Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, April 23, 2026

Hoàng Thị Bích Hà - HÔN NHÂN MỘT THUỞ TRẦN AI - Truyện ngắn




HÔN NHÂN MỘT THUỞ TRẦN AI

 

Biển Nha Trang có những ngày lặng gió. Nước trong xanh. Nhưng cái lặng ấy không phải lúc nào cũng bình yên. Có những cơn sóng được giấu rất sâu.

Cuộc đời Thục Nhi cũng vậy.

Nhi sinh ra trong một gia đình viên chức, nề nếp ở thành phố Nha Trang. Ba mẹ sống hiền lành, cần mẫn, chăm lo cho con ăn học. Nhi là con gái lớn, tính tình dịu dàng, nói năng cũng nhỏ nhẹ như sợ làm đau lòng ai.

Nàng học sư phạm rồi được nhận nhiệm sở tại trường trung học phổ thông trong thành phố, dạy gần nhà. Một công việc đủ để sống, không dư dả nhưng an ổn. Người ta thường nghĩ những người như Nhi sẽ có một đời bình lặng, như mặt hồ không gợn.

Rồi Nhi lấy chồng. Nàng kết hôn với Nguyễn Tuần Dương nhân viên đo đạc địa chính, nhà ở cách nhà nàng vài cây số.

Một đám cưới không ồn ào, không rực rỡ. Chỉ là hai con người kết lại với nhau, mang theo những kỳ vọng rất giản đơn: có một mái nhà, vài đứa con, và những bữa cơm nóng.

Nhưng đời không là mơ và tình không là thơ.

Tính đến nay, Thục Nhi lấy chồng được mười lăm năm. Trong 15 năm ấy biết bao đoạn trường.

Dương - chồng Nhi - không phải là cơn bão đến ngay từ đầu. Anh ta giống như một vết nứt nhỏ trong bức tường, ban đầu chẳng ai để ý. Chỉ đến khi nước mưa thấm lâu ngày, bức tường mới rạn ra, rồi đổ sụp.

Những năm đầu, Nhi vẫn nghĩ: “Rồi sẽ ổn thôi.”

Nhưng “ổn” là một thứ không tự nhiên mà có.

Anh ta đi làm không đưa tiền lương để vợ nuôi con, mà nếu có đưa vài ba triệu thì vài ngày sau, lấy cớ đi đâu lấy lại gấp đôi, không đưa thì anh ta đánh. Đánh không biết bao nhiêu lần. Hàng ngày có khi đi dạy mà mặt mày Thục Nhi thâm tím, có lần bị đánh đến gãy tay. Ám ảnh bạo lực gia đình.

Có những buổi sáng, Nhi đứng trên bục giảng, giấu đi vết bầm dưới lớp phấn trắng. Học trò nhìn cô- một cô giáo hiền lành, chỉn chu, đâu ai biết phía sau tà áo dài là những mảng tím chưa tan.

Cha mẹ của Dương là tiểu thương buôn bán nhỏ như xay các loại gia vị bỏ mối ở chợ Đầm có 4 đứa con, ba trai, một gái, có hai người đã lập gia đình.

Sau khi kết hôn, thấy dưới nhà chồng cũng đông người. Nên ba mẹ của Thục Nhi mua một miếng đất gần nhà, bỏ tiền ra làm cho con gái căn nhà để hai vợ chồng ở. Những tưởng có tổ ấm riêng, Dương sẽ tu chí. Ngờ đâu, cái mác công chức chỉ là cái vỏ cho một tâm hồn rỗng tuếch và ích kỷ. Rồi Thục Nhi lần lượt sinh được hai đứa con một trai, một gái rất dễ thương. Con cái được bên ngoại đỡ đẫn rất nhiều. Đi đâu mang con qua gửi ngoại. Đi về trễ, ngoại nấu cơm sẵn.

Xe máy anh ta cũng mang đi cầm xài riêng. Thục Nhi phải đi chuộc về. Ngoài ra anh ta còn đi cá độ đá banh, có người về đòi nợ tận nhà. Chiếc xe máy của nàng bị Dương đem cầm. Nhi lặng lẽ vay tiền chuộc về. Chuộc về rồi, hắn lại mang đi. Cái vòng lặp ấy kéo dài đến mức, có lúc Nhi không còn nhớ nổi mình đã chuộc chiếc xe ấy bao nhiêu lần. Không có xe, Thục Nhi phải đi vay tiền mua cho Tuần Dương chiếc xe khác, Dương không những không đỡ đần kinh tế mà còn xem vợ như một "cây ATM" sống. Có nhiều lần dẫn gái đi cà phê, ăn uống quán xá khi thì gần xóm nhà Nhi ở, lúc thì gần trường Nhi dạy. Đồng nghiệp thấy, phụ huynh thấy kể lại cho Nhi. Thục Nhi đau khổ, khóc đẫm nước mắt. Nhưng tự bảo lòng nhịn được chừng nào hay chừng đó cho con lớn lên một đoạn nữa. Ly Dị thì tan đàn xẻ nghé, lỗi mình không giữ cho con một gia đình trọn vẹn.

Gia đình bên chồng thì bênh con trai. Nhất là mẹ chồng. Với bà con trai bà là nhất. Bà nói:

-Con trai tao chuẩn Men lại là công chức địa chính. Con lấy được là phước. Không thiếu gì đứa con gái thích nó. Con phải chiều chuộng chồng. Nấu những món thật ngon cho chồng ăn. Đàn ông mà! Làm vợ phải chịu khó đi. Nó có gái gú gì bên ngoài thì kệ nó, miễn nó còn về nhà là tốt rồi!

Thục Nhi lầm lũi chịu đựng. Ngày đi dạy, tối về bán hàng online, vừa tự ship hàng cho khách để đỡ đồng nào hay đồng đó, chạy đi chạy lại kiếm thêm tiền. Người vừa ốm vừa đen, lấy chồng làm nhan sắc xuống dốc, tàn tạ hẳn đi.

Nhìn con gái mà ông bà ngoại xót lắm!

Rồi có lần Thục Nhi bận họp hội đồng về trễ, điện về bảo chồng cắm cho nồi cơm kẻo con đói. Nhắn qua ngoại có đồ ăn gì mang qua cho chồng và hai con ăn. Bà ngoại chạy sang, hỏi Dương: "Con cắm cơm chưa?"

