Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Nguyễn Phúc Vĩnh Ba. Show all posts
Showing posts with label Nguyễn Phúc Vĩnh Ba. Show all posts

Monday, July 6, 2020

ĐỌC TÂP CÁO. PHÚ, HỊCH. VĂN TẾ. VĂN BIA “TÂM THÀNH LỄ BẠC” CỦA NHÀ THƠ NGUYỄN PHÚC VĨNH BA - Châu Thạch



ĐỌC TÂP CÁO. PHÚ, HỊCH. VĂN TẾ. 
VĂN BIA  “TÂM THÀNH LỄ  BẠC”
      CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN PHÚC VĨNH BA
                                                      Châu Thạch

Nhà thơ Nguyễn Phúc Vĩnh Ba, một cây bút  thuộc bậc thượng thừa thành phố Huế, chuyên về lối văn Biền Ngẫu, là lối văn có cấu trúc văn chương cổ xưa, trong đó lấy đối làm nguyên tắc cơ bản, tạo cho lời văn sự nhịp nhàng cân đối.

Nhà văn Nguyễn Phúc Vĩnh Ba

Theo nghĩa chữ Hán, “Biền” là hai con ngựa chạy song song với nhau, “Ngẫu” là chẳn đôi. Biền ngẫu là cách nói hiện tượng hóa, chỉ những thể văn trong đó có các câu sóng đôi đối nhau từng cặp, có vần điệu hài hòa,sử dụng điển tích, từ ngữ xúc tích.

Nhà thơ  Nguyễn Phúc Vĩnh Ba, người chúng tôi thường gọi là Mệ, vì họ Vĩnh Phúc cúa ông thuộc hoàng tộc triều Nguyễn. Nhà thơ đã xuất bản một tập sách trong đó bao gồm các bài cáo, phú, hịch, văn tế, văn bía, viết theo cấu trúc văn chương biền ngẫu, lấy tựa đề sách là “Tâm Thành Lễ Bạc”

Châu Thạch tôi, thật tình dốt về các thể văn nầy, nhưng khi đọc sách của Nguyễn Phúc Vĩnh Ba, cảm nhận được đây là một tập sách rất có giá trị văn học, cần cho thế hê bây giờ và mai sau , nên cao hứng phải viết về nó, như con dế  nằm trong cỏ thấy ngôi sao lóe sáng trên bầu trời thì gáy vậy.

Trước khi đi vào sách nầy ta cần có khái niệm  về các thể văn biền ngẫu, hầu tác động trí tò mò muốn đọc cúa ta. Tôi tra cứu trên google và tạm định nghĩa ngắn gọn như sau:

Văn Cáo:  Cáo là một thể văn thư có cội nguồn từ thời xa xưa, nhà vua dùng để ban bố cho thần dân nhằm trình bày chủ trương, công bố kết quả một sự nghiệp. Sau nầy đổi tên gọi thành chiếu, chiếu chỉ.

Văn Phú : Phú là một thể văn chương cổ của Việt Nam, xuất phát từ Trung Hoa. Đây là một thể văn vần có từ thời nhà Hán, nhưng thể phú thông dụng nhất tại Việt Nam là loại đặt ra từ đời nhà Đường, nên còn gọi là Đường phú. Những thể khác ít dùng.

Văn Hịch: Hịch là thể văn nghị luận thời xưa, thường được vua chúa, tướng lĩnh viết ra một phong trào dùng để cổ động, thuyết phục hoặc kêu gọi đấu tranh chống thù trong giặc ngoài. Hịch có kết cấu chặt chẽ, có lý lẽ sắc bén, có dẫn chứng thuyết phục. Đặc điểm nổi bật của hịch là khích lệ tình cảm, tinh thần người nghe. Hịch thường được viết theo thể văn biền ngẫu (từng cặp câu cân xứng với nhau). 

Văn Tế: Thời xưa, trong thủ tục tế lễ trời đất, núi sông thường có bài văn cầu chúc. Về sau, khi chôn cất người thân người ta cũng dùng văn tế để tưởng nhớ người đã mất.  Cùng với sự phát triển của xã hội, nội dung văn tế cũng ngày một phong phú thêm. Đó là sự uất ức về cảnh nước mất nhà tan, xót thương cho những người dám hi sinh vì nghĩa lớn, lên án bất công như Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu, Văn tế đồng bào chết vì nạn bão lụt ở Nghệ - Tĩnh của Phan Bội Châu...; hay bộc lộ nỗi đau thương có pha lẫn tiếng cười trong Văn tế sống vợ của Trần Tế Xương, mỉa mai giễu cợt trong Văn tế thuốc phiệnVăn tế xôi thịt của tác giả khuyết danh, châm biếm và đả kích trong Văn tế Cutxô của Nguyễn Văn Từ, văn tế Nguyễn Du của Kha Tiệm Ly đoạt giải nhất toàn quốc vừa qua. 

