Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Lê Văn Trạch. Show all posts
Showing posts with label Lê Văn Trạch. Show all posts

Saturday, September 26, 2026

MẤY NGƯỜI BẠN CŨ - Tùy bút: Lê Văn Trạch





MẤY NGƯỜI BẠN CŨ

Tùy bút: Lê Văn Trạch

 

Hình như mọi bà mẹ quê Quảng Trị đều có chung một điều mong ước là làm sao con mình được vào học Trường Nguyễn Hoàng: vừa đỡ tốn một khoản học phí, vừa đánh giá sức học sau khi đạt số điểm qua một kỳ thi tuyển và cảm thấy có niềm hãnh diện vô hình nào đó. Điều này tôi đã làm Mẹ tôi thất vọng mặc dầu trước đó mấy hôm Bà chuẩn bị rất kỹ: mua một con gà đúng giò nhốt sẵn cho sạch chân để cúng "trửa trời", không cho tôi ăn trứng sợ bị điểm không ... sau hôm cúng ông bác tôi coi giò bảo rất tốt: "Sởn sơ không một vết bầm, nội phò, ngoại giang, huyết đáo thượng trần, mọi chuyện sẽ thông suốt tốt đẹp", nhưng không hiểu sao tôi bị rớt trong kỳ thi vào Đệ Thất năm đó. Mẹ tôi âm thầm thở dài với lời tự thán an ủi "học tài thi phận". Tôi phải vào trường Thánh Tâm một năm và năm sau trở lại quê vì lúc này ở quận bắt đầu mở trường Bán Công với hai lớp Đệ Thất và Đệ Lục.

 

Những năm ở Trung học, tôi cứ nghĩ là sau này mình sẽ đi ban Toán vì đây là môn tôi rất thích và thường có điểm số cao nhất: nhớ năm Đệ Lục, thầy Lê văn Quang cứ vào đầu giờ đều cho làm toán chạy với phần thưởng 3,2,1 kẹo Nougat cho 3 người nhanh nhất. Lúc nào tôi cũng được 3 cái. Rồi những năm sau, tháng nào tôi cũng được thầy Lê Văn Ni tặng cho những cuốn sách tự chọn vì tôi đã làm được hầu hết các bài toán Lý hóa trong sách của thầy Đặng Sĩ Hỹ .. Thế mà khi vào Đệ Tam Nguyễn Hoàng, tôi không được đi ban B như trong đơn thỉnh nguyện, mà phải vào ban C. Sau một thời gian ngắn, tôi mới biết là lúc này trường bắt đầu mở ban Văn chương Sinh ngữ nhưng số học sinh ghi danh quá ít, quý thầy phải giở học bạ ra rà xét, tìm những người tạm có khả năng đưa vào cho đủ sĩ số ... Trong học bạ của tôi, sau môn Toán, Sinh ngữ chỉ ở mực trung bình, nhưng môn Việt văn trội hơn một chút, lại quý thầy thương tình dễ dãi trong việc cho điểm: Có lần thầy Lê Hữu Thăng khi ra đề luận văn "Tâm sự Thúy Kiều ở lầu Ngưng Bích" đã cho tôi số điểm tối đa, có lẽ đây là cái "Duyên" thầy đã gieo để gần 40 năm sau liên lạc được với nhau trên đất Mỹ, tôi phải trả "nợ". Lần này thầy cũng ra một đề luận văn, khó hơn với nội dung chi tiết gạch đầu dòng. Tôi cố gắng viết trong nhiều cảm xúc khác nhau, không biết thầy "cho bao nhiêu điểm", nhưng đã chọn đăng trên Kỷ yếu Quảng Trị.           

 

Lớp C ban Pháp văn năm đó chỉ có 37 học sinh, gần một nửa đi vào với những bước chân bất đắc dĩ, sức học trung bình hoặc dưới, trong đó có tôi, bởi thế tôi phải học hai năm Đệ Nhị để được làm quen thêm nhiều bạn khác. Mặc dầu "văn dốt, vũ nát", tôi cũng có được cái vinh dự lịch sử là một trong những học sinh ban C đầu tiên của trường Nguyễn Hoàng.           

 

Nhập học niên khóa 1963 - 1964, tôi lạc lõng trong mặc cảm một học sinh trường quận với bản tính trầm lặng, nhút nhát, không có bạn thân, tuy thế hai tháng sau, xảy ra vụ đảo chánh 1 - 11 với những cuộc bãi khóa xuống đường liên tục do các anh Lê Đình Cai, Thái Tăng Phương ... dẫn đầu, tôi cảm thấy dạn dĩ và gần gũi với bạn học hơn. Một trong những người thân nhất và để lại trong tôi nhiều dấu ấn đẹp đến sau này là Nguyễn Ngọc Hùng. Anh có nhiều biệt danh: Hùng Bắc, Hùng La Vang, Hùng Lì… nổi tiếng về cái nghịch ngợm của mình, là biểu hiện đúng đắn nhất ở vị trí thứ 3 sau ma và quỷ! Trong các môn học, chỉ giỏi về văn, còn lại là mù tịt. Đam mê của Hùng là tán gái và làm thơ. Trong cặp sách lúc nào cũng có sẵn một hai bài thơ và thư tình. Gặp cô nào hợp nhãn, sau vài câu mở đề là điền tên vào và nộp bài ngay! Anh thường công khai hóa những mối tình học trò thầm lén cho cả lớp biết, có lần đọc đâu đó mấy câu thơ của anh Thiệu gửi cho chị Lan:

"Ngập ngừng tôi gọi Lan bằng chị

Ôi đẹp làm sao chuyện chúng mình"

 

Anh chẳng ngại ngùng phổ biến .. Cuộc tình nhen nhúm từ lớp học đã cột chặt hai người lại với nhau cho đến bây giờ . Hiện anh chị sống rất hạnh phúc với cả đàn con thành đạt ở Dallas ...  Những kỳ thi lục cá nguyệt, cứ mỗi câu hỏi về toán anh làm một bài thơ, thế mà cô Kim Sa vẫn cho anh điểm trung bình, mỗi thầy cô anh đều đặt thêm một biệt danh: thầy Sang dạy Sử Địa là "quả lắc Faucault", cô Kim Sa là "Cô 36", thầy Châm dạy Anh văn là "Nez Rouge", thầy Nguyễn Đăng Ngọc dạy văn là "Tâm Vô Cầu" .. Giờ đầu Công dân, thầy Quý giới thiệu: Tôi, Thái Tăng Quý, cử nhân Luật khoa. Thế là lần sau, trước khi thầy vào đã thấy Hùng lấy phấn viết lên bảng:

"Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt

Dưới sân ông cử ngẩng đầu rồng” 

 

Có lần anh ráp nối một bài thơ Đường rồi đem hỏi thầy Ngọc: bài thơ con đọc một lần rất thích và nhớ mãi trong một tuyển tập thơ của Đỗ Phủ, Lý Bạch và Bạch Cư Dị, nhưng không rõ cụ thể là của ai, thầy có nhớ chỉ dùm con với ... Một lần khác, anh không làm theo đề luận văn của thầy mà theo một đề khác do mình tự đặt, đương nhiên thầy không chấm. Trong phần lời phê của giáo sư, anh mạo chữ của thầy viết: Nhất Linh viết thua anh, Khái Hưng sống lại viết bằng anh là cùng… rồi chuyển lên khoe với cách chị Ngọc Bích, Lệ Hằng, Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Thị Liễu…          

 

Về Quảng Trị, lúc đầu tôi ăn cơm tháng ở Thạch Hãn, sau anh Ngô Xuân Lưu giới thiệu đến dạy kèm cho con bà dì ở Góc Bầu, phía sau lò rèn ông Lem, cạnh nhà anh Hàm, anh Thám, có cô em tên Khiểm rất dễ thương. Một lần đứng chơi trước lò rèn, chung quanh có mấy bà mẹ trẻ, anh thản nhiên sửa lời của một bài thơ tiền chiến rồi ngâm: 

Ngày mai trong đám bồng con ấy

Có kẻ theo tôi bỏ cả chồng (!)         

 

Sau này, gần lúc thi cử, tôi dọn xuống ở nhà chị Bé, người cùng quê phía sau chùa Tỉnh Hội. Những ngày nghỉ, Hùng thường rủ tôi đi chơi, lúc nào cũng có một nắm bạc cắc "cuỗm" của bà O bán tạp hóa (?!), nhờ chị Bé đổi ra tiền giấy rồi đi đá Jeton ở quán ông Mười trước rạp Đại Chúng hoặc ăn bún bò ở đường Lý Thái Tổ, thỉnh thoảng có dẫn theo Phán, học Thánh Tâm, nghịch như Hùng vậy. Địa bàn hoạt động của anh là Trường Nữ Theresa. Phán cũng có năng khiếu về thơ văn, sau này làm Ban Báo chí ở TTHL/Vũng Tàu. Những khi không có tiền, chúng tôi mượn "súng cóng dù bắn đạn ria" của anh Trang, chồng chị Bé, đi bắn chim sẻ hoặc dạt ở cánh đồng Hạnh Hoa. Những cuối tuần lên thăm nhà, Hùng thường theo tôi và chỉ mấy lần cũng đã quen được nhiều cô .. Hùng không bao giờ xem lại bài vở ở nhà, chúng tôi đều học hai năm Đệ Nhị, kỳ thi sau anh phải nhờ một người bạn đóng vai giám thị hành lang - cũng kiếng trắng, veston, giày cuire, cặp táp, mang bài luận Pháp văn vào đứng ngay trước mặt, đợi anh chép xong rồi đi ra, không hiểu sao quý Thầy coi phòng thi chẳng có ý kiến gì cả. Có bằng TT I (Tú tài bán phần),  anh nhập ngũ ngay khóa 22/TĐ ... Sau này gặp một số bạn của Hùng kể chuyện: Hùng là cứu tinh cho bạn bè thân tình ở Trung đội, nếu lỡ bị mất nút ống hơi của súng Garant M1, chỉ cần cho Hùng biết 30 giây là có ngay; thường chơi kết bạn bốn phương với nhiều người, cuối tuần hẹn lên vườn Tiếp tân của trường, chọn cô nào đẹp, chịu chơi, dẫn đi. Hùng nghịch, nhưng thông minh, vui tính, nên được quý thầy và bạn bè thương ...          

 

Để giữ lại một kỷ niệm cho lớp, cho trường và giải bày những tâm tư học trò trong thời điểm mình có mặt, các anh chị đầu đàn trong lớp như Lê Đình Lộng Chương, Lê Hữu Ty, Đỗ Tư Nghĩa, Đoàn Thị Tình, Hoàng Hữu Ly, Hoàng Mỹ, Hồ Sĩ Kỷ, Lê Mậu Thiên, Nguyễn Cư .. đã bàn bạc để ra tập san lấy tên là "DẤU CHÂN CHIM", một tên gọi thật hay và ý nghĩa: dấu chân của những chú chim nho nhỏ ríu rít quanh quẩn bên tổ đợi mẹ mớm mồi, sau này những cánh chim bay đi khắp bốn phương trời đậu lại ở những vị trí khác nhau nhưng có lúc ngoảnh đầu nhìn lại chắc không khỏi cảm xúc bồi hồi. Trụ sở Ban Biên Tập đặt tại Thạch Hãn. Cả lớp cùng nhau hì hục làm việc: quay Roneo ở Ty Thông Tin, xếp bài, đóng sách, hơn một nửa học sinh trong lớp đều có góp bài, chừ thì chỉ nhớ lờ mờ hình bìa, còn nội dung xin chịu, ngay cả bài của mình viết, chỉ nhớ được bút hiệu Ngữ Quyên của anh Nguyễn Cư, điều thú vị là năm 95, tình cờ gặp anh tại Saigon, chúng tôi đều nói là không có đứa nào lạ cả, anh vẫn vui tính tươi cười với chiếc răng khểnh rất dễ thương ... 

Trước khi rời VN mấy hôm, chúng tôi có gặp nhau tại quán số 3 Lê Lai, trong đó có mấy người bạn cùng lớp: Nguyễn Cư, Nguyễn Văn Tịnh, Lê Ngọc Giao, Thái Thạch. Rời trường, mỗi người trôi nổi theo những công việc khác nhau, ít khi hội ngộ. Chỉ năm 72, gặp anh Lê Văn Hoàn ở trại Tình Thương của TK/QT ở Mỹ Thị, Đà Nẵng, hỏi tôi có cần sổ xanh, anh ta giúp. Lần khác, lúc đơn vị  đang tái huấn luyện tại Phú Bài, tôi chuồn vào thăm nhà ở Đà Nẵng, khi trở lại, có lệnh cấm trại và quân cảnh hỏi rất gắt, biết là một người bạn cùng lớp đang chỉ huy tại đây, không đợi xét giấy tờ, tôi hỏi một QC để gặp Trung úy Thợ, anh bảo Trung úy đang ở Huế, rồi chào đi ... Năm 1974, khi bà con QT hồi cư tại Hải Lăng, nhân chuyến về thăm, tôi ghé bệnh viện và gặp Lê Mậu Thiên lúc này là bác sĩ, hứa là sẽ giúp để bà xã sớm thuyên chuyển vào Đà Nẵng .          

