Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, September 13, 2023

TRĂNG TRONG THƠ NGÃ DU TỬ - Châu Thạch


Châu Thạch và Ngã Du Tử

Trung thu sắp đến, thơ viết về trăng chắc sẽ nhiều. Đêm nay tôi nhìn trăng trong thơ người bạn vong niên của mình, nhà thơ Ngã Du Tử. Hình như tôi đã từng lạc dưới bầu trời trăng của biết bao nhiêu thi sĩ xưa và nay, để thắm thiết, để mê ly, để bay cao vào vùng trời vô biên tuyệt sắc. Đêm nay tôi bước vào vườn thơ trăng của Ngã Du Tử, nhưng tôi chỉ lướt qua bởi trí óc đã già, thời gian lại ít. Tuy thế những cảm xúc trong lòng tôi thật vô cùng.
 
Tôi viết những cảm xúc nầy như viết trong mơ, mong rằng viết trong mơ là ảo ảnh, nhưng ảo ảnh kể lại sẽ làm vui cho người tỉnh ngủ.
Đầu tiên xin đi vào từng khổ thơ của giấc mơ tôi.
 
Đó là bài thơ YÊU TRĂNG của Ngã Du Tử:
 
Lỡ đã hẹn cùng Trăng nên suốt đời yêu mến
Em có lúc lờ mờ hư ảo, lúc sáng trong          
Khi nhạt nhòa bị vần vũ mây giăng
Tôi yêu trăng nên yêu cả em Hằng

Đọc thơ ta biết mối tình trăng của Ngã Du Tử có duyên từ kiếp trước nên kiếp này dầu trăng sáng, trăng mờ hay trăng nhạt nhoà vì bị mây vần vũ thì nhà thơ vẫn yêu trăng. Tác giả thổ lộ “Tôi yêu trăng nên yêu cả em Hằng”. Chữ Hằng viết hoa có thể là tên của những cô gái trần gian có tên Hằng, hay cũng có thế tác giả đã hư cấu vầng trăng thành một mỹ nhân. Vậy mở đầu bài thơ ta đã thấy trí tưởng tượng của tác giả là vô cùng.
Khổ thơ thứ 2:
 
Có lẽ trên cao em vén mây nhìn xuống
Cho rõ người - tha thiết với trăng
Tôi xa quá và em cùng xa quá
Nên cả đời mường tượng mắt môi xinh
 
Sự tưởng tượng của một tâm hồn lảng mạn vượt trên sự thật rất cao. Nhà thơ đã “Hồn bướm mơ Tiên”, thấy cả trăng vén mây nhìn mình và chính mình mường tượng mắt môi trăng. Hình tượng trăng trong thơ Hàn Mạc Tử là nỗi đau: “Ta nhớ mình trăng thương đứt ruột/ Gió làm nên tội buổi chia phôi”. Ngược lại hình tượng trăng trong thơ Ngã Du Tử là thân ái, tuy xa mà gần tuy gần mà xa: “Có lẽ trên cao em vén mây nhìn xuống/ Cho rõ người - tha thiết với trăng.”
Khổ thơ thứ 3:
 
Lúc trăng thanh sao em mãi vô tình
Tôi kiêu hãnh giữ tình em đơn chiếc
Có thể tôi vô tình chưa khi nào biết
Lúc sáng trưng em tỏa sáng chỗ tôi ngồi
 
Cũng như Hàn Mạc Tử, Nhà thơ Ngã Du Tử đã nhân cách hoá trăng thành người tình, nhưng trăng của Hàn Mạc Tử gợi lên thứ tình lả lơi, dục vọng: “Trăng nằm sóng soải trên cành liễu/ Đợi gió đông về để lả lơi” / “Ô kia bóng nguyệt trần truồng tắm/lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe”. Ngược lại trăng của Ngã Du Tử có thứ tình yêu tinh tuyền ngây thơ, quyến luyến, dễ thương: “Có thể tôi vô tình chưa khi nào biết/ Lúc sáng trưng em toả sáng chỗ tôi ngồi”.
Khổ thư thứ 4:
 
Đã một lần tính xách cung bắn em rơi
Nhưng nghĩ lại trần gian thiếu em buồn biết mấy
Hình như lần trăng ấy
Mắt buồn so và ánh sáng mờ mờ
 
Ngày xưa có chuyện Hậu Nghệ bắn rơi chín mặt trời chớ chưa có chuyện ai bắn trăng khi nào. Ngày nay Ngã Du Tử bắn trăng nhưng cuối cùng không bắn. Đó là một ý thơ lạ, mà hay, mà thâm thuý. Thâm thuý bởi tình yêu của nhà thơ với trăng là vô đối, bắn trăng là muốn chiếm đoạt trăng cho mình. Thế nhưng, tình yêu của nhà thơ với nhân gian còn cao hơn. Nhà thơ sợ bắn trăng thì “thế gian buồn biết mấy”, đành cao thượng hy sinh tình yêu của mình. Thơ còn có ý nghĩa trăng là của chung, không phải của riêng ai, nên ai không có quyền cướp lấy nó.
Khổ thơ thứ 5:
 
Tôi yêu em cho thỏa sức tình thơ
Để thần thức nhập với hồn trăng mộng
Những đêm ta kiêu hãnh dưới trời gió lộng
Ngồi ôm đàn vỗ khúc: - Dưới trăng ca
 
Trăng trong thơ Lý Bạch: “Ngẫng đầu nhìn trăng sáng/ Cúi đầu nhớ cố hương”
Trăng trong thơ Đỗ Phủ: “Vầng trăng vẫn sáng quê nhà/ Các em ly tán biết là về đâu”
Trăng trong thơ Xuân Diệu: “Trăng sáng, trăng xa, trăng rộng quá/ Hai người nhưng chẳng bớt bơ vơ”
Trăng trong thơ Thế Lữ: “Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối/ Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan”.
 
Đọc những câu thơ về trăng của các tác giả trên, ta thấy họ đều mang tâm sự nặng nề dưới trăng. Trăng vô tội, tự nhiên các nhà thơ mang cho nó vòng Kim Cô của Tôn Ngộ Không lên đầu. Đọc những câu thơ về trăng của Ngã Du Tử ta thấy trăng được tự do đàn ca với người, tình yêu của nhà thơ với trăng không phải là thư tình yêu mong chiếm đoạt, trăng và người, người và trăng như trẻ thơ, hai bên đều tự nhiên để “thần thức nhập vào hồn” thanh tao và quyến luyến.
Khổ thơ thứ 6:
 
Tôi thương em lúc mưa gió mịt mờ
Buồn như núi, mênh mông như biển lớn
Này trăng ơi! Em đừng làm tôi giận
Sợ vô tình bỏ mặc ánh trăng nghiêm
 
Ngã Du Tử tỏ tình với trăng, Ngã Du Tử thỏ thẻ với trăng như thỏ thẻ với cô em bé bỏng của mình, nhưng lời tình ấy cao như núi và mênh mông như biển. Hình ảnh buồn của trăng khi mưa gió mịt mờ cũng chính là nỗi lòng của nhà thơ khi vắng ánh trăng, cũng chính là tình yêu của nhà thơ dành cho thần tượng của mình.
Khổ thơ cuối cùng:
 
Rồi trăng lên màu ánh sáng dịu huyền
Soi xuống thế. Tôi về nghe kinh nguyện
Ta yêu trăng như say đời dâng hiến
Buổi ta về trăng trải thảm vàng mơ
 
Cuối cùng trăng là huyền diệu, trăng là toả sáng và trăng là nữ hoàng của thế giới tình yêu. Ngã Du Tử thờ phượng trăng bằng kinh nguyện, tất nhiên lời kinh nguyện đó chính là ca từ mà nhà thơ “Ngồi ôm đàn vỗ khúc: - Dưới trăng ca”. Ngã Du Tử dâng hiến cho trăng, tất nhiên nhà thơ dâng hiến những vần thơ trác tuyệt của mình. Tất cả để rồi trăng đền đáp lai: “Buổi ta về trăng trải thảm vàng mơ”.
 
