Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Lê Văn Trạch. Show all posts
Showing posts with label Lê Văn Trạch. Show all posts

Wednesday, May 6, 2026

XÓM HOÀN THÀNH - LÀNG CAM LỘ - Lê văn Trạch

Ngày 18/4/2026 tác giả thăm Phúc Gia Tự, tư gia  

của nhà thơ  Phạm Bá Nhơn tại Diên Sanh Quảng Trị




XÓM HOÀN THÀNH - LÀNG CAM LỘ 

Lê văn Trạch


Làng Cam Lộ được thành lập vào khoảng thượng bán thế kỷ 16, trước khi Chúa Nguyễn Hoàng vào trấn nhậm vùng Thuận Hóa, đặt dinh trấn tại Ái Tử (1558). Trong sách Ô Châu Cận Lục của học giả Dương Văn An phát hành năm 1553 đã thấy xuất hiện tên Cam Lộ, là một trong 27 làng thuộc Tổng An Lạc. Thoạt đầu, để dễ quản lý và tương trợ nhau, làng được chia ra thành 5 xóm từ trên xuống gồm Tây Hòa, Thượng Viên, Trung Viên, Hậu Viên và Đông Định. Đến giữa thế kỷ 19, bằng tầm nhìn chiến lược để giãn dân và phát triển kinh tế về phía Bắc, ông Trưởng Sáu tức ông Thái Văn Chương (Trưởng Họ Thái Thúc) đã mạo hiểm đến giữa bãi bồi của sông Hiếu và sông Lâu trồng tre và cây cổ thụ để giữ đất (trước đây còn tàng trữ một văn khế ghi việc mua đất làng Thượng Độ để đào con sông Lâu, mục đích thay đổi dòng chảy, phân thủy trong mùa lũ để các xóm Thượng Viên, Hậu Viên khỏi bị sạt lở, cũng có giai thoại cho rằng chư vị tiền bối muốn mượn con sông  đào này để đẩy trôi chùa An Thái, đang nhắm hướng vào bên hông có thể gây ra những điều gỡ cho làng; tuy nhiên, công trình này tiến hành theo cảm tính chứ không dựa trên một thiết kế kỹ thuật nào, nên một thời gian sau, sông bị lấp). Chẳng bao lâu phù sa bồi đắp, khu vực được lan rộng ra, ông vận động dân làng qua lập nghiệp, vùng này trở nên trù phú và hình thành xóm, đặt tên là xóm Bắc Bình.

Vào thời bấy giờ, Cam Lộ như là vùng biên cương của Tổ Quốc, hệ thống giao thông về phía Tây bắt đầu hình thành, bọn cướp ở Lào, nhiều bộ lạc cận kề thường qua quấy phá, năm 1622, Chúa Nguyễn Phúc Nguyên cho rằng: "Vùng sông Hiếu, xã Cam Lộ, thuộc huyện Đăng Xương, giáp giới với đất Ai Lao, các bộ Lạc Man, Lạc Hoàn, Vạn Tượng, Trấn Ninh, Quy Hợp đều có đường thông đến đấy, bèn sai đặt Dinh, mộ dân chia làm 6 thuyền quân (?), gọi là Dinh Ai Lao. Đến năm 1672, đổi tên thành Trấn Sơn Phòng Cam Lộ để bảo vệ vùng biên giới”.

Năm 1803, sau khi đánh bại Tây Sơn lên ngôi Hoàng Đế, vua Gia Long lấy các huyện Hải Lăng, Đăng Xương, Minh Linh để lập ra Dinh Quảng Trị, phía Tây đặt Đạo Cam Lộ; năm 1831 vua Minh Mạng đổi Đạo thành Phủ, trước đó, năm 1829 vua ban chiếu xây dựng thành Vĩnh Ninh ở đầu làng Cam Lộ để đặt Sơn Phòng Phủ như một cứ điểm quân sự vững chắc và điều các quan thao lược ra trấn giữ. Chính tại đây, tháng 2 năm 1834, các tướng Lê Văn Thụy, Phạm Phi, Nguyễn Hữu Đức đã đánh bại quân xâm lược Xiêm La và giết được tướng giặc. Thành được xây theo hình tứ giác bằng đất, mỗi cạnh trên 100 mét, chung quanh có hào sâu. Theo năm tháng, những hào này cạn dần và trong một thời gian nào đó đã được đổ đất lấp đầy và dân chúng bắt đầu đến xây dựng nhà ở. Không biết chính xác thời gian, nhưng dựa theo lời kể của người đương thời thì có thể vào thập niên 20, 30 của thế kỷ trước, ban đầu chỉ một số ít gia đình, đặt tên là Xóm Mới.

Sau Hiệp định Genève, chính quyền quốc gia hình thành, cư dân đến đông hơn, được tổ chức quy củ, đặt tên là Xóm Hoàn Thành, do bác Trưởng Tán làm Trưởng xóm. Lúc này, bà con ở đây dựa vào sự gần gũi thân tình với ông Quận trưởng Lê Đình Pháp, đề nghị thành lập một làng riêng, lấy tên là làng Hoàn Thành. Các thân hào nhân sĩ làng Cam Lộ không đồng thuận. Sau nhiều lần thảo luận không kết quả, trong cuộc họp cuối cùng giữa ông Quận trưởng và chính quyền thôn gồm ông Lê Thản, Thôn trưởng, ông Trần Minh thư ký cùng một số bô lão, ông Trần Minh đại diện phát biểu rằng: "Chúng tôi chấp hành theo lệnh hành chánh của Quận, nhưng nếu sau này có người qua đời thì chôn ở đây hoặc đâu đó, chứ không được chôn trên đất làng Cam Lộ!”.

Trước ý kiến khẳng khái và hợp lý, đề nghị trên không được thực hiện, từ đó bà con sống chan hòa với dân làng, hàng năm vào dịp tế lễ Xuân Thu Nhị Kỳ đều có phẩm vật dâng cúng ở đình làng. Như vậy, cho đến lúc này, ngoài 5 xóm Làng Cam Lộ, có thêm hai xóm nữa là Bắc Bình và Hoàn Thành.

Địa thế xóm dài khoảng 300 mét, chiều ngang chưa đến 100 mét, nhà cửa tập trung hai bên đường từ quán Bà Thanh (ngã tư đường 71 từ chợ Phiên lên và đường từ quốc lộ 9 vào), lên đến nhà ông Thái Tăng Ly (khúc cua lên làng An Hưng), cụ thể như sau: Quán Bà Thanh bán hàng ăn và nấu cơm tháng, có chị Hường và hai anh con nuôi, kế bên là nhà anh Chuyết, có cho chị Kết thuê đặt tiệm may. Qua đường là nhà ông Nghẹc sửa xe đạp có chị Lưu, anh Minh, kế bên trái là nhà ông Thái Thúc Viện, có tiệm thuốc Tây An Sinh, bên phải là nhà anh Hiệp, chị Rô --- Bà Quế có anh Tự, anh Thái --- ông Lượng --- ông Miễn bán tạp hóa, có anh Minh, chị Hương, sau này chuyển ra Nam Thuận, nhường lại cho chị Hồng con bác Đinh, em Mụ Tép --- Bác  Thợ Huỳnh sửa xe đạp, bác gái bán hàng ăn có chị Thu, chị Thôi, chị Ý, anh Diên, chị Lan, chị Mai, anh Dũng và chị Cúc, sau này bác dời ra Nam Thuận, nhường lại cho anh Sinh cũng sửa xe đạp  --- Ông Văn làm tùy phái trong Quận, có các anh Ngọc, Ngà  --- ông Uyển ở Ba Thung qua, có chị Bích --- bác Phó Lộng cũng ở Ba Thung qua, có anh Bình, anh Khôi và chị Lan  ---  ông Cánh --- ông Hoàng Thư có các anh Phố, Diệu, Sơn, Lâm và các chị Mỹ Công, Dung, Ngôn, Hạnh, Lý, Lan. (Trước năm 1954, đây là nhà bác Thợ Hinh có quán thuốc Bắc Đông Khê, sau dời qua xóm Bắc Bình) --- bác Trưởng Tán làm lò mổ, có chị Mùi, chị Xiêm, anh Vồ --- Chiếm khu vực rộng nằm ngay góc là trường Tiểu học Cam Lộ. Qua khỏi ngã tư là nhà ông Thái Tăng Tuệ, gồm có chị Duyên, anh Thịnh, chị Phi, anh Phụng, anh Phúc, các chị Thúy, Lai, Nhung  --- Mụ Ngại có bà Chung vợ ông Lê Hữu Trình, bà Mai vợ một ông Bộ trưởng ngoài Bắc, anh Hàm, anh Thưởng  ---  Mụ Phán, mẹ chị Hải, chị Hà; đến đây là điểm cuối xóm, qua bên kia đường là nhà của ông Thái Tăng Ly, có anh Phương, chị Nga, chị Mỹ, anh Ân, anh Ấn và chị Lan, đi lui lại là nhà Mụ Thợ Đỉnh có anh Hóa, chị An, chị Hội – Mụ Sắt, bán kẹo có anh Mạnh --- ông Quang (bác Bành Chánh Phương), có anh Long, anh Lân, anh Hòa, và chị Hiệp, chị Cam, chị Quýt, chị Chanh --- ông Doàng (bác Hàn Thuận Nguyên), có chị Cúc, chị Lan, chị Mai, anh Minh Quang, chị Hoa, chị Liễu. Các anh Việt Quang, Vinh Quang, Ngọc Quang và Triệu Quang --- Ông Lê Văn Tý, chồng cô Tuyết, có chị Thu Trang và anh Toàn --- Ông Thái Hanh có các anh Thiện Chánh và Mạnh Hoài, các chị Kim Quy, chị Lương và các anh Khương, Tín --- Mụ Đen có anh Nương. Đối diện với trường Tiểu học là nhà bà Hàn thị Chút có chị Anh, chị Thanh --- ông Phạm Đình Cầu, lúc đầu mở quán hớt tóc và ông Hưng, chị Sen đặt tiệm may, sau này cho ông Sơn sui gia ở và chị Lượng đặt quán may --- chị Thái thị Yến, sau đó là chị Thái thị Vân --- ông Thái Tăng Từ có chị Tâm, chị Hồng, chị Hằng, anh Quang, anh Thành --- Ông Mãn (trước đây là nhà ông Hoàng Đức Thạc) ---  ông Trần Phong Yên, cho quý Cô dạy Trung học ở trọ --- ông Khâm --- Mụ Tép -- trạm Thông tin phía phải cửa vào Quận, bên kia là trụ sở Phong trào Cách Mạng Quốc gia, trụ sở Chi Thanh Niên --- ông Bé tài xế cho Quận --- ông Cần làm ở Chi Khu --- nhà Hộ sinh của bà Thư --- kế đó lên hướng Tây nhà ông Nậu công chức Quận, có các anh Quang, Minh và các chị Cúc, Hoa, bên kia ngã tư nhà ông Kiểu thợ mộc, có tiệm hớt tóc anh Hai, kế đó là nhà ông Đối chụp hình.

Cư dân xóm Hoàn Thành bao quanh hai phía thành Vĩnh Ninh. Giữa văn phòng Phong trào Cách mạng Quốc gia và Trạm Thông tin là cổng vào thành. Qua các thời kỳ, nơi đây là quận lỵ Cam Lộ, nơi đặt các cơ quan hành chánh của quận. Chỉ là một thành nhỏ, nguyên gốc như một cứ điểm biên phòng, nhưng thành Vĩnh Ninh vinh dự được các vì vua ghé đến:

Rạng sáng 5/7/1885, Quan Phụ chính Đại thần Tôn thất Thuyết và Nguyễn văn Tường khởi binh tấn công tòa Khâm sứ Pháp ở mạn Nam sông Hương và đồn Mang Cá thất bại, triều đình đưa vua Hàm Nghi rời hoàng thành, chiều 6/7/1885 đến Quảng Trị.

