Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Phỏng vấn. Show all posts
Showing posts with label Phỏng vấn. Show all posts

Thursday, May 7, 2026

Giữa mặt nạ và ký ức: Karneval, bản sắc văn hóa và truyền thống lễ hội sống của Đức — Phỏng vấn: Emmanuel Chimezie (Nigeria) & Lan An Tran (Đức)



Giữa mặt nạ và ký ức: 

Karneval, bản sắc văn hóa và truyền thống lễ hội sống của Đức 

Phỏng vấn  giữa hai nhà thơ 

Emmanuel Chimezie (Nigeria)

& Lan Anh Trân (Đức)

 

TÓM TẮT

 

Cuộc phỏng vấn này khám phá cách các lễ hội văn hóa Đức, đặc biệt là Karneval, phản ánh bản sắc xã hội, ký ức văn hóa và các giá trị cộng đồng. Thông qua đối thoại có cấu trúc giữa nhà thơ Nigeria Emmanuel Chimezie và nhà thơ kiêm bình luận văn hóa người Đức Lan Anh Trân, cuộc trao đổi phân tích cách lễ hội gìn giữ truyền thống, hỗ trợ giáo dục và hình thành bản sắc tập thể.

 

Bài viết xem văn hóa như một quá trình sống động, liên tục được thực hành, thể hiện và tái tạo.

 

GIỚI THIỆU

 

Cuộc phỏng vấn quy tụ nhà thơ Nigeria Emmanuel Chimezie và nhà thơ kiêm bình luận văn hóa người Đức Lan Anh Trân nhằm suy ngẫm về ý nghĩa và tầm quan trọng của các lễ hội văn hóa tại Đức. Trọng tâm là Karneval — một biểu hiện quan trọng của đời sống văn hóa Đức, nơi lịch sử, bản sắc và hoạt động cộng đồng gặp gỡ và hòa quyện.

 

Mục tiêu của cuộc trao đổi là tìm hiểu cách các lễ hội bảo tồn truyền thống, thể hiện bản sắc xã hội và truyền tải các giá trị văn hóa qua trải nghiệm sống, thay vì chỉ thông qua giáo dục mang tính lý thuyết.

 

PHỎNG VẤN

 

Câu 1: Các lễ hội văn hóa Đức như Karneval phản ánh sự tiến hóa lịch sử của bản sắc xã hội ở Đức như thế nào?

Lan Anh Trân: Karneval là một dạng ký ức văn hóa được thể hiện qua lễ hội. Nó khởi nguồn từ truyền thống tôn giáo nhưng đã phát triển thành phản ánh của xã hội. Đức nổi tiếng với tính kỷ luật và trật tự, vì vậy Karneval cho phép con người có khoảng thời gian “giải phóng” khỏi khuôn khổ đó. Nó phản ánh cách bản sắc có thể chuyển đổi trong một khung văn hóa chung.

 

Câu 2: Các lễ hội có cấu trúc tại Đức góp phần bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể như thế nào?

Lan Anh Trân: Các lễ hội được tổ chức theo cấu trúc giúp bảo tồn văn hóa thông qua sự lặp lại. Những yếu tố như trang phục, âm nhạc và nghi lễ được thực hiện hằng năm. Sự lặp lại này giúp cộng đồng truyền tải tri thức văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác một cách bền vững và sống động.

 

Câu 3: Sự cân bằng giữa trật tự và lễ hội trong văn hóa Đức ảnh hưởng thế nào đến các hoạt động công cộng?

Lan Anh Trân: Các lễ hội Đức kết hợp giữa tính tổ chức và biểu đạt cảm xúc. Trật tự đảm bảo an toàn và tính liên tục, trong khi lễ hội mang lại sự tự do và niềm vui. Sự cân bằng này giúp lễ hội vừa có ý nghĩa vừa bền vững.

 

Câu 4: Vai trò của Karneval trong việc hình thành sự tham gia của công dân và gắn kết cộng đồng là gì?