Văn bia:Văn bia là một loại thư tịch, có niên đại rõ ràng, có giá trị như những tác phẩm văn học, nghệ thuật, chứa đựng hệ thống thông tin nhiều mặt về lịch sử, kinh tế, xã hội... đương thời, không chỉ có giá trị trong quá khứ mà còn cả trong hiện tại. Văn bia (Bi văn) là từ dùng để chỉ bài văn khắc trên bia đá.


 Tập sách “Tâm Thành Lễ Bạc” của Nguyễn Phúc Vĩnh Ba có 17 bài  văn, trong đó gồm có 1 bài cáo, 1 bài hịch, 2 văn bia, 9 văn tế, 3 bài phú và 1 điếu văn. Theo nhận định của nhà văn Nguyễn Văn Uông thì “văn phong trang trọng, chỉnh tề, đúng vần luật . Đọc qua một lần nghe  nhạc điệu biền ngẫu râm rang hùng tráng; đọc lại thấy tư tưởng  phấn chấn rộn ràng như những hồi kèn xung trận. Thật là một dụng công hiếm có”.

Vì thể văn  cáo, Phủ, tế… nầy rất dài nên tôi chỉ xin trích ra đây một đôi câu đầu bài văn để chúng ta có ý niệm về bút pháp của Nguyễn Phúc Vĩnh Ba mà thôi:

 “Vua một nước lưu đày vì nước, khổ ấy là vinh
Người hai quê khoắc khoải nhớ quê, chết mà như sống
Việc bôn tẩu mưu đồ diệt tặc, dân còn ghi khắc cốt tâm mình
Chuyện bại hư hữu chi vô thời, sử đã chép công bình chính thống”
                                  (Văn tế vua Hàm Nghi)

“Hỡi ơi!
Trời còn nổi gió hướng Nam
Đất đà khóc người xứ Bắc
Những tưởng xông xáo trường văn trận bút, cho thỏa lòng mong muốn thuở: Tiếng ta còn
Ai hay vắng hoe gò trống đồi hoang, mà thắt ruột đau một đời: Tiên sinh mất
Con trẻ Tạo sao quá đành hanh?
Lão già Thiên lẽ nào quá quắt!”
                 (Văn Tế Nam Phong Chủ Bút) tức  cụ Phạm Quỳnh

“Khéo thay
Rồng đã hết hạn
Rắn đã tới phiên
Rồng bay trên cao, bay bổng tời xanh, lộn ngược lộn xuôi, thế cũng có ngày cong đuôi chạy
Rắn bò dưới thấp, bò lê đất đỏ, quẳn qua quẳn lại, ai ngờ gặp buổi ngẩn đầu lên
Sự thế đổi thay, âu cũng là điều tất yếu
Việc đời biến hóa, chẳng qua vốn lẽ đương nhiên.
                           (Quy Tỵ Tân Niên Phú)

Qua một vài câu văn mở đầu trên, ta thấy lời văn biền ngẫu của Nguyễn Phúc Vĩnh Ba thật là giản dị, dân dã mà xúc tích, hàm chứa trọn vẹn ý tứ, cũng như đối ngẫu nhẹ nhàng, thanh thoát. Còn về sự sâu nhiệm thì nhà văn Nguyễn Văn Uông đã viết trong lời bạt như sau:

“Đọc Tâm Tình Lễ Bạc của  Nguyễn Phúc Vĩnh Ba, người đọc cảm khái được cái hào sảng đong đầy từng câu chữ, khơi dậy hào khí dân tộc qua những thăng trầm lịch sử”
“Một tập sách gắn bó với tình tự dân tộc như thê xuất hiện trong gia đoạn “Cái học nhà nho đã hỏng rồi”. Một “tấm lòng” với dân với nước cần được nhìn nhận như một cống hiến đáng trân trọng, cổ xúy”

Nhà thơ ZuLu DC, một cây bút bình luận văn thơ có uy tín ở hải ngoại đã nhận định như sau:

“Công phu và tâm huyết lắm bạn ta. Một chi tiết rất quan trọng, đó là cách gieo vận trong văn biền ngẫu, văn biền ngẫu thường là độc vận, nó chứng tỏ khả năng, bản lãnh và trí tuệ của người sáng tác, về mặt này, hiện nay chưa có tác giả nào qua mặt NPVB !
Một điều cần nêu rõ là, từng chi tiết trong bài viết của Mệ là chính xác, không hư cấu, hứng tình viết bừa bãi, theo cảm tính của nhiều tác giả xử dung biền ngẫu gần với thơ tự do!”

Nhà thơ Kha Tiệm Ly. Người vừa đoạt giải nhất tòan quốc năm 2020 trong  cuộc  thi viết văn tế Nguyễn Du đã viết: “Tôi nể phục anh Nguyễn Phúc Vĩnh Ba về tài năng lẫn đức độ.”