Ngày 8/7/1885, các quan đại thần họp, quyết định các thái giám, cung tần mỹ nữ cùng một số binh lính ốm yếu trở lại Huế.

Ngày 9/7/1885, vua lên đường đi Tân Sở và đêm đó ngủ lại thành Vĩnh Ninh. Nhận thấy thành Tân Sở không thuận lợi cho kháng chiến lâu dài, nên ngày 19/7/1885 Tôn thất Thuyết quyết định đưa vua ra Quảng Bình và nghỉ lại tại thành Vĩnh Ninh trước khi tiếp tục.

Tháng 11/1932, vua Bảo Đại trên đường kinh lý đã ghé thăm vị trí này.

Năm 1958, Tổng thống Ngô Đình Diệm lên Cùa thăm đồn điền của ông Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đông cũng đi ngang thành Vĩnh Ninh.

Năm 1973, nơi đây được chọn là Thủ đô của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (bây giờ là Khu Di tích của Chính phủ đó)

Vị trí huyện cuối cùng là ông Lê Trọng Đàn (thân phụ thầy Lê Trọng Ấn, giáo sư Trường Nguyễn Hoàng). Sau khi Việt Minh cướp chính quyền năm 1945 rồi người Pháp trở lại, họ đảm trách luôn mọi công việc hành chánh, ông Tri Huyện rời nhiệm sở, mãi đến năm 1954, chính quyền quốc gia mới thành lập và kiện toàn tổ chức các cấp, Quận trưởng đầu tiên là ông Lê Đình Pháp (đầu thập niên 1970 làm Chỉ huy trưởng cảnh sát huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên); kế đó là ông Ngô Đình Hoàng, ông Lê Đình Giáo và ông Nguyễn Tri Kiệt. Thời điểm này (1960), chiến tranh bắt đầu lan rộng, Trường Đại học Quốc gia Hành chánh đã có các khóa đầu tiên ra trường nên Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa quyết định Tiểu khu trưởng và Chi khu trưởng kiêm luôn Tỉnh trưởng và Quận trưởng, các Đốc sự sẽ đảm nhận chức vụ Phó để điều hành công việc hành chánh. Chi khu Cam Lộ đặt phía bắc quốc lộ 9, cạnh trường trung học. Các vị Quận trưởng quân sự lần lượt gồm có: Đại úy Phạm Kỳ Nam, Đại úy Phạm Hữu Mân, Thiếu tá Nguyễn Đức Nhiễm, Đại úy Phan Đình Cáo, Thiếu tá Vũ Ngọc Tùng và Đại úy Nguyễn Văn Rao (1972).

Tuyệt đại đa số bà con ở đây đều từ nhiều nơi đến như Thừa Thiên, Cùa hoặc các làng lân cận, làm nhiều công việc khác nhau: Công chức, buôn bán tạp hóa, tiệm thuốc Tây, thuốc Bắc, lò mổ, sửa xe đạp, quán ăn, quán may, hớt tóc, chụp hình, làm bánh kẹo...

Thừa hưởng chung yếu tố phong thổ địa lý của làng: Phía sau là chỗ dựa lưng hiền hòa mát dịu sông Hiếu, cùng tầm nhìn ngút ngàn trước mặt với quốc lộ 9. Xa xa nhấp nhô trùng điệp những mõm núi của Trường Sơn, tạo nên một cảnh sơn thủy hữu tình.

Xóm Hoàn Thành tọa lạc đầu làng được hưởng trọn vẹn những yếu tố đó và mặc dầu là một bộ phận của làng quê, nhưng bà con không "chân lấm tay bùn", con cái họ chỉ làm công việc nhẹ nhàng, cho nên các cô gái ở đây có dáng nét thong dong và rất đẹp, nức tiếng trong vùng cho đến ngày nay, không những đẹp người mà còn đẹp nết, công dung ngôn hạnh vẹn toàn. Đây là nơi đặt quận lỵ, có nhiều công chức, quân nhân, giáo chức đến làm việc và rồi mến cảnh, say tình, bén duyên ở lại, hầu hết các cô gái ở đây đều kết tóc se tơ với những khách phương xa ấy, theo từng giai đoạn và tùy theo sự phát triển của xã hội đã ảnh hưởng đến việc kết duyên này: Thế hệ đầu là công chức, như chị Cúc (con bác Doàng), với anh Lê Đình Châu (em ruột ông Quận trưởng Lê Đình Pháp), chị Cam (con bác Quang) với anh Nam, chị Lưu với anh Bách. Thế hệ kế tiếp là giáo viên: Chị Hải với thầy Niệm, chị Quýt con bác Quang với thầy Phú, chị Lượng với thầy Sum và chị Mùi với thầy Khanh. Thế hệ sau cùng (đến 1972) là quân nhân đông nhất tuyệt đại đa số là sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng Hòa: chị Duyên (bác Tuệ) với anh Công, chị Vân (bác Trợ Liên) với anh Dục, chị Lương (cháu chị Lượng) với anh Thức, chị Tâm (bác Từ) với anh Quy, chị Hồng với anh Thức, chị Mỹ Công với anh Quang, chị Lan (bác Phó Lộng) (?), chị Bích (Ba Thung) với anh Tôn Thất Quỳnh Ngọ, chị Mai (bác Thợ Huỳnh) với anh Sáu, chị Lan với anh Tuyền, chị Chiêm với thầy Cổn (nhưng sau này cũng là sĩ quan). Chỉ có hai người lấy chồng tại địa phương là chị Hàn Thị Hoa với anh Lâm và chị Anh (bà Chút) với anh Thạc. Riêng chị Hằng Nga với tâm nguyện xiển dương Giáo pháp Phật Đà đã phát tâm xuất gia nay là Sư cô Liên  Cầu đang trú xứ tại một ngôi chùa ở Long Khánh và chị Thái Thanh Mỹ chắc là có duyên với thế hệ trẻ, nên sau một thời gian làm cô giáo, bây giờ đang là thiện nguyện viên chăm sóc các cháu thiếu may mắn tại "Trung tâm Phục hồi Chức năng và Nuôi dạy trẻ khuyết tật Cam Lộ ".

Trên đây chỉ nêu những trường hợp trước năm 1972. Sau này, khi di tản vào Đà Nẵng rồi định cư tại các tỉnh phía Nam, các cô gái ra đi từ xóm Hoàn Thành vẫn giữ bản sắc và truyền thống tốt đẹp đó, kiến tạo nên những gia đình thành đạt, hạnh phúc.

Lần đầu tiên tôi lên xóm Hoàn Thành là vào tháng 9 năm 1954, lúc đó chúng tôi đang học với thầy Thái Tăng Liệt tại nhà ông Lê Bạn, cạnh đường 71 xóm Thượng Viên, bất ngờ thấy ngoài đường có một thanh niên vào nói với thầy Liệt: "Giờ này mà còn học hành gì nữa, đi lẹ lên, đi tranh đấu", thế là thầy trò chúng tôi xếp bút vở cùng đi...

Đến trước nhà bác Thái Tăng Liên (thân phụ thầy Thái Mộng Hùng) đã thấy đông người và một số còn tiếp tục kéo tới... Đến xế trưa thì thấy có nhiều người mặc đồ đen tay cầm dùi xông vào đánh đập... một vài người chết, một số bị thương và cuộc biểu tình giải tán. Lúc đó tôi mới 8 tuổi, chẳng hiểu gì cả, sau này qua lời kể của người lớn mới rõ ngọn nguồn sự việc: Trong thời Pháp thuộc, một khu chợ sầm uất gọi là chợ Cam Thủy nhóm tại đình làng Tam Hiệp cách Cầu Đuồi khoảng gần một cây số về phía Đông, chợ này trước đây do Việt Minh kiểm soát, sau hiệp định Geneve, chính quyền quốc gia muốn dẹp bỏ để tập trung đông ở Chợ Phiên, dân trong vùng phản đối, thế là ông Quận trưởng cho lính Bảo An Đoàn về dẹp, bắt một người và làm bị thương một số người khác. Các cán bộ Việt Minh còn ở lại đã tập trung dân chúng tại Miếu Cồn Nậy làng An Mỹ cùng kéo lên quận phản đối. Chính quyền quận lúc đó do ông Lê Đình Pháp đứng đầu và mướn nhà ông Thái Tăng Liên làm trụ sở. Mục đích của nhóm biểu tình là phản đối chính quyền đàn áp, khôi phục chợ Cam Thủy, thả người bị bắt và bồi thường cho những người bị thương... Có một quân nhân người Pháp đến, nói với người biểu tình hãy bình tâm, lát nữa sẽ có nhân viên của Hội nghị Trung Giải lên giải quyết ổn thỏa mọi yêu cầu (có ông Trần Từ người làng Cam Lộ làm thông dịch).

Khoảng thời gian ngắn sau, nhân viên đâu không thấy mà từ ba hướng: Quốc lộ 9 vào, An Hưng xuống và Tây Hòa lên, những người lính Nghĩa Dũng Đoàn mặc đồ đen trang bị dùi cui và dây xích xông vào tấn công những người đang tập trung giữa sân rất dã man, dân chúng chạy tán loạn, có hai người chết, ba người bị bắt và rất nhiều người bị thương! Bọn trẻ chúng tôi chạy trối chết, sân vườn nhà bác Trợ Liên tan hoang như bãi chiến trường!

Một địa điểm đặc biệt quan trọng ghi dấu kỷ niệm của nhiều thế hệ là trường Tiểu học Cam Lộ, tại ngã tư đường từ ngoài thành vào và từ Xóm Tây Hòa lên. Trước năm 1946, trường Tiểu học Cam Lộ tọa lạc tại ngã ba quốc lộ 9 và đường vào thành Vĩnh Ninh, do ông Hoàng Xuân Lãm làm Hiệu trưởng. Trường của huyện nên tập trung nhiều học sinh từ các xã, nhất là vùng chung quanh huyện lỵ. Đây là cái nôi giáo dục, đầu cầu phát triển trí năng để tiến bước vào đời của con em Cam Lộ. Tuy nhiên, khi quân Nhật thua trận và người Pháp trở lại, phong trào Việt Minh kêu gọi toàn quốc kháng chiến, chiến tranh bùng nổ, niên khóa 1946-1947 là niên khóa cuối cùng, học sinh lớp Nhất của niên khóa này gồm các ông Thái Tăng Huy, Thái Tăng Bình, Thái Văn Hải, Trần Đình Lan, Trần Văn Ngự, Phạm Đình Trung, Nguyễn Công Bá, Thái Tăng Thám, Phạm Văn Thìn, Thái Tăng Minh, Trần Phương, Lê Đình Thúc, Thái Tăng Liệt, Thái Tăng Quảng, Thái Minh Kỳ. Sau đó trường bị quân đội Pháp trưng dụng làm căn cứ quân sự. Việc học vẫn tiếp tục, nhưng phải mượn nhà dân tại các xóm Tây Hòa và Thượng Viên. Tình trạng này kéo dài đến năm 1954. Khi hòa bình lập lại, việc giáo dục được quan tâm hàng đầu và sắp xếp quy củ. Trong lúc đợi trường học hoàn thành, học sinh phải học tại nhà dân (Mụ Kiềng và ông Trưởng Quýnh xóm Tây Hòa). Đa số học sinh trước đó học rải rác nhiều nơi kể cả ở vùng kháng chiến trình độ khác nhau, cho nên trường đã mở một khóa sát hạch, để xét khả năng học sinh mà xếp lớp và năm 1956 trường mới xây xong.