Lan Anh Trân: Karneval khuyến khích sự tham gia của mọi tầng lớp xã hội. Trong thời gian lễ hội, các khác biệt xã hội được thu hẹp, con người chia sẻ một không gian văn hóa chung. Điều này củng cố sự đoàn kết và cảm giác thuộc về cộng đồng.

 

Câu 5: Các lễ hội mùa vụ của Đức có thể được hiểu như hình thức kể chuyện văn hóa xuyên thế hệ như thế nào?

Lan Anh Trân: Mỗi lễ hội đều mang theo những câu chuyện từ lịch sử, tôn giáo và văn hóa địa phương. Những câu chuyện này không chỉ được kể mà còn được tái hiện hằng năm. Nhờ đó, văn hóa được truyền tải qua trải nghiệm và sự tham gia thực tế.

 

Câu 6: Các lễ hội Đức đóng vai trò giáo dục đến mức nào trong việc truyền tải giá trị, truyền thống và ký ức tập thể?

Lan Anh Trân: Lễ hội truyền tải các giá trị như tôn trọng, kỷ luật và tinh thần cộng đồng thông qua sự tham gia. Người trẻ học những giá trị này bằng cách quan sát và trực tiếp trải nghiệm, thay vì chỉ học qua lý thuyết.

 

Câu 7: Sự đa dạng vùng miền ở Đức ảnh hưởng như thế nào đến biểu hiện của các lễ hội quốc gia?

Lan Anh Trân: Các vùng khác nhau của Đức có phong cách lễ hội riêng. Tuy nhiên, tất cả đều góp phần tạo nên bản sắc văn hóa chung. Sự đa dạng không làm suy yếu mà còn củng cố bản sắc văn hóa quốc gia.

 

Câu 8: Trang phục, âm nhạc và nghi lễ trong Karneval phản ánh bản sắc văn hóa Đức như thế nào?

Lan Anh Trân: Trang phục và âm nhạc là hình thức giao tiếp biểu tượng. Chúng thể hiện lịch sử, sự hài hước và các vai trò xã hội. Tất cả cùng nhau giúp con người thể hiện bản sắc một cách sáng tạo và giàu ý nghĩa.

 

Câu 9: Các yếu tố hiện đại như du lịch và truyền thông đang tái định hình lễ hội truyền thống Đức ra sao?

Lan Anh Trân: Các yếu tố hiện đại làm tăng khả năng tiếp cận và sự quan tâm toàn cầu. Dù một số yếu tố thay đổi, các giá trị cốt lõi vẫn được giữ vững vì chúng tiếp tục được cộng đồng địa phương thực hành.

 

Câu 10: Có thể xem các lễ hội văn hóa Đức như một dạng nhân học sống hay không, và vì sao?

Lan Anh Trân: Có. Các lễ hội này thể hiện cách văn hóa được sống và trải nghiệm trong thời gian thực. Chúng cho phép quan sát cách truyền thống được duy trì, thích nghi và chia sẻ trong xã hội.

 

KẾT LUẬN

 

Cuộc phỏng vấn cho thấy các lễ hội văn hóa như Karneval không chỉ là hoạt động giải trí công cộng, mà còn là những hệ thống sống động của ý nghĩa văn hóa. Chúng bảo tồn ký ức, truyền tải giá trị và củng cố bản sắc xã hội thông qua sự tham gia của cộng đồng.

 

Cuộc đối thoại giữa hai nhà thơ Nigeria và Đức nhấn mạnh rằng văn hóa không cố định. Nó tiếp tục phát triển thông qua thực hành, trải nghiệm chung và sự kế thừa qua nhiều thế hệ, kết nối quá khứ với hiện tại trong một hình thái sống động và hữu hình.