Nhà thơ Lang Trương, cây bút viết phú, viết văn tế đầy uy tín, được mến mộ hiện nay đã viết về Nguyễn Phúc Vĩnh Ba  như sau:

“Anh Nguyen Phuc Vinh Ba là hậu duệ đời thứ 06 của Đức Thế Tổ Cao Hoàng Đế Gia Long. Anh là nhà giáo đầy tài năng và tâm đức được các đồng nghiệp kính trọng. Trong anh vẫn chảy dòng máu cao quý của dòng dõi vương giả. Tôi thực sự ngưỡng mộ, kính trọng anh về nhân cách và tài năng. Tâm Thành Lễ Bạc là tuyển tập những bài văn biền ngẫu theo thể Phú Đường Luật Độc Vận, một thể văn cổ rất khó viết, đòi hỏi tác giả phải có tâm, tầm và vốn liếng ngôn ngữ phong phú, khoáng đạt. Tuy tập sách in kiểu nhà nghèo chỉ dành tặng bạn bè nhưng là ấn phẩm rất có giá trị văn học. Tôi học hỏi được nhiều điều từ các bài viết của anh. Kính.”

Châu Thạch trân trọng giới thiệu cùng quý thân hữu và bạn đọc tập sách  có giá trị nầy. Ước mong sách sẽ đi vào lòng người và nhà trường để những gia trị văn chương văn hóa dân tộc còn tồn tại mãi mãi trong thế hệ hậu sinh ./.
                                          Châu Thạch


READ MORE - ĐỌC TÂP CÁO. PHÚ, HỊCH. VĂN TẾ. VĂN BIA “TÂM THÀNH LỄ BẠC” CỦA NHÀ THƠ NGUYỄN PHÚC VĨNH BA - Châu Thạch

Wednesday, April 8, 2020

VĂN TẾ 8 VẠN BỆNH NHÂN UỔNG TỬ TRONG ĐẠI DỊCH COVID 19 - Nguyễn Phúc Vĩnh Ba

Tác giả Nguyễn Phúc Vĩnh Ba



VĂN TẾ 8 VẠN BỆNH NHÂN UỔNG TỬ 
TRONG ĐẠI DỊCH COVID 19

1. Hỡi ơi,
Oan trái mù mờ.
Họa tai dồn dập.
Đất một trái hơn bảy tỷ người chung sống, tưởng trời xanh mây trắng thảnh thơi,
Trời bốn phương gần hai trăm nước cùng chia, bỗng lửa đỏ than hồng tới tấp.
Quả nhân đâu đã tinh tường,
Bệnh tử nay đành oan khấp.
Xót bàng dân khốn khổ, mực mài giấy trải, viết đôi hàng khóc số bạc kiếp đen
Thương cô quỉ lênh đênh, hoa cúng đèn chong, bày một lễ tế dân hèn phận thấp.

2. Có ngờ đâu,
Thành Vũ Hán thiên tai giáng xuống, ngang đầu sét đánh, người người ngơ ngác hoài nghi,
Xứ Trung Hoa ôn dịch lan ra, đang tối lũ dâng, chốn chốn rộn ràng cứu cấp.
Bác sĩ Lượng (1) kinh hồn thư nhắn, dịch phát rồi nhanh lây nhiễm phố phường,
Quan tỉnh Hồ (2) hoảng hốt ra tay, lịnh ban ngay mau kiểm tra xuất nhập.
Đang mạnh khỏe, không hề thấy bệnh, bỗng mỏi cả châu thân,
Vẫn bình thường, chẳng chút nghi đau, lại viêm đường hô hấp.
Sốt đôi lần e lai rai cảm cúm, ấy cũng bình thường,
Ho vài tiếng tưởng mô đó tấy sưng, hóa ra nguy ngập.
Nhiều chú nói cười trên phố, ba hoa trổ tài chém gió, khéo đã vướng rồi,
Đôi anh đi đứng ngoài đường, ngổ ngáo giữ thế đàn anh, tự nhiên đổ sập.
Từ trước Chạp (3) tin còn bưng bít, tội thay người phát hiện phao ra,
Qua khỏi Giêng (3) báo đã công khai, hoảng quá dân ùa đi lánh nấp (4).
Y viện tràn đầy người bệnh, bệnh sao quá lạ, chỉ hỏi chào mấy phút đã lây,
Chính quyền quyết liệt tách dân, dân phải ngồi yên, ra khỏi ngõ gãy chân cũng đập.