Cá nhân tôi năm 1954 qua Bắc Bình học lớp vỡ lòng với ông Trần Đình Lan, sau đó về làng học với thầy Thái Tăng Liệt và sau buổi sát hạch được xếp vào lớp Ba, niên khóa 1956-1957 với thầy Lê Văn Phục, lớp Nhì cô Trần Thị Huế, lớp Nhất thầy Trần Hữu Khanh, tốt nghiệp Tiểu học năm 1959. Bạn cùng lớp gồm có Hoàng Viện, Hoàng Văn Ngự, Hoàng Thị Bích (Ba Thung), Phạm Anh, Trần Đức, Bùi Văn An (Quật Xá), Lê Văn Sỏi, Lê Minh Hồ (Tân Mỹ), Nguyễn Đắc Thành, Nguyễn Định, Nguyễn Minh, Nguyễn Ước, Nguyễn Thị Mùi, Lê Thị Thu (An Hưng, Tân Định), Thái Thiện Chánh, Thái Tăng Ánh, Thái Hằng Nga, Phạm Tiêu, Phạm Linh, Trương Thái, Hoàng Hữu, Lê văn Vân, Thái văn Việt, Lê thị Thiện (Cam Lộ), Mai Sắt, Trần Thí, Hoàng Sự (Cam Hiếu). Hiệu trưởng đầu tiên là thầy Lê Đình Khởi, kế đến là thầy Tôn Thất Linh, thầy Trần Phụng, thầy Lê Văn Niệm, thầy Trần Hữu Khanh. Trong các vị Hiệu trưởng, thầy Khởi nghiêm khắc nhất, những học sinh nghịch ngợm luôn được thầy chiếu cố như Thái Tăng Hưu, Hoàng Hiệp Phố với những hình phạt độc đáo. Có lần thầy Trần Phụng về Ty họp, thầy Khởi hỏi đã xóa những hình được vẽ trên các trụ trong phòng học chưa, thầy Phụng trả lời: "Những bức hình đẹp như thế sao lại xóa?". Thầy Khởi bảo là lên xóa đi, trong một khoảnh khắc không được bình tâm, tôi đã cho vẽ cảnh người dân tộc cùi những a chói đầy CAM với hàm ý là dân Cam Lộ như "Cà Lơ", vì trong thời gian dạy ở đó không bao giờ có phụ huynh đến thăm viếng!!! (Phụ huynh lam lũ với công việc chắc cũng ngại đến thăm!).

Khoảng năm 1961, trường cũ ngoài quốc lộ 9 chỉnh trang xong, các lớp Nhì, Nhất được chuyển ra trước, rồi mấy năm sau các lớp nhỏ mới hoàn tất.

Nhằm đáp ứng nhu cầu giảng dạy tại địa phương, bác Thái Tăng Liên lúc đó làm việc tại Ty Tiểu học, được sự chấp thuận của ông Trưởng ty Tôn Thất Dương Thanh đã hướng dẫn giúp đỡ một số người có bằng Tiểu học thụ huấn Khóa Sư phạm Cấp tốc, rồi trở thành giáo viên như các ông Thái Tăng Minh, Thái Tăng Tráng, Trần Văn Ngự, Trần Phương.

Không khí sinh hoạt tại Xóm Hoàn Thành khá nhộn nhịp, chính quyền và dân các xã thường lên Quận để giải quyết công việc; nơi đây lại tập trung quán xá và các dịch vụ, nên thường xuyên có nhiều người lui tới. Mọi chuyện diễn ra rất hiền hòa, vui vẻ, tình cảm cho đến đầu thập niên 1960, có một sự kiện chấn động gây xôn xao, lo lắng cho bà con, đó là việc "thần linh" nhập vào hai ông Nguyễn Đắc Hồng và Phạm Đình Long, rồi hộ lên. Sự việc xảy ra sau hôm đám tang thân sinh ông Nguyễn Đắc Hồng, bị các ngài quở vì quan tài đi ngang đền thờ Hội đồng mà không dừng lại, khi hộ lên, ông Hồng xưng quan Văn, anh Long là quan Võ, Tả Tướng Quân.

Mục đích khi các vị lên là muốn xây dựng lại Đền thờ Hội đồng từ lâu để hoang phế. Có một lần "Tả Tướng Quân" đã phán: "Các ngươi được ăn ngon, ngủ kỹ, nhà cao cửa rộng, trong lúc ta không có nơi nương thân, không có một chỗ để cắm nhang, âm không siêu thì làm sao dương thái được".

Sau đó, ông Trần Hữu Triếp, Xã trưởng Cam Hưng, và ông Lê Văn Xâng, Xã trưởng Cam Thái, cùng các bô lão vận động bà con đóng góp xây dựng. Đền thờ được khánh thành năm 1962 trên nền cũ trang nghiêm, bề thế, các đời Quận trưởng tỏ ra cung kính, tin tưởng, tổ chức cúng bái nghiêm túc, có năm mời cả ông Tỉnh trưởng Tôn Thất Khiên lên dự. Cứ mỗi lần như thế, "Tả Tướng quân" đều có mặt lên ngồi trên bệ thờ, được thiết lễ hoa quả hương đèn, nhưng không mảy may lay động. Không cứ là dịp cúng tế, thỉnh thoảng “Ngài” cũng hộ lên, tay cầm dao phay đi từ nhà ở bờ sông, qua Xóm Hoàn Thành đến nền Âm Hồn trước trường Trung học rồi lên Đền, cây dao này gia đình dấu rất kỹ, nhưng “Ngài” vẫn tìm ra... dáng đi nhanh, rất oai phong lẫm liệt, mỗi lần như thế, nhóm trẻ con vừa sợ, nhưng cũng tò mò chạy theo, người lớn thì lo không yên tâm! Có hôm anh Hoàng Hiệp Phố nói hỗn, “Ngài” phán trong 3 ngày sẽ chết, gia đình phải thiết lễ cầu mới được tha!. “Ngài” tiếp tục hộ như thế cho đến cuối năm 1971.

Ngôi Đền thờ Hội Đồng rất linh thiêng: Năm 1904, người Pháp làm quốc lộ 9, từ Đông Hà đi Savannakhet, khi qua đoạn này, các phương tiện cơ giới đều ngưng hoạt động, phải nhờ quý bô lão trong vùng khấn vái mới tiếp tục tiến hành được.

Sau năm 1975, Công ty vận tải Việt Lào xử dụng nơi đây làm bãi đậu xe, họ sinh hoạt bừa bãi và không tin chuyện tâm linh, nên trong vòng một năm đã có 17 người chết. Về phần anh Phạm Đình Long, có lẽ nhờ sự phù hộ che chở của Thần Linh, nên khi làm việc tại Chi Khu Cam Lộ đã hai lần thoát chết: một lần do đạn súng cối của đơn vị khi bắn bị hụt tầm và một lần pháo kích, anh đều rời khỏi phòng ngủ trước khi đạn nổ, làm một số cộng sự bị tử thương. Sau khi khu vực này được quy hoạch trở thành Chợ Ngô Đồng, không thấy có sự kiện nào xảy ra nữa. Theo một nhà ngoại cảm thì các “Ngài” đã lên ngự ở Chóp Đá Bụt.

Nhân đây cũng nên tìm hiểu để biết rõ thêm về ngôi đền này: Sau khi lên ngôi (1820), vua Minh Mạng rất quan tâm đến vùng biên cương của đất nước thuộc tỉnh Quảng Trị. Năm 1829, vua cho xây thành Vĩnh Ninh, tăng cường thêm quân lính để trấn giữ khu vực trọng yếu này. Sau đó Ngài ban chiếu chỉ cho các quan ở đây quy tập mộ chí các tử sĩ đã hy sinh từ sơn đầu đến hải khấu về táng tại Cam Lộ trên một khu vực rộng lớn phía Nam Quốc lộ 9, phía Tây Khe Bổ Ra, lên khoảng hơn 500 mét, tổng số có khoảng 7000 ngôi mộ, xây nền âm hồn ở giữa và lập Đền thờ như đã trình bày ở trên.

Năm 1960, Chi khu Cam Lộ mở đường vòng trước mặt nhằm giữ sự an toàn cho doanh trại và quy hoạch để hình thành Xóm Nam Thuận, nên nghĩa trang này phải giải tỏa, di dời lên trên phía Tây đường vào Cùa, đến năm 1967, khu vực này được làm nơi định cư của bà con quận Hướng Hóa và Trung Lương, nên phải cất bốc thêm lần nữa, hiện nay còn khoảng 300 ngôi phía Tây Nam khu vực cũ, cạnh nghĩa trang của dòng họ Nguyễn Công là họ của các quan Đại Thần gốc Phong Điền được triều đình phái ra trấn nhậm khu vực Sơn Phòng Cam Lộ.

So với các xóm của làng Cam Lộ, Hoàn Thành khiêm tốn cả về diện tích lẫn dân số, với chỉ khoảng 6 mẫu đất và 40 nóc nhà, nhưng đây là bộ mặt của làng như một xã hội thu nhỏ với nhiều thành phần và những nét biểu trưng văn hóa, giáo dục. Cũng có người ví von vùng đất này là "Địa linh nhân kiệt", vì ít ra đã có hai vị Quận trưởng (Bác Thái Hanh và bác Hoàng Đức Thạc), một Phái viên Hành chánh (bác Hoàng Thư Phái viên Hành chánh Cùa, đảm trách xây dựng tuyến giao thông Xoa - Ba Lòng), những người đầu tiên trong làng tốt nghiệp Trường Võ Bị Quốc gia Việt Nam (Anh Trần Đạo Hàm, khóa 17) và Liên trường Võ khoa Thủ Đức (Anh Thái Tăng Phương, khóa 18), các Binh chủng lớn của QL/VNCH: Không quân (anh Hàn Minh Quang), Hải quân (anh Hoàng Hiệp Phố), một số là thầy giáo cấp 3, cùng nhiều trai thanh gái lịch. Với bọn trẻ chúng tôi, ngoài việc hàng ngày cắp sách đến trường, đây là nơi được tiếp xúc với nhiều điều mới lạ: Ở trong thành, ngoài các phòng, ban của Quận Hành chánh, phía bên phải có rạp Đại Chúng, thỉnh thoảng trình diễn các loại hình nghệ thuật (sau này rạp được triệt hạ để lập Khu Dân cư). Thời đó ít có những đoàn ca nhạc, ông Quận trưởng Nguyễn Tri Kiệt là người mê hát bội, nên thỉnh thoảng mời về diễn và ông ngồi đánh trống chầu, chúng tôi không có tiền mua vé, phải đợi diễn nửa buổi, mở cửa mới vào xem hoặc lòn qua cửa sổ (cửa chớp), có đứa nhanh và khỏe dành được một chân gánh trống vào rạp (người thường xuyên được ưu tiên là anh Thái Đằng, sau này anh bị đuối nước). Các vở tuồng thường dựa vào những chuyện lịch sử như Thạch Sanh, Lý Thông, Lê Lai cứu chúa, Phạm Công Cúc Hoa hoặc có tính xã hội. Tôi còn nhớ một vở nội dung là: Bên vệ đường có tảng đá lớn, một người đi ngang dừng lại, tạc thành một cô gái rất đẹp, người thứ hai thấy vậy khoác cho cô chiếc áo và xâu chuỗi, người thứ ba dạy cô nói và tập bước đi... lúc đó thì ba người đều dành phần mình với những lập luận hợp lý. Cuối cùng phải nhờ đến quan xử và được phán rằng: Người tạo ra hình hài là Cha, người tập nói, tập đi là Thầy và người sắm áo và nữ trang là Chồng!

Ngoài ra cũng có những buổi hò đối đáp do những danh hò từ Triệu Phong, Hải Lăng lên, một thể loại thú vị, được nghe những làn điệu và lời qua tiếng lại rất lôi cuốn, cũng là lần đầu chúng tôi được xem phim: Bộ phim "Chúng tôi muốn sống" quá hấp dẫn, thấy được cảnh đấu tố trong chiến dịch Cải cách Ruộng đất ở miền Bắc. Những sinh hoạt văn hóa như thế mang đậm nét giáo dục quần chúng, khắc sâu vào đầu óc non nớt của chúng tôi, có thể đó là duyên khởi để sau này tôi say mê tìm tòi những câu hò đối đáp, văn học dân gian..