-----------------------------------------------------------------

From: 

E-Mail: Wirtschaftskanzlei@Dipl-Kauffrau-Tran.de

Dipl.- Kauffrau Thi Lan Anh Tran


Ảnh từ: 

Facebook: Trung tâm tiếng Đức NDF

READ MORE - Giữa mặt nạ và ký ức: Karneval, bản sắc văn hóa và truyền thống lễ hội sống của Đức — Phỏng vấn: Emmanuel Chimezie (Nigeria) & Lan An Tran (Đức)

Thursday, August 4, 2022

HÀ NỘI, DƯƠNG TƯỜNG - Nguyễn Đức Tùng

 Xin đăng lại bài này để mừng nhà thơ chín mươi tuổi (4. 8. 1932- 4. 8. 2022. NĐT)
 

Ngày 6 tháng 4 năm 2007 tại Hà Nội, chúng tôi đến thăm nhà thơ Dương Tường tại nhà riêng. Dương Tường ngồi sau một chiếc bàn nhỏ và thấp chất đầy sách vở và ly tách giữa một căn phòng rộng dùng làm phòng triển lãm tranh. Tranh treo kín các tường. Chúng tôi gồm có Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Trọng Tạo, Du Tử Lê, Nguyễn Đức Tùng, và nhiều bạn bè văn nghệ khác, người từ Sài Gòn ra, người ở ngay Hà Nội. Trưa hôm đó Dương Tường dẫn chúng tôi đi thăm phố và ăn trưa. Chiều hôm sau, 7 tháng 4, một mình tôi quay lại địa chỉ trên theo lời hẹn.
Buổi chiều Hà Nội nhiều nắng, nhưng mát, dịu dàng. Chiếc ngõ dẫn vào nhà ông sâu, quanh co, vắng người, như ở chốn quê. Anh chị Dương Tường đón tôi ở cửa, tươi cười, thân ái.
Ngồi gần bên nhà thơ, hai người trong căn phòng rộng và im vắng, tôi có cảm giác chất nghệ sĩ trong người Dương Tường toả ra thành một với những bức tranh trên tường. Buổi chiều có vẻ siêu thực.
 .....
 
Nguyễn Đức Tùng:
Xin đọc một bài thơ của anh. “Tình khúc 24”.

24 phím cầm chiều
24 nhành sương mím
24 tiếng ve sầu đại lộ tháng tư
Gửi lại em
cầu thang 24 bậc
tờ thư 24 gác mưa
làn menuetto 24 âm xưa
Gửi lại em
Mùi hoa sữa 24 miền hoài niệm
Ga khuya 24 lần đưa đón
Bài huê tình 24 lối sân sau
 