Bây giờ xin mời chúng ta “Lội Dưới Đường Trăng” cùng Ngã Du Tử:
 
Đọc khổ thơ mở đầu “LỘI DƯỚI ĐƯỜNG TRĂNG” của nhà thơ Ngã Du Tử, ta có ngay một mãnh trăng tuyệt đẹp làm xao động tâm hồn:
 
Chiều xuống vội phía hoàng hôn úp mặt
Ai treo mảnh trăng trên đầu non
Màu ánh sáng dịu kỳ vằng vặc
Bức tranh quê toát lên rực mảnh hồn
 
Qua khổ thơ thứ hai của “Lội Dưới Đường Trăng” ta thấy nhà thơ Ngã Du Tử nhìn trăng với tất cả sự lạc quan của mình:
 
Tay nắm chặt nghe đêm nghìn lau lách
Lời trần tình loài dế giục trong đêm
Một tấc dạ cùng lòng son hiển hách
Biết nhân gian có thân ái nỗi niềm
 
Đêm trong tâm hồn Ngã Du Tử là tiếng reo ca của dế, như thổ lộ cho tấm lòng son sắt của nhà thơ. Câu thơ “Biết nhân gian có thân ái nỗi niềm” là một sự băn khoăn nhưng không đánh dấu hỏi, nghĩa là nhà thơ còn tin tưởng nhiều đến sự thân ái của nhân gian.
 
Tác giả đi dưới trăng, bước trong trăng và thấy trăng của quá khứ nằm trong hiện tại:
 
Giữa quạnh vắng nghe muôn trùng im ỉm
Con đường quê hun hút đến vô cùng
Chân vẫn bước trong ân cần bóng ngả
Quan san ơi! Lòng đau đáu riêng chung
 
Vẫn quê mẹ, vẫn con đường mùi lúa
Thời gian trôi hương vị cứ ngọt ngào
Ai xa xứ nghe hương đồng mời gọi
Như tình ca, như tiếng mẹ ca dao
 
Từ bóng trăng hiện tại, nhà thơ Ngã Du Tử lạc quan đến cực độ khi thấy “Thời gian trôi hương vị vẫn ngọt ngào”, nghĩa là ông hưởng trọn vẹn hạnh phúc của quá khứ trong hiện tại.
 
Thế rồi bước qua những khổ thơ cuối, nhà thơ Ngã Du Tử tả trăng tràn ra khắp cùng vận vật, lai láng một màu sắc lung linh và êm ái một thứ tiếng động ngập tràn, làm bình an tâm khảm:
 
Chân vẫn bước dưới dòng trăng lênh láng
Nghe cơ hồ róc rách chảy hàng cây
Những ai đi đâu? – Ta về đây
Uống nỗi nhớ nghe ngọt ngào tim óc
 
Tiếng đạp xe của người chở rau lóc cóc
Nghe nhỏ dần lối ngược phía đường xa
Mím môi chặt cùng con đường thổn thức
Ai giàu sang, ai cùng khó một thời?
 
Đêm yên ắng trăng rất gần với núi
Góc non sông ôm chẳng hết nửa đời
Trăng bình yên rọi ánh sáng nơi nơi
Và tiếng dế mơ màng trong nhạc điệu
 
Trong ánh trăng tuyệt vời đó, nhà thơ đã cho “Tiếng đạp xe của người chở rau lóc cóc/ Nghe nhỏ dần lối ngược phía đường xa” làm cho người đọc trong vô thức như thấy được thời gian trôi từ quá khứ, qua hiện tại, đến tương lai dội vào tâm hồn từng tiếng nhạc mê ly.
 
Hai bài thơ “YÊU TRĂNG” và “LỘI DƯỚI ĐƯỜNG TRĂNG” của Ngã Du Tử là tình yêu của nhà thơ đối với vầng trăng thật, đó là vầng trăng treo trên bầu trời, chiếu ánh sáng xuống mặt đất và làm đề tài cho biết bao nhiêu thi sĩ dệt mộng, dệt thơ.
 
Thế nhưng nhà thơ Ngã Du Tử còn có thơ cho một vầng trăng lạ, đó là “VẦNG TRĂNG EM VỪA CHỚM NỤ”. Vầng trăng đó tồn tại trong ký ức nhà thơ, nó gợi nhớ khi ta thấy, hay ta nghĩ đến vầng trăng thật tại quê nhà.
 
Bây giờ, hãy nhìn qua vầng trăng trong tâm khảm nhà thơ Ngã Du Tử xem thử nó đẹp ra sao:
 
SÔNG HOÀI MÃI NHẬN VẦNG TRĂNG
 
Trăng trần thế nghìn năm còn soi rạng
Buổi ta đi trăng - Mới chớm dậy thì
Yêu lắm vầng trăng em vừa chớm nụ
Biết thẹn thùng một dáng dấp hào hoa
 
Vài mươi năm chắc em đã đàn bà
Mùa dong ruổi quên vầng trăng chớm nụ
Mải miết thị thành áo cơm chưa đủ
Nợ một đời đánh mất tình yêu trăng?
 
Đêm cố hương. Vầng trăng em xuất hiện
Mắt ngỡ ngàng. Ngại thất lễ mùa xưa
Không trách ai, chỉ tiếc thuở trăng vừa
Dang tay hứng - Thiếu tâm tình đón nhận
 
Ta cúi xuống thâm tạ tình - Ân hận
Màu trăng xưa huyền nhiệm đến vô cùng
Con đường vàng mật ngọt chẳng đi chung
Mắt em ướt, lòng ta như gió bão
 
Ngày trở về lòng như không xiêm áo
Trăng đầu hiên vò võ một cung trầm
Ước mai này trên vạn nẻo trần gian
Sông muôn đời nhận vầng trăng em soi rạng
 
                                                    Ngã Du Tử
 
Đây là một bài thơ mà nhà thơ đem hình ảnh người yêu ban đầu nhập vào trăng trần thế. Trăng trần thế tuy nghìn năm soi rạng nhưng bây giờ không già nữa, nó đã biến thành em vừa dậy thì, vừa chớm nụ, “Biết thẹn thùng một dáng dấp hào hoa”. Trăng của Ngã Du Tử ở đây bỗng khác với trăng của biết bao thi sĩ từ xưa đến nay, nó bé bỏng, nó thanh khiết, nó nhu mì, nó thơ ngây và nó toát ra cả hai vẽ đẹp quý hiếm của loài người và của vạn vật.
 
Rồi thì nhà thơ xa quê hương, xa vầng trăng và tất nhiên xa em. Rồi thì nhà thơ quay lại cố hương, gặp em như gặp vầng trăng xưa. Em đã khác nên vầng trăng cũng khác, tình vẫn còn nhưng tình chỉ như vầng trăng soi trong đáy nước một dòng sông.
 
“Sông Hoài Mãi Nhận Một Vầng Trăng” là một bài thơ nói về tình đầu, bài thơ được tắm trong dòng sông có ánh trăng soi, làm cho trăng trẻ lại muôn năm và tình lâu bền vĩnh viễn.
 