3. Ôi thôi,
Thoắt ba tháng, hơn một triệu người (5) nhiễm khuẫn, từ Bắc Kinh, Nữu Ước ... cho tới Luân Đôn,
Hơn chục tuần, quá tám vạn vị mệnh chung, cả Nhật Bản, Nam Hàn, … cộng thêm Ai Cập.
Nơi giáo đường hòm gỗ sắp như tôm,
Nhà tang lễ hủ tro dày tựa đập.
Chết đột ngột phút giây, phải hay chăng vô thường quỷ hẹn hò,
Sống lo sợ đêm ngày, họa đã có câu hồn ma rình rập.
Nghĩ nát óc tìm phương khống chế, nhiều quốc gia bế quan tỏa cảng, bao lãnh đạo vò đầu,
Thức bạc tóc lo chỗ cách ly, lắm cơ quan phân loại điều tra, mọi ban ngành thở gấp.
Ra phố xá bịt khẩu trang kín mũi, hàng quán eo sèo vắng vẻ, nhìn thoáng đã rầu,
Vô nhà thương đeo mặt nạ tận mày, bệnh thầy đông đúc chen chân, tránh đâu cũng vấp.
La Mã Luân Đôn ngày nao tráng lệ, sàn nhảy quầy ba … ngơi trót tháng, tường nhà sẫm sẫm mốc ăn,
Ba Lê Bá Linh thuở trước huy hoàng, quán ăn tiệm uống … nghỉ lâu ngày, cửa kính mờ mờ bụi lấp.
Nay thành phố không người đi kẻ lại, như tha ma nghĩa địa, lạnh lẽo hoang vu,
Đâu quảng trường xưa kèn thổi đờn ca, tựa nhạc hội diễu binh, tưng bừng tấp nập.
Kinh tế cả toàn cầu rúng động, nhà nhà nước nước, bao sức lực chẳng chút bảo tàng,
An ninh toàn thế giới đảo chao, của của tiền tiền, mọi khí tài thảy đều trưng tập.

4. Thảm thay,
Người bị bệnh kể từ nhập viện, buồn bã thân đơn bóng lẻ, vợ con chẳng được trông nom,
Kẻ thân quen cũng phải cách ly, lạc loài trạm lạ phòng xa, tin tức lấy đâu phổ cập.
Dễ lây nhiễm khiến đề phòng nghiêm nhặt, ngăn rào mấy lớp bao vây.
Khó phục hồi nên điều trị khó khăn, đo đếm từng giờ mới cập.
May mắn gặp thuốc men hữu hiệu, nhiệt tình bác sĩ hỏi han,
Xẻo xui thì tim phổi suy tàn, tơi tả siêu vi vùi dập.
Than thở biết ai chia sẻ, thỏ thẻ mỏi mòn,
Trối trăn đâu kẻ lắng nghe, phều phào lấp bấp.
Ác sao ác tổn, Cô Vy này chê trẻ chọn già,
Ngặt quá ngặt nghèo, Thần Chết lại vơ gầy vét mập.
Bệnh đông thuốc thiếu, lắm ông lão tuổi trời đã bộn, thôi mặc tiêu luôn,
Viện chật người nhiều, bao cụ già dưỡng lão lâu đời, kệ cho chết rấp.
Bệnh quỷ gieo rắc khắp nơi,
Thuốc tiên kiếm tìm chưa gặp.

5. Ai hay,
Nguyên thủ phạm con dơi chịu tiếng, cứ than thầm ôn dịch thiên tai,
Đích căn nguyên vi rút gây ra, giờ mới rõ Cô – na6 nhân lập.
Tung hoành tám hướng, tồn tại lâu trong vật liệu bình thường,
Phát tán bốn phương, truyền nhiễm nhanh ở môi trường ẩm thấp.
Ác chi ác thế, tội này là vạn kiếp xương chẻ thịt băm,
Độc quá độc ghê, trị phải đến thiên thu đầu đè đá ngập (7).
Jin Ping (8) mạnh miệng, truyền thủ hạ bảo tại bác Trump,
Đô Nán (9) to mồm, tự bản thân nói vì chú Tập.
Trắng đen thế nào, cần bàn luận phân minh,
Sai đúng ra sao, chờ điều tra thu thập.
Cái kim giấu lâu ngày cũng lộ, hoàng thiên hữu nhãn còn soi,
Của trộm tiêu bao tháng đã xong, quốc pháp vô tư cứ chấp.
Chỉ mỗi tội nạn nhân tử bệnh, chút tro tàn như nuối tiếc khôn nguôi,
Mà thêm thương thể tử thọ tang, bó nhang ngút dường buồn đau khuất lấp.

6. Ô hô,
Một nén hương tàn,
Bốn lạy mặt sấp.
Thầm xin Phật Chúa hộ trì
Khẽ khấn Thánh Thần trợ cấp.
Hoa lá cỏ cây ủ rủ, cảnh dài thêm bao nét thương tâm,
Bạn bè thân quyến lơ thơ, lịnh cấm ngặt đông người tụ tập.
Dịch bệnh trách chi ai ái ngại, không đưa nhau cũng nghĩa xóm phường
Tóc tang đâu xét kẻ hững hờ, chẳng thăm hỏi vẫn tình thôn ấp.
Người nằm đó mặc đời xuôi ngược, sinh thành hoại diệt, hồn xin thanh thản ra đi,
Tôi đứng đây nhìn cõi đảo diên, phẫn nộ bi ai, lòng những giá băng chìm ngập.

Hồn hỡi, vong ơi!
Chết có linh thiêng,
Hãy về thụ cấp.

NGUYỄN PHÚC VĨNH BA,
Ngày 08.04.2020.