Chàng rể bảo:

-Tui đây chưa có ai nấu cho mà ăn đây nè, chứ tui mà nấu cho ai!

Câu nói rơi xuống, không ồn ào. Nhưng đủ nặng để làm một người mẹ chết lặng, bầm gan tím ruột. Bà ngoại nhìn thằng con rể mất dạy mà ngao ngán.

Bà nhìn con gái mình, đứa con từng được nuôi nấng trong yêu thương, giờ đây héo hắt như một cái cây bị rút cạn nước.

Tiền kiếm được từ những giờ đứng lớp, từ những đơn hàng online giao vội trong chiều muộn… tất cả đều chảy về một nơi không đáy.

Bà bảo Thục Nhi:

-Con lấy chồng mà khổ quá! Như đày ải, nuôi hai đứa con còn phải nuôi thêm chồng vừa phá, vừa không có trách nhiệm với con. Rồi còn bị đánh đập không thương tiếc, có ngày nó đánh trúng chỗ hiểm mất mạng thì sao?

Không sống được thì bỏ nó đi, rồi mẹ nuôi cháu ngoại cho.

Bạn bè thân tín ai cũng ái ngại cho cuộc lấy chồng khổ ải của Thục Nhi mà không biết khuyên nhủ sao. Có người nói:

-Chừ vô lẽ mà tao nói ra, chứ lấy chồng như mày thà đừng lấy còn hơn!

Mấy cô bạn thân bảo:

-Sai thì phải biết sai ở đâu mà dừng lại hay đi tiếp tùy con tim mách bảo.

Chị Thúy Lan con dì ruột của nàng bảo:

-Nó tệ quá! Bỏ quách đi mà yên ổn nuôi con. Rồi sống cho ra con người. Chồng con gì nó, đã ăn hại lại còn gái gú và đánh đập vợ tơi bời hoa lá. Nói năng thì cục súc. Con cái làm sao có thể trưởng thành trong môi trường độc hại như vậy.

Con trai đầu học lớp tám (cu Kem), con gái nhỏ (bé Gạo) mới học lớp một. Hai đứa con rất ngoan và thương mẹ.

Một hôm cu Kem bảo:

-Bỏ ba đi mẹ! Con thấy mẹ khổ quá, đừng sống với ba nữa, con không muốn mẹ bị đánh!

Câu nói nhẹ như gió mà đầy ắp tình thương và sự thông cảm của con trai. Thấy mẹ bị ba đối xử không ra gì, con đã hiểu và đã đến lúc con nói ra được điều mà lẽ ra Thục Nhi phải hiểu từ lâu. Lòng Nhi như vỡ ra điều gì.

Lần lửa, chịu đựng mãi bao nhiêu lần Dương cầm xe, lấy tiền đi tiêu xài riêng với bồ, có những lần chính mắt Thục Nhi trông thấy, anh ta ôm cô bồ trong một nhà hàng gần trường Nhi dạy. Buồn, đau và thất vọng nhưng Thục Nhi vẫn chưa đủ dũng khí để trực tiếp đưa đơn.

Nhưng không ngờ người chủ động lại là Dương.

Thế rồi Dương lại có cô bồ khác, không biết lần này là người thứ mấy nữa.

Hắn đưa đơn ly hôn, ném xuống bàn:

-Ký đi.

Nhi nhìn tờ giấy một lúc lâu. Rồi ký.

Không nói gì, cũng không khóc nữa vì có lẽ nước mắt đã vắt cạn trong những trận đòn và lối sống buông thả vô trách nhiệm và thái độ phụ rẫy của chồng.

Ngày ra tòa ai cũng mừng cho Nhi đã được giải thoát.

Hôm tòa gọi Nhi lên nhận giấy, tiện thể lấy luôn về hai tờ, một tờ cho chồng. Thế là Dương (lúc này đã dọn về nhà nội ở và dắt cô bồ đã có 3 con về ở cùng, cha mẹ Dương lúc này qua Úc ở với con gái)

Dương chạy lên nhà của Thục Nhi chửi bới quát tháo rất vô lý:

-Giấy chứng nhận li hôn để tao lên tòa lấy, ai mượn mày lấy về!

Nói đoạn cầm tờ giấy đi thẳng ra cửa, chẳng thèm nhìn lại hai đứa con đang ngỡ ngàng trước thái độ kỳ cục của ba nó.

Thỉnh thoảng Dương vẫn ra vào nhà như chốn không người. Chửi bới, gây sự, vô ra tự tiện như nhà mình. Hàng xóm bảo: ly hôn rồi là xem như xâm nhập gia cư bất hợp pháp. Khi nào nó muốn thăm con thì hẹn ở nhà nội, hay quán cà phê, chở con tới cho nó gặp. Cho đến khi bạn bè khuyên Nhi xây cổng, khóa lại. Ly hôn rồi, không còn quyền tự tiện bước vào nữa.

Một cánh cửa khép lại. Chậm, nhưng dứt khoát.

Thế rồi cuộc sống ổn định trở lại. Thục Nhi chủ động lo cho cuộc sống của ba mẹ con. Họp hành, công việc bận rộn thì nhờ ngoại đón con về và nấu nướng chăm sóc các con. Thục Nhi đã có da có thịt trở lại bởi tinh thần thoải mái. Bây giờ Nhi cũng không bán thêm hàng online nữa, thong thả hơn. Chỉ lo dạy, về soạn giáo án, bày vẻ cho con học.

Qua bạn bè giới thiệu, Nguyễn Chung xuất hiện vào lúc Nhi không còn nghĩ đến chuyện bắt đầu lại.

Không ồn ào. Không vội vã. Anh đến như một khoảng lặng ấm áp mà bình yên- thứ mà Nhi đã thiếu suốt nhiều năm.

Anh hơn Nhi vài tuổi, học bách khoa, làm quản lý trong một cơ quan lớn. Gia đình tử tế. Anh từng có vợ, và đã ly hôn vì phản bội, một vết thương đủ sâu để người ta không còn nhìn hôn nhân bằng sự lãng mạn.

Nhưng anh nhìn Nhi, không phải bằng sự thương hại. Mà bằng sự tôn trọng.