Đó là vườn thơ trăng của Ngã Du Tử mà tôi đã vào thăm trong đêm nay. Một chút hương hoa tôi kể ra đây chỉ là dư hương, dư vị còn sót lại khi tôi ra về. Mong ai đó sẽ bước vào vườn trăng ấy, sẽ thưởng thức, sẽ trải nghiệm tận nơi ánh trăng soi trên từng luống hoa tươi đẹp.
                                                          
Châu Thach                                                             
(Đà Nẵng)

READ MORE - TRĂNG TRONG THƠ NGÃ DU TỬ - Châu Thạch

ĐỌC LẠI Ý THỨC MỚI TRONG VĂN NGHỆ VÀ TRIẾT HỌC CỦA PHẠM CÔNG THIỆN (5) - Nguyên Lạc


Phạm Công Thiện
 
VỀ PHẠM CÔNG THIỆN
1. Viết về Phạm Công Thiện
 
– Phạm Công Thiện là một hiện tượng xảy ra trong văn học và triết học. Một thứ hiện tượng phủ nhận của phủ nhận, phủ nhận tuyệt đối, khước từ mọi giá trị đến từ xã hội.
(Đã Một Thời Như Thế: Hiện Tượng Phạm Công Thiện – Nguyễn Văn Lục)
 
– Nhưng tận cùng, Phạm Công Thiện là một nhà thơ và là một thiền sư – và đó là những phẩm chất rất khó hình dung, vì mỗi nhà thơ và mỗi thiền sư đều có những độc đáo riêng. Và tôi tin rằng, khi nào thân xác anh rời khỏi thế giới đời thường này, rất nhiều người sẽ gọi Phạm Công Thiện là một vị Bồ tát, một danh hiệu tôn quý trong Phật giáo và là một hạnh nguyện để chỉ một người tái sinh từ kiếp này sang kiếp khác để giúp cho mọi người hiểu được thật nghĩa của vũ trụ. Trong những năm qua, rất nhiều tăng ni Phật tử đã gọi nhà thơ Bùi Giáng là một vị Bồ tát, và tôi tin là sau này, Phạm Công Thiện cũng sẽ được tôn vinh như thế, bất chấp những đời thường bất toàn mà chúng ta đôi khi gặp nơi anh.
Thực sự, tôi đã nhìn anh như một vị Bồ tát từ những ngày tôi mới lớn, và ngay khi lần đầu đọc cuốn “Ý thức mới trong văn nghệ và triết học”. Lúc đó, tôi đang học lớp đệ tứ, hay đệ tam ở Chu Văn An, Sài Gòn. Bây giờ gọi là lớp 9 hay lớp 10. Ðâu đó, khoảng giữa thập niên 1960. Dù là đọc ngấu nghiến, nhưng một ngày không đủ, và đọc một tuần cũng không đủ. Vì có những dòng tôi phải đọc đi đọc lại, không hoàn toàn vì tính bí hiểm triết lý, mà chỉ vì tính thơ mộng dị thường trong ngòi bút của anh. “Ði cho hết những đêm hoang vu trên mặt đất…” Thế đấy, tôi đã đi như thế từ bốn thập niên trước trên các trang sách của anh.
Tôi đã ngồi ở sân Chùa Xá Lợi, dưới các tàng cây ngọc lan và bông sứ lần giở từng trang sách đó. Và rồi lại ngồi trong một quán cà phê cách trường Chu Văn An vài mươi bước, ngay lối vào ký túc xá Minh Mạng của các anh chị sinh viên lớn. Không phải chuyện ngồi đọc cho ra vẻ triết gia, mà thực sự vì có những đoạn văn trong cuốn Ý thức mới làm tôi run rẩy cả người. Từng trang một, giữa các dòng chữ của Phạm Công Thiện toát ra một hơi lạnh của vũ trụ vô cùng vô tận. Và tuy là văn xuôi, hầu hết, nhưng thi tính vẫn dày đặc kinh ngạc.
(Nghĩ về nhà thơ Phạm Công Thiện – Phan Tấn Hải)
 
2. Phạm Công Thiện đã viết:
 
– “Ý nghĩa” không thể là “ý nghĩa” được nếu “ý nghĩa” không đứng chống đối lại với cái gì không phải là “ý nghĩa”; cần phải có “vô ý nghĩa” để làm ra “ý nghĩa”; “ý nghĩa” có nghĩa là “vô ý nghĩa” ở trong ý nghĩa. Khi “ý nghĩa” muốn có nghĩa thì nó đã ra ngoài ý nghĩa, nghĩa là “vô ý nghĩa”. Nếu “ý nghĩa” không chứa đựng bên trong cái không phải là nó thì “không ý nghĩa” không thể nào ra ngoài “ý nghĩa” để làm ra “ý nghĩa” trở thành có ý nghĩa.
(Ý thức mới trong văn nghjệ và triết học – Phạm Công Thiện)
 
– Hồi nhỏ, anh học trường thầy dòng, nhưng sau anh bỏ đạo và bỏ đi nhà thờ. Anh bắt đầu say mê ngất ngưởng với tiếng hét thịnh nộ của Nietzsche. Giống như phần đông thanh niên ở khắp thế giới, tuổi trẻ của anh đã bị ngấm độc, nhiễm nặng thuốc độc của Nietzsche. Tất nhiên, một người nào đã nhiễm bệnh Nietzsche thì chính trị, dấn thân, hành động, ái quốc, xây dựng lý tưởng, tôn giáo, vân vân, đều trở thành khói thuốc. Nietzsche dạy anh cõng tuổi trẻ của anh trên hai vai của chính anh. Từ một người gương mẫu, lạc quan, tin tưởng, đầy tinh thần vị tha, ái quốc, đầy tinh thần xây dựng, anh bỗng trở thành con người lạc lõng, bơ vơ, ích kỷ, buông rơi, kiêu ngạo, ngang tàng, khinh bỉ tất cả mọi sự, khinh bỉ cả những gì nhỏ nhoi trong người anh; anh luôn luôn đen tối, mắt đầy ngờ vực, lấy đêm làm ngày, “đêm bốc lửa, thế giới bốc lửa”. Anh sống như con thú dữ với cơn hoả hoạn bắn lửa trong đầu, trong tim và trong cuộc đời. Đã qua rồi ái quốc, đã qua rồi lý tưởng cao đẹp, đã qua rồi niềm tin sắt đá của tuổi thơ. Trong phòng anh, có kẻ chỉ thấy những hình ảnh của Nietzsche, Van Gogh, Rimbaud, Henry Miller và Dostoievsky. Nhưng một sớm đẹp trời nào đó, bỗng nhiên anh xé bỏ hết Nietzsche, Van Gogh, Rimbaud, Dostoievsky và Henry Miller. Anh tự cho rằng mình đã lớn, đã mạnh, đã đủ sức, thừa sức để đi một mình, đứng một mình, ngồi một mình và nằm một mình. Chỉ có một mình và một mình, anh sống một mình với một mình của anh. Đối với anh, tất cả giá trị đều sụp đổ, anh thấy rằng anh không còn hiểu gì nữa, anh bước đi trong bóng tối không thấy gì cả và chỉ bước đi trong bóng tối. Mọi người đều bỏ xa anh, bạn bè bỏ anh, gia đình bỏ anh, chính anh rồi cũng bỏ cả anh, anh chỉ còn là cái xác đi trong tối. Trong một đêm tuyệt vọng, anh lảo đảo như một người lên đồng. Tình cờ, anh dở quyển sách bỏ quên dưới đất. Quyển sách ấy là quyển Zen Buddhism của D.T. Suzuki. Anh không hề biết Zen là cái gì cả. Nhưng khi đọc tình cờ một câu trong quyển sách ấy:
. “Làm sao tôi có thể nhập đạo?”
Một môn đệ hỏi Thiền Sư, Thiền Sư trả lời:
. “Con có nghe tiếng suối reo?”
Thế thì đùng một cái, anh mới sực nhớ rằng anh đã sống cái đạo gọi là đạo Thiền trước khi anh đọc sách về Thiền. Toàn thân anh run rẩy, anh có cảm tưởng đi hỏng chân trên một đại dương.
(Con bướm băng qua đại dương – Phạm Công Thiện)
 