 

Tết Mậu Thân, Hùng về phép và bị kẹt lại, anh được quân trấn Quảng Trị chỉ định làm trưởng toán bảo vệ trong thị xã (gồm những quân nhân xa đơn vị). Anh dẫn tôi vào quán Lưu Khách, ăn uống xong không cho tôi chi, anh đến bàn bên cạnh bảo trả tiền dùm ...         

 

Tôi gặp lại Nguyễn Ngọc Hùng một lần nữa vào đầu năm 69 tại Saigon, lúc này tôi mới nhập ngũ còn anh đã là Trung úy Biệt Động Quân, bị thương đang ở đơn vị 3 Quản Tri, có dự định nạp đơn vào Quốc Gia Hành Chánh, tính tình vẫn thế, anh dẫn tôi đến giới thiệu với người bạn gái trong chợ Phú Nhuận - nói là sẽ cưới làm vợ - rằng tôi là người em con bà dì ruột ... Tôi mất liên lạc với Hùng từ đó!           

 

Cho đến giờ này, tôi không hiểu sao chúng tôi lại thân nhau khi tính nết hai đứa một trời một vực, chắc anh cũng nghĩ thế. Trước khi nhập ngũ, anh có tặng tôi một tập thơ, tên là Tao Mày, trình bày rất đẹp, có mấy câu thơ tôi còn nhớ:

“Tao nhớ ngày xưa tao mê gái

Mải miết rong chơi với bạn bè

Còn mày câm nín trong sách vở

Thế mà hai đứa mến nhau ghê” ...           

 

Mang tiếng là bạn học thân tình, nhưng quan hệ giữa chúng tôi chỉ có chơi là chủ yếu. Một người bạn khác - Lê Ngọc Giao - Ban C Anh văn, lại rất tâm đắc với nhau trong học tập, nhất là văn học nghệ thuật. Anh trọ trên căn gác nhỏ phía bên trái chùa trên đường Lê Văn Duyệt do anh Đỗ Bá Chi tài trợ. Anh thường chỉ giúp tôi thêm tiếng Anh, thảo luận về những đề luận trong lớp. Chúng tôi thường rủ nhau đi qua mấy hiệu sách Văn Hóa, Sáng Tạo, Tùng Sơn và cuối cùng dừng lại để mua ở quán Lương Giang; chỉ mua sách hoặc đọc báo cọp chứ không phải như anh chàng nọ sau này gặp ở Saigon, nhân kể chuyện cũ đã tự thú rằng mình đến quán Lương Giang cũng giả đò lật lật sách báo nhưng thực sự để lâu lâu được nhìn đôi bàn chân nõn nà và một khoảng trắng trên mắt cá của cô Tâm con gái ông chủ thường có cái tật dùng hai tay kéo xách ống quần lên!           

 

Có một cuốn sách lúc đó là thời thượng, hai đứa phải để dành cả tháng với sự phụ trợ của Hùng mới mua được: "Ý thức mới trong văn nghệ và triết học" của Phạm Công Thiện, với nhiều bài viết vượt quá sự hiểu biết của chúng tôi, nhưng những quan điểm và giới thiệu của ông về thơ rất thú vị. Đặc biệt, hai đứa cùng mê tạp chí Văn: đây là nơi tập trung hầu hết các nhà văn của miền Nam, đồng thời giới thiệu những trào lưu văn nghệ và những nhà văn nổi tiếng trên thế giới. Chúng tôi đọc rất kỹ và vui thích khi phát hiện một điều mới lạ nào đó. Sau này anh vẫn còn nhắc về chuyện tôi đã chỉ cho anh xem cách dùng chữ sáng tạo của Mai Thảo như "phiến trời" hoặc "mỡ đông" (để chỉ màu trắng của làn da phụ nữ). Có lần hai đứa ngẩn tò te vì sau khi đọc truyện "Người đàn bà ngoại tình" của Albert Camus mà chẳng thấy bà vợ ngoại tình ở chỗ nào, mãi sau này khi đọc thêm những bài phân tích của nhà văn Trần Thiện Đạo mới vỡ lẽ. Trong một bức thư viết năm 1999, anh nhắc: "Tôi còn nhớ như in hôm nào anh và tôi ngồi ở bàn cuối lớp, anh mở tờ Nghệ thuật chỉ vào bài Tống Biệt Hành và nói rất gọn "bài này hay" hoặc một lần anh cũng bình phẩm về một truyện ngắn mà hồi anh còn ở VN tôi đã nhắc lại. Tuổi trẻ chúng ta qua đi như thế, cho đến giờ đây, bài thơ vừa mang hương vị cổ phong vừa man mác mùi Đường thi của Thâm Tâm vẫn khiến ta quá đỗi ngậm ngùi: "Bóng chiều không thắm không vàng vọt. Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong." 


Tôi có tạp chí Văn ngay từ số 1 và để vào ngăn tủ ngăn nắp tại nhà ông bác tôi.            

 

Đầu năm 2001, trả lời phỏng vấn của Thụy Khuê trên đài RFI, nhà văn Trần Thiện Đạo có nhắc đến một chi tiết làm ông phấn chấn là trong đợt về Hà Nội mới đây theo lời mời của những người mến mộ văn học. Nhân buổi tiệc trà, một nhà phê bình tên tuổi đương đại đã ghé tai ông nói thầm: "Tôi biết anh gần 30 năm nay." Không đợi để nhà văn đương trố mắt ngạc nhiên định hỏi, ông tiếp: "Vào năm 1972, theo bộ đội đóng quân vùng Quảng Trị, vớ được một số sách báo xuất bản ở Sài Gòn, tôi đọc ngấu nghiến nhiều bài văn và mấy bản dịch của anh đăng trên tờ Văn". Đọc đoạn này, tôi cứ ngờ ngợ không chừng ông này đã đụng đến tủ sách của tôi, bởi thời điểm đó, quê tôi còn lành lặn, là hậu cứ của quân đội Bắc Việt tiếp ứng cho chiến trường Cổ Thành.          

 

Lê Ngọc Giao khác tôi một điểm là nói nhiều, theo một số người thì Giao "Lộng ngôn" hay "chế", có lần nói chuyện với Thái Tăng An ở Hà Lan, tôi nhắc đến anh, An hỏi có phải Giao phịa chuyện không? Từ ngày rời trường, chúng tôi không gặp nhau, chỉ biết là anh "đứng" bên lề cuộc chiến với một đời sống rất thoải mái.            


Trong một lúc bất ngờ nhất vào những ngày lam lũ ở quê nhà khoảng năm 1990, tôi nhận được thư anh: anh có một lối viết rất sảng khoái, tâm sự như không bao giờ dứt, sau đó anh thường cung cấp sách báo, băng nhạc, tổng lược những thông tin văn học nghệ thuật trong và ngoài nước, cố gắng bằng mọi cách để tìm tin tức Nguyễn Ngọc Hùng nhưng không được .. Anh làm trợ lý Giám đốc cho một công ty xây dựng nước ngoài, đứa con gái đầu học ở Pháp, hai đứa sau học Đại học Saigon ... Cuộc sống cứ nghĩ sẽ bình thản êm trôi, ai ngờ đến năm 95, khi tôi vào SG cũng là lúc anh nhuốm bệnh. Một căn bệnh hiểm nghèo: ung thư thanh quản. Đêm chia tay ở Lê Lai, chúng tôi chẳng nói với nhau nhiều, trong cái siết tay cuối cùng, nhìn vào mắt anh, một thoáng buồn, âu lo và ngấn lệ!           

 

Tôi vẫn thường xuyên liên lạc, động viên an ủi để anh có thêm chút nghị lực, nhưng bệnh tình càng trầm trọng, những trang thư bắt đầu nhuốm niềm bi lụy: "Tôi không được như Mai Thảo: 'Gối tay lên bệnh nằm thanh thản / Thành một đôi ta rất đá vàng' mà đau đớn triền miên đã hủy hoại hết thân thể và tâm trí tôi .."           

 

Linh cảm những điều không may sẽ xảy ra, tôi viết thư cho anh với yêu cầu, trong lúc khỏe, anh nên viết ra những gì về ngày tháng cũ. Anh đã trả lời: "Thư viết đi, chữ nghĩa chảy ra từ tấm lòng, những ẩn ức phiền muộn hoặc niềm lạc quan về một điều gì đây với tôi, trong tôi đã tắt ngấm bấy lâu rồi. Vâng, giờ đây với tôi, điều mong mỏi thì tôi đã bày tỏ và được anh đón nhận. Một mình lang thang trong phòng đã mấy năm nay, tôi cố sống an nhiên tự tại, mong ước về kỷ niệm xưa dẫu vui ít buồn nhiều, nhưng ít ra đó vẫn là cái phải có và phải làm trong lúc này. Tôi sẽ cố gắng theo gợi ý của anh mà viết lại những năm tháng tuổi thơ mà bối cảnh là Trường Nguyễn Hoàng, ở đấy tôi đã gặp nhiều con người có nhiều cá tính. Chắc chắn tôi sẽ nhắc đến anh ở những ngày đầm ấm đó, bản tính trầm tĩnh, ít nói, nhưng lại rất chân tình và chia sẻ của anh đã cho tôi sự cảm mến tuy âm thầm mà lại dai dẳng, nó kéo theo cho đến lúc này và mãi mãi về sau".           

 

Tháng 6/2000 về lại VN, nghỉ ngơi mấy tiếng, tôi đến thăm anh ngay, không ngờ anh thay đổi nhiều đến thế, tiếng nói không còn rõ nữa, hai đứa vừa ôm nhau vừa khóc. Chúng tôi giữ sự im lặng thật lâu ... Tôi mang về nhiều sách báo, trong đó có cuốn Nghìn Thương Đất Mẹ của Vũ Hối: một nhà thơ, một nhà thư họa mà trước đây anh rất cảm mến. Sau này, tình cờ được tiếp chuyện với nhà thơ Vũ Hối trên điện thoại (tại nhà anh Phan Khâm) để cảm ơn anh đã phóng bút bài thơ của anh Khâm trên một bức tranh làm quà đám cưới con gái tôi, tôi kể chuyện này, nhà thư họa ngạc nhiên bảo có lẽ đây là cuốn độc nhất lọt về VN. Anh vẫn ở chỗ cũ, một căn hộ tầng trệt của khu H, cư xá Thanh Đa. Tôi trở lại một lần nữa khi ở quê vào để chuẩn bị qua Mỹ. Lần này, bình tĩnh hơn, chúng tôi nhắc nhiều chuyện, có những chi tiết dễ thương từ thời xa xăm, anh nói là đã viết được một ít về ký ức Nguyễn Hoàng, chừng nào xong sẽ gửi qua. Tôi kể với anh về chuyến đi Atlanta, có ghé thăm Hồ Dân Thính lúc anh ấy bị đột quỵ.            

 

Trở lại Mỹ 2 tuần, tôi nhận được thư anh, tinh thần có phần sáng sủa hơn một chút: "Nếu có dịp trở lại Atlanta thăm Thính, anh cho tôi gởi lời thăm anh ấy, đồng bệnh tương thân mà! Tôi hiểu sâu sắc nỗi đau nhiều mặt của người bệnh. Phần tôi, sau bao năm, hầu như đã ngộ ra cái triết lý To Be or Not To Be đã rèn cho tôi cái ý chí và tôi cũng suy gẫm về một câu nói rất chí lý của một nhà văn Anh: Ta nhìn vào cuộc đời như ta nhìn vào tấm gương. Ta cười với nó thì nó cười với ta, ta nhăn với nó thì nó cũng nhăn với ta tức khắc và tâm nguyên là lẽ đời của mình". Không ngờ đó là bức thư cuối cùng. Một tháng sau, Thái Thạch viết thư báo tin anh đã ra đi vào ngày  2 tháng 9 năm 2000. Dù biết trước sau sự việc ấy cũng sẽ xảy đến, nhưng tôi cảm thấy hụt hẫng, choáng váng, tôi xem lại một đoạn phim ghi hình ảnh hai đứa vào ngày 12-7-2000.            