Anh biết hết quá khứ của nàng. Biết cả những ngày nàng phải giấu vết bầm dưới lớp áo dài. Biết cả những lần nàng một mình xoay xở nuôi con.

-Từ giờ, để anh cùng em lo.

Anh Nguyễn Chung rất thương yêu Thục Nhi và hai con.

Cha mẹ anh đến gặp gia đình Nhi. Không phô trương. Không điều kiện. Chỉ có một điều mẹ anh Chung nói, khiến Nhi nhớ mãi:

-Con cứ ở đây nuôi con cho trọn. Khi nào các cháu trưởng thành, con muốn ở riêng hay lên ở với mẹ thì tùy ở con.

Cha mẹ Thục Nhi mừng cho con, ông bà bảo, nếu cần ông bà sẵn sàng nuôi cháu ngoại cho Nhi đi lấy chồng. Nhưng mẹ của Nguyễn Chung cũng từng làm mẹ nên rất hiểu, không nỡ tách mẹ ra khỏi con, để mẹ nuôi con khôn lớn. Không ai bắt Nhi phải chọn.

Lần đầu tiên trong đời, cô được quyền… sống theo cách mình muốn.

Đám cưới nhỏ. Vài mâm cơm, không nhận tiền mừng. Nhi mặc áo dài giản dị. Không rực rỡ như lần đầu, nhưng ánh mắt bình yên hơn. Người ta thường nghĩ tình yêu phải bắt đầu bằng những rung động mạnh mẽ. Nhưng với những người đã đi qua đổ vỡ, tình yêu đôi khi chỉ là cảm giác… được yên.

Chung về ở cùng Nhi. Sửa lại căn nhà cũ. Những vết nứt được trám lại. Cánh cửa được thay mới. Sân trước trồng thêm vài chậu hoa.

Buổi tối, có người chờ nàng về ăn cơm. Không còn những cơn giận vô cớ. Không còn tiếng chửi.

Hai đứa nhỏ dần quen với một người đàn ông không phải là cha ruột, nhưng biết hỏi han việc học, biết sửa xe đạp, biết ngồi nghe chúng kể chuyện trường lớp.

Có những thứ, không cần gọi tên, vẫn hiểu đó là gì. Và đến một lúc nào đó, sau tất cả, người ta chỉ cần một điều rất giản dị:

Một mái nhà yên. Một bữa cơm không tiếng cãi vã. Một người ở bên, không làm mình sợ.

Đã qua rồi những ngày rất dài, rất mệt, tưởng như không đi qua nổi, nhưng rồi “trời ngó lại” (chị em nàng bảo thế).

Chiều Nha Trang lộng gió, Nhi nhìn hai con vui đùa trong sân, bên cạnh là người đàn ông đang tỉ mỉ tỉa lại mấy chậu cây cảnh. Nàng cảm thấy lòng ấm lại phải chăng "đã qua cơn bỉ cực đến hồi thái lai". Nàng chợt nhận ra giông bão của cuộc đời không phải để nhấn chìm con người ta, mà là để gột rửa những gì tăm tối, dẫn lối cho những tâm hồn thiện lương cập bến bình yên.

Saigon, ngày 03/4/2026

Hoàng Thị Bích Hà

 

READ MORE - Hoàng Thị Bích Hà - HÔN NHÂN MỘT THUỞ TRẦN AI - Truyện ngắn

ÂM VANG GIAI ĐIỆU TỔ QUỐC MÌNH - Thơ của Lưu Lãng Khách



ÂM VANG GIAI ĐIỆU TỔ QUỐC MÌNH


Đất nước là gì hỡi em!

Phải chăng là châu thổ sông Hồng, sông Mã

Từ Ngàn Hống – Phong Châu – Cổ Loa – Luy Lâu

Từ Bách Việt muôn xưa vác gươm đi mở cõi

Là con thuyền rẽ sóng muốn vương đến năm châu

Âm vang tiếng trống đồng vượt ra ngoài lãnh hải

Phải chăng đất nước trong em và trong anh

Mang giai điệu tổ quốc quê hương ngân trong hồn ta đó

Xích Quỷ tự vạn xưa cũng từ những gái những trai

Từ Lộc Tục – Thần Long, Sùng Lãm – Âu Cơ

Từ cái nôi nước Việt hát giai điệu giống nòi bất tử

Từ Sơn Tinh – Thánh Gióng – Chử Đồng Tử

Từ Ngô – Đinh – Lý – Trần – Lê – Nguyễn hưng phế thăng 

trầm

Tổ quốc là gì hỡi em!

Mà ta nghe niềm tự hào dân tộc nước mình

Bao thế hệ biết bao người ngã xuống

Để sống mãi tên làng tên núi tên sông

Cho những khúc dân ca, ca dao ngọt ngào giai điệu

Trên lãnh thổ quốc gia của dòng giống Lạc Hồng

Bạch Đằng Giang sóng vỗ dội vào thành quách Cổ Loa -  

Thăng Long

Cháu con còn thấy bóng cha ông bất khuất hò reo

Giai điệu bốn ngàn năm vọng tiếng trống đồng hồn thiêng 

sông núi

Cho đồng cỏ– ruộng lúa – bờ tre thấm đẫm vị phù sa lịch sử

Cùng ngàn sau ngân nga âm vang mãi giai điệu tổ quốc 

mình.

                          Lưu Lãng Khách

 

 

 

 

 

READ MORE - ÂM VANG GIAI ĐIỆU TỔ QUỐC MÌNH - Thơ của Lưu Lãng Khách

THƠ VÀ TÔI - Thơ của Trần Hữu Thuần

Nhà thơ Trần Hữu Thuần



Thơ và Tôi

Trần Hữu Thuần

 

Khi tiếng lòng chợt cất lên xao xuyến,

Nước mắt tuôn, tim thắt quặn, nghẹn ngào,

Hồn ngất ngư trong biển sầu sóng dậy,

Chân gập ghềnh, vấp ngã, bước lao đao,

Ấy là lúc hồn thơ cuộn dâng trào,

Bút chênh vênh, thơ xôn xao vần điệu.