ĐỌC LẠI PHẠM CÔNG THIỆN

Nửa thế kỷ, thử đọc lại Phạm Công Thiện xem sao? Có “hực lửa” như thời “xuân mộng” không? Hay chỉ lạnh lùng “tro bụi” của hờ hững thời gian.
Sau đây là những ghi chép các trích đoạn “đáng chú ý” từ sách Ý Thức Mới Về Văn Nghệ Và Triết Học.
 
Chương: Nghĩ về ý nghĩa của Phật giáo Thiền tông qua vài suy luận triết học Heidegger
[Trích đoạn]
 
Đạo Phật Zen (Zen Buddhism) đã hấp dẫn lôi cuốn những người lãnh đạo những phong trào trí thức tiền phong của Âu Mỹ như Salinger, Heidegger và C. G. Jung. Chưa bao giờ Đông phương quyến rũ Tây phương lạ lùng như vậy. Sự kiện này khiến cho ta thắc mắc tự hỏi: Zen đã chứa đựng ý nghĩa gì mà có thể giáo hoá thoả mãn được những đòi hỏi mãnh liệt của bậc thức giả tiến bộ nhất ở Tây phương?
Ý nghĩa của đạo Phật Zen là gì?
Tôi có thể trả lời rất dễ dàng, rất nhanh chóng, không hề lúng túng: đạo Phật Zen chẳng có ý nghĩa gì cả. Tại sao? Bởi vì còn ý nghĩa là còn nằm trong vòng nhị nguyên đối đãi: “ý nghĩa” đối nghịch với “vô ý nghĩa”, như thế hãy còn bị ràng buộc trong danh từ, trong tiến trình biểu tượng (processus symbolique), do đó:
1. Đạo Phật Zen chống thuyết nhân bản, bởi vì thuyết nhân bản vẫn chỉ là sắ thái của ý thức phân biệt;
2. Đạo Phật Zen chống luận lý học, bởi vì luận lý học còn lệ thuộc vào lãnh vực ngôn ngữ;
3. Đạo Phật Zen chống lại những giá trị, bởi những giá trị chỉ là những đánh giá thực tại;
4. Đạo Phật Zen nhận rằng con người chỉ có thể giải thoát nơi cuộc đời này, nơi một trần gian duy nhất (là trần gian này); nơi theo danh từ triết học của Heidegger thì ta gọi thần thể tính (Weltlichkeit) của nhân tính (Menschsein) phủ nhận thế giới “bên kia” (Jenseits) và chỉ nhận “bên này” (Diesseits);
5. Đạo Phật Zen không tôn thờ đức Phật như là giá trị tối thượng, bởi vì tôn thờ đức Phật là một giá trị thì đức Phật sẽ trở thành đối tượng cho sự đánh giá của con người (nói như Heidegger là: “Gegenstand für die Schätzung des Menschen”);
6. Đạo Phật Zen chống lại những gì mà nhân loại tôn sùng thờ phụng như là thiêng liêng quí báu.
Tại sao tôi có những nhận xét trên? Đọc lại những lời đối đáp trên giữa thầy trò Zen thì tất nhiên ta phải đi đến những nhận thức trên.

Về những nét chung của đạo Phật Zen, tôi đã cố gắng đưa ra những nhận xét sơ lược trên và đi từ những nhận xét ấy, tôi sẽ tha thiết “bênh vực” đạo Phật Zen. (Thực ra Zen đâu cần “bênh vực”). Tôi phải nói trước rằng tôi không phải là một kẻ giỏi lý luận và không phải là một kẻ đem lý trí của mình để phân tích một tôn giáo cao siêu. Khi viết về đạo Phật Zen, tôi chỉ muốn ghi lại cảm giác rất chủ quan của riêng tôi, của một kẻ vui mừng run run tìm được lương thực tinh khiết cho tâm hồn bải hoải của mình. Đạo Phật Zen đã hé mở cho tôi thấy những chân trời bát ngát mênh mông; mỗi lần đi vào tinh thần Zen là mỗi lần tinh thần tôi được đưa lên cao, mọi tuyệt vọng tan biến, thần kinh hết căng thẳng, hơi thở nhịp nhàng khoan khoái, tôi cảm thấy sung sướng hạnh phúc lắm và những nỗi cay đắng nhọc nhằn của đời sống dường như vơi hẳn đi.