Chú thích:
1. Bác sĩ nhãn khoa Lý Văn Lượng, người phát hiện ca bệnh Covid 19 đầu tiên ở Hồ Bắc, Trung Quôc vào ngày 01.12.19 (06.11. Kỷ Hợi, âm lịch). Ông nhắn tin cho 07 bạn bè….
2. Quan chức tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc.
3. Bác sĩ Lượng bị Công An Vũ Hán kết tội phát tán thông tin sai sự thật vào ngày 03.01.20 (08, tháng Chạp, Kỷ Hợi, âm lịch). Đến ngày 30.01.20 (01.tháng Giêng, Kỷ Hợi, âm lịch), WHO tuyên bố tình trạng y tế khẩn cấp toàn cầu. Vào ngày 12.3.20 WHO tuyên bố dịch viêm hô hấp Covid 19 là đại dịch toàn cầu.
4. Dân chúng thành phố Vũ Hán vơi đi ½ khi dịch Covid 19 này bạo phát vào tháng Giêng.
5. Theo thống kê đến 06g00 ngày 08.4.2020 có đến 1.426.748 người lây nhiễm vi rút SARS-CoV-2 và trong đó hơn 81.995 người chết. E vài hôm nữa thì bệnh nhân và người chết sẽ nhiều hơn vì đỉnh dịch chưa đến và nhiều thành phố lớn chưa khống chế được dịch.
6. Viết tắt tên vi rút Corona chủng mới.
7. Bị núi đá đè ngàn năm như Tề Thiên Đại thánh trong truyện Tây du ký.
8. Xi Jin Ping là Tập Cận Bình, Tổng bí thư đảng CS Trung Quốc.
9. Donald Trump là đương kim Tổng thống Mỹ quốc.

READ MORE - VĂN TẾ 8 VẠN BỆNH NHÂN UỔNG TỬ TRONG ĐẠI DỊCH COVID 19 - Nguyễn Phúc Vĩnh Ba

Tuesday, December 31, 2019

VĂN TẾ VUA HÀM NGHI - Nguyễn Phúc Vĩnh Ba


Vua Hàm Nghi (1871-1943)


Văn tế vua Hàm Nghi
(Linh hồn phong trào Cần vương kháng Pháp)

 
Hỡi ơi,

Đất khách thân lưu.
Quê nhà hồn mộng.
Vua một nước lưu đày vì nước, khổ ấy là vinh,
Người hai quê khoắc khoải nhớ quê, chết mà như sống.
Việc bôn tẩu mưu đồ diệt tặc, dân còn ghi cốt khắc tâm minh,
Chuyện bại hư hữu chí vô thời, sử đã chép công bình chính thống.

Thế mới hay,

Đạo nghĩa(1) vốn trường tồn,
Giang sơn là chí trọng.
Suốt muôn đời, gương ái quốc treo cao,
Khắp mọi chốn, tiếng ưu dân truyền rộng.

Nhớ linh xưa.

Bẩm tính thông minh
Giống dòng vương tộc.
Đến cái lúc hoàng triều suy nhược, Nam kỳ mất rồi Bắc kỳ(2) cũng mất, nhường sông cắt đất đã hung.
Gặp phải thời bạch quỉ xâm lăng, chiến phí nhiều thêm bồi phí quá nhiều, đòi nợ réo tiền quá thúc.
Bóng triều ca tà xế tựa chiều, tứ nguyệt những tam vương(3)
Mối xa thư vùi rối như tơ, nhất giang mà lưỡng quốc.
Giang sơn binh cách(4), tang tóc thương vong tràn ngập, quân dân xương máu tơi bời,
Điện miếu đảo khuynh, đổi thay phế truất liên hồi, quan tướng kế mưu hiểm hóc(5).
Lên ngôi báu tuổi vừa mới lớn(6), thấy cổn bào mà sợ, từ mẫu ngóng theo,
Cầm quyền uy tóc vẫn măng tơ, lên bảo điện còn run, thị thần dẫn bước.
Điện Thái Hoà rộn gót giày săng đá(7), nghĩ tới thêm đau,
Cửa Ngọ Môn vang giọng nói lang sa(8), nghe mà nổ óc.
Nghi lễ quàng xiên,
Thánh uy meo mốc.

Than ôi,

Trong đã không yên,
Ngoài thì quá bức.
Đờ Cuốc-Xy(9) ngông nghênh doạ nạt, lâu la đông đảo, ta cũng nao lòng,
Hoàng thái hậu(10) mềm dẻo nhún nhường, lễ vật đàng hoàng, chúng càng cậy sức.
Quan Quận cam tâm sang ra mắt, giặc lại làm kiêu,
Quan Tướng phẫn chí thác nằm nhà, mình lo lựa lúc.
Chốn Tân Sở, sơn phòng đã lập, gạo tiền đồn luỹ sẵn sàng
Nơi Kinh Thành, cai đội đang chờ, gươm giáo đao khiên túc trực.
Nhìn dân lành dầu sôi lửa bỏng, lòng xót miên man.
Thấy bọn ác cổ cỡi đầu đè, máu hờn sôi sục.
Chết vì đất nước cũng đành.
Sống với địch thù quá cực.
Đêm Hăm hai, quân ta xuất trận, Toà Khâm Mang Cá lửa cháy pháo vang,
Rạng Hai ba, bọn chúng phản công, Thượng Tứ Lương Y đạn vèo lê thúc.
Dân hoảng hốt đổ xô chạy loạn, lớp chết lớp thương
Lính kiên gan ào ạt diệt thù, đứa rơi đứa gục.
Thương ôi! Gậy gộc chống ngăn đạn sắt, kẻ lủng bụng lòi gan,
Giận thật! Ghe thuyền đánh với tàu đồng, người tan thây vỡ ngực.