24 có phải là tuổi trẻ không? Rất vui và cảm động được ngồi với anh như thế này. Thưa anh, những người yêu thơ Dương Tường vẫn còn theo dõi các hoạt động của anh.
Dương Tường:
Mình mới gặp các bạn lần đầu mà đã thấy thân thiết như bạn bè lâu ngày. Hôm qua, Trinh, vợ tôi, cũng nói rằng, không hiểu do một giao cảm đặc biệt nào, gặp các anh thấy rất mến.
Nguyễn Đức Tùng:
Ngoài tuổi trẻ, thơ Dương Tường cũng như đi ra từ chính tuổi thơ của tác giả, nghĩa là vượt qua những quy ước thông thường của ngôn ngữ người lớn.
Dương Tường:
Nhà thơ Áo Rainer Maria Rilke có nói cái ý là sung sướng thay cho những người có một tuổi thơ như là kho báu để nhìn lại mỗi ngày. Tôi nghe anh Nguyễn Đức Tùng mở lời hôm nay thì tôi biết ngay là người đang nói chuyện với tôi là một người rất giàu có. Một người hết sức giàu có tuổi thơ.
Nguyễn Đức Tùng:
Craig Powell, một nhà thơ–phê bình (poet-critic) và là bác sĩ tâm lý người Úc, đã từng sống và làm việc tại Canada, cho rằng ngôn ngữ thơ là các quá trình tâm lý sơ cấp (primary process), trong khi ngôn ngữ văn xuôi là các quá trình tâm lý thứ cấp (secondary process) [1] . Đọc thơ anh có lẽ nên nhìn từ góc độ đó chăng? Tôi e rằng những người biết đến tên Dương Tường thì nhiều, nhưng những người hiểu Dương Tường có lẽ là ít, ngay cả trong giới phê bình văn học. Có đúng thế không thưa anh?
Dương Tường:
Tôi e rằng đúng như thế. Hiểu được thơ của mình cần phải có cái nhìn rất mới, nếu không thì không đồng cảm được.
Nguyễn Đức Tùng:
Anh bắt đầu làm thơ từ bao giờ?
Dương Tường:
Tôi bắt đầu làm thơ từ những năm 1950, thời kháng chiến chống Pháp. Nhưng chỉ làm thơ cho mình và cho bạn bè, nghĩa là không xuất bản. Cho đến những năm 1988 hay 1989, với tập thơ đầu tay in chung với Lê Đạt, đó là tập Ba mươi sáu bài tình. Như thế là từ khi bắt đầu làm thơ đến khi bắt đầu xuất bản là hơn ba chục năm.
Từ lúc bắt đầu làm thơ là tôi đã có một tâm niệm là tôi viết phải khác những người khác. Nếu viết không khác người ta thì đừng viết ra. Vì mỗi người có một tính cách khác nhau nên thơ nếu là của anh thì nó phải phát lộ cái personality (nhân cách) của anh.
Nguyễn Đức Tùng:
Nhân cách của nhà thơ biểu hiện qua phong cách, giọng điệu. Phong trào Thơ Mới và văn học trước 1945 như Tự lực Văn đoàn, Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, cùng thời với anh, đã ảnh hưởng đến phong cách của anh ra sao?
Dương Tường:
Tôi sinh năm 1932. Như thế là tôi sống qua thời kì Thơ Mới, tất nhiên là thế hệ của tôi, bạn bè tôi đều thấm đẫm tinh thần của thời kì vàng son rực rỡ đó. Nhưng ảnh hưởng của họ đối với tôi thì không đơn giản. Ví dụ như vào thời đó nhiều người thích thơ Xuân Diệu nhưng tôi lại không. Thời đó tôi thường nói đùa với bạn bè rằng ông Lamartine ngủ với ông Verlaine thì đẻ ra Xuân Diệu.
Nguyễn Đức Tùng:
Ý anh nói là Xuân Diệu không có gì mới cả.
Dương Tường:
Đúng thế. Ông ấy chính là hậu duệ của chủ nghĩa lãng mạn Pháp mà Lamartine và Verlaine là tiêu biểu, chứ đối với tôi vào thời đó thì không có gì mới cả.
Nguyễn Đức Tùng:
Vào thời đó mà nghĩ như thế quả là táo bạo. Nhưng Xuân Diệu lại là một tài năng lớn.
Dương Tường:
Đúng thế. Có những người là thiên tài nhưng tôi vẫn không thích. Victor Hugo lớn lắm chứ, rõ ràng là thiên tài, nhưng tôi không thích.