Một nơi thú vị khác là tiệm xe đạp của bác Thợ Huỳnh, ngoài việc sửa chữa và bán phụ tùng xe, bác còn có dịch vụ cho thuê, cứ một giờ hai đồng, chúng tôi thường thuê xe để tập, hai đứa một chiếc rồi kiếm những vồng khoai ở khu vực Khóa Vuông xóm Tây Hòa để tập, đạp xe giữa hai vồng khoai bảo đảm không bao giờ bị ngã. Một niềm vui khác, cứ đến ngày Chợ Phiên, sau buổi học sáng, rủ nhau tập trung trước quán ăn Bà Thanh, chờ Ô Tô Ca của "Eng Đa, Eng Mới" lên đón khách, dừng lại cho bọn tôi lên, ngồi trên xe nhìn mấy đứa đi bộ, tay ngoắt ngoắt rất oai, chẳng cảm thấy mệt khi phải đi bộ từ chợ lên nhà!

Một khu vực lưu dấu nhiều kỷ niệm là Nghè Ông, cạnh trường ở đây thoáng mát, nhiều cây cao, tán rộng là nơi các chú bán cà rem, kẹo kéo đứng đợi trong giờ ra chơi hoặc trước giờ học buổi chiều, bàn kẹo kéo có gắn tấm bảng tròn ghi từ số 0 đến số 9 và mũi tên để quay, cứ trúng số bao nhiêu thì được bấy nhiêu khúc kẹo, vẫn biết cũng từ một khúc kéo dài ra, nhưng rất thú vị khi ngắm tay chú ngắt từng khúc thật điêu luyện, chỗ này cũng có cây hạt dót, trái to bằng hạt sầu đông, màu vàng rất ngọt, số nữ sinh thường đi quanh gốc để lượm.

Khoảng cách từ nhà lên trường không xa lắm, buổi trưa về nhà ăn nghỉ rồi đi học lại thoải mái, nhưng một số nam sinh cũng như nữ sinh, xin ba mạ bơi cơm ở lại... Con trai rủ nhau qua chùa An Thái hái xoài, loại xoài cơm trái nhỏ không ngọt lắm, nhưng chủ yếu lấy hạt làm đồ chơi! Thỉnh thoảng có đứa nghịch ngợm dộng chuông, mấy đứa trên cây tụt xuống chạy không kịp thở. Trong chùa trước Chánh điện có hai bức tượng, một ông mập không mặc áo phô chiếc bụng bự, một ông ốm tong teo, khoác áo sặc sỡ, bọn tôi nói một ông nhịn ăn mà mặc, một ông nhịn mặc mà ăn! Nhóm con gái thì qua nhà bạn bên kia sông để kiếm các loại trái cây theo mùa hoặc cùng nhau lên Phước Tuyền xem đúc đồng!

Đa số học sinh từ các xóm phía dưới hoặc các làng thuộc xã Cam Thái, Cam Hưng, Cam Hiếu, gia đình nông nghiệp, kinh tế khó khăn, nhưng khi đi học chơi chung với các bạn ở xóm Hoàn Thành rất thân tình hòa nhã, cuối tuần các bạn ở đây còn rủ nhau qua An Mỹ hái dâu tiên nữa! Một số cùng sinh hoạt trong Gia Đình Phật tử, nên càng gắn bó hơn.

Thế hệ này tiếp nối thế hệ khác, cùng lớn lên, tạo nên không khí rộn ràng, năng động và như những chú chim đã đủ lông đủ cánh bay đi theo đường riêng của mình. Xóm nhỏ không đông nhưng sinh sản nhiều khuôn mặt với nhiều đặc trưng rất đa dạng, mỗi người một vẻ. Hoài bão cho một ngày mai ai cũng giữ kín trong lòng và sau này khi đã bay nhảy vào đời mới vỡ lẽ! Tuy nhiên, không phải khung trời nào cũng êm ả! Chiến tranh đã tác động toàn diện vào đời sống người dân, những tưởng chỉ quân nhân ngày đêm đối mặt với hiểm nguy của chiến trận, người dân cũng đã gánh chịu tai ương bom đạn ập xuống.

Tết Mậu Thân 1968, Chi khu Cam Lộ bị tấn công, hàng loạt đạn pháo rơi vào Xóm Hoàn Thành, trúng nhà chị Thái Thị Yến, làm em ruột chị là TTV bị thương nặng, phải đưa ra hạm đội điều trị giải phẫu, cuối cùng bị thương tật. Cứ nghĩ như vậy đã được giải nghiệp, không ngờ câu chuyện "Thiếu phụ Nam Xương" tái hiện, lúc tuổi đời còn rất trẻ, chị phải ra đi trong oan nghiệt thảm khốc! Rồi như quy luật muôn đời "hồng nhan đa truân", người đẹp trôi lăn theo dòng đời với tình duyên khập khiễng: HMC có mối tình lãng mạn và chân thành cùng một chàng trai trong làng, nhưng dưới quan niệm thực dụng của gia đình, nên phải kết hôn với một người mình không yêu thương, mang tâm trạng của TTKH! Sau 1975, người chồng vượt biên, người yêu bị đi tù, không thể chống chọi giữa muôn vàn khó khăn, MC phải tìm một bờ vai để nương tựa.. Người yêu ra tù tìm đến như muốn chắp lại duyên xưa, nhưng đã muộn, đành phải tự đi xây dựng cuộc sống cho mình. Mùa Xuân năm 2009, tôi đã sắp xếp để hai người có cuộc gặp gỡ nhân lễ đính hôn của con trai tôi ở Saigon. Thoáng bất ngờ, không thể diễn tả hết niềm hạnh phúc của họ như thế nào! Rồi ai cũng phải trở về thực tại với gia đình... Ngày 17/7/2017, nhận tin TVT qua đời, tôi gọi về thông báo, MC thảng thốt cảm động và kể: “Khuya nay trong giấc ngủ chập chờn Em đã hai lần nghe Anh ấy gọi tên Em!”.

Cuối năm 2019 trong lần về quê, ngày 23 tháng 11 tôi được dịp dự đám tang HMC, tang lễ đơn giản mà ấm cúng, trong lần nói chuyện lúc đã trở bệnh nặng, MC chia sẻ có niềm an ủi là đã lo cho các con học hành đến nơi đến chốn và cả 4 đứa con gái đều yên bề gia thất, chỉ có một ngậm ngùi tiếc nuối là không được một lần trở lại quê, nơi đó biết bao là kỷ niệm! Buổi chiều sau đám tang, tôi qua Quận 2 thắp hương cho TVT, câu đầu tiên thím Xuyên hỏi tôi là anh có biết cô MC bây giờ đang ở đâu không, tôi trình bày lại mọi chuyện hồi sáng, rồi thím kể: "Anh V không dấu tôi bất cứ chuyện gì, còn cho tôi xem hình ảnh chụp chung hôm đám hỏi con Anh. Tôi biết Anh ấy luôn yêu thương MC".

Bây giờ thì cả hai đều thanh thản ra đi để lại mối tình đẹp trong lòng mọi người! Biết rằng cuộc đời là vô thường, nhưng để chấp nhận nó một cách bình thường thật là khó!

Năm 1972, chịu chung số phận của toàn miền, xóm Hoàn Thành đã tan tác, mỗi người một hướng khắp miền Nam, sau này ra hải ngoại nữa!  Khi hòa bình lập lại, chỉ độc nhất gia đình chị Thanh Mỹ trở về, tên xóm cũng mất luôn, không ai nhắc đến nữa! Có lẽ vì sự mất mát đó nên những người trong xóm dù ở phương trời nào cũng cảm thấy gần gũi, gắn bó với nhau!

Từ khi hình thành đến lúc biến mất, xóm không có bất cứ tài liệu nào, mọi chuyện được ghi lại hôm nay qua nhân chứng sống thuộc nhiều thế hệ với một cố gắng tập hợp được chừng nào hay chừng đó, những sự kiện như là một lưu dấu kỷ niệm cho những người đã từng sinh sống trên mảnh đất này và những thế hệ sau biết rằng đã một thời tổ tiên mình đã hiện hữu nơi đây với những ràng buộc sinh hoạt như thế.


Ngày 10/4/2026, tác giả (thứ hai từ trái sang) gặp bà con Cam Lộ



(Chú thích: Bài viết được hoàn thành nhờ sự góp ý và cung cấp dữ kiện của nhiều người: ông Thái Phồn, ông Trần Minh, ông Nguyễn Công Bá, ông Phạm Văn Trung, anh Phạm Đình Long, anh Hàn Minh Quang, anh Bành Phi Lân, anh Thái Thịnh, chị Phùng Thị Kiều, chị Thái Thị Thanh Mỹ... Xin cám ơn tất cả)

Lê văn Trạch

(26 tháng 9, 2020)

Nguồn: 

trachcamlo.blogspot.com

READ MORE - XÓM HOÀN THÀNH - LÀNG CAM LỘ - Lê văn Trạch

Monday, May 4, 2026

CÔ KIM SA - Lê Văn Trạch



 CÔ KIM SA

 

Cô Trương Thị Kim Sa sinh quán tại Huế, năm 21 tuổi, đến Trường Nguyễn Hoàng và chỉ một niên khóa, Cô trở lại quê dạy Trường Kiểu Mẫu. Hình như Cô là vị nữ giáo sư tốt nghiệp đại học sư phạm toán đầu tiên của Trường Nguyễn Hoàng, do vậy khi đáo nhận nhiệm sở, Cô được phân công phụ trách dạy toán lớp đệ nhị của tất cả các ban. Tiểu sử của Cô chỉ có thế, thoắt đến, thoắt đi, không để lại dấu ấn cụ thể nào cho Trường cũ. Theo dõi sách báo Nguyễn Hoàng xuất bản 10 năm trở lại đây, không thấy nhắc đến tên Cô. Có thể nói Cô là một giáo sư ít được biết đến và nhớ!

Cô phụ trách lớp chúng tôi mỗi tuần chỉ có một giờ, thời điểm đó lại bãi khóa liên miên, nên cộng lại cả năm học chẳng có là bao, bởi thế vài bạn "quậy" trong lớp ví von rằng môn Toán đối với Ban C chúng ta cứ như là một loại "mỹ phẩm" trang điểm cho cuộc đời học trò ... 

Vào một ngày trong tuần lễ đầu tiên của năm học 1964 - 1965, sau khi chúng tôi đã vào chỗ, từ cửa chính, một cô giáo rất trẻ, trong chiếc áo dài lửng màu tím nhạt, mang kính trắng nhẹ nhàng bước vào. Sau khi bỏ chiếc cặp trên bàn, Cô nhìn xuống, có thể để chuẩn bị cất lời chào, cùng lúc ấy, từ cuối lớp, nhiều tiếng cười nổi lên rồi lan rộng ra. Cô bình thản hỏi: Các anh chị cười xong chưa? Người nào cười giỏi nhất lên đây cười thi với Cô. Cả lớp đột nhiên im phăng phắc và từ đó không bao giờ có tình trạng như thế xảy ra nữa . Tôi chăm chú nhìn Cô, hình như sau vóc dáng mảnh khảnh trẻ trung của một cô giáo mới ra trường, đang tiềm ẩn phong thái an nhiên tự tại đầy ắp bản lãnh và sự tự tin!?

Ngày tháng sau đó là những giờ học nghiêm túc, mặc dầu thời khóa khiêm tốn, nhưng Cô có cách để chúng tôi hiểu được bài học, thông cảm và rất thương học trò, chả thế mà có lần Nguyễn Ngọc Hùng trong kỳ thi Lục cá nguyệt, thay vì làm toán, anh lại làm thơ, Cô vẫn cho điểm trung bình.