Thôi thôi,

Hoàng thành bái biệt, trí thơ ngây nào hiểu được quân cơ(11),
Hiểm địa tị thân, lòng khôn lớn dần nhìn ra thế cuộc.
Cần vương ban chiếu(12), kêu muôn dân góp sức diệt sài lang,
Cứu quốc truyền văn, gọi trăm xứ vùng lên tru xâm lược.
Sơn lam chướng khí, Quảng Trị rồi Quảng Bình Hà Tĩnh, lao đao thân ngọc hao mòn,
Duyên hải viễn biên, Bình Định đến Thanh Hoá Hưng Yên, chốn chốn lòng son sáng rực.
Ngược Bắc có Đình Phùng, Thiện Thuật, … máu thằng Tây đẫm giáo dân lành,
Xuôi Nam thì Xuân Thưởng, Trung Đình(13) gươm quân Việt bêu đầu bọn ác
Khi Ấu Sơn khi Tuyên Hoá, chân ngày đi quen ghềnh thác rú rừng,
Lúc Tân Sở lúc Hương Khê(14), thân đêm ngủ bạn muỗi mòng sên vắt.
Dân vì nước, gà trâu heo lúa, bán sạch mà mua súng đánh Tây
Vua vì dân, đèo ải buôn mường, len khắp cả giương cờ phá tặc.
Sốt run cầm cập, chí đâu sờn bởi chính nghĩa nấu nung,
Rét lạnh rẩy run, lòng vẫn ấm vì nhân dân đùm bọc.

Thương ơi,

Lương cùng đạn kiệt, quan Tướng đành cầu viện lân bang(15),
Thế lẻ thân cô, nhà vua bị gian thần phản trắc(16).
Sa vào tay bạch quỉ vẫn bình tâm thanh thản(17), long uy xui lũ cướp kính vì,
Chết dưới kiếm phản đồ mà bất khuất hiên ngang, hộ giá(18) để đời sau ngưỡng phục.
Mẹ đau cũng mặc(19), nhà tan nước đổ, tâm ý nào thăm viếng dưới trên;
Thầy đến phải chào(20), giấy rách lề nguyên, lễ nghĩa vẫn giữ gìn sau trước.
Cờ quân địch tựa như muối xát, mỉa mai chi người đã thất cơ.
Còi tàu binh nào khác ớt hun, dày vò mãi kẻ đà bại cuộc.
Tủi thân đón cuộc lưu đày,
Xa xót đi về đảo giặc.

Thảm ơi,

Nghìn trùng thương đất mẹ, từ nay côi cút xứ người,
Vạn lý nhớ quê nhà, e trọn sầu bi cõi tục.
Ngàn Thông(21) đó lầu cao gió thổi, vui chi đâu lòng nghẹn mối căm hờn,
“Chiều tà”(22) đây góc tạm đời thừa, xót biết mấy dân còn nơi cũi ngục.
Giữ trang phục, luôn dài đen luôn búi tó(23), nào có quên thân kiếp sa chân.
Giết thời gian, khi khắc tượng khi vẽ tranh, cố tìm nguôi nỗi buồn mất nước.
May mắn thật, nên chồng nên vợ, trai gái nối dõi giòng(24).
Hiếu nghĩa sao, cũng bánh cũng hương, cháu con thờ họ tộc(25).
Năm mươi sáu năm lưu đày vong quốc, tha phương nặng trĩu gánh sầu,
Bảy mươi tư tuổi thọ mãn phước phần(26), tiên cảnh nhẹ nương cánh hạc
Đất lạ mồ xa gởi xác, lênh đênh An Rế(27) lại Lang Sa.
Làng yêu quê mến du hồn, phiêu bạt Cấm Thành(28) qua Thương Bạc.

Nay,

Bùi ngùi bao, tưởng nhớ bậc minh vương.
Cay đắng lắm, xót thương người chính trực
Trời xa mộ lạnh, Tho-nac(29) ơi, xin ấp ôm tàn cốt anh hùng
Đất mẹ quê xưa, Huế đô này, tưởng nhớ mãi uy linh thống khốc.
Hoa hương bày biện, truy niệm ân thâm
Bánh trái cúng dâng, tụng xưng thạnh đức.
Hồn hỡi linh thiêng,
Xin về thụ lộc.