Trong vài trang sau đây, nói về Zen, tôi xin suy luận theo tinh thần triết lý Heidegger xin đọc M. Heidegger, Uber den Humanismus, Victorio Klostermann, Frankurt am Main, 1951).
– Khi tôi nói: “Đạo Phật Zen chống lại thuyết nhân bản” chắc chắn người ta nghĩ rằng tôi muốn nói: “Đạo Phật Zen bênh vực phi nhân tính (L’ In-Humain) và ca tụng sự dã man tàn bạo (còn gì “hợp lý” hơn nữa, vì phủ nhận nhân bản tức là chấp nhận phi nhân bản… Đó là sự hợp lý thông thường của kẻ hạ nhân)…
– Khi tôi nói: “Đạo Phật Zen chống luận lý học” tất nhiên người ta nghĩ rằng tôi muốn nói; đạo Phật Zen trục xuất mọi xác đáng tín mật của tư tưởng để thay thế bằng những bản năng và những cảm xúc hoặc để bênh vực chủ nghĩa phi lý trí (L’ irrationalisme), nghĩ như vậy thì “hợp lý” vô cùng vì ai cũng hiểu, chống luận lý học tức là bênh vực phi luận lý học (L’ a-logique). (Đó là lý luận của kẻ hạ nhân).
– Khi tôi nói: “Đạo Phật Zen chống lại những giá trị” tất nhiên mọi người đều nghĩ rằng tôi muốn ám chỉ: chống lại những giá trị là nhận rằng tất cả mọi sự đều vô giá trị (Đó là lý luận của kẻ hạ nhân!).
– Khi tôi nói: “Đạo Phật Zen cho rằng con người chỉ có thể giải thoát nơi một trần gian này”; tất nhiên người ta nghĩ rằng tôi muốn nói: đạo Phật Zen đã hạ thấp con người xuống hàng trần tục và chối bỏ mọi thể tính siêu việt (Transcendance); nghĩ như vậy thì thực là “hợp lý”! (Đó là sự hợp lý của kẻ hạ nhân!)
– Khi tôi nói: “Đạo Phật Zen không tôn thờ đức Phật như là giá trị tối thượng”; tất nhiên người ta nghĩ rằng tôi muốn nói: đạo Phật Zen không thể gọi là đạo Phật; vì đạo Phật Zen phản lại đức Phật! (đó là lý luận của kẻ hạ nhân!)
– Khi tôi nói: “Đạo Phật Zen chống lại tất cả những gì nhân loại tôn sùng thờ phụng như là thiêng liêng quí báu”, tất nhiên người ta nghĩ rằng tôi muốn nói: chống lại thiêng liêng quí báu tức là tôn thờ “chủ nghĩa hư vô” tức là phá hoại, tức là vô trách nhiệm; (đó là lý luận của kẻ hạ nhân!)
Nếu tôi chống lại thiên đàng, tất nhiên người ta nghĩ rằng tôi bênh vực hoả ngục; nếu tôi chửi rủa trách nhiệm, tất nhiên người ta nghĩ rằng tôi là một kẻ vô trách nhiệm; nếu tôi chửi rủa Tổ quốc, Quê hương, tất nhiên người ta nghĩ rằng tôi là một kẻ phản quốc; nếu tôi chống lại Luân lý, Đạo đức, tất nhiên người ta nghĩ rằng tôi là một kẻ vô luân; nếu tôi chống lại Gia đình, tất nhiên người ta nghĩ rằng tôi là kẻ phá hoại; nếu tôi chống lại Văn minh, Văn hoá, Văn học, tất nhiên người ta nghĩ rằng tôi là một kẻ lạc hậu, hủ lậu. Thực là hợp lý! Thật là hợp lý! (Cái hợp lý của kẻ hạ nhân!)
Đây là những thần tượng: Thiên đàng, Niết bàn, Trách nhiệm, Tổ quốc, Luân lý, Đạo đức, Gia đình, Xã hội, Văn minh, Văn hoá, Văn học, Tiến bộ, Nhân bản, Luận lý học, Lý trí, Siêu việt thể, Thượng đế, Thiêng liêng, Giá trị, vân vân.
Tôi nghe người ta đồng thanh ca tụng những danh từ trên, rồi tôi lại nghe người ta đồng thanh mạt sát nguyền rủa tất cả những gì đối nghịch lại với những danh từ trên. Những danh từ nào đối nghịch với những danh từ trên thì được xem như xấu xa, dơ nhớp, bẩn thỉu, được xem như “phủ nhận” (“Négatif”) nghĩa là chẳng nghĩa lý gì cả (“null”, “nichtig”). Người ta chia ra hai thái độ: “phủ nhận” và “chấp nhận”; người ta khẳng định rằng “chấp nhận” là “tốt” và “phủ nhận” là “xấu”. Người ta định rằng không “chấp nhận” thì nghĩa là “phủ nhận”. Đối nghịch với cộng là trừ. Không phải positif thì là négatif. Nhờ luận lý học, người ta đã suy luận rất là hùng biện, nếu tôi mở miệng ra chống đối trách nhiệm, lập tức người ta mắng chửi tôi là “một thằng vô trách nhiệm”, và người ta bĩu môi khinh bỉ xa lánh tôi và xem tôi như một “sâu mọt của xã hội” hay “một kẻ phá hại”. Người ta đã định xong những phạm trù nào đó và người ta chấp nhận những phạm trù này như là “xác nhận” những gì đối nghịch lại những phạm trù này được xem như là “phủ nhận”. Người ta ca tụng thái độ “xác nhận” và nguyền rủa thái độ “phủ nhận”; tất cả những gì không nằm trong lãnh vực “xác nhận” thì liền bị người ta quăng ném vào hố sâu (đã được đào trước) và hố sâu này được gọi là hố “phủ nhận”; người ta đồng hoá hố “phủ nhận” với hư vô; người ta đưa đẩy tất cả đối nghịch vào trong chủ nghĩa hư vô mà người ta đã tự phát minh bằng luận lý học (Martin Heidegger: On s’est à tel point empli de “logique” qu’à la seule mention d’une opposition aux valeurs énumérées plus haut, l’ opposé est immédiatément et exclusivement pris pour l’envers, pour le contraire nul et sans valeur. Tout ce qui ne s’en tient pas aux domaines bien connus du positif est rejeté dans la fosse, creusée d’ avance, de la négation pure qu’on identifie, au Néant. On fait tout sombrer dans un nihilisme qu’on vient d’ inventer soi-même à l’aide de la logique).
Sự “đối nghịch” chỉ là “phủ nhận” khi nào người ta đã định trước, đặt sẵn cái “xác nhận”. Tôi muốn hỏi: tại sao người ta không chịu tư tưởng vượt ra ngoài sự định trước, định sẵn? Tại sao người ta không chịu tư tưởng vượt ra ngoài hai thái độ “phủ nhận” và “chấp nhận”? cf. Heidegger: Le “contre” cependant, quand une pensée se dresse face au donné, ne conduit – il pas nécessairement à la négation et au négatif? cela n’arrive – mais alor d’une façon inévitable et définitive, c’est – à – dire sans nous laisser la moindre liberté de regarder sur autre chose – que si le donné a été immobilisé auparavant en tant que “positif” dans le cadre figé de cette opposition (au “negatif”), prise au sens absolu. Derrrière cette attitude se cache alors le refus de la pensée de s’avancer au-dela du donné prédonné. En se référant continuellement au logique, on se donne l’apparence de vouloir s’engager sur le chemin de la pensée, alor qu’on vient, précisément, d’abjurer tout pensée)
Tôi nói rằng cuộc đời phi lý nhưng tôi không tự tử, bởi vì “phi lý” không phải là “phủ nhận”; “phi lý” bị xem như “phủ nhận” là khi nào người ta đã định trước và bất động hoá “hữu lý” như là “xác nhận”.
Người ta dùng luận lý học để phụng sự tư tưởng, nhưng thực sự, người ta đã từ bỏ phản bội tư tưởng.
Chống thuyết nhân bản không phải là để bênh vực tinh thần phi nhân và chống đối này mở ra những viễn tượng khác hẳn. Triết học Heidegger cũng thế. (Heidegger: l’opposition à “L’humanisme” ne mène nullement à une défense de l’ inhumanité, mais qu’ elle nous ouvre des perspectives bien différentes)
Đạo Phật Zen không đặt con người như “cứu cánh” hay “giá trị cao đẳng” (theo chủ nghĩa nhân bản cổ điển) và đạo Phật Zen cũng không cho rằng “con người tự chọn lựa” như chủ nghĩa nhân bản của Sartre. Và mặc dù Heidegger chống đối nhân bản nhưng việc chống đối này của Heidegger cũng mở ra những viễn tượng khác hẳn những viễn tượng của đạo Phật Zen (vì ai cũng biết rằng quan điểm căn bản của triết học Heidegger là quay về “Sein”) và đạo Phật Zen không phải là “chủ nghĩa nhân bản” mà cũng không phải là “chủ nghĩa phi nhân bản”, con người đạt đến Phật tính là con người phủ nhận con người, tức là chối từ nhân bản.
Chống luận lý học không có nghĩa là bênh vực phi lý mà là dẫn đến cái Lý mênh mông của Trời Đất. Triết học của Heidegger cũng thế (Être contre la logique ne signifie pas être pour l’illogique mais pour le logos et son essence).
Khi tôi nói: “Đạo Phật Zen nhận rằng con người chỉ có thể giải thoát tại một trần gian duy nhất là trần gian này”, tôi không muốn nói rằng Zen chối bỏ mọi “siêu việt thể”. Đối với Zen, hai thế giới (tâm linh và vật chất) chỉ là một, không có sự chia rẽ và làm hai miền khác biệt tách rời nhau: chỉ có một vũ trụ con người (so sánh Sartre: Il n’y a pas d’autre univers qu’un univers humain l’univers de la subjectivité humaine) (Câu này của Sartre gợi cho ta nhớ đến thuyết Duy thức của Phật giáo). Zen không ghét bỏ trần tục để mà tìm kiếm một thế giới tâm linh xa xôi. Đối với Zen, thế giới tâm linh ở ngay nơi thế giới ô trọc này, Zen không ước vọng đến tương lai mà chỉ thực hiện đường đi của mình ở hiện tại (đây cũng là điều mà Zen tách xa Heidegger; đối với Heidegger tương lai là quan trọng nhất, để mà con người làm cái Entschlossenheit). Thiên đàng từ trong người tôi chứ không ở nơi đâu cả. (Ta dễ nhớ đến nhà thơ thần bí William Blake; Blake không ghét bỏ trần gian tục giới; ông chỉ nhận thế giới tâm linh ở nơi chính trần gian này).
“Đạo Phật Zen không tôn thờ đức Phật như là giá trị tối thượng” như thế không có nghĩa là Zen đã phản nghịch lại Phật giáo. Trái lại, nhiều học giả đứng đắn ở thế giới thường nhận rằng Zen mới là tinh túy của Phật giáo, bởi vì Zen mới đạt tới trung tâm điểm của kinh nghiệm đức Phật Thích Ca; trung tâm điểm ấy là mỗi người tuyệt đối đi con đường riêng của mình; đức Phật Thích Ca đạt đến chân lý ấy bằng chính những kinh nghiệm bản thân của Ngài, nếu chúng ta trung thành với đức Phật thì chúng ta phải lìa xa Ngài; bởi vì không ai làm thầy ai cả; mỗi người phải làm thầy cho chính mình, chân lý là chân lý của riêng từng người. Hơn nữa, tôn thờ đức Phật như giá trị tối thượng là một hành động nguyền rủa đáng sợ nhất vì đã hạ thấp Phật tính. Vừa tư tưởng vừa đánh giá là xúc phạm nguyền rủa ngạo mạn nhất. (cf. Heidegger: Proclamer “Dieu” comme “valeur suprême”, c’ est donc dégrader l’essence de Dieu. Penser en évaluant constitue, ici partout le plus grand blasphème contre l’ être qui puisse s’ imaginer).
Đạo Phật Zen giải thoát con người ta khỏi mọi ràng buộc ở mọi phương diện và đưa con người đến tự do tuyệt đối, tôn sùng những gì thiêng liêng quí báu là tự ràng buộc mình vào vòng nô lệ; những thiền sư đều xem nhẹ truyền thống và chẳng bao giờ nô lệ những kinh điển: họ chẳng bao giờ trọng những kinh Phật như là những quyển sách thiêng liêng quí báu.
Tinh túy của đạo Phật Zen có thể thu gọn vào bốn câu sau đây:
Ở ngoài kinh điển xa lìa truyền thống
Không dựa vào những tiếng và những chữ
Nhìn vào bản chất và đạt đến Phật tính
Chỉ thẳng vào tâm thức con người.
Những câu trên là những nguyên tắc của đạo Phật Zen và cắt nghĩa sự khác nhau giữa Zen và những tông phái Phật giáo khác.