 

Khi con suối âm thầm rong rêu hát,

Bầy Nai hiền gặm cỏ vẽ tranh thêu,

Sao cô đơn, mây bàng bạc cô liêu,

Trăng mộng mị say cầm canh tiếng Hạc,

Ấy là lúc thơ vờn trăng phiêu bạt,

Câu ca dao lục bát thiếp yêu chàng.

 

Khi em tôi tóc huyền buông hờ hững,

Má phớt hồng say men rượu yêu đương,

Mắt long lanh người tình ru lời thương,

Môi phù dung nụ hôn đầu chúm chím,

Ấy là lúc nguyệt cầm ngân cung bậc,

Cho thơ reo bài tình ca du dương.

 

Là thế đó, thơ tiếng lòng không hẹn,

Tìm không thấy, ngăn không được, đến không ngờ,

Không trông mong, chẳng ngóng đợi, chẳng chờ,

Thơ tiếng vọng khi hồn bay Tinh Đẩu,

Reo khi trong, và gầm gừ khi đục,

Rộn rã vui, và rưng rức cơn sầu.

 

Là thế đó, tiếng nói của tinh cầu.

 

(Grand Rapids, Michigan, 14 th. 4, 2026)

READ MORE - THƠ VÀ TÔI - Thơ của Trần Hữu Thuần

TÍM HOA RAU MÁC BÊN THỀM / NGỌN BÍ - Thơ Vũ Hủng



TÍM HOA RAU MÁC BÊN THỀM

 

Tìm đâu một vé tuổi thơ,

Cho tui về lại bến bờ ngày xưa?

Bắt cua, mò ốc…nắng mưa

Lằn roi mẹ đánh chẳng chừa, lấm lem,

Tím hoa rau mác bên thềm,

Bóng câu lướt nhẹ qua rèm, chiều rơi!

 

Tuổi thơ gửi lại bên trời,

Thôi đành ngắm áng mây trôi lụa mềm,

Nghe như có tiếng hài êm,

Khẽ khàng lướt nhẹ về miền tuổi thơ?

Còn đâu rau mác ven bờ,

Sắc hoa tím trỗ lững lờ nắng trôi.

Còn đâu lũ bạn loi choi,

Giờ đây tóc nhuốm mây trời chốn xa

Còn đâu quê nội ngôi nhà,

Khói lam mấy sợi la đà mái hiên.

Còn đâu cái tuổi thần tiên,

Cây đa bến nước trao duyên hẹn hò?

Còn đâu tay ngắt ngọn ngò,

Trăm năm lỡ một chuyến đò nông sâu,

Cuộc đời tan hợp bể dâu,

Bơ vơ tui biết tìm đâu những ngày?

VŨ HÙNG 

 

 

NGỌN BÍ             

 

Mấy dây bí rợ vườn nhà,

Xanh tươi mơn mởn bò qua hàng rào.

Ngọn thì ngóc cổ lên cao,

Ngọn thì thõng xuống bờ ao hàng dừa.

 

Chiều qua trời chợt đổ mưa,

Một đêm ngon giấc quá trưa giật mình.

Đêm qua ai đó lén rình,

Ngắt luôn mấy ngọn bí xinh, rụng rời?

 

Giận tui chẳng nói nên lời,

Giận lây đến cả ông trời làm mưa.

Giận tui phó mặc rào thưa.

Giận lây đến cả hàng dừa, bờ ao.

 

Bây giờ biết nói làm sao

Bí xanh mấy ngọn ngọt ngào Nẫu xin?

Phân bua ai hái khó tin

Lẽ nào xuống chợ mấy nghìn để mua...

 

Vàng mơ vạt nắng đu đưa,

Mơn man làn gió khẽ lùa vườn xanh,

Khéo chăm ngọn bí nứt nhanh,

Phen này tui giữ ngon lành thiệt nha!

 

Vũ Hùng

hutazox@gmail.com

READ MORE - TÍM HOA RAU MÁC BÊN THỀM / NGỌN BÍ - Thơ Vũ Hủng

ĐƯA HƯƠNG LÊN ÁO - Thơ Huỳnh Liễu Ngạn

 


ĐƯA HƯƠNG LÊN ÁO                               

 

gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố

mùa đi qua cho lá rụng xuống đường

tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ

khi mưa về làm ướt cả muôn phương

 

lòng cũng hẹp như trăng tròn lại khuyết

màu trời kia đã sáng xuống bên đồi

muốn che hết chút phận người quá mỏng

để thấy đời như hạt bụi rong chơi

 

sẽ là gì khi thời gian không đợi

cứ lãng du theo gió bão trên trời

biết là vậy mà quên đi một bữa

nắng không đầy cho má đỏ thắm tươi

 

rồi cứ thế cứ mưa chiều nắng sớm

tuổi cứ chồng lên từng đám mây cao

đi cho hết trăm năm còn mớ ngủ

giữa đêm dài hư ảo với trăng sao

 

đừng chờ nữa một mùi hương đã chín

đã thơm lên nhưng rất khó kiếm tìm

dù mơ ước không thành mây trên núi

sao đợi hoài giọt máu chảy về tim

 

rồi thuở ấy xin hoàng hôn mái tóc

đem chải đầy từng sợi khói qua tay

lần này nữa quyết đưa hương lên áo

để níu về giấc mộng sót trên cây.

 

10.3.2026 

HUỲNH LIỄU NGẠN 

Tranh: Đặng Can

 

READ MORE - ĐƯA HƯƠNG LÊN ÁO - Thơ Huỳnh Liễu Ngạn

Bài luận nghiên cứu: TỈNH YÊU VÀ TÍNH VĨNH HẰNG TRONG THƠ TRẦN THỊ LAN ANH - Dr. Manoranjan Das

Trần Thị Lan Anh


Bài luận nghiên cứu

Tình yêu và tính vĩnh hằng trong thơ của Trần Thị Lan Anh

Dr. Manoranjan Das

 

Trần Thị Lan Anh, một nữ thi sĩ quốc tế xuất sắc, đã nâng tầm khái niệm tình yêu hướng tới tính vĩnh hằng, nơi bản thể và hiện hữu hòa quyện. Bà hiểu rằng tình yêu thường được trải nghiệm như một lực lượng vĩnh cửu vượt lên trên thời gian, đóng vai trò như một kết nối sâu sắc tồn tại vượt khỏi sự hiện hữu vật chất. Trong khi đời sống con người là hữu hạn, tình yêu đại diện cho sự tham dự vào tính vĩnh hằng — một cảm xúc vượt thời gian thường được thể hiện qua những lời hứa “mãi mãi”, như một chiếc cầu nối giữa tính hữu hạn của con người và khát vọng kết nối vô hạn.