Nguyễn Phúc Vĩnh Ba

Chú thích:

1.      Đạo làm vua phải lo cho dân, nghĩa làm dân phải lo bảo vệ đất nước (Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách).
2.      Theo hiệp ước Patenôtre (Giáp Thân, 1884), triều đình Huế công nhận sự bảo hộ của Pháp ở cả Bắc kỳ và Trung kỳ. Nam kỳ thì đã cát cho Pháp, triều đình Huế chỉ là một hư vị.
3.      Trong vòng bốn tháng, ba vị vua (Dục Đức, Hiệp Hoà, Kiến Phúc) đã liên tiếp bị phế truất trước khi vua Hàm Nghi lên ngôi. Pháp đặt Toà Khâm sứ ở hữu ngạn sông Hương chính thức bảo hộ Nam triều theo hiệp ước Giáp Thân. Hồi ấy truyền tụng câu đối “Nhất giang lưỡng quốc nan phân Thuyết/ Tứ nguyệt tam vương triệu bất Tường.
4.      Ở Nam kỳ cũng như Bắc kỳ các phong trào kháng Pháp nổ ra khắp nơi gây nhiều tổn thất cho giặc Pháp.
5.      Hai phụ chánh đại thần Nguyễn Văn Tường (Quan Quận) và Tôn Thất Thuyết (Quan Tướng) đã ám hại nhiều người như vua Dục Đức, vua Hiệp Hoà, vua Kiến Phúc, Phụ chánh Trần Tiễn Thành, Hồng Sâm, Hồng Phì,.. vì họ không theo chủ trương đánh Pháp của hai ông này.
6.      Vua Hàm Nghi (1871 - 1944) lên ngôi mới 13 tuổi. Khi có người đưa áo mão đến ngài không dám nhận, và khi bước lên ngai vàng phải có thị thần dìu đi.
7.      Đại tá Guerrier và Khâm sứ Rheinart vào điện Thái Hoà làm lễ phong vương cho vua Hàm Nghi ngày 27.6 năm Giáp Thân (1884).
8.      Tháng 4 năm Ất Dậu, Thống tướng De Courcy sang Bắc Kỳ. Tháng 5 y mang 1024 quân đi tàu đến Huế, đòi hai quan phụ chánh Tường và Thuyết sang Toà Khâm trình diện. Giày da của lính Pháp thường được gọi là giày săng đá (soldat: người lính)
9.      France (nước Pháp) được âm ra tiếng Việt là Phú-lang-sa, hay còn gọi tắt là Lang-sa.
10. Hoàng thái hậu Từ Dũ lệnh mang lễ sang tặng Thống tướng De Courcy để mua chuộc lòng y, nhưng y không nhận.
11.  Theo Nguyễn Quang Trung Tiến trong bài “Vị thiếu niên trưởng thành từ niên thiếu” đăng ở Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ số 01 (7), 1995 thì khi hai ông Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết tâu vua lánh đi tị nạn, vua Hàm Nghi bảo “ Ta có đánh nhau với ai mô mà phải chạy.”
12.  Ra Tân Sở, ông Thuyết xin lệnh vua ra Hịch Cần Vương, rồi sau đó ban Dụ Cần Vương kêu gọi sĩ phu và dân chúng nổi lên đánh Pháp, giành độc lập Tổ quốc.
13.  Phong trào Cần Vương sôi sục nổ ra khắp nước, tiêu biểu như Nguyễn Thiện Thuật ở Hưng Yên, Phan đình Phùng ở Hà Tĩnh, Mai Xuân Thưởng ở Bình Định, Lê Trung Đình ở Quảng Ngãi,...
14.  Tân Sở (Quảng Trị), Ấu Sơn, Hương Khê (Hà Tĩnh), Tuyên Hoá (Quảng Bình) là những nơi vua Hàm Nghi đã ở lại trước khi bị bắt.
15. Phụ chánh Tôn Thất Thuyết đã để vua ở lại Hà Tĩnh, còn mình đi Quảng Châu cùng Đề đốc Lê Trực, Phạm Tuân cầu viện Trung Hoa.
16.  Suất đội Nguyễn Đình Tín dụ được Trương Quang Ngọc đầu thú, rồi dẫn Pháp đến vây bắt vua Hàm Nghi khuya 26 tháng 9  Mậu Tý (1888).
17.  Khi bị bắt, nhà vua bình thản chỉ mặt Ngọc quát “Thà mi giết ta đi còn hơn mang ta ra nộp cho Tây.”
18.  Con trai của ông Thuyết, Tôn Thất Thiệp, lúc ấy đang hộ vệ nhà vua bị đâm chết. Tôn Thất Đạm nghe tin cũng treo cổ tự ải.
19.  Khâm sứ Rheinart báo cho vua biết là Thái hậu đang ốm nặng, nếu nhà vua muốn thăm hỏi thì sẽ cho rước về gặp mặt.  Vua Hàm Nghi đáp, “Tôi thân đã tù, nước đã mất, còn dám nghĩ gì đến cha mẹ anh em nữa.”
20.  Dù vua Hàm Nghi làm ngơ, giả như là không phải là vua khiến giặc Pháp hoài nghi không biết có phải bắt nhầm người hay không. Tuy vậy, khi thấy thầy giáo cũ là Nguyễn Nhuận đến xem, Ngài đứng dậy vái chào khiến đã lộ ra chân tướng.
21.  Pháp bố trí nhà vua ở tại biệt thự Ngàn Thông (Villa des Pins) trong thủ đô Alger, sau nhà vua cải tên thành biệt thự Gia Long.
22.  “Chiều tà” là một bức tranh nổi tiếng của vua Hàm Nghi. Ngài có thiên khiếu về mỹ thuật, điêu khắc và đã vẽ nhiều bức tranh rất đẹp theo trường phái Gauguin. Hàm ý của bức tranh “Chiều tà” có lẽ là cuộc đời êm ả về chiều của một kiếp người bất hạnh chăng?
23.  Ở Algérie, nhà vua luôn mặc y phục Việt (áo dài đen, khăn bịt đầu), tóc búi tó, ăn cơm Việt. Dân bản xứ gọi Ngài là ông Hoàng An Nam (Prince d’Annam). Ngài luôn luôn giữ tư cách một nhà vua yêu nước và bất khuất nên chính quyền thực dân Pháp tại Alger tỏ ra rất kính trọng Ngài.
24.  Nhà vua lấy vợ người Pháp là bà Marcelle Aimée Léonie Laloe và có 3 người con: 02 gái và 01 trai. Đó là công chúa Như Mai, công chúa Như Lý và hoàng tử Minh Đức.
25. Nhà vua cho xây Gia Long các 2 tầng, có bộ mái tựa như Phu Văn lâu để thờ vua Gia Long và liệt tổ liệt tông. Ngài tổ chức cúng bái tổ tiên hàng năm tại đây.
26.  Trên mộ Ngài có ghi 1871 – 1944, tức nhà vua thọ 74 tuổi ta, và đã ở Algérie tổng cộng 56 năm (1888 - 1944)
27. Ghi âm từ Alger, thủ đô của Algérie.
28.  Tử Cấm thành.
29.  Nghĩa trang ở làng Thonac, Dordogne thuộc Pháp nơi hiện nay có mộ vua Hàm Nghi, được cải táng từ thủ đô Alger sang. Vợ con Ngài (ngoại trừ công chúa Như Lý) cũng chôn cất tại đây.