 

Định mệnh quái ác đã làm anh thất hứa với tôi, những trang ký ức viết dở chẳng bao giờ được nhận. Tôi viết thư chia buồn với gia đình và có nhắc đến điều này, nhưng không có hồi âm! Dù sao thì tôi cũng có một chút mãn nguyện là được gặp lại, chia sẻ với anh một đôi điều trong những ngày cuối đời. Đi bên anh đến nơi an nghỉ có Thái Thạch đại diện cho nhóm bạn thân tình ở xa và đông đảo anh em cựu học sinh Nguyễn Hoàng ở Sài Gòn… Lần này chắc chắn anh đã được như Mai Thảo: Thế giới có triệu điều không hiểu. Càng hiểu không ra lúc cuối đời. Chẳng sao, khi đã nằm trong đất. Đọc ở sao trời sẽ hiểu thôi.            

 

Một người không học cùng lớp, không quen lắm lúc ở Nguyễn Hoàng, nhưng sau này qua cái duyên văn nghệ đã có sự liên lạc rất chân tình. Dân Quảng Trị có rất nhiều người thành danh trong văn học nghệ thuật. Nhưng cựu nữ sinh Nguyễn Hoàng có thơ xuất bản, theo chỗ tôi biết, chỉ có một.         

 

Những ngày bức bách tăm tối sau khi ở tù ra, tôi có cái may là liên lạc được với Lê Ngọc Giao và chị để tâm trí mình mở ra thế giới bên ngoài. Chị sống nhiều với nội tâm, với hoài niệm về ngày tháng cũ. Tôi hiểu và chia sẻ với chị những điều ấy, đôi lúc làm chị ngạc nhiên.         

 

Tập thơ Giăng Sợi Tơ Tình của Nguyễn Thị Kim Cúc được nhà xuất bản Văn Hóa Dân Tộc phát hành năm 1998 tại VN do nhà văn Võ Hồng viết đề tựa, ông nhận xét: "Thơ không uốn mình theo thể, không theo niêm luật vần điệu, cứ ngắt câu ra từng đoạn, từng khổ nhỏ uốn theo tình huống gây sự ngạc nhiên, rồi êm em trôi theo dòng thơ êm ái quen thuộc của tình buồn. Phong thái độc lập, tự lập .. Tập thơ có 23 bài mang chung một chủ đề tình yêu và chỉ nói về tình yêu nơi người đàn bà: đó là những phụ nữ có thật, những nhân vật lịch sử, những nhân vật trong văn chương, những nhân vật huyền thoại." Nhà văn đọc rất kỹ, thấy hết những điều tác giả nói, nhưng không cảm nhận được cái tâm sự lắng đọng đâu đó trong tâm thức: Nay chỉ còn một cái cốc cuối này thôi / Hãy để mình em uống cho tình đẹp. Tuy thế nhà thơ vẫn hoài vọng vớt một mong manh hạnh phúc: Như lá trầu xanh / Hòa cau vôi đỏ thắm / Đã hóa thân còn quấn quít không rời / Đã hóa thân / Vẫn còn làm sứ giả / Giăng sợi tơ tình / Thắm thiết mãi không thôi.   

        

Tôi gởi tập thơ đến các Ban Biên Tập Đặc San Quảng Trị Washington, DC, Atlanta và đã được chọn đăng trong dịp Xuân Tân Tỵ. Nhận được tin này, chị rất đỗi vui mừng: "Chị rất cảm ơn về những hoạt động và nhận xét của T với sợi tơ giăng, phải nói chỉ có T mới làm được những việc ấy cho chị . Lời cảm ơn chắc không đủ nói hết lòng mình, ngoài cuộc sống lắm khi tìm được ở bạn bè những điều mà khó có người thân nào giúp được, bên này chị không chủ trương phổ biến rộng rãi ... Tơ cứ giăng, sương cứ rơi, ngày tháng vẫn qua, vui buồn ta cứ một mình ta ..."         

 

Ở trong Nam, lâu lâu chị lại ra thăm quê: "Chị về Quảng Trị gặp mấy ngày mưa không kịp vuốt mặt, thành ra chỉ kịp vòng một vòng qua trường Nguyễn Hoàng cũ, đường Duy Tân, Lê Văn Duyệt, ra bờ sông vào một chặp hửng nắng cuối ngày. Hôm sau lại tất tả vào lại. Quê nhà - nhớ lắm, thương lắm, muốn về nhưng chỉ kịp ngoái lại rồi đi, cuộc sống chắc luôn là như thế. Nơi này một thuở xưa kia /  Cùng người nắng sớt, mưa chia bao mùa ..           

 

Tôi rời trường cuối năm 66, thỉnh thoảng trong những dịp về phép, đi ngang ghé lại nhìn trường cũ, những đoàn học sinh vui chơi với bao điều xao xuyến.          

 

Sáng 1 tháng 5 năm 1972, trên chiếc M13 rời cổ thành Đinh Công Tráng rẽ phải vào Lê Văn Duyệt, Duy Tân, rẽ trái về Trí Bưu, Quy Thiện ... Trong lúc đổi thế ngồi, trường Nguyễn Hoàng hiện ra trước mặt rất rõ. Không ngờ đó là hình ảnh cuối cùng ...           

 

Cuộc đời như dòng sông tùy theo địa thế chung quanh mà nắn dòng để cuối cùng ra biển, rác rưởi sẽ được bỏ lại, có mang theo chăng chỉ là những hạt cát óng ánh bám sát tâm mình. Tôi đã đọc đâu đó một câu thật hay: "Bạn cũ là thứ đồ cổ quý giá nhất."  Các bạn có thể đang lưu lạc đâu đó hoặc biến mất khỏi cuộc đời này, nhưng trong tôi vẫn còn nguyên vẹn như mới hôm nào. Tuy trong "giờ ra chơi lịch sử này" không có các anh tham dự, tôi vẫn thấy thật gần - sự có mặt của các anh - và thấm thía với mấy dòng thơ của một Thiền sư: Ta vẫn còn đến đi thong dong / Có không còn mất chẳng băn khoăn / Bước chân "anh" hãy về thanh thản / Không tròn, không khuyết một vầng trăng.  


Lê Trạch

http://trachcamlo.blogspot.com/


READ MORE - MẤY NGƯỜI BẠN CŨ - Tùy bút: Lê Văn Trạch

Wednesday, May 6, 2026

XÓM HOÀN THÀNH - LÀNG CAM LỘ - Lê văn Trạch

Ngày 18/4/2026 tác giả thăm Phúc Gia Tự, tư gia  

của nhà thơ  Phạm Bá Nhơn tại Diên Sanh Quảng Trị




XÓM HOÀN THÀNH - LÀNG CAM LỘ 

Lê văn Trạch


Làng Cam Lộ được thành lập vào khoảng thượng bán thế kỷ 16, trước khi Chúa Nguyễn Hoàng vào trấn nhậm vùng Thuận Hóa, đặt dinh trấn tại Ái Tử (1558). Trong sách Ô Châu Cận Lục của học giả Dương Văn An phát hành năm 1553 đã thấy xuất hiện tên Cam Lộ, là một trong 27 làng thuộc Tổng An Lạc. Thoạt đầu, để dễ quản lý và tương trợ nhau, làng được chia ra thành 5 xóm từ trên xuống gồm Tây Hòa, Thượng Viên, Trung Viên, Hậu Viên và Đông Định. Đến giữa thế kỷ 19, bằng tầm nhìn chiến lược để giãn dân và phát triển kinh tế về phía Bắc, ông Trưởng Sáu tức ông Thái Văn Chương (Trưởng Họ Thái Thúc) đã mạo hiểm đến giữa bãi bồi của sông Hiếu và sông Lâu trồng tre và cây cổ thụ để giữ đất (trước đây còn tàng trữ một văn khế ghi việc mua đất làng Thượng Độ để đào con sông Lâu, mục đích thay đổi dòng chảy, phân thủy trong mùa lũ để các xóm Thượng Viên, Hậu Viên khỏi bị sạt lở, cũng có giai thoại cho rằng chư vị tiền bối muốn mượn con sông  đào này để đẩy trôi chùa An Thái, đang nhắm hướng vào bên hông có thể gây ra những điều gỡ cho làng; tuy nhiên, công trình này tiến hành theo cảm tính chứ không dựa trên một thiết kế kỹ thuật nào, nên một thời gian sau, sông bị lấp). Chẳng bao lâu phù sa bồi đắp, khu vực được lan rộng ra, ông vận động dân làng qua lập nghiệp, vùng này trở nên trù phú và hình thành xóm, đặt tên là xóm Bắc Bình.

Vào thời bấy giờ, Cam Lộ như là vùng biên cương của Tổ Quốc, hệ thống giao thông về phía Tây bắt đầu hình thành, bọn cướp ở Lào, nhiều bộ lạc cận kề thường qua quấy phá, năm 1622, Chúa Nguyễn Phúc Nguyên cho rằng: "Vùng sông Hiếu, xã Cam Lộ, thuộc huyện Đăng Xương, giáp giới với đất Ai Lao, các bộ Lạc Man, Lạc Hoàn, Vạn Tượng, Trấn Ninh, Quy Hợp đều có đường thông đến đấy, bèn sai đặt Dinh, mộ dân chia làm 6 thuyền quân (?), gọi là Dinh Ai Lao. Đến năm 1672, đổi tên thành Trấn Sơn Phòng Cam Lộ để bảo vệ vùng biên giới”.

Năm 1803, sau khi đánh bại Tây Sơn lên ngôi Hoàng Đế, vua Gia Long lấy các huyện Hải Lăng, Đăng Xương, Minh Linh để lập ra Dinh Quảng Trị, phía Tây đặt Đạo Cam Lộ; năm 1831 vua Minh Mạng đổi Đạo thành Phủ, trước đó, năm 1829 vua ban chiếu xây dựng thành Vĩnh Ninh ở đầu làng Cam Lộ để đặt Sơn Phòng Phủ như một cứ điểm quân sự vững chắc và điều các quan thao lược ra trấn giữ. Chính tại đây, tháng 2 năm 1834, các tướng Lê Văn Thụy, Phạm Phi, Nguyễn Hữu Đức đã đánh bại quân xâm lược Xiêm La và giết được tướng giặc. Thành được xây theo hình tứ giác bằng đất, mỗi cạnh trên 100 mét, chung quanh có hào sâu. Theo năm tháng, những hào này cạn dần và trong một thời gian nào đó đã được đổ đất lấp đầy và dân chúng bắt đầu đến xây dựng nhà ở. Không biết chính xác thời gian, nhưng dựa theo lời kể của người đương thời thì có thể vào thập niên 20, 30 của thế kỷ trước, ban đầu chỉ một số ít gia đình, đặt tên là Xóm Mới.

Sau Hiệp định Genève, chính quyền quốc gia hình thành, cư dân đến đông hơn, được tổ chức quy củ, đặt tên là Xóm Hoàn Thành, do bác Trưởng Tán làm Trưởng xóm. Lúc này, bà con ở đây dựa vào sự gần gũi thân tình với ông Quận trưởng Lê Đình Pháp, đề nghị thành lập một làng riêng, lấy tên là làng Hoàn Thành. Các thân hào nhân sĩ làng Cam Lộ không đồng thuận. Sau nhiều lần thảo luận không kết quả, trong cuộc họp cuối cùng giữa ông Quận trưởng và chính quyền thôn gồm ông Lê Thản, Thôn trưởng, ông Trần Minh thư ký cùng một số bô lão, ông Trần Minh đại diện phát biểu rằng: "Chúng tôi chấp hành theo lệnh hành chánh của Quận, nhưng nếu sau này có người qua đời thì chôn ở đây hoặc đâu đó, chứ không được chôn trên đất làng Cam Lộ!”.

Trước ý kiến khẳng khái và hợp lý, đề nghị trên không được thực hiện, từ đó bà con sống chan hòa với dân làng, hàng năm vào dịp tế lễ Xuân Thu Nhị Kỳ đều có phẩm vật dâng cúng ở đình làng. Như vậy, cho đến lúc này, ngoài 5 xóm Làng Cam Lộ, có thêm hai xóm nữa là Bắc Bình và Hoàn Thành.