Vì vậy, bà viết:

“Tình yêu không chỉ một sắc màu,

không chỉ ngọt ngào hay nỗi sầu.

Mỗi nhịp tim, dù nhẹ hay sâu,

đều mang sắc thái riêng nhiệm màu.

Khi rực sáng, khi lặng trong đêm,

nếu chưa từng qua biển tình êm,

làm sao hiểu được điều bí ẩn

mà tình yêu giấu kín bên trong.”

Dựa trên trải nghiệm sống, bà nội tâm hóa tình yêu như một phần của đời sống hằng ngày, nơi nhận thức đạo đức và sự kiểm soát cảm xúc định hình các mối quan hệ con người. Bà phản ánh rằng sự ấm áp đôi khi đi kèm với nỗi sợ thầm lặng. Vì vậy, bà viết:

“Tình yêu không chỉ sắc màu tươi,

như cầu vồng tan biến giữa trời.

Qua vị đắng ta hiểu điều thật,

qua khoảng cách cảm nhận đầy vơi.

Con đường tình dài và gian khó,

không phải tim nào cũng đơn côi.

Sau đêm tối bình minh sẽ tới,

hơi ấm về dưới bầu trời xa.

Nếu tim còn khép trong im lặng,

thời gian cũng chẳng thể chữa lành.

Hãy mở lòng, để cảm xúc chảy,

con tim vẫn luôn muốn trưởng thành.”

Từ góc độ tâm lý và tinh thần, bà mở rộng tình yêu sang lĩnh vực của tính vĩnh hằng. Tình yêu được xem là một cảm xúc liên tục, thường gắn liền với sự kết nối tâm linh sâu sắc vẫn tồn tại ngay cả khi người được yêu không còn hiện diện.

Vì vậy, bà viết:

“Tình yêu không phải trò thoáng qua,

cũng không là chia ly trách cứ.

Dù con đường có lúc rẽ xa,

trái tim vẫn giữ mãi thiết tha.

Tình yêu không chỉ là nước mắt,

mà còn là ánh sáng dịu dàng.

Với ai tin, tình yêu còn đó,

một bình yên vượt qua nỗi đau.”

Trần Thị Lan Anh thể hiện tình yêu như vừa là chuẩn mực đạo đức, vừa là một hình thức tồn tại vĩnh hằng. Bà phân biệt giữa sự gắn bó tạm thời và tình yêu vĩnh cửu, cho rằng tình yêu đích thực là vô điều kiện và vượt khỏi giới hạn của thời gian và đời sống thường nhật.

Bà tiếp tục khai thác tính vĩnh hằng qua những suy tư thi ca:

“Tính vĩnh hằng hiện hữu qua chiều sâu,

nơi bản chất được khẳng định bằng niềm tin,

nuôi dưỡng bởi tâm hồn và nâng cao ý nghĩa.

Tính vĩnh hằng trân trọng sự biết ơn theo thời gian,

nơi trải nghiệm hình thành sự trưởng thành.

Nó tồn tại qua việc cho và nhận,

với sự cân bằng và chân thành.

Tính vĩnh hằng hướng đến tương lai tốt đẹp,

được nuôi dưỡng bởi trái tim luôn ấm áp.”

Bà nhấn mạnh rằng với những ai yêu sâu sắc, thời gian trở nên vô nghĩa. Tình yêu mở ra một cái nhìn về thực tại vượt khỏi thế giới vật chất và cuối cùng làm cho cuộc sống trở nên trọn vẹn, để lại dấu ấn lâu dài.

Bà viết:

“Yêu là học cách để vấp ngã,

cảm thấy cô đơn giữa bao người.

Nụ cười lặng che điều ta giữ,

nước mắt đêm khuya chẳng nguôi vơi.

Bao lời hứa từng đầy ánh sáng,

giờ trôi như mây gió nhạt phai.

Những điều đã mất trong không trung,

chỉ còn vang vọng lại nơi này.”

Bà cũng suy ngẫm về mối liên hệ bền bỉ giữa thời gian, chia xa và tính vĩnh hằng:

“Tình yêu mong manh khó giữ gìn,

gốc rễ sâu nên nỗi đau thêm sâu.

Niềm tin một khi đã vỡ rồi,

tim tan thành những mảnh rời rơi.

Tình yêu—vết thương không nhìn thấy,

vẫn chảy xuyên qua cả ngàn đời.

Thời gian trôi qua ta vẫn hiểu,

chạm một lần… là thấy lớn dần.”

Về mặt triết học, Trần Thị Lan Anh cho rằng tình yêu gắn liền với cả đau khổ và vẻ đẹp. Nó không chỉ là cảm xúc thụ động mà là một lực lượng chủ động hình thành nên tâm hồn con người. Nỗi đau và thử thách góp phần làm cho tình yêu trở nên sâu sắc và bền vững hơn.

Bà viết:

“Nếu tình yêu chỉ nhẹ và êm,

sẽ không thể kéo dài qua đêm.

Chính vết thương và nỗi đau kia

khiến tình yêu bám rễ sâu hơn.

Đau khổ rèn luyện trái tim thật,

cái đẹp đến từ sự bền bỉ.

Qua mất mát và cả được thêm,

tình yêu vẫn chọn cách tồn tại.”

Bà tiếp tục trình bày tình yêu như một trải nghiệm triết học và hiện sinh, nơi khát vọng con người gặp gỡ ý nghĩa và mục đích. Tình yêu trở thành mái nhà của tâm hồn, nơi trí tuệ và cảm xúc giao hòa.

“Tình yêu đi cùng sợi chỉ thời gian mong manh,

kết nối linh hồn với trời và đất.

Qua từng ngày trôi, nó dạy ta nhìn thấy

ánh sáng ẩn sâu trong bóng tối.

Không đế chế nào tồn tại thiếu yêu thương,

không trí tuệ nào lớn lên nếu thiếu rung động của tim.