  


(Trích từ tập sách 
TÂM THÀNH LỄ BẠC  
Cáo Phú Hịch Văn Tế Văn Bia, 
tác giả Nguyễn Phúc Vĩnh Ba, 
tác giả gởi tặng.)
READ MORE - VĂN TẾ VUA HÀM NGHI - Nguyễn Phúc Vĩnh Ba

Saturday, October 21, 2017

BÁI ĐỀ MINH MẠNG VƯƠNG LĂNG - Nguyễn Phúc Vĩnh Ba



Chúng tôi vừa được nhà văn - nhà Hán học Nguyễn Phúc Vĩnh Ba gởi tặng tập sách TRỌNG NHÂN THI TẬP, gồm 68 bài thơ chữ Hán luật Đường và một số câu đối.

Đây là một tác phẩm thơ chữ Hán rất hiếm trong thế kỷ 21 này vì người rành chữ Hán hiện nay ở nước ta  chẳng có mấy vị, người sáng tác thơ bằng chữ  Hán lại càng ít hơn.

Mặc dù tác giả thuộc Hoàng tộc nhưng chủ đề tập thơ không phải chỉ để ca ngợi công đức các Vua Nhà Nguyễn mà dành phần lớn cho nhiều đề tài liên quan đến lịch sử, xã hội, văn học... hết sức thú vị.

Xin mạn phép tác giả cho chúng tôi trích đăng bài thứ hai trong tập sách nói trên và trân trọng giới thiệu đến bạn đọc.

BÁI ĐỀ MINH MẠNG VƯƠNG LĂNG
Nguyễn Phúc Vĩnh Ba










滿
             
                                                                                            

Bái đề Minh Mạng Vương lăng

          Cường thịnh xương vinh thị thử triều       
Hồng khai biên thổ tận man miêu
         Kỷ cương nghiêm chính tề Đường Hán
   Phong hoá nhu hoà tỉ Thuấn Nghiêu
  Lẫm lẫm vương lăng trường cửu tại
    Mang mang công nghiệp cổ kim kiêu
Sơn hà ân sủng chân thiên tử
Linh khí do tồn mãn tịch triêu.
                           Bính Tý hạ
                                                                             

Lược dịch:
 Kính đề thơ ở lăng vua Minh Mạng

Một triều cường thịnh bấy nay
Cõi bờ mở tận xứ tây man mường 
Kỷ cương nghiêm chính Hán Đường
Thuấn Nghiêu phong hoá thuần lương nhu hoà
Lăng vua sừng sửng đến giờ
Mênh mang công nghiệp ngàn thu kiêu hùng
Sơn hà phù trợ minh quân
Khí thiêng vẫn quyện ngàn thông sớm chiều.

                                    Mùa hè 1996 

                                                 Nguyễn Phúc Vĩnh Ba

Nguồn: nguyenphucvinhba.blogspot.com.


READ MORE - BÁI ĐỀ MINH MẠNG VƯƠNG LĂNG - Nguyễn Phúc Vĩnh Ba