Địa thế xóm dài khoảng 300 mét, chiều ngang chưa đến 100 mét, nhà cửa tập trung hai bên đường từ quán Bà Thanh (ngã tư đường 71 từ chợ Phiên lên và đường từ quốc lộ 9 vào), lên đến nhà ông Thái Tăng Ly (khúc cua lên làng An Hưng), cụ thể như sau: Quán Bà Thanh bán hàng ăn và nấu cơm tháng, có chị Hường và hai anh con nuôi, kế bên là nhà anh Chuyết, có cho chị Kết thuê đặt tiệm may. Qua đường là nhà ông Nghẹc sửa xe đạp có chị Lưu, anh Minh, kế bên trái là nhà ông Thái Thúc Viện, có tiệm thuốc Tây An Sinh, bên phải là nhà anh Hiệp, chị Rô --- Bà Quế có anh Tự, anh Thái --- ông Lượng --- ông Miễn bán tạp hóa, có anh Minh, chị Hương, sau này chuyển ra Nam Thuận, nhường lại cho chị Hồng con bác Đinh, em Mụ Tép --- Bác  Thợ Huỳnh sửa xe đạp, bác gái bán hàng ăn có chị Thu, chị Thôi, chị Ý, anh Diên, chị Lan, chị Mai, anh Dũng và chị Cúc, sau này bác dời ra Nam Thuận, nhường lại cho anh Sinh cũng sửa xe đạp  --- Ông Văn làm tùy phái trong Quận, có các anh Ngọc, Ngà  --- ông Uyển ở Ba Thung qua, có chị Bích --- bác Phó Lộng cũng ở Ba Thung qua, có anh Bình, anh Khôi và chị Lan  ---  ông Cánh --- ông Hoàng Thư có các anh Phố, Diệu, Sơn, Lâm và các chị Mỹ Công, Dung, Ngôn, Hạnh, Lý, Lan. (Trước năm 1954, đây là nhà bác Thợ Hinh có quán thuốc Bắc Đông Khê, sau dời qua xóm Bắc Bình) --- bác Trưởng Tán làm lò mổ, có chị Mùi, chị Xiêm, anh Vồ --- Chiếm khu vực rộng nằm ngay góc là trường Tiểu học Cam Lộ. Qua khỏi ngã tư là nhà ông Thái Tăng Tuệ, gồm có chị Duyên, anh Thịnh, chị Phi, anh Phụng, anh Phúc, các chị Thúy, Lai, Nhung  --- Mụ Ngại có bà Chung vợ ông Lê Hữu Trình, bà Mai vợ một ông Bộ trưởng ngoài Bắc, anh Hàm, anh Thưởng  ---  Mụ Phán, mẹ chị Hải, chị Hà; đến đây là điểm cuối xóm, qua bên kia đường là nhà của ông Thái Tăng Ly, có anh Phương, chị Nga, chị Mỹ, anh Ân, anh Ấn và chị Lan, đi lui lại là nhà Mụ Thợ Đỉnh có anh Hóa, chị An, chị Hội – Mụ Sắt, bán kẹo có anh Mạnh --- ông Quang (bác Bành Chánh Phương), có anh Long, anh Lân, anh Hòa, và chị Hiệp, chị Cam, chị Quýt, chị Chanh --- ông Doàng (bác Hàn Thuận Nguyên), có chị Cúc, chị Lan, chị Mai, anh Minh Quang, chị Hoa, chị Liễu. Các anh Việt Quang, Vinh Quang, Ngọc Quang và Triệu Quang --- Ông Lê Văn Tý, chồng cô Tuyết, có chị Thu Trang và anh Toàn --- Ông Thái Hanh có các anh Thiện Chánh và Mạnh Hoài, các chị Kim Quy, chị Lương và các anh Khương, Tín --- Mụ Đen có anh Nương. Đối diện với trường Tiểu học là nhà bà Hàn thị Chút có chị Anh, chị Thanh --- ông Phạm Đình Cầu, lúc đầu mở quán hớt tóc và ông Hưng, chị Sen đặt tiệm may, sau này cho ông Sơn sui gia ở và chị Lượng đặt quán may --- chị Thái thị Yến, sau đó là chị Thái thị Vân --- ông Thái Tăng Từ có chị Tâm, chị Hồng, chị Hằng, anh Quang, anh Thành --- Ông Mãn (trước đây là nhà ông Hoàng Đức Thạc) ---  ông Trần Phong Yên, cho quý Cô dạy Trung học ở trọ --- ông Khâm --- Mụ Tép -- trạm Thông tin phía phải cửa vào Quận, bên kia là trụ sở Phong trào Cách Mạng Quốc gia, trụ sở Chi Thanh Niên --- ông Bé tài xế cho Quận --- ông Cần làm ở Chi Khu --- nhà Hộ sinh của bà Thư --- kế đó lên hướng Tây nhà ông Nậu công chức Quận, có các anh Quang, Minh và các chị Cúc, Hoa, bên kia ngã tư nhà ông Kiểu thợ mộc, có tiệm hớt tóc anh Hai, kế đó là nhà ông Đối chụp hình.

Cư dân xóm Hoàn Thành bao quanh hai phía thành Vĩnh Ninh. Giữa văn phòng Phong trào Cách mạng Quốc gia và Trạm Thông tin là cổng vào thành. Qua các thời kỳ, nơi đây là quận lỵ Cam Lộ, nơi đặt các cơ quan hành chánh của quận. Chỉ là một thành nhỏ, nguyên gốc như một cứ điểm biên phòng, nhưng thành Vĩnh Ninh vinh dự được các vì vua ghé đến:

Rạng sáng 5/7/1885, Quan Phụ chính Đại thần Tôn thất Thuyết và Nguyễn văn Tường khởi binh tấn công tòa Khâm sứ Pháp ở mạn Nam sông Hương và đồn Mang Cá thất bại, triều đình đưa vua Hàm Nghi rời hoàng thành, chiều 6/7/1885 đến Quảng Trị.

Ngày 8/7/1885, các quan đại thần họp, quyết định các thái giám, cung tần mỹ nữ cùng một số binh lính ốm yếu trở lại Huế.

Ngày 9/7/1885, vua lên đường đi Tân Sở và đêm đó ngủ lại thành Vĩnh Ninh. Nhận thấy thành Tân Sở không thuận lợi cho kháng chiến lâu dài, nên ngày 19/7/1885 Tôn thất Thuyết quyết định đưa vua ra Quảng Bình và nghỉ lại tại thành Vĩnh Ninh trước khi tiếp tục.

Tháng 11/1932, vua Bảo Đại trên đường kinh lý đã ghé thăm vị trí này.

Năm 1958, Tổng thống Ngô Đình Diệm lên Cùa thăm đồn điền của ông Tỉnh trưởng Nguyễn Văn Đông cũng đi ngang thành Vĩnh Ninh.

Năm 1973, nơi đây được chọn là Thủ đô của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (bây giờ là Khu Di tích của Chính phủ đó)

Vị trí huyện cuối cùng là ông Lê Trọng Đàn (thân phụ thầy Lê Trọng Ấn, giáo sư Trường Nguyễn Hoàng). Sau khi Việt Minh cướp chính quyền năm 1945 rồi người Pháp trở lại, họ đảm trách luôn mọi công việc hành chánh, ông Tri Huyện rời nhiệm sở, mãi đến năm 1954, chính quyền quốc gia mới thành lập và kiện toàn tổ chức các cấp, Quận trưởng đầu tiên là ông Lê Đình Pháp (đầu thập niên 1970 làm Chỉ huy trưởng cảnh sát huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên); kế đó là ông Ngô Đình Hoàng, ông Lê Đình Giáo và ông Nguyễn Tri Kiệt. Thời điểm này (1960), chiến tranh bắt đầu lan rộng, Trường Đại học Quốc gia Hành chánh đã có các khóa đầu tiên ra trường nên Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa quyết định Tiểu khu trưởng và Chi khu trưởng kiêm luôn Tỉnh trưởng và Quận trưởng, các Đốc sự sẽ đảm nhận chức vụ Phó để điều hành công việc hành chánh. Chi khu Cam Lộ đặt phía bắc quốc lộ 9, cạnh trường trung học. Các vị Quận trưởng quân sự lần lượt gồm có: Đại úy Phạm Kỳ Nam, Đại úy Phạm Hữu Mân, Thiếu tá Nguyễn Đức Nhiễm, Đại úy Phan Đình Cáo, Thiếu tá Vũ Ngọc Tùng và Đại úy Nguyễn Văn Rao (1972).

Tuyệt đại đa số bà con ở đây đều từ nhiều nơi đến như Thừa Thiên, Cùa hoặc các làng lân cận, làm nhiều công việc khác nhau: Công chức, buôn bán tạp hóa, tiệm thuốc Tây, thuốc Bắc, lò mổ, sửa xe đạp, quán ăn, quán may, hớt tóc, chụp hình, làm bánh kẹo...

Thừa hưởng chung yếu tố phong thổ địa lý của làng: Phía sau là chỗ dựa lưng hiền hòa mát dịu sông Hiếu, cùng tầm nhìn ngút ngàn trước mặt với quốc lộ 9. Xa xa nhấp nhô trùng điệp những mõm núi của Trường Sơn, tạo nên một cảnh sơn thủy hữu tình.

Xóm Hoàn Thành tọa lạc đầu làng được hưởng trọn vẹn những yếu tố đó và mặc dầu là một bộ phận của làng quê, nhưng bà con không "chân lấm tay bùn", con cái họ chỉ làm công việc nhẹ nhàng, cho nên các cô gái ở đây có dáng nét thong dong và rất đẹp, nức tiếng trong vùng cho đến ngày nay, không những đẹp người mà còn đẹp nết, công dung ngôn hạnh vẹn toàn. Đây là nơi đặt quận lỵ, có nhiều công chức, quân nhân, giáo chức đến làm việc và rồi mến cảnh, say tình, bén duyên ở lại, hầu hết các cô gái ở đây đều kết tóc se tơ với những khách phương xa ấy, theo từng giai đoạn và tùy theo sự phát triển của xã hội đã ảnh hưởng đến việc kết duyên này: Thế hệ đầu là công chức, như chị Cúc (con bác Doàng), với anh Lê Đình Châu (em ruột ông Quận trưởng Lê Đình Pháp), chị Cam (con bác Quang) với anh Nam, chị Lưu với anh Bách. Thế hệ kế tiếp là giáo viên: Chị Hải với thầy Niệm, chị Quýt con bác Quang với thầy Phú, chị Lượng với thầy Sum và chị Mùi với thầy Khanh. Thế hệ sau cùng (đến 1972) là quân nhân đông nhất tuyệt đại đa số là sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng Hòa: chị Duyên (bác Tuệ) với anh Công, chị Vân (bác Trợ Liên) với anh Dục, chị Lương (cháu chị Lượng) với anh Thức, chị Tâm (bác Từ) với anh Quy, chị Hồng với anh Thức, chị Mỹ Công với anh Quang, chị Lan (bác Phó Lộng) (?), chị Bích (Ba Thung) với anh Tôn Thất Quỳnh Ngọ, chị Mai (bác Thợ Huỳnh) với anh Sáu, chị Lan với anh Tuyền, chị Chiêm với thầy Cổn (nhưng sau này cũng là sĩ quan). Chỉ có hai người lấy chồng tại địa phương là chị Hàn Thị Hoa với anh Lâm và chị Anh (bà Chút) với anh Thạc. Riêng chị Hằng Nga với tâm nguyện xiển dương Giáo pháp Phật Đà đã phát tâm xuất gia nay là Sư cô Liên  Cầu đang trú xứ tại một ngôi chùa ở Long Khánh và chị Thái Thanh Mỹ chắc là có duyên với thế hệ trẻ, nên sau một thời gian làm cô giáo, bây giờ đang là thiện nguyện viên chăm sóc các cháu thiếu may mắn tại "Trung tâm Phục hồi Chức năng và Nuôi dạy trẻ khuyết tật Cam Lộ ".

Trên đây chỉ nêu những trường hợp trước năm 1972. Sau này, khi di tản vào Đà Nẵng rồi định cư tại các tỉnh phía Nam, các cô gái ra đi từ xóm Hoàn Thành vẫn giữ bản sắc và truyền thống tốt đẹp đó, kiến tạo nên những gia đình thành đạt, hạnh phúc.

Lần đầu tiên tôi lên xóm Hoàn Thành là vào tháng 9 năm 1954, lúc đó chúng tôi đang học với thầy Thái Tăng Liệt tại nhà ông Lê Bạn, cạnh đường 71 xóm Thượng Viên, bất ngờ thấy ngoài đường có một thanh niên vào nói với thầy Liệt: "Giờ này mà còn học hành gì nữa, đi lẹ lên, đi tranh đấu", thế là thầy trò chúng tôi xếp bút vở cùng đi...