Thế giới rộng lớn, nhưng tình yêu là mái nhà,

nơi che chở bằng tin tưởng, dịu dàng và ân cần.”

Bà kết luận rằng tình yêu vừa là sự chịu đựng vừa là sự chuyển hóa—một trải nghiệm tồn tại qua im lặng, lời thì thầm, bóng tối và ánh sáng.

“Tình yêu uốn nắn ý chí, chữa lành trái tim vỡ,

dạy ta kiên nhẫn khi bão tố gầm vang.

Dòng sông vẫn chảy, núi non vẫn cháy,

nhưng tình yêu tồn tại vượt mọi xung đột.

Trong im lặng, tình yêu vẫn cất tiếng—

một lời thì thầm rằng cuộc sống lớn hơn hơi thở.

Đó là sợi dây nối giữa hữu hình và vô hình,

là mối liên kết giữ các vì sao đứng yên.”

Cuối cùng, Trần Thị Lan Anh nhìn nhận tình yêu như sự giản dị và hiện diện hơn là sự phô trương:

“Sau tất cả, niềm vui của tình yêu vẫn còn,

không cần lộng lẫy hay vĩ đại,

chỉ cần một nơi chốn bình yên,

nơi hai bàn tay nắm lấy nhau.”

Tóm lại, thơ của Trần Thị Lan Anh thể hiện một hành trình siêu hình và triết học về tình yêu. Tác phẩm của bà kết hợp tâm lý học, tâm linh và ý thức hiện sinh, trình bày tình yêu như một nguyên lý vĩnh hằng đồng thời là một trải nghiệm sâu sắc của con người vượt lên trên thời gian, đau khổ và cá nhân.


Tài liệu tham khảo

1.      Tran Thi Lan Anh, Ba Sắc Màu của Trái Tim, Phần mở đầu – Tiếng Nói Của Trái Tim.

2.      Như trên; Chương I: Vẻ Đẹp của Tình Yêu; Tình Yêu Lớn Hơn Nỗi Đau.

3.      Như trên.

4.      Nhà văn – Instant Poetry; Email: manorandas20018@gmail.com.                                                                    

5.      Như mục 1; Chương II: Nỗi Đau của Tình Yêu; Tình Yêu: Một Vết Thương Còn Vương Mãi.

6.      Như trên.

7.      Md Ejaj Ahamed; Những Lời Chưa Nói của Hành Tinh Xanh; Dream Raft Pub.; Murshidabad; Tây Bengal, Ấn Độ – 742201; 2025; tr. 35.

8.      Như mục 1; Chương III: Hòa Điệu; Tình Yêu: Giữa và Vẻ Đẹp.

9.      Như trên.

10.    Dr. Sankar Sarkar; Tình Yêu Đồng Hành.

11.    Như trên.

12.    Như mục 8; Phần kết: Sau Tất Cả.

 

 

Research-Oriented Essay

Love And Eternity in Tran Thi Lan Anh's Poetry

Dr.Manoranjan Das

 

          Tran Thi Lan Anh, the international poetess par excellence, accelerates love where eternity is endowed about, by terminating the essence inasmuch as with existence. The great poetess knows,
love is often experienced as an eternal force that transcends time, acting as a profound connection that persists beyond physical existence, and she further, makes herself to know, while human life is finite, love represents a participation in eternity, a timeless emotion often expressed through promises of 'forever' to bridge the gap between our mortality and the desire for infinite connection. Thus, she writes,
' Love is never just one shade,
not only sweetness, nor sorrow displayed.
Every heartbeat, drift or strong,
holds a color is cartied only.

Sometimes shining light,
Sometimes silent in endless night.
If you've not walked love's winding sea
how could it know its mystery.'1
          

    Basically, on speaking, she adhers love into her mind, attributing the self through activity in day to day life where erroneous out look is normed to perpetual bondage through ethical attitude. She sometimes carries into her mind , by testing to endearning that warmth return is closeed to silent fear with feelings. Thus, she writes,
' Love in not just colors bright,
like rainbows fading after bright.
Through bitter taste we learn what's true,
through distance, feel what love can do.

The road of love is steep and long,
yet not all hearts must grieve alone.
For after night, the dawn till rise,
and warmth returns beath cold skies.

If hearts stay in close silent fear,
time can not heal what we won't hear.
Unlock the door , let feelings flow,
a beating heart still longs to grow.2
   
    Expressively speaking, the psychological and spiritual depth, that is, the practical aspects of love is iterated to eternal' , and, medium of it describes this as feeling love  continuously, often linked to a deeper, more spiritual connection that remains regardless of whether the loved one is present. She has the consciousness with    fleeting game, parting to hearts remaining  the quite peace  beyond lain. Thus, she writes,

' Love is not just fleeting game,
nor parting hearts to shift the blame.
Though paths may part and drift alart,
they still remain within the heart.

Love is not only tears that fall,
but gentle light that warms us all.
For those who trust, love will remain
a quite peace beyond the pain.'3

         

Authentically speaking, Tran Thi Lan Anh sparkens herself through poetry of love as norm and form  of morality and eternity.
She sparkens further in time through attachment while we may confuse deep attachment with eternal love, true love is often characterized as unconditional, existing outside the boundaries of time and everyday life with basic area of eternity. Thus, we may attach a sonnet,

'Eternity is acted through the depth

With moments where the protons of the great 

Genuineness is affirmed with the faith,

That is wooed to soul and mostly to exalt.

Eternity sees gratude if the time 

Accrues to meaner and better hostile

Where the finest apt rows to theme like game

For promising faculty as a profile.

Eternity is for the application

Through the mobility of our giving 

And taking, at all, with moderation

Of positiveness to please by saving.

Eternity goes for the best future

And it is to give for  heart's ever warm fare.'4

               Accurately speaking, the evergreen poetess, Tran Thi Lan Anh brightens herself in poetry, for those who love, time is eternity, and it is noted,  suggesting that profound affection makes the concept of time irrelevant, and, the feeling is that love is the only aspect of life that offers a glimpse into a reality beyond the physical world, and ultimately, love makes life complete and leaves a lasting legacy. She has into herself the painting dream, by whispering like rhyme, by learning through feeling in silence or through cloud's echoing.Thus, she writes,


' To love is learning how to fall,
to feel alone among them all.
A silent smile hides what we feel,
while midnight tears refuse to heal.