 Rời trường, lăn lộn với cuộc đời, thường xuyên đối mặt với bao điều bất trắc, ít có lúc nghĩ đến những ngày tháng trên sân trường, bạn học mỗi người một ngả, chỉ thoáng gặp nơi nào đó, không có thì giờ và điều kiện để nhắc nhở tâm sự.

Sau cuộc chiến, chính những lúc ở trong trại giam, đầu óc mới rảnh rỗi, tự do để nhớ ra và tìm lại những chuyện đã qua, khi ý tưởng dừng lại ở trường xưa, ngoài khuôn mặt của một số bạn thân tình, lạ thay, bóng dáng Cô Kim Sa lại xuất hiện, vẫn vóc dáng và phong cách ấy. Ngoài kia, mọi người đang khốn khó, lo lắng đủ điều, Cô Giáo mình sống ra sao, tự nhiên tôi nghĩ dù ở trong môi trường nào, Cô cũng có cách sống riêng, biết cách xoay sở để hòa nhập ...bỗng dưng trong tôi hình thành một tâm nguyện: Như thế nào đó để một lần được gặp Cô.

Ý nguyện này càng lớn mạnh khi ra nước ngoài: Trong những lần hội ngộ hay qua sách báo, có dịp là hỏi: Cô đang ở đâu? Trong hay ngoài nước, nhưng không có câu trả lời. Mãi cho đến năm 2009, có người mách bảo đã thấy Cô ở Houston trong Lễ Hội Quan Âm tại chùa Việt Nam và hình như Cô đang làm Phật sự tại đây, nhưng khi liên lạc được với chùa thì Cô không còn ở đây nữa!

Cuộc tìm kiếm tiếp tục, lần này tôi nhờ Quý Thầy sinh hoạt trong Hội Quốc Học Đồng Khánh và Quý Cô Giáo Nguyễn Hoàng, cuối cùng Cô Phan Thị Lan, người dạy tôi những năm Đệ Lục, Đệ Ngũ đã cho số điện thoại ...

Một ngày giữa năm 2010, vừa bấm số, tay vừa run với nhiều cảm giác xen lẫn, bởi vì biết mình sắp có phút giây đặc biệt, điểm đến của ước nguyện . Lời đầu tiên, chưa kịp chào, tôi buột miệng: "Thưa Cô, em tìm Cô bao nhiêu năm nay."  Cô ngạc nhiên, im lặng, nghe trình bày ...

Mười mấy năm dạy học, với hàng ngàn học trò ... nhưng khi nghe nhắc đến những sự kiện, những khuôn mặt ngỗ nghịch trong một lớp chỉ có ba mươi mấy học sinh, với mấy mươi giờ phụ trách làm cô xúc động !

Lần tiếp xúc đầu tiên ấy đã khai mở cho quan hệ thân tình sau này, những lúc rảnh rỗi hay đang dừng chân ở một sân bay nào đó, Cô lại gọi . Cô bảo là ít khi nói chuyện với ai lâu, nhưng với Em, lắm lúc lại sa đà vào câu chuyện và chia sẻ nhiều điều mà không phải với ai Cô cũng bày tỏ . Dần dần những băn khoăn của tôi được sáng tỏ: hình như Cô đã vạch ra cho mình những tiêu chí về cuộc sống, cân nhắc hình thành một phương trình, cứ theo đó mà đi trên căn bản nhân sinh quan, lấy đạo lý nhân bản và chủ quyền làm trọng, bởi thế khi thấy cuộc đời manh nha chuyển qua giai đoạn " chênh vênh, khập khiễng " Cô đã quyết định làm Người Mẹ độc thân và mang hai đứa con còn rất nhỏ vượt biên, đó là động thái có tính cách đánh đổi để có được sự tự do trong cuộc sống và cũng là thái độ bảo vệ nét đặc thù của mình mặc dầu Cô phải trải qua thời gian dài gặp muôn vàn khó khăn để hội nhập . Cũng từ đó, Cô chú tâm nghiên cứu và tu tập Phật Pháp, lấy giáo lý Đạo Phật để chiêm nghiệm và đối chiếu với cuộc đời của mình và ngộ ra một điều: Những oan trái gặp phải là những điều phải đến trong một kiếp người bởi đó là một chuỗi diễn tiến của Nghiệp lực và Nhân quả, phải biết nhận diện khổ đau, xuyên qua nó để có những phút giây an lạc trong giờ phút hiện tại, luôn phải tỉnh thức để có chánh niệm . Cô chia sẻ năng lượng ấy cho những người chung quanh bằng những việc làm thiết thực, dành nhiều thời gian cho công tác từ thiện hoặc tâm tình với Quý Thầy Cô giáo cũ của Cô, tuổi già đang cần tâm sự, chia sẻ . Cô kể rằng có vị Thầy rất mê đá banh, nên phải tìm hiểu qua tài liệu và bạn bè để có thể tường trình World Cup cho Thầy nghe.

Cô đang có cuộc sống thật bình dị tại thành phố biển, miền Nam nước Mỹ để chăm sóc cháu và chăm sóc Thân Tâm mình, lý giải cho cuộc tiếp xúc này, Cô nửa đùa nửa thật : Có lẽ ở một kiếp nào đó Cô - Trò ta đã quen biết, những giờ phút ngắn ngủi ở Trường Nguyễn Hoàng là tín hiệu để sau này nhận diện khi đủ duyên, tâm nguyện của Em được hình thành bởi khi Em khởi điều ấy ra với cả tấm lòng thiết tha thì cũng như đã tạo một nhân lành để hôm nay gặt quả tốt ... Tôi kiểm chứng và đối chiếu với bản thân: Điều này cũng đã xảy ra với một Cô Giáo Đệ Nhất Cấp và một phụ nữ khác - vợ người bạn tù - ngày trước là Giáo Viên, đã xin đi kinh tế mới gần trại giam và tình nguyện chăn bò để thỉnh thoảng nhìn thấy chồng hoặc tiếp tế khoai sắn cho chúng tôi . Tôi đã tìm gặp, ở một tiểu bang xa xôi miền Đông nước Mỹ.

Chưa có dịp được gặp, những lúc có điều gì vui, Cô lại gọi. Đó là thời điểm thật an lạc. Cuộc đối thoại thật tự nhiên. Chúng tôi đề cập đến nhiều vấn đề. Cô nói đó là những bổ sung nhận thức.

Trên bục giảng, Quý Thầy Cô đã trao truyền cho chúng ta kiến thức cần thiết như là hành trang vào đời, nhưng có những điều không ghi trong bài học, tùy mỗi người cảm nhận, bắt gặp và giữ lấy từ phong thái và cách ứng xử của Thầy Cô nào đó, không hẳn vị ấy là Giáo sư Cố vấn hay dạy những môn chính. Tôi trình bày điều này với vị Thầy dạy Đệ Lục với ngôn ngữ thực tế rằng: Em đã "học lóm" ở Thầy nhiều điều bổ ích khi ứng phó với những rắc rối gặp phải . Chữ nghĩa thu thập được ở nhà trường đã tiêu hóa, hòa tan trong bể tích lũy kiến thức, không thể nhận biết, nhưng bản tính và phong cách của Quý Thầy Cô đôi khi hiện ra rất rõ và có ảnh hưởng, tác động nhất định.

Xin cảm ơn Cô Kim Sa về cuộc trùng phùng với những trao đổi bổ ích. Bước chân Cô đã trải trên những “dặm dài nhân thế” đầy cay đắng và bất trắc, nhưng bằng nghị lực và niềm tin Tôn giáo, Cô đã đi qua một cách bình thản mà không phải người phụ nữ nào cũng làm được . Đó là món quà thiết thực quý báu em nhận được sau bao năm băn khoăn, thắc mắc tìm kiếm. Giờ đây, lòng em thật thanh thản .

Một lời - có thể là thừa - nhưng em xin cầu nguyện cô có được tất cả sự bình an trong những ngày cuối đời .

 

Memphis TN, tháng 7 / 2011

Học trò Lê Văn Trạch

le.trach@yahoo.com

http://trachcamlo.blogspot.com

 

READ MORE - CÔ KIM SA - Lê Văn Trạch

Monday, October 28, 2024

CHUYỆN TRẦU CAU - Lê Văn Trạch

 


Chuyện Trầu Cau

Lê Văn Trạch

 

Có những lúc ngồi tán gẫu với đồng môn hoặc thân hữu, tôi thường bộc bạch rằng cái thời ở ghế nhà trường, tôi rất... nhát gái! Vài người không tin... Chả thế mà khi nhận “lá thư nhỏ”, tôi được kèm thêm một lời nhắn là: “Có bao nhiêu mối tình bấy lâu chôn chặt đây là lúc huynh phải thổ lộ ra, chứ bây giờ như cây đèn trước gió chưa biết tắt lúc nào, lỡ mang xuống tuyền đài thì uổng lắm”. Ngay cả Thầy LHT, người dẫn dắt tôi “trên mọi nẻo đường” cho đến hôm nay, cũng đã bảo: “Những người muôn năm cũ đâu, cho Thầy biết địa chỉ để gởi báo đến...” Có ai biết đâu rằng hồi đó ở lớp tôi chỉ là cái bóng mờ, lâu ngày phai nhạt biến mất trong trí nhớ mọi người: lần hội ngộ Nguyễn Hoàng tại Santa Ana, đến chào người bạn ngồi với nhau mấy năm ở Đệ Nhị Cấp anh ngớ người ra!... Một người khác trong bài điểm danh nhân vật cùng lớp, tên tôi cũng lọt sổ! Có lần trên đường thiên lý gặp một đồng môn bảo rằng: “You nói là trọ học tại Góc Bầu, ngày nào cũng đi qua Cửa Tả, sao không biết tui.” Tôi thành thật trả lời rằng: “Tôi biết giang sơn của chị ở khu vực ấy và trong nhà chị có đến mấy người đẹp, nhưng tôi ra khỏi cửa là đường ngay ngõ thẳng mà bước, chẳng dám nhìn ngang ngó dọc!” Và có lẽ mấy câu thơ của anh bạn viết tặng sau ngày rời trường đã nói lên hết những điều ấy:  xảy ra ở nước ngoài hay những thành phố phía Nam. Không có điều kiện tham dự nhưng qua lời kể lại hoặc đọc nhiều bài viết tôi cảm nhận một cách trọn vẹn giờ phút hiếm có linh thiêng ấy. Mỗi người tùy ở góc độ của mình có những cái nhìn khác nhau để ghi nhận và trình bày..., bài viết Nhật Ký Một Chuyến Về của Liên Hưng đã tạo một cuốn hút mãnh liệt và theo tôi đó là bài tiêu biểu: không để ý nhiều đến những tưng bừng của ngày hội mà bằng quan sát kỹ lưỡng hòa với sự cảm nhận bén nhạy trước những sự kiện nhỏ nhặt, người viết đã đi vào mọi góc cạnh, bao quát mà tỉ mỉ, nhiều khuôn mặt nhưng là những tâm trạng riêng lẻ, ngôn ngữ như nguồn nước ở mạch ngầm bùng vỡ trào ra... quá khứ được mang về trọn vẹn và sống sâu sắc với nó trong khoảnh khắc hiện tại bằng tất cả sự đam mê nồng nhiệt hồn nhiên của một thời học trò, không bận tâm hệ luỵ với những ràng buộc giới hạn đời thường. Nó biểu hiện tài năng - bản lĩnh - đáo để của người viết... Hương vị và dư âm vẫn còn nhưng sự kiện được trả lại cho quá khứ để bước đi những bước hôm nay.