Bây giờ, tôi xin bàn về những ngộ nhận chung quanh Thiền tông. Viết về Thiền tông, hành động “viết về” ấy đã là một ngộ nhận to lớn rồi. Và chính bài này cũng đã vướng vào những ngộ nhận. Nhưng sở dĩ bài này dám nói về những ngộ nhận của người khác chung quanh Thiền tông là vì ít ra bài này cũng ý thức rằng mình đã ngộ nhận trước tiên. Và đi từ nhận thức căn bản này: mình có ngộ nhận, mình mới có thể biết những người khác ngộ nhận, vì tất cả đều nằm chung trong một hoàn cảnh giới hạn.
Tôi chưa giác ngộ, mặc dù tri thức của tôi bảo rằng tôi chưa giác ngộ, nhưng tiềm thức tôi không nhận thế; nếu tiềm thức của tôi cũng đồng ý thực sự với ý thức tôi rằng tôi chưa giác ngộ thì lúc bấy giờ chính sự đồng ý giữ ý thức và tiềm thức ấy là sự giác ngộ rồi; nói một cách khác, nếu thực sự toàn diện con người tôi đồng ý rằng tôi chưa giác ngộ thì ngay lúc ấy, trong lúc ấy, trong chớp nhoáng ấy, tôi đã vụt giác ngộ rồi! Giác ngộ rằng chưa giác ngộ, tức đã là giác ngộ.
Tôi vừa nói câu này như một con vẹt, nếu câu nói này đi đôi với toàn diện con người tôi thì tôi đã giác ngộ.
Thiền không có nghĩa là tham thiền, mặc dù Thiền là bởi chữ Zen mà Zen bởi chữ dhyana; nhưng đến Huệ Năng thì Thiền không có nghĩa là dhyana, mà Thiền đồng nghĩa với Trí Bát Nhã, hay nói một cách khác dhyana đổi ra Prajna. Vậy Thiền đồng nghĩa là Giác ngộ. Nói tóm lại Thiền chính là Ngộ mà người Nhật gọi là Satori.
Điều ngộ nhận to lớn nhất mà hiện nay tôi thấy rất nhiều vị học giả thường vướng là họ hiểu sai chữ Thiền trong nghĩa Thiền tông là Thiền trong nghĩa tham thiền hay toạ thiền, mặc dù Thiền tông cũng có tham thiền và toạ thiền, nhưng chính sự tham thiền và toạ thiền ấy không phải là tất cả nội dung của Thiền tông.Thiền trong nghĩa Thiền tông không phải chỉ là Thiền trong khi toạ thiền hay tham thiền mà trong bất cứ hành động nào thì cũng có thể được cả, và người ta có thể Thiền thực sự mà không cần tham hay toạ. Càng tham thiền hay toạ thiền lại càng xa Thiền, nhưng mượn cớ này để lười biếng không tham thiền hay toạ thiền thì lại là cuồng thiền.
Bây giờ, để dễ thảo luận, tôi xin nêu ra một nguyên tắc, mà nếu mọi người chấp nhận nguyên tắc này thì mới có thể thảo luận được. Nguyên tắc đầu tiên là:
Thiền có nghĩa là Ngộ.
Ngộ ở đây có nghĩa là Giác Ngộ, tức là kinh nghiệm tuyệt đối mà chỉ có đức Phật là thí dụ cụ thể nhứt mà ta đã thấy trong lịch sử nhân loại.
Nguyên tắc thứ nhất này rất quan trọng, vì chính nguyên tắc này sẽ làm tiêu chuẩn để chặn đứng tất cả mọi cuộc tranh luận bí lối và tất cả những lạm dụng nguy hiểm.
Từ nguyên tắc thứ nhất này, chúng ta có thể đi đến mọi nhận thức sau đây:
– Thiền là Ngộ, ai cũng có quyền nói về Thiền, viết về Thiền, bênh vực Thiền, chỉ trích Thiền, tranh luận về Thiền; muốn làm gì thì làm, nhưng luôn luôn cần phải tự hỏi rằng: “mình có ngộ hay không?”; nếu mình tự nhận rằng chưa Ngộ thì khi viết hay nói về Thiền thì phải đứng trên quan niệm “chưa ngộ”; còn nếu tự nhận rằng mình đã “Ngộ” thì lấy gì làm tiêu chuẩn để biết rằng mình “Ngộ”; bởi vì “Ngộ” làm gì có tiêu chuẩn và ai cũng hiểu rằng “Ngộ” mà biết rằng mình “Ngộ” thì chưa phải là “Ngộ”; vậy “không Ngộ” là Ngộ ư? Nói như thế cũng không đúng. Chỉ có cách giải quyết duy nhất là muốn biết mình “Ngộ” hay không, thì cứ đợi đến “Ngộ” rồi sẽ biết.
Tóm tắt lại từ nguyên tắc thứ nhất: Thiền là Ngộ.
Ta đi đến nhận thức này:
– Chúng ta, tôi, anh, ông, chưa được Ngộ. Từ nhận thức này, chúng ta ý thức được thẩm quyền và giới hạn của chúng ta;
– Vì chưa được Ngộ, nên muốn nói về Thiền, chúng ta phải nhớ đứng trên vị trí “chưa Ngộ”. Từ ý thức trên, chúng ta đi đến những nhận xét này;
– Vì đứng trên vị trí “chưa Ngộ” thì dù có bỏ suốt đời để nghiên cứu Thiền thì Thiền ấy cũng vẫn là “Thiền chưa Ngộ”.
Nếu “chưa Ngộ” mà muốn nói về Thiền thì phải nói như thế nào? Thì phải nói đến những gì là “chưa Ngộ” của chính mình; nếu mình thành thật thao thức đau khổ chấp nhận tất cả những gì “chưa Ngộ” trong con người mình thì lúc ấy là lúc “Ngộ” dễ vụt đến trong nháy mắt, bởi vì “chưa Ngộ” được thực sự hoàn toàn ý thức là “chưa Ngộ” thì đã là “Ngộ” rồi.

