỉnh của nhân loại, lại tìm ra được tác giả chính thức sau gần cả thể kỷ đã mang tên Xuân Diệu! Đọc dòng văn dưới đây trước khi kết thúc bài viết, ta như nghe tiếng thở phào của Khoa sau những vật lộn, chắp nối một bài viết vừa ảo vừa thực: (Đến lúc ấy tôi mới biết cái “linh cảm” của tôi đã không phản tôi). Nhưng sao liền ngay đó Khoa lại hạ bút: “Kể lại với bạn đọc điều này tôi nghĩ mình cũng chẳng làm điều gì phương hại đến uy tín của Xuân Diệu”. Phải chăng sau khi bằng mọi giá đạt được mục đích của mình trái tim nhà thơ lại đưa Khoa về với những buồn vui phải, trái. Một cậu học trò lột mũ áo của thầy trước bàn dân thiên hạ, ngày cả nước đang kỷ niệm cuộc đời và nhân cách văn chương của ông, làm sao không chút ân hận. Rồi việc hai câu thơ ấy Xuân Diệu viết từ thời thơ mới, trước cách mạng, Khoa lại cố tình đào xới thơ Xuân Diệu viết sau cách mạng để so sánh chỉ thấy thơ ông “bốc đất, bốc đá và kỹ thuật muối dưa chuột”. Khoa thông minh, làm sao không biết thơ trước cách mạng của Xuân Diệu có nhiều câu mang bút pháp tư duy, những gợi cảm hình thức rất gần với hai câu thơ đem bàn.
Khi ví (trái đất với nước mắt) thật gần gũi với nhìn (trăng thành vú mộng). Hình ảnh “Trái đất đi như giọt lệ giữa không trung” gợi ta nhớ ngay tới “Trăng khoan thai lên ngự đỉnh trời tròn”… cố tình tước đi hai câu thơ Khoa cho là hay nhất ở Xuân Diệu như là phủ nhận cả đời thơ Xuân Diệu, nên người đọc càng không tin ngay cả lời khen của Khoa về hai câu thơ hay, nó sâu sắc và ôm chứa, nhưng dùng từ “kỳ vĩ” khen một câu thơ có khác gì chỉ đây là đỉnh núi Hy-ma-lay-a. Thơ hay không chỉ đo bằng chiều cao, chiều rộng còn tiếng rung của sợi tơ đồng vọng mãi ngàn năm. Ngoài hai câu thơ ấy Xuân Diệu còn bao câu hay khác làm nên Xuân Diệu – ông Hoàng thi ca một thuở. Cả chặng sau cách mạng vẫn có những bài, những câu thật cuốn hút, mãi mãi say đắm, trẻ trung như “Đến tan cả đất trời/ Anh mới thôi dào dạt”. Khi đọc tới câu “Kỹ nghệ điêu luyện đưa thực tế đời sống vào thơ” được mệnh danh là “cái thước đo thơ tự chế của Khoa” nó đưa người đọc đến với hình dung một thứ lý luận thơ ngồ ngộ, pha trộn bằng khái niệm của nền sản xuất công nghiệp ở những nước phát triển, kỹ nghệ luyện thép, kỹ nghệ hóa dầu, ở trình độ cao là chế tạo máy bay, làm tàu vũ trụ chứ làm gì có “kỹ nghệ đưa thực tế đời sống vào thơ”. Thơ là sản phẩm tinh thần đơn chiếc, dù rèn luyện đến đâu cũng không thể tạo nên một kỹ nghệ sản xuất thơ. Thời làm thơ thiếu nhi Trần Đăng Khoa từng có câu thơ thật sự thần đồng: “Trăng bay như quả bóng/ Đứa nào đá lên trời”! Thơ thiếu nhi Việt Nam chưa có câu nào đặt ngang so sánh. Lúc ấy Khoa đâu đã có khái niệm “kỹ nghệ đưa thực tế đời sống vào thơ”!
Nước cờ chủ chốt khi Khoa kết thúc bài viết là rất táo bạo, dẫn lời Huy Cận: “Câu thơ ấy đúng là của mình. Mình viết năm 1940 ở Huế”, hẳn Khoa yên chí không ai còn dám tranh luận với mình. Nhưng Huy Cận đã không còn, ai tin được đây là lời Huy Cận. Về lý người ta có thể hỏi: “Sao Trần Đăng Khoa không công bố khi Huy Cận còn sống? Và cả trường hợp được nghe chính Huy Cận nói ra lời này thì vẫn còn thiếu lời của Xuân Diệu đã yên nghỉ ở cõi gió mây. Nên hai câu thơ “Trái đất ba phần tư nước mắt/ Đi như giọt lệ giữa không trung” mãi mãi chỉ là của Xuân Diệu.

                 Vạn Phúc, ngày 30 tháng 04 năm 2016
                 CHỬ VĂN LONG
                 Địa chỉ: Thôn 2, Vạn Phúc, Thanh Trì, Hà Nội.     
Điện thoại: 01658818263

READ MORE - HAI CÂU THƠ VẪN LÀ CỦA XUÂN DIỆU - Chử Văn Long