So many rows once brightly made,
now driftlike clouds that slow by fade.
Promises lost within the air,
leaving only echoes there.'5

        Uniquely speaking, she endows,
from the moments we share, to where time loses certainty,and, when the road fades and all journeys reach their end, how long until we meet in that place of eternity. She keeps the deeper root of pain and pleasure of love through the eternity by feeling and touching. Thus, she writes,
' Love is fragile, hard to keep,
the deeper roots, the pain runs deep.
Trust once broken, falls apart,
shattered pieces of the heart.

Love- a wound we can not see,
bleeding through eternity.
Time may pass, yet still we know,
touch it once...and feel bit grow.'6

         Tenderly speaking,  Tan Thi Lan Anhi geenifies herself, love is the practical aspect, referring that
God is Love or  Love is God , and you've been like 'that’s cool, I guess,' and then went back to your daily living without any change happening. She carries through her optimism, following the peace of Almighty into herself where the prayer through poetry is rowed to communication as a base of heavenly feeling for solution of pain through poetry. Thus , we may add,
'Prayer, you are the messenger of man
To send the words of heart to the Almighty.
You draw peace and bliss on the mind's canvas in the hot sun.
You bring the silvery sweet moonlight on the earth of mind gently
So that man can be baby
Whose mind is like a white paper.
You are the medium of communication between a man and the Creator.
You inspire to lead a new life, man gets heavenly feeling and serenity.
When the problem-flies fly
In the life-sky,
If he comes to you, he gets the solution
from the Almighty.'7

       Purely speaking, Tran Thi  Lan Anh postulates,
it almost seems like talking about our spiritual nature never goes anywhere, and, the conversations don’t actually translate practically to the problems we face in our day-to-day lives; and, finally, we can finally make the bridge between ‘Love is Eternal’ and ‘I need to pay my bills’. She goldified with the tears, by gentlifying with dawn and night, as well as bitterness and sweetness where embracement is attached to weariness and joyance. Thus, she writes,
' Love is not just gold and gray
nor only tears that fall away.
It is the storm aand gentle light,
the dawn that follows darkest night.

At times as sweet as aged wine,
at times so bitter hard to de done.
A smile may hide a silent cry,
two hearts close- yet drifting by.

To love is to embrace it all,
both rise and break, both stand and fall.
To hold through weariness and pain,
knowing no joy will stay the same.'8

      Philosophically speaking, Tran Thi Anh has an apparent, by taking love through calmness and brightfulness, lingering with moments like brightful night, where the root of feeling is  strengthened with the touch of soul by carrying the choosing  significance of dark and through love. Thus, she writes,


'If love were only calm and bright,
it would not linger through the night.
It's through the scars, the ache , we keep,
that love is rooted , strong and deep.

Pain shapes the soul, makes hearts fleet true,
beauty is what carries us through.
Through loss and gain through dark and light,

love still remains- choosing to fight.'9

     Openly speaking, she, the great poetess, assures that love must be a feeling of intimacy, wholeness, fulfillment, or fun,  and it doesn’t really matter; and, behind the desire is a feeling. Moreover, it’s important to understand that the essence of what we really want is a feeling. She has the clear brittling through the binding the soul's significance through wisdom with heart's stirring; and, she accepts in his heart, the philosophical longing by the profounding area with walking himself or herself beside love.Thus,  we may add,

' Love walks beside the brittle thread of time
Binding the soul to earth and sky alike
By passing days, it teaches us to see
A buried light that flickers in the dark.
No empire stands untouched by acts of care,
No wisdom grows unless the heart is stirred.

The world is wide, yet love becomes our home,
A shelter is shaped by kindness, trust and grace,
Philosophy begins where longing lives
Caring hand holds truth that lie in love
The profounder lessen e. ngraved in modern clay
Is this: that love outlasts the dust of kings.'10
       

Referring love's significance and importance, it's to say by paralelling with the thought of Tran Thi Lan Anh that love is accepted by the endurance of silence and whispering, and also love goes through shadow and shining.
Thus. it may be added
' It bends the will yet studies broken hearts,
It teaches patience when the storm shouts,
The river runs , the mountain burns with fire
Yet love endures beyond all clashing worlds.
In silence too, it speaks- a gentle call,
Whispers to us that life exceeds mere breath.

It is the tie that joins the  seen, unseen ,
The fragile thread that joins stars in place ,
So let us learn from love , the eternal guide ,
It embrace warms every 
path along
Through sorrow comes and shadows veil the sky,
Love teaches us to rise- and still to shine.'11
      

Consequently speaking, the acknowledged poetess, Tran Thi Lan Anh comes under implication in such a way that
the form is the wrapper we put around body, and, it only shows us how we decided how it needs to come into being. She feels and obseves,
' After all, the joy and joy,
Love is who with us remains ,
No need for splendor , vast or grand,
Just a place- and holding hand.'12
           

Above all, Tran Thi Lan Anh's poetry carries evotional metaphysi cs, following novelty of love  philosophy, psychology and mentral hovering and consciousness are itetated about.


References


1.Tran Thi Lan Anh, Love Three Shades of the Heart, Introduction- The Voice of The Heart
K
2.lbid; Chpter -I : The Beauty of Love; Love is More than Pain;

3.lbid;
4.Writer- Instant Poetry;   Email: manoranjandas20018@ gmail.com;

4. As No.1; Chapter- II; The Pain of Love ; Love: A Wound That Lingers;


5.  Ibid;
6.Ibid;
7.Md Ejaj Ahamed; 'The Unspoken Words of the Blue Planet'; Dream Raft Pub.; Murshidabad; W.B., India- 742201; 2025; P-35;
8.As No.1; Chapter- III, Harmony; Love: Between and Beauty;
9.Ibid;
10.  Dr. Sankar Sarkar; Love Walks Beside ;
11.Ibid;
12.As No.8; Ending- After All;

&&&


Lan Anh's Email

Dear Dr. Manoranjan Das,

First and foremost, I would like to express my deepest and most sincere gratitude to you for taking the time and dedicating your effort to provide such a profound and insightful analysis of Lan Anh’s poetry. Your observations have not only helped me better understand the artistic depth of the work, but have also given me great motivation to continue creating and developing my poetic journey.