Hình sách Thiền Luận của D.T. Suzuki
 
Bây giờ xin vào đề.
Trước hết, tôi xin phê bình tất cả những tác phẩm của D.T. Suzuki về Thiền tông.
Nhận xét đầu tiên là tôi thấy ngay trọn vẹn sự nghiệp D.T. Suzuki về Thiền tông là một cái dao hai lưỡi, biết dùng thì có lợi, nhưng vung tay thì tới đại nguy hiểm.
Tất cả những quyển sách của Suzuki chỉ có giá trị là khi Suzuki viết về Thiền mà đứng trên vị trí “chưa Ngộ” và nhất là, ý thức rằng mình “chưa Ngộ”.
Tôi xin kết luận ngay rằng D. T. Suzuki là một học giả thông minh, rất uyên bác về Thiền tông, có thể nói là uyên bác nhất thế giới, nhưng tôi phải nói ngay rằng tất cả những quyển sách của D. T. Suzuki đều hoàn toàn vô giá trị, vì D.T. Suzuki đã viết về Thiền mà viết với giọng điệu đầy thẩm quyền như chính D. T. Suzuki đã “Ngộ” rồi! D. T. Suzuki “chưa Ngộ” mà khi viết về Thiền, ông đã dùng ngôn ngữ của người đứng trên vị trí “Ngộ”. Thực ra “Ngộ” làm gì có vị trí.
Bởi thế, đọc trọn vẹn sự nghiệp của D. T. Suzuki, tôi chỉ thấy ông lặp đi lặp lại và càng ngày tư tưởng ông càng cạn đi, để rồi đọng lại thành khuôn thước và hệ thống.
Ngộ nhận lớn nhất mà D. T. Suzuki đã phạm là khi ông tự đặt ra câu hỏi sau đây:
Thiền là gì?
D. T. Suzuki viết bằng Anh ngữ là:
– What is Zen?
Khi hỏi một câu hỏi như vậy thì đã là thiển cận rồi, vì hỏi như thế thì ít nhất cũng tự nhận mình đã “Ngộ” rồi; nhưng chính vì D.T. Suzuki chưa Ngộ, nên câu hỏi trên mới tố cáo cho ta thấy những điều này:
– Khi đặt câu hỏi thì trong câu hỏi ấy đã giới hạn câu trả lời;
– Khi đặt câu hỏi thì câu trả lời đã tiềm tàng có trước câu hỏi.
Như vậy khi đặt câu “Thiền là gì?” (What is Zen?) thì đã tự ý định trước là “Thiền là một cái gì” (Zen is something; vì What có nghĩa là something). Mà nếu cho rằng: “Thiền là một cái gì” thì đã đánh giá Thiền và lôi Thiền xuống ngang hàng một đồ vật (What tức là chỉ cho vật mà thực ngữ của Heidegger gọi là: “Vorhandensein”).
Bây giờ không cần nói đến chữ “gì” (What), mà chỉ cần nói đến chữ “là” là đủ kết luận về một điều sai lầm của Suzuki; “là” (Is tức là to be) là xác nhận một hữu thể, một bản chất, một thể chất, một đặc chất.
Khi ta nói:
– Thiền là.
– Zen is.
Tức là ta đã nhận rằng mình đã “Ngộ” rồi, vì có “Ngộ” thì mới được bản chất, thể chất, thực chất của Thiền; biết như thế mới nói là “là”.
Nếu chúng ta chưa “Ngộ”, thì chúng ta không thể nói:
– Thiền là.
Mà cũng không thể nói:
– Thiền không là.
Bởi vì nếu nói là “không là” thì ít nhất cũng đã biết trước cái “là”, tức là chỉ có thể xác nhận là sau khi đã phủ nhận, mà chỉ có thể phủ nhận là sau khi đã xác nhận; đằng này chúng ta không biết gì cả, chúng ta “chưa Ngộ” thì dù có phủ nhận hay xác nhận cũng đều là vô minh.
Như thế, trong câu hỏi: “Thiền tông là gì?” chúng ta đã thấy người đặt lên câu hỏi ấy là một người hoặc nếu không ngu xuẩn thì cũng tự nhận mình đã “Ngộ” rồi, nhưng thực ra nếu “Ngộ” rồi thì cần gì phải đặt câu hỏi ngu xuẩn như vậy?
Từ những nhận thức trên, bây giờ ta thấy những đường lối mở ra như sau;
– Nói về Thiền cho đúng sự thực thì phải “Ngộ” chẳng hạn như lục tổ Huệ Năng và những vị thiền sư đời Đường, đời Tống.
– Nói về Thiền cho đứng đắn, mà đang lúc mình chưa “Ngộ” thì phải ý thức giới hạn mình và chỉ có thể được quyền đứng trên phương diện, vị trí lập trường của một sử gia, một người chép sử, một người ghi lại kinh nghiệm quá khứ.
Trong một cuộc tranh luận giữa Hồ Thích và D. T. Suzuki, chúng ta thấy cả hai đều rơi vào sai lầm. Hồ Thích đứng trên lập trường của sử gia, nhưng Hồ Thích lại hiểu sai vai trò lịch sử, khi Hồ Thích cho rằng có thể dùng phương pháp sừ học để hiểu Thiền. Hồ Thích đã sai lầm rất lớn; Thiền là kinh nghiệm giác ngộ; lịch sử không phải là kinh nghiệm; lịch sử chỉ là ghi chép kinh nghiệm; Hồ Thích đã sai lầm vì đã cho rằng đứng trên vị trí “chưa giác ngộ” có thể hiểu được Ngộ; còn Suzuki đã đúng khi cho rằng “chưa Ngộ” thì không thể nào hiểu “Ngộ” được, nhưng khi nói câu ấy, Suzuki đã ngụ ý rằng mình đã “Ngộ”.
Tất cả những kinh sách của Thiền tông như Pháp bảo đàn kinh, Vô môn quan, Lăng già sư tư ký, Tín tâm minh, Truyền đăng lục, vân vân,… đều nói lên ngôn ngữ của những con người đã “Ngộ” rồi. Và chính ngôn ngữ ấy là ngôn ngữ của Thiền.
Chẳng hạn như dở quyển Vô quan môn ta đọc thấy những câu sau đây của Thiền sư Vô Môn:
Phùng Phật sát Phật, phùng tổ sát tổ.
“Gặp Phật giết Phật, gặp tổ giết tổ.”
Thiền sư Vô Môn nói câu trên, dùng ngôn ngữ mạnh bạo trên là lúc thiền sư đã “Ngộ” rồi; còn nếu bất cứ người thứ hai nào mà lặp lại câu trên, đang lúc mình “chưa Ngộ” thì câu trên trở thành rất nguy hiểm và tai hại: nó biến thành cái cớ để người ta tự bào chữa hành động ngu xuẩn của mình; nó là cái cớ để người ta ngạo mạn kiêu căng; nó là cái cớ để người ta phá hoại tôn giáo, phá hoại truyền thống, không phải phá hoại để giải thoát, mà phá hoại vì ngu si mê muội, vì dại dột; phá hoại như thế có nghĩa là tự sát.