Có người không xem quá khứ là một thứ đồ cổ, có dịp đem ra phủi bụi, nhìn ngắm, xong rồi để ngay ngắn vào tủ kiếng mà chiêm ngưỡng, đằng này lại níu kéo, khư khư giữ lại như một kẻ muốn “ăn mày dĩ vãng,” cộng thêm tính bảo thủ cực đoan của phía đối tác nên nhiều sự cố đã xảy ra: Có người bị “chớp đèn” ngay tại hiện trường, người khác bị ticket mang bản án lưu đày, một anh phó nhòm hăng say ghi hình kỷ niệm cũng bị tai tiếng và trầm trọng hơn có một đấng tu mi nam tử không chịu nổi những tiếng điện thoại reo đã thẳng thừng tuyên bố một mất một còn...!

Bằng những góp ý và thực tế xảy ra tôi âm thầm rút lại lời đề nghị với nhiều tiếc nuối nhưng vẫn bảo lưu ý kiến cá nhân... Bởi vì ở cái thời “nhụy hoa và ong bướm” nếu không thể hiện được giữa thanh thiên bạch nhật, hiên ngang sánh vai nhau dưới những lối mòn rợp bóng, đường trăng Thạch Hãn, bên những bờ ruộng của cánh đồng Hạnh Hoa bát ngát, hoặc tình tứ hơn đèo nhau trên phố Gia Long, qua Nhan Biều, lên Tích Tường Như Lệ, thì cũng có những lén lút liếc nhìn, ngại ngùng trao thư, hay đơn phương mang một bóng hình nào đó mà trằn trọc, cùng lắm như anh bạn tôi đêm đêm cầu nguyện vì đã yêu thầm một cô giáo. Thành ra tôi vẫn viết chuyện của mình, nhưng xin quý vị chớ nhìn đầu để mà tưởng bở, nó chẳng tròn trịa và nồng thắm gì đâu và chắc rằng những huynh-đệ-tỷ-muội lịch lãm tình trường chẳng tìm thấy mảy may xác suất yêu nào trong đó!!!

Qua năm đệ nhị tôi từ bỏ công việc dạy kèm cho một em lớp Đệ Thất ở khu vực Góc Bầu, về trọ nhà người quen sau chùa Tỉnh Hội, một xóm nhỏ chật chội, nên có dịp men theo con đường sát hông chùa để thoát ra ngoài. Thông thường thì cứ vài ba tuần tôi lên nhà một lần để lấy tiền ăn và thăm bà nội, những Thứ Bảy, Chủ Nhật ở lại sau buổi trưa thường lang thang dọc theo bờ sông lên đến đường Nguyễn Hoàng rẻ vào Trần Hưng Đạo, ghé những tiệm sách và cuối cùng vào phòng trọ của người bạn ở ngã ba Lê Văn Duyệt ngồi nói chuyện tào lao một lúc về đến nhà vừa kịp bữa ăn tối.

Bến đò ngang với Chợ Quảng Trị thời khắc tôi đi qua rất tấp nập, bà con hối hả vận chuyển hàng hóa xuống thuyền, đủ mọi âm thanh được nghe và nhiều màu sắc trang phục pha lẫn tạo cho bến đò một khung cảnh rất náo nhiệt... Qua nhiều buổi như thế tôi để ý thấy cách đó một khoảng dưới gốc cây phượng có cô gái đứng đợi, chẳng có vẻ gì là nôn nóng, đang thản nhiên để tầm mắt bâng quơ và chờ lúc vắng khách mới xuống thuyền... Bên cạnh là đôi quang gánh được úp lồng vào nhau một cách gọn ghẽ mà không có hàng hóa gì. Đôi quang gánh là một dụng cụ đặc biệt hình như được tạo ra để phục vụ cho công việc nào đó và cho một lứa tuổi nào đó sử dụng. Chiếc đòn gánh mảnh mai được đẽo gọt chưa đến một nửa thanh tre như thông thường, đôi gióng lửng vừa tầm, trên đầu được thắt  với dáng nét hoa văn rất độc đáo và bốn thứ được đặt trong đó không thể gọi bằng tên chính xác nào, nó là hình dạng giữa sàng và rổ sưa, giữa trẹt và mủng! Tất cả đều cùng một màu cánh gián, có thể đã được để trên giàn bếp lâu ngày... Cứ mỗi lần sắp đến bến từ xa tôi đi chậm lại quan sát, hình như cô ta chỉ mặc màu trắng hoặc màu trứng sáo bằng vải phin được cắt may rất khéo ôm gọn vào người, nhiều lần dợm dừng chân nhưng ngại ngùng rồi cất bước vì chưa tìm được lý do nào để tiếp cận! Cho đến một hôm nàng trở thế đứng và bắt gặp cái nhìn của tôi, không bỏ lỡ cơ hội hiếm có tôi bước lên lề đường..

- Đợi đò về đâu vậy?

Cô ta không trả lời mà đưa tay chỉ phía bên kia bờ sông chếch về hướng nam của Chùa Tỉnh Hội, tôi hiểu đó là làng Xuân An.

- Sao không thấy mua gì cả? - Tui chỉ bán thôi chứ không mua.

Và để như giải thích cho câu nói ấy cô ta bảo:

- Đây là công việc hằng ngày của mạ tui, tui chỉ phụ cuối tuần, những gì cần thiết bà mua rồi.

Tôi bắt đầu mở câu nói muôn thủa của con trai con gái lần đầu gặp:

- Tui nhìn cô quen quen, hình như thấy ở đâu đó.

Ngẫm nghĩ một lúc cô ta bảo:

- Có lẽ ông thấy ở trường Nguyễn Hoàng, tôi đang học lớp Đệ Tam A.

Tôi cũng cho cô ta biết về lớp học của mình và vừa lúc đó có người kêu xuống thuyền để về chuyến cuối, cô xách quang gánh đi mà chẳng chào hỏi gì. Tôi được biết tên nàng là Hà. Chiếc thuyền máy chở chưa được mười người rẽ sóng băng qua sông, tôi ngẩn ngơ nhìn theo một lúc rồi tiếp tục lộ trình của mình trong lòng còn tiếc rẻ là chưa hỏi được những điều cần thiết... Suốt tuần lễ ở sân trường đến giờ ra chơi, léng phéng gần khu vực lớp Đệ Tam nhưng không thấy nàng đâu cả, tự nhiên có một cảm giác bồn chồn ngóng đợi! Ngày Thứ Bảy ăn trưa xong tôi tìm cuổn sách đem trả cho người bạn rồi ra khỏi nhà, không còn thong thả bước như những lần trước. Đến nơi đã thấy nàng đứng ở đó, lần này thì bạo dạn hơn..

- Hôm nay cô Hà ra sớm vậy? - Sao ông biết tên tui? - Thì hôm trước nghe người ta kêu!

Tôi kể cho Hà nghe là trong mấy ngày qua, có ý kiếm nàng ở trường nhưng không thấy, Hà nói đến giờ nghỉ thường chơi với mấy đứa bạn cùng làng ở khu vực lớp Đệ Tứ.

- Lần trước tôi chưa kịp hỏi Hà đi chợ bán thứ gì. - Tui bán cau trầu. Mấy ngày này mạ tui ở nhà chuẩn bị hàng, đi mua hoặc dặn ở những làng lân cận, đôi triêng gióng này ba tui thắt để riêng tui sử dụng.

- À ra thế, hàng bán có dễ không? - Mau lắm, vì phần nhiều là bán sỉ, khách quen của mạ tui.

Câu chuyện tiếp tục chưa đến trong vòng một tiếng thì Hà phải xuống đò. Như thế là tôi đã nắm được một cách khái quát về công việc của nàng.

Cuộc gặp gỡ trở thành thông lệ nhưng thời gian kéo dài hơn và cái lịch về quê của tôi cũng thay đổi: mỗi tháng một lần chỉ trong ngày Thứ Bảy. Chúng tôi cảm thấy tự nhiên và nội dung câu chuyện bắt đầu đì vòng vòng. Hà bảo tôi là tuyệt đối không đến tìm ở sân trường vì sợ bạn bè chọc hoặc về méc mạ.

- Vậy đứng ở đây thì sao? - Ngoài chợ, ngoài đường!... A nè, Tui thấy mấy ông ban C đi đâu cũng cầm theo cuốn sách, làm ra vẻ ta đây! Thấy mà phát ghét!

 

- Thì bọn tui thích đọc, Hà không thích sao? - Chỉ đọc sơ sơ như Phổ Thông Thời Nay. - Có khi nào đọc truyện không? - Rất ít, tại không có thì giờ vả lại đôi khi cảm thấy rắc rối nhức đầu!

- Còn thơ thì sao, nhiều bài thơ tiền chiến hay lắm. - Cũng có, nhưng chỉ thích những bài có vần có điệu.

Hà kể là một lần đến nhà người bạn chơi, nghe mấy ông cùng lớp của anh trai bạn nói chuyện Thơ Văn mà chẳng biết mấy ông nói gì... Cái chi mà mặt trời lấy mặt trăng rồi đâm nổ mặt trời...!

Tôi hứa là sẽ chép tặng Hà một tập thơ theo sở thích của nàng đặc biệt là Thơ Nguyên Sa mà tôi rất tâm đắc nhưng tự nhủ lòng là sẽ không đưa bài thơ trong đó ông ví người yêu với chó-mèo và cá ươn! Tôi kiếm những tờ pelure đủ màu, chọn bìa và đóng tập bằng mấy sợi len, định viết là Thơ Tình nhưng sau chỉ để chữ thơ và ba chấm, ở dưới đề tặng Bích Hà.

Cuộc gặp gỡ một tuần hai lần ngắn ngủi như thế được kéo dài thỉnh thoảng gián đoạn vì thời tiết cho hết năm học, qua niên học mới tôi không còn thấy Hà đứng đợi ở góc cây nữa. Một hôm trong giờ ra chơi tôi nhận được miếng giấy do cô gái lạ mang lại trong đó Hà cho biết là bây giờ khỏi phải đi bán trầu cau, cám ơn về tập thơ và lập lại lời dặn ban đầu là không được gặp nàng trong trường.

Giữa tôi và Hà xem ra chưa hình thành một điều gì cả nhưng sự ra đi tự nhiên tạo ra một trống vắng xao xuyến bần thần!

Câu chuyện xảy ra đầu đuôi chỉ có như thế, nếu như hồi đó tôi cứ liều mạng đến ngay lớp tìm Hà thì chắc là đã có nhiều điều thú vị xảy ra. Kinh nghiệm cuộc sống cho thấy hãy chớp lấy thời cơ đừng có thụt rò thụt ếc! Cơ hội tới là chụp ngay không rồi ân hận suốt đời! Như tôi - đến lúc nửa đời nhìn lại, vốn liếng tình yêu trong tay chẳng có là bao để ngậm ngùi: Có  một thời để... tiếc...!

Còn chuyện thời nay, lý do có người không tin cái phút nói thật về thời dĩ vãng, lại là chuyện khác xin hứa sẽ kể bên tách café ở một nơi nào đó!!!