Đến trước nhà bác Thái Tăng Liên (thân phụ thầy Thái Mộng Hùng) đã thấy đông người và một số còn tiếp tục kéo tới... Đến xế trưa thì thấy có nhiều người mặc đồ đen tay cầm dùi xông vào đánh đập... một vài người chết, một số bị thương và cuộc biểu tình giải tán. Lúc đó tôi mới 8 tuổi, chẳng hiểu gì cả, sau này qua lời kể của người lớn mới rõ ngọn nguồn sự việc: Trong thời Pháp thuộc, một khu chợ sầm uất gọi là chợ Cam Thủy nhóm tại đình làng Tam Hiệp cách Cầu Đuồi khoảng gần một cây số về phía Đông, chợ này trước đây do Việt Minh kiểm soát, sau hiệp định Geneve, chính quyền quốc gia muốn dẹp bỏ để tập trung đông ở Chợ Phiên, dân trong vùng phản đối, thế là ông Quận trưởng cho lính Bảo An Đoàn về dẹp, bắt một người và làm bị thương một số người khác. Các cán bộ Việt Minh còn ở lại đã tập trung dân chúng tại Miếu Cồn Nậy làng An Mỹ cùng kéo lên quận phản đối. Chính quyền quận lúc đó do ông Lê Đình Pháp đứng đầu và mướn nhà ông Thái Tăng Liên làm trụ sở. Mục đích của nhóm biểu tình là phản đối chính quyền đàn áp, khôi phục chợ Cam Thủy, thả người bị bắt và bồi thường cho những người bị thương... Có một quân nhân người Pháp đến, nói với người biểu tình hãy bình tâm, lát nữa sẽ có nhân viên của Hội nghị Trung Giải lên giải quyết ổn thỏa mọi yêu cầu (có ông Trần Từ người làng Cam Lộ làm thông dịch).

Khoảng thời gian ngắn sau, nhân viên đâu không thấy mà từ ba hướng: Quốc lộ 9 vào, An Hưng xuống và Tây Hòa lên, những người lính Nghĩa Dũng Đoàn mặc đồ đen trang bị dùi cui và dây xích xông vào tấn công những người đang tập trung giữa sân rất dã man, dân chúng chạy tán loạn, có hai người chết, ba người bị bắt và rất nhiều người bị thương! Bọn trẻ chúng tôi chạy trối chết, sân vườn nhà bác Trợ Liên tan hoang như bãi chiến trường!

Một địa điểm đặc biệt quan trọng ghi dấu kỷ niệm của nhiều thế hệ là trường Tiểu học Cam Lộ, tại ngã tư đường từ ngoài thành vào và từ Xóm Tây Hòa lên. Trước năm 1946, trường Tiểu học Cam Lộ tọa lạc tại ngã ba quốc lộ 9 và đường vào thành Vĩnh Ninh, do ông Hoàng Xuân Lãm làm Hiệu trưởng. Trường của huyện nên tập trung nhiều học sinh từ các xã, nhất là vùng chung quanh huyện lỵ. Đây là cái nôi giáo dục, đầu cầu phát triển trí năng để tiến bước vào đời của con em Cam Lộ. Tuy nhiên, khi quân Nhật thua trận và người Pháp trở lại, phong trào Việt Minh kêu gọi toàn quốc kháng chiến, chiến tranh bùng nổ, niên khóa 1946-1947 là niên khóa cuối cùng, học sinh lớp Nhất của niên khóa này gồm các ông Thái Tăng Huy, Thái Tăng Bình, Thái Văn Hải, Trần Đình Lan, Trần Văn Ngự, Phạm Đình Trung, Nguyễn Công Bá, Thái Tăng Thám, Phạm Văn Thìn, Thái Tăng Minh, Trần Phương, Lê Đình Thúc, Thái Tăng Liệt, Thái Tăng Quảng, Thái Minh Kỳ. Sau đó trường bị quân đội Pháp trưng dụng làm căn cứ quân sự. Việc học vẫn tiếp tục, nhưng phải mượn nhà dân tại các xóm Tây Hòa và Thượng Viên. Tình trạng này kéo dài đến năm 1954. Khi hòa bình lập lại, việc giáo dục được quan tâm hàng đầu và sắp xếp quy củ. Trong lúc đợi trường học hoàn thành, học sinh phải học tại nhà dân (Mụ Kiềng và ông Trưởng Quýnh xóm Tây Hòa). Đa số học sinh trước đó học rải rác nhiều nơi kể cả ở vùng kháng chiến trình độ khác nhau, cho nên trường đã mở một khóa sát hạch, để xét khả năng học sinh mà xếp lớp và năm 1956 trường mới xây xong.

Cá nhân tôi năm 1954 qua Bắc Bình học lớp vỡ lòng với ông Trần Đình Lan, sau đó về làng học với thầy Thái Tăng Liệt và sau buổi sát hạch được xếp vào lớp Ba, niên khóa 1956-1957 với thầy Lê Văn Phục, lớp Nhì cô Trần Thị Huế, lớp Nhất thầy Trần Hữu Khanh, tốt nghiệp Tiểu học năm 1959. Bạn cùng lớp gồm có Hoàng Viện, Hoàng Văn Ngự, Hoàng Thị Bích (Ba Thung), Phạm Anh, Trần Đức, Bùi Văn An (Quật Xá), Lê Văn Sỏi, Lê Minh Hồ (Tân Mỹ), Nguyễn Đắc Thành, Nguyễn Định, Nguyễn Minh, Nguyễn Ước, Nguyễn Thị Mùi, Lê Thị Thu (An Hưng, Tân Định), Thái Thiện Chánh, Thái Tăng Ánh, Thái Hằng Nga, Phạm Tiêu, Phạm Linh, Trương Thái, Hoàng Hữu, Lê văn Vân, Thái văn Việt, Lê thị Thiện (Cam Lộ), Mai Sắt, Trần Thí, Hoàng Sự (Cam Hiếu). Hiệu trưởng đầu tiên là thầy Lê Đình Khởi, kế đến là thầy Tôn Thất Linh, thầy Trần Phụng, thầy Lê Văn Niệm, thầy Trần Hữu Khanh. Trong các vị Hiệu trưởng, thầy Khởi nghiêm khắc nhất, những học sinh nghịch ngợm luôn được thầy chiếu cố như Thái Tăng Hưu, Hoàng Hiệp Phố với những hình phạt độc đáo. Có lần thầy Trần Phụng về Ty họp, thầy Khởi hỏi đã xóa những hình được vẽ trên các trụ trong phòng học chưa, thầy Phụng trả lời: "Những bức hình đẹp như thế sao lại xóa?". Thầy Khởi bảo là lên xóa đi, trong một khoảnh khắc không được bình tâm, tôi đã cho vẽ cảnh người dân tộc cùi những a chói đầy CAM với hàm ý là dân Cam Lộ như "Cà Lơ", vì trong thời gian dạy ở đó không bao giờ có phụ huynh đến thăm viếng!!! (Phụ huynh lam lũ với công việc chắc cũng ngại đến thăm!).

Khoảng năm 1961, trường cũ ngoài quốc lộ 9 chỉnh trang xong, các lớp Nhì, Nhất được chuyển ra trước, rồi mấy năm sau các lớp nhỏ mới hoàn tất.

Nhằm đáp ứng nhu cầu giảng dạy tại địa phương, bác Thái Tăng Liên lúc đó làm việc tại Ty Tiểu học, được sự chấp thuận của ông Trưởng ty Tôn Thất Dương Thanh đã hướng dẫn giúp đỡ một số người có bằng Tiểu học thụ huấn Khóa Sư phạm Cấp tốc, rồi trở thành giáo viên như các ông Thái Tăng Minh, Thái Tăng Tráng, Trần Văn Ngự, Trần Phương.

Không khí sinh hoạt tại Xóm Hoàn Thành khá nhộn nhịp, chính quyền và dân các xã thường lên Quận để giải quyết công việc; nơi đây lại tập trung quán xá và các dịch vụ, nên thường xuyên có nhiều người lui tới. Mọi chuyện diễn ra rất hiền hòa, vui vẻ, tình cảm cho đến đầu thập niên 1960, có một sự kiện chấn động gây xôn xao, lo lắng cho bà con, đó là việc "thần linh" nhập vào hai ông Nguyễn Đắc Hồng và Phạm Đình Long, rồi hộ lên. Sự việc xảy ra sau hôm đám tang thân sinh ông Nguyễn Đắc Hồng, bị các ngài quở vì quan tài đi ngang đền thờ Hội đồng mà không dừng lại, khi hộ lên, ông Hồng xưng quan Văn, anh Long là quan Võ, Tả Tướng Quân.

Mục đích khi các vị lên là muốn xây dựng lại Đền thờ Hội đồng từ lâu để hoang phế. Có một lần "Tả Tướng Quân" đã phán: "Các ngươi được ăn ngon, ngủ kỹ, nhà cao cửa rộng, trong lúc ta không có nơi nương thân, không có một chỗ để cắm nhang, âm không siêu thì làm sao dương thái được".

Sau đó, ông Trần Hữu Triếp, Xã trưởng Cam Hưng, và ông Lê Văn Xâng, Xã trưởng Cam Thái, cùng các bô lão vận động bà con đóng góp xây dựng. Đền thờ được khánh thành năm 1962 trên nền cũ trang nghiêm, bề thế, các đời Quận trưởng tỏ ra cung kính, tin tưởng, tổ chức cúng bái nghiêm túc, có năm mời cả ông Tỉnh trưởng Tôn Thất Khiên lên dự. Cứ mỗi lần như thế, "Tả Tướng quân" đều có mặt lên ngồi trên bệ thờ, được thiết lễ hoa quả hương đèn, nhưng không mảy may lay động. Không cứ là dịp cúng tế, thỉnh thoảng “Ngài” cũng hộ lên, tay cầm dao phay đi từ nhà ở bờ sông, qua Xóm Hoàn Thành đến nền Âm Hồn trước trường Trung học rồi lên Đền, cây dao này gia đình dấu rất kỹ, nhưng “Ngài” vẫn tìm ra... dáng đi nhanh, rất oai phong lẫm liệt, mỗi lần như thế, nhóm trẻ con vừa sợ, nhưng cũng tò mò chạy theo, người lớn thì lo không yên tâm! Có hôm anh Hoàng Hiệp Phố nói hỗn, “Ngài” phán trong 3 ngày sẽ chết, gia đình phải thiết lễ cầu mới được tha!. “Ngài” tiếp tục hộ như thế cho đến cuối năm 1971.

Ngôi Đền thờ Hội Đồng rất linh thiêng: Năm 1904, người Pháp làm quốc lộ 9, từ Đông Hà đi Savannakhet, khi qua đoạn này, các phương tiện cơ giới đều ngưng hoạt động, phải nhờ quý bô lão trong vùng khấn vái mới tiếp tục tiến hành được.

Sau năm 1975, Công ty vận tải Việt Lào xử dụng nơi đây làm bãi đậu xe, họ sinh hoạt bừa bãi và không tin chuyện tâm linh, nên trong vòng một năm đã có 17 người chết. Về phần anh Phạm Đình Long, có lẽ nhờ sự phù hộ che chở của Thần Linh, nên khi làm việc tại Chi Khu Cam Lộ đã hai lần thoát chết: một lần do đạn súng cối của đơn vị khi bắn bị hụt tầm và một lần pháo kích, anh đều rời khỏi phòng ngủ trước khi đạn nổ, làm một số cộng sự bị tử thương. Sau khi khu vực này được quy hoạch trở thành Chợ Ngô Đồng, không thấy có sự kiện nào xảy ra nữa. Theo một nhà ngoại cảm thì các “Ngài” đã lên ngự ở Chóp Đá Bụt.

Nhân đây cũng nên tìm hiểu để biết rõ thêm về ngôi đền này: Sau khi lên ngôi (1820), vua Minh Mạng rất quan tâm đến vùng biên cương của đất nước thuộc tỉnh Quảng Trị. Năm 1829, vua cho xây thành Vĩnh Ninh, tăng cường thêm quân lính để trấn giữ khu vực trọng yếu này. Sau đó Ngài ban chiếu chỉ cho các quan ở đây quy tập mộ chí các tử sĩ đã hy sinh từ sơn đầu đến hải khấu về táng tại Cam Lộ trên một khu vực rộng lớn phía Nam Quốc lộ 9, phía Tây Khe Bổ Ra, lên khoảng hơn 500 mét, tổng số có khoảng 7000 ngôi mộ, xây nền âm hồn ở giữa và lập Đền thờ như đã trình bày ở trên.

Năm 1960, Chi khu Cam Lộ mở đường vòng trước mặt nhằm giữ sự an toàn cho doanh trại và quy hoạch để hình thành Xóm Nam Thuận, nên nghĩa trang này phải giải tỏa, di dời lên trên phía Tây đường vào Cùa, đến năm 1967, khu vực này được làm nơi định cư của bà con quận Hướng Hóa và Trung Lương, nên phải cất bốc thêm lần nữa, hiện nay còn khoảng 300 ngôi phía Tây Nam khu vực cũ, cạnh nghĩa trang của dòng họ Nguyễn Công là họ của các quan Đại Thần gốc Phong Điền được triều đình phái ra trấn nhậm khu vực Sơn Phòng Cam Lộ.