Your academic insight, thoughtful perspective, and the respect you have shown toward the work are truly an honor to me. I am sincerely grateful for your valuable contribution.

If possible, may I kindly ask whether you could send this analysis as an official PDF letter, including your name, title, and the address of the university where you conduct your research or work? I need this document to submit to a publishing house in Vietnam for the publication of my poetry collection.

I would also like to share that I have written many different types of poetry. I will send more to you when I have time to organize my works. Once again, I am deeply grateful to you for everything. You have rekindled my faith and inspired me to continue my creative journey—something I once thought I might have to give up as a hobby.

Your feedback and recognition have helped me rediscover the meaning and inspiration to continue on this path. I truly cherish that.

With sincere appreciation,
Lan Anh

===

Email: Dipl.-Kauffrau Thi-Lan Anh Tran

Wirtschaftskanzlei@Dipl-Kauffrau-Tran

===


Read more:

https://williwash.wordpress.com/2026/04/08/love-is-a-conditional-contract-by-tran-thi-lan-anh/


++++

Biodata / Lý lịch khoa học

Dr. Manoranjan Das

Tiếng Anh

Dr. Manoranjan Das
M.A. (English & Economics), LL.B., B.Ed., Ph.D.

Advocate: High Court, Calcutta
Ex Headmaster: Mahendranath Higher Secondary School, Kolkata-700094

(Translator, Lyricist, Reporter, Writer, Researcher, Social Activist)

Editor: The Future Intercontinental
Editor: Biswa Abartan
Publisher: The Future Publications
President: The Future International Welfare & Literary Society

Books written: 35 in English; 07 in Bengali
Literary awards received: 08 from abroad; 04 from India

Address & Chamber:
F-166, Baishnabghata Patuli Township, Garia, Kolkata-700094, W.B., India

Email: manoranjandas20018@gmail.com / manoranjan.fdas@yahoo.com
Mobile: 8017686441

Awards Received:
Bpabon Prize, 1999, Greece
Bpabo Prize, 2000, Greece
Best Critic Prize, 2003, China
Diploma of Finalist Prize, 2004, Italy
Enanoi Prize, 2004, Greece
Anonemei Prize, 2005, Greece
Dove Peace Prize (Silver) in Literature, 2005, Australia
Bpajon Prize, 2006, Greece
Life Time Achievement Award, 2009, Chennai, India
Voice of Kolkata Prize, 2010, Kolkata, India

Special Association:
Closely related to Tomas Tranströmer, Nobel Laureate in Literature (2012)
Nominated for the Nobel Prize in Literature (2016)


Tiếng Việt

Tiến sĩ Manoranjan Das
M.A. (Tiếng Anh & Kinh tế), LL.B., B.Ed., Ph.D.

Luật sư: Tòa án Tối cao Calcutta
Nguyên Hiệu trưởng: Trường Trung học Phổ thông Mahendranath, Kolkata-700094

(Dịch giả, Nhà viết lời ca, Phóng viên, Nhà văn, Nhà nghiên cứu, Nhà hoạt động xã hội)

Biên tập viên: The Future Intercontinental
Biên tập viên: Biswa Abartan
Nhà xuất bản: The Future Publications
Chủ tịch: The Future International Welfare & Literary Society

Số sách đã xuất bản: 35 bằng tiếng Anh; 07 bằng tiếng Bengali
Giải thưởng văn học: 08 giải quốc tế; 04 giải tại Ấn Độ

Địa chỉ & văn phòng:
F-166, Baishnabghata Patuli Township, Garia, Kolkata-700094, Tây Bengal, Ấn Độ

Email: manoranjandas20018@gmail.com / manoranjan.fdas@yahoo.com
Điện thoại: 8017686441

Giải thưởng đã nhận:
Giải Bpabon, 1999, Hy Lạp
Giải Bpabo, 2000, Hy Lạp
Giải Phê bình xuất sắc, 2003, Trung Quốc
Bằng chung kết, 2004, Ý
Giải Enanoi, 2004, Hy Lạp
Giải Anonemei, 2005, Hy Lạp
Giải Hòa bình Dove (Bạc) trong Văn học, 2005, Úc
Giải Bpajon, 2006, Hy Lạp
Giải Thành tựu trọn đời, 2009, Chennai, Ấn Độ
Giải Voice of Kolkata, 2010, Kolkata, Ấn Độ

Liên hệ đặc biệt:
Có mối liên hệ học thuật với Tomas Tranströmer – Nhà thơ đoạt giải Nobel Văn học (2012)
Được đề cử Giải Nobel Văn học (2016)


Thư ngỏ / Invitation Letter

Tiếng Anh

Dearest friend,

I would like to write a research-oriented book on your poetry and literature in English, and I will publish this book through my publication and circulate it worldwide. Kindly send your books and articles written by or about you to my address at your earliest convenience.

You are also invited to send your poems for our magazine, The Future Intercontinental.

My Address:
F-166, Baishnabghata Patuli Township, Panchasayar, Garia, Kolkata-700094, India

Mobile: 8017686441
Email: manoranjandas20018@gmail.com


Tiếng Việt

Bạn thân mến,

Tôi mong muốn viết một cuốn sách nghiên cứu về thơ ca và văn học của bạn bằng tiếng Anh, và tôi sẽ xuất bản cuốn sách này thông qua nhà xuất bản của mình và phát hành trên phạm vi toàn cầu.

Xin vui lòng gửi các sách và bài viết của bạn (hoặc về bạn) đến địa chỉ của tôi trong thời gian sớm nhất.

Ngoài ra, bạn cũng được mời gửi thơ cho tạp chí The Future Intercontinental.

Địa chỉ của tôi:
F-166, Baishnabghata Patuli Township, Panchasayar, Garia, Kolkata-700094, Ấn Độ

Điện thoại: 8017686441
Email: manoranjandas20018@gmail.com

 

READ MORE - Bài luận nghiên cứu: TỈNH YÊU VÀ TÍNH VĨNH HẰNG TRONG THƠ TRẦN THỊ LAN ANH - Dr. Manoranjan Das