Lê Văn Trạch

READ MORE - CHUYỆN TRẦU CAU - Lê Văn Trạch

Tuesday, May 28, 2024

VĂN HỌC DÂN GIAN QUẢNG TRỊ - Lê Văn Trạch

 


Lê Văn Trạch

VĂN HỌC DÂN GIAN QUẢNG TRỊ


Văn hoá nói chung, là biểu tượng của mọi lề lối, phương thức sinh hoạt từ tiếng nói, tập tục, cách ứng xử, lễ hội, tín ngưỡng đến cách ăn mặc, lời ru, tiếng hát… gom lại; là cốt cách, sức sống… của một cộng đồng dân cư từ nhỏ đến lớn. Chưa có một kết luận cụ thể nào xác định thời điểm có mặt của người Việt tại vùng đất Quảng Trị, chỉ biết một điều là đã được diễn tiến bởi nhiều đợt di dân qua hàng bao thế kỷ. Cội nguồn của người Việt được hình thành trong vùng châu thổ các sông ở miền Bắc, tạo dựng một nền văn minh, văn hoá nông nghiệp. Những người di dân vào Nam vẫn mang theo truyền thống ấy. Quảng Trị là một dải đất hẹp nhưng có nhiều hệ sinh thái, nhiều khu vực nông nghiệp khác nhau, không phải là một nơi dễ dàng làm ăn sinh sống, hàng ngày người dân đối mặt với nhiều thứ khắc nghiệt. Do bản năng sinh tồn, họ chiến đấu và chiến thắng mọi gian nguy để tồn tại và phát triển. Góp phần vào việc giảm bớt sự căng thẳng để tạo nét hài hoà trong sinh hoạt đời thường, họ nghĩ ra những thứ để thưởng ngoạn, vui chơi dân giả. Đó là những chuyện thần thoại, chuyện cười, những nhân vật có óc khôi hài, châm biếm, những câu ca, lời ru tiếng hát, điệu hò; tất cả đó mang một nét đặc thù Quảng Trị, một nền văn học dân gian. Trong phạm vi một bài viết ngắn chúng tôi chi giới thiệu những thể loại có tính cách đại chúng là Thơ Ca Hò Vè với một số nội dung tiêu biểu mà xin bỏ qua những mẫu chuyện, những con người đã tạo nên sắc thái vui tươi thú vị nhưng chỉ hạn hẹp trong một địa phương nào đó.


Thơ Ca Hò Vè là sản phẩm của nông dân, phản ảnh bao trùm mọi sinh hoạt với một loại ngôn ngữ bình dân mang tính đại chúng, cho thấy rõ nét cái chơn chất mộc mạc nhưng thắm đậm nhân tính của con người Quảng Trị. Tạm thời có thể sắp xếp theo các thể loại sau:


I / Tục ngữ:

Về thời tiết và sản xuất


Cò ăn ruộng sâu thì nắng

Cò ăn ruộng cạn thì mưa


Công cấy thì bỏ, công làm cỏ thì ăn


Chớp ngã Cồn Tiên, mưa liền gặp trộ


Đập đất nhỏ, luống đánh to

Xung quanh rắc đậu, trồng ngô xen vào


Đói thì ăn môn ăn khoai

Đừng thấy ló lỗ giêng hai mà mừng


Trăng rằm đã to lại tròn

Khoai lang đất cát đã ngon lại bùi


Xứ Cùa đất đỏ ba dan

Ai ơi trồng mía làm giàn thả tiêu


Về đời sống xã hội


Liệu cơm mà gắp mắm ra

Liệu cựa liệu nhà mà gả con vô


Khun ba năm không ai biết

Dại một giờ bạn hay


Đi buôn bữa lỗ bữa lời

Ra câu giữa vời bữa có bữa không


Ai ơi chớ lấy học trò

Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm


Khoai lang cổ bở cổ trân

Làm rễ họ Trần cực lắm ai ơi


Bỏ công múc nước đường xa

Có trong thì múc, ngà ngà thì thôi


Sui gia là bà con tiên

Ăn ở không hiền là bà con quỷ


II / Câu đố:


Hai người ở hai buồng

Ngó đi nhìn lại như tuồng cấm cung

Đêm về sập cửa thả chông

Ngày thì vòi vọi đứng trông nhau hoài


(Hai con mắt)


Gặp nhau đây bất luận đêm ngày

Lật ra xem thử lỗ này ở đâu

Đâm vô thì rút ra mau

Đừng để trung nớ mà đau lòng nàng

Rút ra máu chảy tràn lan

Khi nớ duyên thiếp, nợ chàng ngái xa


(Đạp gai)


Họ hàng chỉ sống trên non

Tìm cây hút nhụy nuôi con tháng ngày

Không may lửa dậy khói bay

Thảm thương ấu tử sống rày thác mai


(Tổ ong bị đốt)


Cây xanh mà lá cũng xanh

Dầm mưa dãi nắng theo anh võ vàng

Một mai lửa đỏ thành than

Mây bay khói lượn truớc mặt chàng, chàng ơi


(Cây thuốc lá)


III/ Vè:


Một thể loại truyền khẩu rất phổ thông, dễ nhớ, thường là mô tả cảnh sinh hoạt ở nông thôn, một nhân vật đặc biệt, đôi khi nêu thói hư tật xấu với dụng ý giáo dục .


Vè Ba Lòng:


Thanh trời rạng thấy núi xây

Rừng xanh suối bạc đáo vầy tứ phương

Trà Trì, Văn Vận hai phường

Đá Nầm, Chinh Thạch giáo lương thuận hòa

Tháng năm bắp đã tới mùa

Chè thơm mít chuối bên Cùa gánh sang

Bao nhiêu thao vải, lụa hàng

Vật gì phường chợ cũng băng ngàn trải lên

Đò thì mắm nục, mắm nêm

Đò thì cá khô, muối ruốc cũng mang lên tại phường

Đò thì gạo, nếp, trứng, đường

Đò thì vàng bạc, lược, gương, cau trầu

Đò thì ghè, đục, ang, âu

Tréc, om, trình thống, dĩa dầu, bình vôi

Buôn chi thì nỏ có lời

Lưỡi cày, lưỡi cuốc, núc, nồi, đá, dao

Buôn chi than, vải lụa thao

Nhuộm màu xanh lục, rêu rao thêu thùa

Bao nhiêu cũng nhờ hột bắp mà thôi

Rồi mùa ngó lại, giơ cồi với mao



Vè thằng nhác


Lẳng lặng mà nghe


Kể vè thằng nhác


Gia đình khổ cực


Vợ yếu con thơ


Chồng ai được nhờ


Chẳng nên trò trống


Nửa ngày thức dậy


Lục đục soong nồi


Vắt áo đi chơi


La cà hàng xóm


Vợ nhờ cày ruộng


Tao bị đau chân


Vợ nhờ quét sân


Đau lưng vẹo cổ


Vợ nhờ bửa củi


Cái búa nó hư


Vợ bảo đi bừa


Sợ rằng trâu húc


Vợ nhờ đi gặt


Tao gánh đau vai


Thở ngắn than dài


Tội tình chị vợ


Ấy thế mà!


Nồi cơm vừa dở


Chưa kịp ai mời


Cúi cổ cúi tai


Một hồi chén sạch


Là cái thằng nhác


Ăn dữ không làm


Hỡi xóm hỡi làng


Nghe vè thằng nhác



Vè con gái


Nghe vẻ nghe ve

Nghe vè con gái

Tay chân mềm mại

Khác thể bông ba

Chờ mẹ đi ra

Cắp tiền thu dấu

Muốn ăn khoai nấu

Muốn ăn khoai nướng

Muốn ăn xôi chè

Ăn rồi ngồi xếp bè he

Cái lưng bơ bừng cái thúng

Ăn chùng ăn vụng

Cho sướng cái thân

Việc nỏ muốn mần

Dôông thì muốn lấy

Áo năm bảy cấy

Mược vào đi chợ

Béng ướt dụy tôm

Hai tay bóoc lá

Lộ mồm hả ra


IV/ Đồng dao


Bập bong bong tay mô khôông tay mô có

Bập bò bọ tay mô có tay mô khôông

Chị lấy dôông em ở quá

Chị ăn cá em mút xương

Chị đường em mật

Chị vật em coi

Chị voi em ngựa

Chị bựa em bèn

Chị kèn em trống

Chị trống em mái

Chị méo em tròn

Hai hòn về chị

Rầm rà rầm rì


Xây lúa Đồng Nai

Cơm gạo phần ngài

Tấm cám phần tui


Lờ đệng cháy nhà

Bà già chạy chựa

Cháy nửa bồ thóc

Lóc cóc chạy về

Ông Đề hỏi răng

Cu Nhăng cắn nhện


Heo chi – Heo lang – Lang chi – Lang cẳng – Cẳng chi – Cẳng giò – Giò chi – Giò móng – Móng chi – Móng heo


V/ Câu đối


Văn vận tuột quần Văn vận vận

Bích La đau bụng Bích La la


Cam Lộ buôn cam, Cam Lộ lộ

Bích Giang không nón, Bích Giang giang


Tân Trúc trồng tre, thở hoi hóp

Đông Hà xúc hến hát ngêu ngao


VI/ Ca dao


Ca dao chiếm phần lớn nhất trong văn học dân gian, biểu hiện tâm hồn giàu tình cảm, phóng khoáng của người nông dân, một thứ tình cảm bình dị chơn chất trong sáng như cuộc đời hiền hòa đôn hậu của họ, được thể hiện trong mọi tình huống, hoàn cảnh về gia đình, xã hội, đặc biệt là về tình yêu đôi lứa, một đề tài muôn thuở


Quan hệ gia đình


Biết răng chừ cá gáy hóa rồng

Để đền công ơn Thầy Mẹ ẵm bồng ngày xưa


Chị em như chuối nhiều tàu

Tấm lành che tấm rách, đừng nói nhau nặng lời


Cây kia ăn quả ai trồng

Sông kia uống nước hỏi giòng từ đâu


Cơ đồ gầy dựng bấy lâu

Công lao tiên tổ lẽ đâu quên hoài

Mộ phần gìn giữ hôm mai

Những ngày lễ tết chẳng sai lệ thường

Có chồng rồi khác chi con ngựa có dây cương

Lôi mô chạy nấy khổ trăm đường ai ơi


Còn cha gót đỏ như son

Một mai cha chết, gót con đen sì


Mẹ già ham việc tiếc công

Cầm duyên con lại thu đông mãn rồi

Mãn rồi cai đội hồi hương

Trai lui về làm ruộng, gái bán buôn nuôi chồng


Ra đi bỏ mẹ ở nhà

Gối nghiêng ai sửa, chén trà ai bưng


Quan hệ xã hội


Ai về Đông Hà, ai qua Cam Lộ

Ai về Gia Độ, ai đến Gio Linh

Ai về Triệu Phong, Quảng Trị quê mình

Cho em nhắn gởi chút tình nhớ thương


Bạn về không có chi đưa

Môn khoai đang dại, mít dừa đang non


Cây cao bóng mát chẳng ngồi

Lại ngồi trửa nắng trách trời không dim


Cây khô xuống nước cũng khô

Phận nghèo đi tới chỗ mô cũng nghèo


Con quan lấy đứa mần than

Nắng mưa phải chịu cơ hàn phải theo


C . Quan hệ lứa đôi


Trăng lên tới đó rồi tề

Nói chi thì nói, em về kẻo khuya


Bướm vàng đậu đọt cau tơ

Kiếm cái nơi mô nương tựa

Chơ răng cứ vất vơ rứa hoài


Chàng ơi phụ thiếp làm chi

Thiếp là cơm nguội những khi đói lòng


Đi mô cho thiếp đi cùng

Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp theo


Cam chua, quýt ngọt… bồng the

Thấy em nho nhỏ, anh ve anh để dành


Xa anh có bấy nhiêu ngày

Tình em như mảnh trăng gầy nửa đêm


Hai ta mót củi một cồn

Bứt tranh một chỗ, tiếng đồn thật xa


Em đương vút nếp hong xôi

Nghe anh lấy vợ, thúng trôi nếp chìm


Ai hay nông nổi mần ri

Ngày xưa ở rứa, vội chi trao lời


Anh đã có vợ thời thôi

Không phải mắm nêm chuối chát mà muốn moi cho nhiều


Anh về đừng có ngó lui

Để em ngó dọi ngùi ngùi thêm thương


Anh đưa em lên đến ngã tư sòng

Em trở Về Cam Lộ, anh trở lại Triệu Phong với ai chừ


Được nên chồng nên vợ thì hay

Rủi thời đói khổ có ăn mày cũng phu thê


Hò:


Hò là thể loại dân ca phong phú, đa dạng, có tính quần chúng và mang nét đặc thù Quảng Trị Đó là một hình thức sinh hoạt sôi nổi, được diễn ra trong công việc đồng áng, lễ hội hay là một cách giải trí trong buổi nông nhàn. Có nhiều điệu hò và cách hò tùy theo không gian thời gian, lao động nặng nhọc khác nhau. Quét vôi thì hò hụi, giã gạo thì hò khoan, hò hô, chèo đò thì hò mái nhì, nếu đò mắc cạn thì hò mái đảy, hò rủ rơm, hò đánh bài thai, bài chòi, hò kéo gỗ, hò ru và hò đối đáp… Ở đây chúng tôi xin giới thiệu mấy điệu hò tiêu biểu:


Hò ru:


Tất cả chúng ta đều lớn lên từ 4 tao nôi và lời ru của Mẹ. Làn điệu ngọt ngào êm dịu như đã thấm vào máu thịt xương tủy và cũng lớn lên theo giòng đời. Qua năm tháng nổi trôi, lời ru luôn luôn là sự gợi nhắc tình cảm, nghe mãi nhưng nghe lại vẫn không khỏi bồi hồi:


Khi con thức Mẹ cho con bú

Khi con lú Mẹ lại ru hời

Nuôi con cực lắm con ơi

Chỉ mong cho con lưng dài vai rộng

Để lấp biển vá trời như ai!