So với các xóm của làng Cam Lộ, Hoàn Thành khiêm tốn cả về diện tích lẫn dân số, với chỉ khoảng 6 mẫu đất và 40 nóc nhà, nhưng đây là bộ mặt của làng như một xã hội thu nhỏ với nhiều thành phần và những nét biểu trưng văn hóa, giáo dục. Cũng có người ví von vùng đất này là "Địa linh nhân kiệt", vì ít ra đã có hai vị Quận trưởng (Bác Thái Hanh và bác Hoàng Đức Thạc), một Phái viên Hành chánh (bác Hoàng Thư Phái viên Hành chánh Cùa, đảm trách xây dựng tuyến giao thông Xoa - Ba Lòng), những người đầu tiên trong làng tốt nghiệp Trường Võ Bị Quốc gia Việt Nam (Anh Trần Đạo Hàm, khóa 17) và Liên trường Võ khoa Thủ Đức (Anh Thái Tăng Phương, khóa 18), các Binh chủng lớn của QL/VNCH: Không quân (anh Hàn Minh Quang), Hải quân (anh Hoàng Hiệp Phố), một số là thầy giáo cấp 3, cùng nhiều trai thanh gái lịch. Với bọn trẻ chúng tôi, ngoài việc hàng ngày cắp sách đến trường, đây là nơi được tiếp xúc với nhiều điều mới lạ: Ở trong thành, ngoài các phòng, ban của Quận Hành chánh, phía bên phải có rạp Đại Chúng, thỉnh thoảng trình diễn các loại hình nghệ thuật (sau này rạp được triệt hạ để lập Khu Dân cư). Thời đó ít có những đoàn ca nhạc, ông Quận trưởng Nguyễn Tri Kiệt là người mê hát bội, nên thỉnh thoảng mời về diễn và ông ngồi đánh trống chầu, chúng tôi không có tiền mua vé, phải đợi diễn nửa buổi, mở cửa mới vào xem hoặc lòn qua cửa sổ (cửa chớp), có đứa nhanh và khỏe dành được một chân gánh trống vào rạp (người thường xuyên được ưu tiên là anh Thái Đằng, sau này anh bị đuối nước). Các vở tuồng thường dựa vào những chuyện lịch sử như Thạch Sanh, Lý Thông, Lê Lai cứu chúa, Phạm Công Cúc Hoa hoặc có tính xã hội. Tôi còn nhớ một vở nội dung là: Bên vệ đường có tảng đá lớn, một người đi ngang dừng lại, tạc thành một cô gái rất đẹp, người thứ hai thấy vậy khoác cho cô chiếc áo và xâu chuỗi, người thứ ba dạy cô nói và tập bước đi... lúc đó thì ba người đều dành phần mình với những lập luận hợp lý. Cuối cùng phải nhờ đến quan xử và được phán rằng: Người tạo ra hình hài là Cha, người tập nói, tập đi là Thầy và người sắm áo và nữ trang là Chồng!

Ngoài ra cũng có những buổi hò đối đáp do những danh hò từ Triệu Phong, Hải Lăng lên, một thể loại thú vị, được nghe những làn điệu và lời qua tiếng lại rất lôi cuốn, cũng là lần đầu chúng tôi được xem phim: Bộ phim "Chúng tôi muốn sống" quá hấp dẫn, thấy được cảnh đấu tố trong chiến dịch Cải cách Ruộng đất ở miền Bắc. Những sinh hoạt văn hóa như thế mang đậm nét giáo dục quần chúng, khắc sâu vào đầu óc non nớt của chúng tôi, có thể đó là duyên khởi để sau này tôi say mê tìm tòi những câu hò đối đáp, văn học dân gian..

Một nơi thú vị khác là tiệm xe đạp của bác Thợ Huỳnh, ngoài việc sửa chữa và bán phụ tùng xe, bác còn có dịch vụ cho thuê, cứ một giờ hai đồng, chúng tôi thường thuê xe để tập, hai đứa một chiếc rồi kiếm những vồng khoai ở khu vực Khóa Vuông xóm Tây Hòa để tập, đạp xe giữa hai vồng khoai bảo đảm không bao giờ bị ngã. Một niềm vui khác, cứ đến ngày Chợ Phiên, sau buổi học sáng, rủ nhau tập trung trước quán ăn Bà Thanh, chờ Ô Tô Ca của "Eng Đa, Eng Mới" lên đón khách, dừng lại cho bọn tôi lên, ngồi trên xe nhìn mấy đứa đi bộ, tay ngoắt ngoắt rất oai, chẳng cảm thấy mệt khi phải đi bộ từ chợ lên nhà!

Một khu vực lưu dấu nhiều kỷ niệm là Nghè Ông, cạnh trường ở đây thoáng mát, nhiều cây cao, tán rộng là nơi các chú bán cà rem, kẹo kéo đứng đợi trong giờ ra chơi hoặc trước giờ học buổi chiều, bàn kẹo kéo có gắn tấm bảng tròn ghi từ số 0 đến số 9 và mũi tên để quay, cứ trúng số bao nhiêu thì được bấy nhiêu khúc kẹo, vẫn biết cũng từ một khúc kéo dài ra, nhưng rất thú vị khi ngắm tay chú ngắt từng khúc thật điêu luyện, chỗ này cũng có cây hạt dót, trái to bằng hạt sầu đông, màu vàng rất ngọt, số nữ sinh thường đi quanh gốc để lượm.

Khoảng cách từ nhà lên trường không xa lắm, buổi trưa về nhà ăn nghỉ rồi đi học lại thoải mái, nhưng một số nam sinh cũng như nữ sinh, xin ba mạ bơi cơm ở lại... Con trai rủ nhau qua chùa An Thái hái xoài, loại xoài cơm trái nhỏ không ngọt lắm, nhưng chủ yếu lấy hạt làm đồ chơi! Thỉnh thoảng có đứa nghịch ngợm dộng chuông, mấy đứa trên cây tụt xuống chạy không kịp thở. Trong chùa trước Chánh điện có hai bức tượng, một ông mập không mặc áo phô chiếc bụng bự, một ông ốm tong teo, khoác áo sặc sỡ, bọn tôi nói một ông nhịn ăn mà mặc, một ông nhịn mặc mà ăn! Nhóm con gái thì qua nhà bạn bên kia sông để kiếm các loại trái cây theo mùa hoặc cùng nhau lên Phước Tuyền xem đúc đồng!

Đa số học sinh từ các xóm phía dưới hoặc các làng thuộc xã Cam Thái, Cam Hưng, Cam Hiếu, gia đình nông nghiệp, kinh tế khó khăn, nhưng khi đi học chơi chung với các bạn ở xóm Hoàn Thành rất thân tình hòa nhã, cuối tuần các bạn ở đây còn rủ nhau qua An Mỹ hái dâu tiên nữa! Một số cùng sinh hoạt trong Gia Đình Phật tử, nên càng gắn bó hơn.

Thế hệ này tiếp nối thế hệ khác, cùng lớn lên, tạo nên không khí rộn ràng, năng động và như những chú chim đã đủ lông đủ cánh bay đi theo đường riêng của mình. Xóm nhỏ không đông nhưng sinh sản nhiều khuôn mặt với nhiều đặc trưng rất đa dạng, mỗi người một vẻ. Hoài bão cho một ngày mai ai cũng giữ kín trong lòng và sau này khi đã bay nhảy vào đời mới vỡ lẽ! Tuy nhiên, không phải khung trời nào cũng êm ả! Chiến tranh đã tác động toàn diện vào đời sống người dân, những tưởng chỉ quân nhân ngày đêm đối mặt với hiểm nguy của chiến trận, người dân cũng đã gánh chịu tai ương bom đạn ập xuống.

Tết Mậu Thân 1968, Chi khu Cam Lộ bị tấn công, hàng loạt đạn pháo rơi vào Xóm Hoàn Thành, trúng nhà chị Thái Thị Yến, làm em ruột chị là TTV bị thương nặng, phải đưa ra hạm đội điều trị giải phẫu, cuối cùng bị thương tật. Cứ nghĩ như vậy đã được giải nghiệp, không ngờ câu chuyện "Thiếu phụ Nam Xương" tái hiện, lúc tuổi đời còn rất trẻ, chị phải ra đi trong oan nghiệt thảm khốc! Rồi như quy luật muôn đời "hồng nhan đa truân", người đẹp trôi lăn theo dòng đời với tình duyên khập khiễng: HMC có mối tình lãng mạn và chân thành cùng một chàng trai trong làng, nhưng dưới quan niệm thực dụng của gia đình, nên phải kết hôn với một người mình không yêu thương, mang tâm trạng của TTKH! Sau 1975, người chồng vượt biên, người yêu bị đi tù, không thể chống chọi giữa muôn vàn khó khăn, MC phải tìm một bờ vai để nương tựa.. Người yêu ra tù tìm đến như muốn chắp lại duyên xưa, nhưng đã muộn, đành phải tự đi xây dựng cuộc sống cho mình. Mùa Xuân năm 2009, tôi đã sắp xếp để hai người có cuộc gặp gỡ nhân lễ đính hôn của con trai tôi ở Saigon. Thoáng bất ngờ, không thể diễn tả hết niềm hạnh phúc của họ như thế nào! Rồi ai cũng phải trở về thực tại với gia đình... Ngày 17/7/2017, nhận tin TVT qua đời, tôi gọi về thông báo, MC thảng thốt cảm động và kể: “Khuya nay trong giấc ngủ chập chờn Em đã hai lần nghe Anh ấy gọi tên Em!”.

Cuối năm 2019 trong lần về quê, ngày 23 tháng 11 tôi được dịp dự đám tang HMC, tang lễ đơn giản mà ấm cúng, trong lần nói chuyện lúc đã trở bệnh nặng, MC chia sẻ có niềm an ủi là đã lo cho các con học hành đến nơi đến chốn và cả 4 đứa con gái đều yên bề gia thất, chỉ có một ngậm ngùi tiếc nuối là không được một lần trở lại quê, nơi đó biết bao là kỷ niệm! Buổi chiều sau đám tang, tôi qua Quận 2 thắp hương cho TVT, câu đầu tiên thím Xuyên hỏi tôi là anh có biết cô MC bây giờ đang ở đâu không, tôi trình bày lại mọi chuyện hồi sáng, rồi thím kể: "Anh V không dấu tôi bất cứ chuyện gì, còn cho tôi xem hình ảnh chụp chung hôm đám hỏi con Anh. Tôi biết Anh ấy luôn yêu thương MC".

Bây giờ thì cả hai đều thanh thản ra đi để lại mối tình đẹp trong lòng mọi người! Biết rằng cuộc đời là vô thường, nhưng để chấp nhận nó một cách bình thường thật là khó!

Năm 1972, chịu chung số phận của toàn miền, xóm Hoàn Thành đã tan tác, mỗi người một hướng khắp miền Nam, sau này ra hải ngoại nữa!  Khi hòa bình lập lại, chỉ độc nhất gia đình chị Thanh Mỹ trở về, tên xóm cũng mất luôn, không ai nhắc đến nữa! Có lẽ vì sự mất mát đó nên những người trong xóm dù ở phương trời nào cũng cảm thấy gần gũi, gắn bó với nhau!

Từ khi hình thành đến lúc biến mất, xóm không có bất cứ tài liệu nào, mọi chuyện được ghi lại hôm nay qua nhân chứng sống thuộc nhiều thế hệ với một cố gắng tập hợp được chừng nào hay chừng đó, những sự kiện như là một lưu dấu kỷ niệm cho những người đã từng sinh sống trên mảnh đất này và những thế hệ sau biết rằng đã một thời tổ tiên mình đã hiện hữu nơi đây với những ràng buộc sinh hoạt như thế.