Chúng ta chỉ có quyền lặp lại câu nói của thiền sư Vô Môn với ý thức rằng mình chưa Ngộ và câu nói ấy là câu nói của một người đã chứng “Ngộ”; chúng ta chỉ có quyền lặp lại câu nói trên sau khi chúng ta biết rằng đó chỉ là một lối nói để phá chấp đến triệt để; còn chấp “Phật” tức là chưa thành Phật, còn chấp tổ nghĩa là thành tổ: giết Phật ở đây không có nghĩa là giết Phật, mà có nghĩa là giết ông “Phật” mà ta đã chấp trong trí ta.
Bi kịch lớn lao nhất ở đời là mỗi khi vĩ nhân xuất hiện và sau khi vĩ nhân ấy đã nói lên một lời nào thì những kẻ hạ nhân cũng bắt chước nói lại lời ấy; và mặc dù lời ấy cũng gồm bấy nhiêu chữ, nhưng những chữ ấy không còn là những chữ của vĩ nhân nữa; chẳng hạn vĩ nhân nói “sát Phật” thì hạ nhân cũng bắt chước mà nói “sát Phật”; nhưng đau đớn biết bao là câu lặp lại bỗng trở thành thuốc độc và đưa con người đến chỗ tự sát.
Nietzsche đã hiểu bi kịch trên: chúng ta thấy biết bao nhiêu lần Nietzsche đã để cho Zarathustra cảnh cáo mối tai hại ấy trong quyển Ainsi parlait Zarathustra.
Heidegger cũng hiểu ý của Nietzsche, nên trong quyển Qu’appelle –t-on-penser?, Heidegger có viết: “Trước kia đó là tiếng kêu la của Nietzsche, mà ngày nay tiếng kêu la ấy đã trở thành câu chuyện ba hoa của thiên hạ”.
Chẳng hạn, chúng ta thấy Nietzsche kêu: “Thượng đế đã chết”. Đó là tiếng kêu la thống thiết của Nietzsche để báo tin một kỷ nguyên mới. Ngày nay, thường khi, trong những phòng cà phê hay giảng đường đại học, chúng ta nghe người ta say sưa nói: “Thượng đế đã chết”; họ nói ba hoa như vậy, và họ vẫn tiếp tay duy trì thế giới cũ và cản lối làm chướng ngại vật không cho kỷ nguyên mới mở màn. Thế là “siêu nhân” của Nietzsche đã chết theo sau đó, do những đầu miệng của kẻ hạ nhân.
Thế là Nietzsche cũng chết luôn, như Malraux đã có lần nói như vậy.
Về Suzuki tôi xin tóm lại: Thiền của Suzuki không phải là Thiền của Vô Môn quan, của Pháp bảo đàn kinh, của Truyền đăng lục, vân vân; nghĩa là Thiền của Suzuki là Thiền về Thiền, cũng như Luận lý học là tư tưởng về tư tưởng – la pensée sur la pensée theo kiểu nói của Heidegger. Đó chỉ là một lối suy tư đặc biệt – une façon particulière de penser – một lối suy tư đặc biệt như Thiền của Suzuki cũng là một lối Thiền đặc biệt – une façon particulière de méditer, de “Zenifier”!
Những quyển Vô Môn quan, Pháp bảo đàn kinh, vân vân; là nói lại Thiền của Thiền của vị sư đã “Ngộ”.
Vô Môn quan, Pháp bảo đàn kinh, vân vân, không phải Thiền mà chỉ nói về Thiền.
Như vậy Suzuki đã nói về cái “nói về” ấy; còn những kẻ nào tôn sùng Suzuki và tham khảo sách của Suzuki (như Alan Watts, Christmas Humphreys, Hubert Benoit, Blyth, Sohuku Ogata, Chang Chen Chi, vân vân) thì những kẻ ấy lại nói về “cái nói về cái nói về” dịch ra tiếng Pháp cho dễ hiểu là: la pensée sur la pensée sur la pensée… Như thế là vô minh quá lắm rồi.
……
Trong một câu chuyện giữa người A và người B; người A nói rằng: “Tôi thích cái này, tôi ghét cái kia”.
Anh B vụt trả lời: “Anh nói rằng anh có nghiên cứu Thiền nhưng tại sao anh lại nói rằng anh thích cái này, ghét cái kia? Thiền đâu có ghét, đâu có thích!”.
Trong câu chuyện trên, chúng ta thấy anh A chưa ngộ và anh A hồn nhiên nói năng tự nhiên thành thật như một kẻ chưa ngộ; còn anh B thì chưa ngộ mà lại chỉ trích anh A; và khi chỉ trích như vậy thì tỏ ý mình đã hiểu Thiền, đã ngộ Thiền; sự thực thì anh B chưa ngộ; chẳng những thế anh còn vướng vào tội ngạo mạn ngu si vì anh B đã học lỏm được trong một quyển sách nào đó rằng “thích và ghét không phải là Thiền”; câu nói là câu nói của một thiền sư đã Ngộ; anh B chưa Ngộ mà lặp lại một câu của người Ngộ, và như thế tự cho mình cao hơn anh A, nghĩa là tự cho mình ngộ hơn người chưa ngộ! Ôi bi kịch! Chân lý mà bị lặp lại thì đã biến thành tà thuyết!
 
[Hết trích]
 
(Còn tiếp)
                                                                                         
Nguyên Lạc
____________________
 
Phụ lục:
 
Thiền Luận – D T Suzuki
 
https://acrobat.adobe.com/id/urn:aaid:sc:VA6C2:aa921b29-4511-467a-8e65-d180af029119
 
READ MORE - ĐỌC LẠI Ý THỨC MỚI TRONG VĂN NGHỆ VÀ TRIẾT HỌC CỦA PHẠM CÔNG THIỆN (5) - Nguyên Lạc

RỪNG – Thơ Lê Phước Sinh


  
               Nhà thơ Lê Phước Sinh
 

RỪNG
 
Khi Em âu yếm dụi vào ngực
ôm ấp trái tim của Anh
là Rừng gọi gió.
Khi Anh hôn vào má,
vào môi,
Rừng huýt gió tán thưởng.
Ngực phồng căng,
muôn chim thú rộn ràng hát ca,
màu xanh của núi đồi trần thế,
cuộn vào sương khói
rả tan
điều dối trá.
 
Lê Phước Sinh

READ MORE - RỪNG – Thơ Lê Phước Sinh