Mẹ thương con ngồi Cầu Ái Tử

Vợ trông chồng đứng núi Vọng Phu

Mai đây bóng xế trăng lu

Con ve kêu mùa hạ

Biết mấy thu đợi chờ


Em nghe anh đau đầu chưa khá

Em đây băng đồng chỉ sá bẻ nạm lá qua xông

Ước làm sao cho nên đạo vợ chồng

Đổ mồ hôi ra em chặm

Lại ngọn gió lồng em che


Ru hời ru hỡi là ru

Bên cạn thời chống bên su thời chèo


Xây thành đắp lũy trên non

Cắm hoa dưỡng nước nuôi con tháng ngày

Một mai lửa dậy khói bay

Con ơi! Mẹ không biết sống rày thác mai


Ơn cha ba năm báo bổ

Nghĩa mẹ chín tháng cưu mang

Bên ướt Mẹ nằm bên ráo con lăn

Lấy chi trả nghĩa sinh thành

Lên non tạc đá xây lăng phụng thờ


Hò đối đáp:


Là một thể loại văn nghệ tự túc độc đáo dược phổ biến rộng rãi trong mỗi làng quê Quảng Trị trong thập niên 30, 40. Những lúc nông vụ đã tạm ổn, vào những đêm trăng, đâu đâu cũng nghe tiếng hò rộn ràng sôi nổi tạo nên một không khí tưng bừng vui vẻ. Có thể chia làm hai loại: Hò ân tình và Hò đâm bắt.


1) Hò ân tình


Loại này đơn giản dễ hò, có thể lấy từ câu đố, một cốt chuyện đã có sẵn, chỉ cần nhập vai là hò được hoặc đôi bên đối đáp về những chuyện trời trăng mây nước vô thưởng vô phạt Địa điểm hò thường được chọn ở những nhà rộng rãi thoáng mát để có được đông đảo khán giả tham dự. Thường thì các cô gái đã đợi sẵn còn các chàng còn vòng vòng ngoài ngõ hay trước sân:


Ai đứng ngoài đường cho muỗi cắn ho kêu

Vô đây phân giải đôi điều cho vui


Các chàng chỉ đợi có thế mạnh dạn bước vào:


Chào lê chào lựu chào đào

Ai xa chào trước ai gần chào sau

Chào bên nam mất lòng bên nữ

Chào người quân tử sợ dạ thuyền quyên

Cho anh chào chung một tiếng kẻo chào riêng khó chào


Ai có chồng thì khuyên chồng đừng sợ

Ai có vợ thì xin vợ đừng ghen

Ra đây ta hò hát cho quen

Rạng ngày ai về nhà nấy…

Khá thể ngọn đèn hai tim


Đó là màn dạo đầu, cuộc hò sẽ tiếp tục:


Nữ: Đố anh chi sắc hơn dao

Chi sâu hơn biển, chi cao hơn trời


Nam: Con mắt em sắc hơn dao

Lòng sâu hơn biển, trán cao hơn trời


Nữ: Bánh cả mâm răng kêu bánh ít

Trầu cả chợ răng gọi trầu không

Ai mà đối đặng làm chồng nữ nhi


Nam: Chuối không đi tây răng kêu chuối sứ

Cây không đi học răng kêu cây thông

Anh đã đối đặng em theo chồng về mau


Nữ: Nghe anh thuộc sách Kinh Thi

Hỏi anh con cá nằm dưới cỏ gọi là con cá chi rứa anh 


Nam: Anh đây thuộc sách Kinh Thi

Con cá nằm dưới cỏ anh nghĩ là con cá tràu


Nữ: Em như bông sen trong hồ

Các anh như bèo như bọt nhìn chi được cơ đồ nơi em


Nam: Nước lên cho sóng cuộn theo

Cho sen chìm xuống bèo trèo lên trên


Nữ: Em đây như con rồng vàng

Chín tầng mây phủ nằm ngang giữa trời


Nam: Anh đây có phép thần thông

Vén mây cỡi gió bắt con rồng cỡi chơi


Nữ: Em đây như chiếc chuông vàng

Treo trong thành nội có hàng ngàn quân canh


Nam: Quân canh dù mấy chục ngàn

Dùi chiêng anh mang sẵn, anh nện chuông vàng đứt 

đôi


Kiến bò cột sắt sao mòn

Con vò vò xây tổ sao tròn mà xây

Kiến bò cột sắt thành đàn

Con vò vò xây tổ khám vàng cũng xây


Thương thay các cậu chự bò

Cái lưng môốc thếc thếc

Bộ giò đen thùi thui


Em về dở sách ra dò

Cha em lúc trước cũng chự bò như anh


Trai không vợ như chợ không đình

Mưa dông một trộ ghé mình vào đâu


Trai chưa vợ lo phò vua vệ quốc

Chợ không đình tại thổ mộc suy vi

Sao không lo phận thiếp lại đi hỏi chàng


2) Hò đâm bắt:


Thường là đối đáp giữa trai và gái, loại này đòi hỏi một khả năng thiên phú: Thông minh, nhanh nhẹn, tháo vát. Đối thủ luôn luôn tạo bất ngờ, không có thì giờ suy nghĩ, chọn lựa. Người ra chiêu có lợi thế hơn (thường là nữ) đi những đường quyền móc họng, phạm thượng. Ngôn ngữ ở đây thuộc loại dân gian dung tục, các danh hò thường không né tránh bất cứ một từ ngữ nào miễn đạt được hết ý và đưa đối phương vào thế hiểm hóc (Nhân đây cũng xin mở một dấu ngoặc về loại văn chương này vì gần đây trên văn đàn hải ngoại, nhà lý luận phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc có đưa ra bản thảo về ngôn từ dung tục trong văn học dân gian miền Nạm đại khái như: Vân Tiên ngồi núp bụi môn. Chờ khi trăng lặn… Nguyệt Nga…) bởi thế trong phần lược kê dưới đây nếu có một vài từ đại loại như thế, kính mong các bậc trưởng thượng thông cảm:


Trong đêm hò tại vùng Long Quang Linh Yên, một siêu hò đã đánh đòn phủ đầu các nam nhi:


Anh ra chi mỗi tháng mỗi ra

Cực lòng em lắm mẹ cha hỏi hoài


Mới nghe tưởng là một lời trách móc trữ tình, thực ra chị này đem “việc riêng” của mình ra để so sánh xưng tụng thật là hết ý. Một số ngượng nghịu bỏ về. Có người đáp lại nhưng sống sượng, thiếu hấp dẫn:


Anh ra ba em cũng ra

Anh còn sống, ông cụ thác xuống ngã ba mất rồi


Một hôm khác tại Gia Đẳng:


Tiếng đồn eng học hết sách quốc ngữ, hết chữ Kinh Thi

Con bò cái đi trước, con bò đực đi sau, nó cười chi rứa eng hè


Eng đã học hết sách quốc ngữ, hết chữ Kinh Thi, con bò cái đi trước, con bò đực đi sau nói cười nó cọ, nó đọ-u sao thiếp không biết lại đi hỏi chàng


Vùng Đá Nầm, Đá Nổi ở Ba Lòng cũng một thời nhộn nhịp: những lúc nông nhàn trai tráng miệt đồng lên khai thác lâm sản và những đêm hò lại diễn ra:


Liệu bề đát được thì đan

Chớ đừng đan rồi để đó mà thế gian chê cười


Cô gái có vẻ kênh kiệu, coi thường chàng trai, nhưng chàng ta bình tĩnh tung đòn phản công rất ngoạn mục:


Anh đây đan cũng giỏi, đát cũng tài

Lận thì đè côi đè xuống, còn nức thì xỏ ngoài xỏ vô


Đến hiệp hai thì nam danh hò bối rối:


Ra đường lại gặp anh Ba

Anh ở “trung nớ” anh ra răng chừ?!!!


Chàng ta xin khất, đi tìm bà cô: là một danh hò đã gác kiếm, sau khi hối lộ một xấp thuốc Tầm Bỏi, bà đã chỉ cho câu đáp, mặc dầu không sâu sắc lắm nhưng cũng đỡ mất mặt:


Anh ở trung nớ mới ra bựa qua

Cùng ra có cậu bên nhà kết nghĩa thầy trò

Anh nhanh chân anh tới trước còn cậu lò dò theo sau!!!


Có những cô gái thật là lì lợm lém lỉnh đôi khi làm các chàng trai yếu bóng vía phải ngọng nghịu chùn chân:


Anh làm thợ mộc khéo đã ra chi khéo

Đóng bức đố xéo đã ra chi tài

Răng không giơ cái lại chàng ra chắn mộng để thòi lòi mộng ra


Tuy thế vẫn có những nam nhi thông minh lanh lợi, đáp lại vô cùng thỏa đáng:


Anh đã đưa cái lại chàng ra chắn mộng

Mà thầy mẹ bên nhà khoát khoát khoan khoan

Để khi đi về móc áo, lỡ chừng treo khăn


Cũng đã có cô gái bạo mồm bạo miệng tung chưởng vào đối phương:


Em mua cho anh cái dù tám cóng

Dưới có mốc đồng

Răng anh không đội

Để đầu không rứa hè


Nhưng đối thủ của nàng không phải tay vừa, đã bình tĩnh phản công:


Cái dù tám cóng dưới có cái móc đồng

Em đem về cho cha em đội cho nội em che

Phận anh là rễ đội nón tre quen rồi


Đôi khi lời đối đáp thật hóm hỉnh, thông minh:


Tiếng đồn em lấy chồng già

Đêm nằm em thấy ớt cà ra răng


Tre già còn dẻo hơn măng

Ớt cà tra có hột, chớ hơn thằng ớt tơ


Văn học dân gian như đã nói là một chất liệu ngôn ngữ hòa tan trong tâm thức của mọi người, nó như mạch ngầm ẩn dấu đâu đó tưởng chừng quên nhưng chỉ một giây lắng đọng khắc khoải, sẽ bừng dậy những nỗi nhớ niềm thương da diết. Đó là một kho tàng vô tận tiềm ẩn trong mỗi người Quảng Tri, không thể có một công trình tìm kiếm hoàn chỉnh .Trong phần lược ghi với một ít nội dung tượng trưng, hy vọng tạo được một khoảnh khắc thanh thản khi nhớ về quê hương.


Lê Văn Trạch

(Trích: Dặm Trường Lưu Dấu)


READ MORE - VĂN HỌC DÂN GIAN QUẢNG TRỊ - Lê Văn Trạch