Ngày 10/4/2026, tác giả (thứ hai từ trái sang) gặp bà con Cam Lộ



(Chú thích: Bài viết được hoàn thành nhờ sự góp ý và cung cấp dữ kiện của nhiều người: ông Thái Phồn, ông Trần Minh, ông Nguyễn Công Bá, ông Phạm Văn Trung, anh Phạm Đình Long, anh Hàn Minh Quang, anh Bành Phi Lân, anh Thái Thịnh, chị Phùng Thị Kiều, chị Thái Thị Thanh Mỹ... Xin cám ơn tất cả)

Lê văn Trạch

(26 tháng 9, 2020)

Nguồn: 

trachcamlo.blogspot.com

READ MORE - XÓM HOÀN THÀNH - LÀNG CAM LỘ - Lê văn Trạch

Monday, May 4, 2026

CÔ KIM SA - Lê Văn Trạch



 CÔ KIM SA

 

Cô Trương Thị Kim Sa sinh quán tại Huế, năm 21 tuổi, đến Trường Nguyễn Hoàng và chỉ một niên khóa, Cô trở lại quê dạy Trường Kiểu Mẫu. Hình như Cô là vị nữ giáo sư tốt nghiệp đại học sư phạm toán đầu tiên của Trường Nguyễn Hoàng, do vậy khi đáo nhận nhiệm sở, Cô được phân công phụ trách dạy toán lớp đệ nhị của tất cả các ban. Tiểu sử của Cô chỉ có thế, thoắt đến, thoắt đi, không để lại dấu ấn cụ thể nào cho Trường cũ. Theo dõi sách báo Nguyễn Hoàng xuất bản 10 năm trở lại đây, không thấy nhắc đến tên Cô. Có thể nói Cô là một giáo sư ít được biết đến và nhớ!

Cô phụ trách lớp chúng tôi mỗi tuần chỉ có một giờ, thời điểm đó lại bãi khóa liên miên, nên cộng lại cả năm học chẳng có là bao, bởi thế vài bạn "quậy" trong lớp ví von rằng môn Toán đối với Ban C chúng ta cứ như là một loại "mỹ phẩm" trang điểm cho cuộc đời học trò ... 

Vào một ngày trong tuần lễ đầu tiên của năm học 1964 - 1965, sau khi chúng tôi đã vào chỗ, từ cửa chính, một cô giáo rất trẻ, trong chiếc áo dài lửng màu tím nhạt, mang kính trắng nhẹ nhàng bước vào. Sau khi bỏ chiếc cặp trên bàn, Cô nhìn xuống, có thể để chuẩn bị cất lời chào, cùng lúc ấy, từ cuối lớp, nhiều tiếng cười nổi lên rồi lan rộng ra. Cô bình thản hỏi: Các anh chị cười xong chưa? Người nào cười giỏi nhất lên đây cười thi với Cô. Cả lớp đột nhiên im phăng phắc và từ đó không bao giờ có tình trạng như thế xảy ra nữa . Tôi chăm chú nhìn Cô, hình như sau vóc dáng mảnh khảnh trẻ trung của một cô giáo mới ra trường, đang tiềm ẩn phong thái an nhiên tự tại đầy ắp bản lãnh và sự tự tin!?

Ngày tháng sau đó là những giờ học nghiêm túc, mặc dầu thời khóa khiêm tốn, nhưng Cô có cách để chúng tôi hiểu được bài học, thông cảm và rất thương học trò, chả thế mà có lần Nguyễn Ngọc Hùng trong kỳ thi Lục cá nguyệt, thay vì làm toán, anh lại làm thơ, Cô vẫn cho điểm trung bình.

 Rời trường, lăn lộn với cuộc đời, thường xuyên đối mặt với bao điều bất trắc, ít có lúc nghĩ đến những ngày tháng trên sân trường, bạn học mỗi người một ngả, chỉ thoáng gặp nơi nào đó, không có thì giờ và điều kiện để nhắc nhở tâm sự.

Sau cuộc chiến, chính những lúc ở trong trại giam, đầu óc mới rảnh rỗi, tự do để nhớ ra và tìm lại những chuyện đã qua, khi ý tưởng dừng lại ở trường xưa, ngoài khuôn mặt của một số bạn thân tình, lạ thay, bóng dáng Cô Kim Sa lại xuất hiện, vẫn vóc dáng và phong cách ấy. Ngoài kia, mọi người đang khốn khó, lo lắng đủ điều, Cô Giáo mình sống ra sao, tự nhiên tôi nghĩ dù ở trong môi trường nào, Cô cũng có cách sống riêng, biết cách xoay sở để hòa nhập ...bỗng dưng trong tôi hình thành một tâm nguyện: Như thế nào đó để một lần được gặp Cô.

Ý nguyện này càng lớn mạnh khi ra nước ngoài: Trong những lần hội ngộ hay qua sách báo, có dịp là hỏi: Cô đang ở đâu? Trong hay ngoài nước, nhưng không có câu trả lời. Mãi cho đến năm 2009, có người mách bảo đã thấy Cô ở Houston trong Lễ Hội Quan Âm tại chùa Việt Nam và hình như Cô đang làm Phật sự tại đây, nhưng khi liên lạc được với chùa thì Cô không còn ở đây nữa!

Cuộc tìm kiếm tiếp tục, lần này tôi nhờ Quý Thầy sinh hoạt trong Hội Quốc Học Đồng Khánh và Quý Cô Giáo Nguyễn Hoàng, cuối cùng Cô Phan Thị Lan, người dạy tôi những năm Đệ Lục, Đệ Ngũ đã cho số điện thoại ...

Một ngày giữa năm 2010, vừa bấm số, tay vừa run với nhiều cảm giác xen lẫn, bởi vì biết mình sắp có phút giây đặc biệt, điểm đến của ước nguyện . Lời đầu tiên, chưa kịp chào, tôi buột miệng: "Thưa Cô, em tìm Cô bao nhiêu năm nay."  Cô ngạc nhiên, im lặng, nghe trình bày ...

Mười mấy năm dạy học, với hàng ngàn học trò ... nhưng khi nghe nhắc đến những sự kiện, những khuôn mặt ngỗ nghịch trong một lớp chỉ có ba mươi mấy học sinh, với mấy mươi giờ phụ trách làm cô xúc động !

Lần tiếp xúc đầu tiên ấy đã khai mở cho quan hệ thân tình sau này, những lúc rảnh rỗi hay đang dừng chân ở một sân bay nào đó, Cô lại gọi . Cô bảo là ít khi nói chuyện với ai lâu, nhưng với Em, lắm lúc lại sa đà vào câu chuyện và chia sẻ nhiều điều mà không phải với ai Cô cũng bày tỏ . Dần dần những băn khoăn của tôi được sáng tỏ: hình như Cô đã vạch ra cho mình những tiêu chí về cuộc sống, cân nhắc hình thành một phương trình, cứ theo đó mà đi trên căn bản nhân sinh quan, lấy đạo lý nhân bản và chủ quyền làm trọng, bởi thế khi thấy cuộc đời manh nha chuyển qua giai đoạn " chênh vênh, khập khiễng " Cô đã quyết định làm Người Mẹ độc thân và mang hai đứa con còn rất nhỏ vượt biên, đó là động thái có tính cách đánh đổi để có được sự tự do trong cuộc sống và cũng là thái độ bảo vệ nét đặc thù của mình mặc dầu Cô phải trải qua thời gian dài gặp muôn vàn khó khăn để hội nhập . Cũng từ đó, Cô chú tâm nghiên cứu và tu tập Phật Pháp, lấy giáo lý Đạo Phật để chiêm nghiệm và đối chiếu với cuộc đời của mình và ngộ ra một điều: Những oan trái gặp phải là những điều phải đến trong một kiếp người bởi đó là một chuỗi diễn tiến của Nghiệp lực và Nhân quả, phải biết nhận diện khổ đau, xuyên qua nó để có những phút giây an lạc trong giờ phút hiện tại, luôn phải tỉnh thức để có chánh niệm . Cô chia sẻ năng lượng ấy cho những người chung quanh bằng những việc làm thiết thực, dành nhiều thời gian cho công tác từ thiện hoặc tâm tình với Quý Thầy Cô giáo cũ của Cô, tuổi già đang cần tâm sự, chia sẻ . Cô kể rằng có vị Thầy rất mê đá banh, nên phải tìm hiểu qua tài liệu và bạn bè để có thể tường trình World Cup cho Thầy nghe.

Cô đang có cuộc sống thật bình dị tại thành phố biển, miền Nam nước Mỹ để chăm sóc cháu và chăm sóc Thân Tâm mình, lý giải cho cuộc tiếp xúc này, Cô nửa đùa nửa thật : Có lẽ ở một kiếp nào đó Cô - Trò ta đã quen biết, những giờ phút ngắn ngủi ở Trường Nguyễn Hoàng là tín hiệu để sau này nhận diện khi đủ duyên, tâm nguyện của Em được hình thành bởi khi Em khởi điều ấy ra với cả tấm lòng thiết tha thì cũng như đã tạo một nhân lành để hôm nay gặt quả tốt ... Tôi kiểm chứng và đối chiếu với bản thân: Điều này cũng đã xảy ra với một Cô Giáo Đệ Nhất Cấp và một phụ nữ khác - vợ người bạn tù - ngày trước là Giáo Viên, đã xin đi kinh tế mới gần trại giam và tình nguyện chăn bò để thỉnh thoảng nhìn thấy chồng hoặc tiếp tế khoai sắn cho chúng tôi . Tôi đã tìm gặp, ở một tiểu bang xa xôi miền Đông nước Mỹ.

Chưa có dịp được gặp, những lúc có điều gì vui, Cô lại gọi. Đó là thời điểm thật an lạc. Cuộc đối thoại thật tự nhiên. Chúng tôi đề cập đến nhiều vấn đề. Cô nói đó là những bổ sung nhận thức.

Trên bục giảng, Quý Thầy Cô đã trao truyền cho chúng ta kiến thức cần thiết như là hành trang vào đời, nhưng có những điều không ghi trong bài học, tùy mỗi người cảm nhận, bắt gặp và giữ lấy từ phong thái và cách ứng xử của Thầy Cô nào đó, không hẳn vị ấy là Giáo sư Cố vấn hay dạy những môn chính. Tôi trình bày điều này với vị Thầy dạy Đệ Lục với ngôn ngữ thực tế rằng: Em đã "học lóm" ở Thầy nhiều điều bổ ích khi ứng phó với những rắc rối gặp phải . Chữ nghĩa thu thập được ở nhà trường đã tiêu hóa, hòa tan trong bể tích lũy kiến thức, không thể nhận biết, nhưng bản tính và phong cách của Quý Thầy Cô đôi khi hiện ra rất rõ và có ảnh hưởng, tác động nhất định.

Xin cảm ơn Cô Kim Sa về cuộc trùng phùng với những trao đổi bổ ích. Bước chân Cô đã trải trên những “dặm dài nhân thế” đầy cay đắng và bất trắc, nhưng bằng nghị lực và niềm tin Tôn giáo, Cô đã đi qua một cách bình thản mà không phải người phụ nữ nào cũng làm được . Đó là món quà thiết thực quý báu em nhận được sau bao năm băn khoăn, thắc mắc tìm kiếm. Giờ đây, lòng em thật thanh thản .

Một lời - có thể là thừa - nhưng em xin cầu nguyện cô có được tất cả sự bình an trong những ngày cuối đời .

 

Memphis TN, tháng 7 / 2011

Học trò Lê Văn Trạch

le.trach@yahoo.com

http://trachcamlo.blogspot.com

 

READ MORE - CÔ KIM SA - Lê Văn Trạch

Monday, October 28, 2024

CHUYỆN TRẦU CAU - Lê Văn Trạch

 


Chuyện Trầu Cau

Lê Văn Trạch

 

Có những lúc ngồi tán gẫu với đồng môn hoặc thân hữu, tôi thường bộc bạch rằng cái thời ở ghế nhà trường, tôi rất... nhát gái! Vài người không tin... Chả thế mà khi nhận “lá thư nhỏ”, tôi được kèm thêm một lời nhắn là: “Có bao nhiêu mối tình bấy lâu chôn chặt đây là lúc huynh phải thổ lộ ra, chứ bây giờ như cây đèn trước gió chưa biết tắt lúc nào, lỡ mang xuống tuyền đài thì uổng lắm”. Ngay cả Thầy LHT, người dẫn dắt tôi “trên mọi nẻo đường” cho đến hôm nay, cũng đã bảo: “Những người muôn năm cũ đâu, cho Thầy biết địa chỉ để gởi báo đến...” Có ai biết đâu rằng hồi đó ở lớp tôi chỉ là cái bóng mờ, lâu ngày phai nhạt biến mất trong trí nhớ mọi người: lần hội ngộ Nguyễn Hoàng tại Santa Ana, đến chào người bạn ngồi với nhau mấy năm ở Đệ Nhị Cấp anh ngớ người ra!... Một người khác trong bài điểm danh nhân vật cùng lớp, tên tôi cũng lọt sổ! Có lần trên đường thiên lý gặp một đồng môn bảo rằng: “You nói là trọ học tại Góc Bầu, ngày nào cũng đi qua Cửa Tả, sao không biết tui.” Tôi thành thật trả lời rằng: “Tôi biết giang sơn của chị ở khu vực ấy và trong nhà chị có đến mấy người đẹp, nhưng tôi ra khỏi cửa là đường ngay ngõ thẳng mà bước, chẳng dám nhìn ngang ngó dọc!” Và có lẽ mấy câu thơ của anh bạn viết tặng sau ngày rời trường đã nói lên hết những điều ấy:  xảy ra ở nước ngoài hay những thành phố phía Nam. Không có điều kiện tham dự nhưng qua lời kể lại hoặc đọc nhiều bài viết tôi cảm nhận một cách trọn vẹn giờ phút hiếm có linh thiêng ấy. Mỗi người tùy ở góc độ của mình có những cái nhìn khác nhau để ghi nhận và trình bày..., bài viết Nhật Ký Một Chuyến Về của Liên Hưng đã tạo một cuốn hút mãnh liệt và theo tôi đó là bài tiêu biểu: không để ý nhiều đến những tưng bừng của ngày hội mà bằng quan sát kỹ lưỡng hòa với sự cảm nhận bén nhạy trước những sự kiện nhỏ nhặt, người viết đã đi vào mọi góc cạnh, bao quát mà tỉ mỉ, nhiều khuôn mặt nhưng là những tâm trạng riêng lẻ, ngôn ngữ như nguồn nước ở mạch ngầm bùng vỡ trào ra... quá khứ được mang về trọn vẹn và sống sâu sắc với nó trong khoảnh khắc hiện tại bằng tất cả sự đam mê nồng nhiệt hồn nhiên của một thời học trò, không bận tâm hệ luỵ với những ràng buộc giới hạn đời thường. Nó biểu hiện tài năng - bản lĩnh - đáo để của người viết... Hương vị và dư âm vẫn còn nhưng sự kiện được trả lại cho quá khứ để bước đi những bước hôm nay.

Có người không xem quá khứ là một thứ đồ cổ, có dịp đem ra phủi bụi, nhìn ngắm, xong rồi để ngay ngắn vào tủ kiếng mà chiêm ngưỡng, đằng này lại níu kéo, khư khư giữ lại như một kẻ muốn “ăn mày dĩ vãng,” cộng thêm tính bảo thủ cực đoan của phía đối tác nên nhiều sự cố đã xảy ra: Có người bị “chớp đèn” ngay tại hiện trường, người khác bị ticket mang bản án lưu đày, một anh phó nhòm hăng say ghi hình kỷ niệm cũng bị tai tiếng và trầm trọng hơn có một đấng tu mi nam tử không chịu nổi những tiếng điện thoại reo đã thẳng thừng tuyên bố một mất một còn...!

Bằng những góp ý và thực tế xảy ra tôi âm thầm rút lại lời đề nghị với nhiều tiếc nuối nhưng vẫn bảo lưu ý kiến cá nhân... Bởi vì ở cái thời “nhụy hoa và ong bướm” nếu không thể hiện được giữa thanh thiên bạch nhật, hiên ngang sánh vai nhau dưới những lối mòn rợp bóng, đường trăng Thạch Hãn, bên những bờ ruộng của cánh đồng Hạnh Hoa bát ngát, hoặc tình tứ hơn đèo nhau trên phố Gia Long, qua Nhan Biều, lên Tích Tường Như Lệ, thì cũng có những lén lút liếc nhìn, ngại ngùng trao thư, hay đơn phương mang một bóng hình nào đó mà trằn trọc, cùng lắm như anh bạn tôi đêm đêm cầu nguyện vì đã yêu thầm một cô giáo. Thành ra tôi vẫn viết chuyện của mình, nhưng xin quý vị chớ nhìn đầu để mà tưởng bở, nó chẳng tròn trịa và nồng thắm gì đâu và chắc rằng những huynh-đệ-tỷ-muội lịch lãm tình trường chẳng tìm thấy mảy may xác suất yêu nào trong đó!!!

Qua năm đệ nhị tôi từ bỏ công việc dạy kèm cho một em lớp Đệ Thất ở khu vực Góc Bầu, về trọ nhà người quen sau chùa Tỉnh Hội, một xóm nhỏ chật chội, nên có dịp men theo con đường sát hông chùa để thoát ra ngoài. Thông thường thì cứ vài ba tuần tôi lên nhà một lần để lấy tiền ăn và thăm bà nội, những Thứ Bảy, Chủ Nhật ở lại sau buổi trưa thường lang thang dọc theo bờ sông lên đến đường Nguyễn Hoàng rẻ vào Trần Hưng Đạo, ghé những tiệm sách và cuối cùng vào phòng trọ của người bạn ở ngã ba Lê Văn Duyệt ngồi nói chuyện tào lao một lúc về đến nhà vừa kịp bữa ăn tối.

Bến đò ngang với Chợ Quảng Trị thời khắc tôi đi qua rất tấp nập, bà con hối hả vận chuyển hàng hóa xuống thuyền, đủ mọi âm thanh được nghe và nhiều màu sắc trang phục pha lẫn tạo cho bến đò một khung cảnh rất náo nhiệt... Qua nhiều buổi như thế tôi để ý thấy cách đó một khoảng dưới gốc cây phượng có cô gái đứng đợi, chẳng có vẻ gì là nôn nóng, đang thản nhiên để tầm mắt bâng quơ và chờ lúc vắng khách mới xuống thuyền... Bên cạnh là đôi quang gánh được úp lồng vào nhau một cách gọn ghẽ mà không có hàng hóa gì. Đôi quang gánh là một dụng cụ đặc biệt hình như được tạo ra để phục vụ cho công việc nào đó và cho một lứa tuổi nào đó sử dụng. Chiếc đòn gánh mảnh mai được đẽo gọt chưa đến một nửa thanh tre như thông thường, đôi gióng lửng vừa tầm, trên đầu được thắt  với dáng nét hoa văn rất độc đáo và bốn thứ được đặt trong đó không thể gọi bằng tên chính xác nào, nó là hình dạng giữa sàng và rổ sưa, giữa trẹt và mủng! Tất cả đều cùng một màu cánh gián, có thể đã được để trên giàn bếp lâu ngày... Cứ mỗi lần sắp đến bến từ xa tôi đi chậm lại quan sát, hình như cô ta chỉ mặc màu trắng hoặc màu trứng sáo bằng vải phin được cắt may rất khéo ôm gọn vào người, nhiều lần dợm dừng chân nhưng ngại ngùng rồi cất bước vì chưa tìm được lý do nào để tiếp cận! Cho đến một hôm nàng trở thế đứng và bắt gặp cái nhìn của tôi, không bỏ lỡ cơ hội hiếm có tôi bước lên lề đường..

- Đợi đò về đâu vậy?

Cô ta không trả lời mà đưa tay chỉ phía bên kia bờ sông chếch về hướng nam của Chùa Tỉnh Hội, tôi hiểu đó là làng Xuân An.

- Sao không thấy mua gì cả? - Tui chỉ bán thôi chứ không mua.

Và để như giải thích cho câu nói ấy cô ta bảo:

- Đây là công việc hằng ngày của mạ tui, tui chỉ phụ cuối tuần, những gì cần thiết bà mua rồi.

Tôi bắt đầu mở câu nói muôn thủa của con trai con gái lần đầu gặp:

- Tui nhìn cô quen quen, hình như thấy ở đâu đó.

Ngẫm nghĩ một lúc cô ta bảo:

- Có lẽ ông thấy ở trường Nguyễn Hoàng, tôi đang học lớp Đệ Tam A.

Tôi cũng cho cô ta biết về lớp học của mình và vừa lúc đó có người kêu xuống thuyền để về chuyến cuối, cô xách quang gánh đi mà chẳng chào hỏi gì. Tôi được biết tên nàng là Hà. Chiếc thuyền máy chở chưa được mười người rẽ sóng băng qua sông, tôi ngẩn ngơ nhìn theo một lúc rồi tiếp tục lộ trình của mình trong lòng còn tiếc rẻ là chưa hỏi được những điều cần thiết... Suốt tuần lễ ở sân trường đến giờ ra chơi, léng phéng gần khu vực lớp Đệ Tam nhưng không thấy nàng đâu cả, tự nhiên có một cảm giác bồn chồn ngóng đợi! Ngày Thứ Bảy ăn trưa xong tôi tìm cuổn sách đem trả cho người bạn rồi ra khỏi nhà, không còn thong thả bước như những lần trước. Đến nơi đã thấy nàng đứng ở đó, lần này thì bạo dạn hơn..

- Hôm nay cô Hà ra sớm vậy? - Sao ông biết tên tui? - Thì hôm trước nghe người ta kêu!

Tôi kể cho Hà nghe là trong mấy ngày qua, có ý kiếm nàng ở trường nhưng không thấy, Hà nói đến giờ nghỉ thường chơi với mấy đứa bạn cùng làng ở khu vực lớp Đệ Tứ.

- Lần trước tôi chưa kịp hỏi Hà đi chợ bán thứ gì. - Tui bán cau trầu. Mấy ngày này mạ tui ở nhà chuẩn bị hàng, đi mua hoặc dặn ở những làng lân cận, đôi triêng gióng này ba tui thắt để riêng tui sử dụng.

- À ra thế, hàng bán có dễ không? - Mau lắm, vì phần nhiều là bán sỉ, khách quen của mạ tui.

Câu chuyện tiếp tục chưa đến trong vòng một tiếng thì Hà phải xuống đò. Như thế là tôi đã nắm được một cách khái quát về công việc của nàng.

Cuộc gặp gỡ trở thành thông lệ nhưng thời gian kéo dài hơn và cái lịch về quê của tôi cũng thay đổi: mỗi tháng một lần chỉ trong ngày Thứ Bảy. Chúng tôi cảm thấy tự nhiên và nội dung câu chuyện bắt đầu đì vòng vòng. Hà bảo tôi là tuyệt đối không đến tìm ở sân trường vì sợ bạn bè chọc hoặc về méc mạ.

- Vậy đứng ở đây thì sao? - Ngoài chợ, ngoài đường!... A nè, Tui thấy mấy ông ban C đi đâu cũng cầm theo cuốn sách, làm ra vẻ ta đây! Thấy mà phát ghét!

 

- Thì bọn tui thích đọc, Hà không thích sao? - Chỉ đọc sơ sơ như Phổ Thông Thời Nay. - Có khi nào đọc truyện không? - Rất ít, tại không có thì giờ vả lại đôi khi cảm thấy rắc rối nhức đầu!

- Còn thơ thì sao, nhiều bài thơ tiền chiến hay lắm. - Cũng có, nhưng chỉ thích những bài có vần có điệu.

Hà kể là một lần đến nhà người bạn chơi, nghe mấy ông cùng lớp của anh trai bạn nói chuyện Thơ Văn mà chẳng biết mấy ông nói gì... Cái chi mà mặt trời lấy mặt trăng rồi đâm nổ mặt trời...!

Tôi hứa là sẽ chép tặng Hà một tập thơ theo sở thích của nàng đặc biệt là Thơ Nguyên Sa mà tôi rất tâm đắc nhưng tự nhủ lòng là sẽ không đưa bài thơ trong đó ông ví người yêu với chó-mèo và cá ươn! Tôi kiếm những tờ pelure đủ màu, chọn bìa và đóng tập bằng mấy sợi len, định viết là Thơ Tình nhưng sau chỉ để chữ thơ và ba chấm, ở dưới đề tặng Bích Hà.

Cuộc gặp gỡ một tuần hai lần ngắn ngủi như thế được kéo dài thỉnh thoảng gián đoạn vì thời tiết cho hết năm học, qua niên học mới tôi không còn thấy Hà đứng đợi ở góc cây nữa. Một hôm trong giờ ra chơi tôi nhận được miếng giấy do cô gái lạ mang lại trong đó Hà cho biết là bây giờ khỏi phải đi bán trầu cau, cám ơn về tập thơ và lập lại lời dặn ban đầu là không được gặp nàng trong trường.

Giữa tôi và Hà xem ra chưa hình thành một điều gì cả nhưng sự ra đi tự nhiên tạo ra một trống vắng xao xuyến bần thần!

Câu chuyện xảy ra đầu đuôi chỉ có như thế, nếu như hồi đó tôi cứ liều mạng đến ngay lớp tìm Hà thì chắc là đã có nhiều điều thú vị xảy ra. Kinh nghiệm cuộc sống cho thấy hãy chớp lấy thời cơ đừng có thụt rò thụt ếc! Cơ hội tới là chụp ngay không rồi ân hận suốt đời! Như tôi - đến lúc nửa đời nhìn lại, vốn liếng tình yêu trong tay chẳng có là bao để ngậm ngùi: Có  một thời để... tiếc...!

Còn chuyện thời nay, lý do có người không tin cái phút nói thật về thời dĩ vãng, lại là chuyện khác xin hứa sẽ kể bên tách café ở một nơi nào đó!!!

Lê Văn Trạch

READ MORE - CHUYỆN TRẦU CAU - Lê Văn Trạch