Nguyễn Đức Tùng:
Những nhà thơ Việt Nam nào ảnh hưởng tới anh nhiều nhất?
Dương Tường:
Đinh Hùng và Huy Cận.
Nguyễn Đức Tùng:
Mặc dù làm thơ từ rất sớm, nhưng lúc nào thì thơ Dương Tường là Dương Tường như hiện nay?
Dương Tường:
Thơ viết từ khoảng 1950 đến 1960 tôi đều bỏ hết, vì sau này đọc lại tôi thấy chúng không phải là tôi, mà thật ra là bắt chước. Từ những năm 1960 thì thơ Dương Tường mới là của tôi. Trên đây tôi có nói về Đinh Hùng và Huy Cận. Tôi cho là cái chất lãng mạn, triết lý và sầu muộn của hai ông đã ảnh hưởng đến tôi nhiều.
Nguyễn Đức Tùng:
Nhưng kĩ thuật làm thơ của anh hoàn toàn khác với kiểu cổ điển của Huy Cận và Đinh Hùng. Hầu hết các bài thơ của anh là thơ tự do.
Dương Tường:
Hồi đầu tôi cũng làm thơ có vần. Về sau thì biết rằng muốn thoát ra về nghệ thuật thì phải làm mới các thể thơ. Nhưng tôi vẫn chú trọng đến âm nhạc trong thơ. Các nhà thơ trẻ hiện nay ít chú ý đến điều này.
Nguyễn Đức Tùng:
Tôi sẽ xin quay lại với các nhà thơ trẻ. Anh vừa nhắc đến thời gian 1960. Năm 1960 là vừa sau vụ án Nhân văn-Giai phẩm. Vụ NVGP ảnh hưởng đến anh và đến văn chương của anh như thế nào? Anh có vai trò gì trong NVGP?
Dương Tường:
Tôi không phải là một thành viên chính thức của NVGP, nhưng trong thực tế thì cũng gần như vậy. Nhiều người biết rõ điều đó, chính quyền cũng biết. Rõ ràng là từ đầu tôi đã nhập cuộc với NVGP. Đó là một phong trào văn nghệ đòi quyền tự do biểu đạt. Tôi là bạn thân và cũng là bạn đường của các anh Trần Dần, Phùng Quán, Hoàng Cầm, Lê Đạt, và tôi sát cánh cùng các anh ấy ngay từ đầu.
Nguyễn Đức Tùng:
Như vậy về mặt danh nghĩa, Dương Tường không phải là thành viên chính thức của NVGP, nhưng trong thực tế anh có bị chính quyền hồi đó làm khó dễ gì không? Ảnh hưởng về chính trị và đời sống của vụ NVGP đối với anh như thế nào? Anh có chia sẻ các giá trị của NVGP không?
Dương Tường:
Có chứ. Ảnh hưởng về chính trị rất nhiều. Tôi phải đi học tập ở Thái Hà ấp trong một khoá chỉnh huấn. Sau đó thì phải đi lao động ở mỏ than Cẩm Phả và khu gang thép Thái Nguyên. Lớp chỉnh huấn này gồm có trên 100 người, trong đó có vài chục người là trực tiếp liên quan đến NVGP, do Nguyễn Đình Thi phụ trách, và có những quan chức chính trị đến giảng bài và hướng dẫn kiểm điểm như ông Đỗ Mười. Tôi đi lao động ở mỏ Cấm Phả hai tháng, sau đó đi lao động ở khu gang thép Thái Nguyên. Hết thời gian lao động cải tạo thì không được về Hà Nội mà vào làm phóng viên Thông tấn xã Việt Nam, phân xã Nghệ An.
Ngày nay nhìn lại tôi vẫn không ân hận gì về những việc đã làm lúc còn trẻ và hãy còn bồng bột. Tôi chia sẻ các giá trị của NVGP. Các đòi hỏi của họ về quyền tự do biểu đạt của văn nghệ sĩ là có giá trị vĩnh viễn trong mọi thời kỳ. Ngày nay cũng như thời xưa.
Nguyễn Đức Tùng:
Từ năm 1960 về sau, cội nguồn và diễn trình của thơ Dương Tường ra sao?
Dương Tường:
Xin nói thêm một chút nữa. Ngay sau vụ NVGP thì tôi lại dính vào một vụ án thứ hai là vụ án “xét lại”. Hồi đó có sự mâu thuẫn giữa khuynh hướng giáo điều theo Mao Trạch Đông và khuynh hướng “xét lại” theo Liên Xô. Đảng ta hồi đó theo Mao, nên những người ủng hộ “xét lại” bị đàn áp. Bạn bè thân của tôi hồi đó như Vũ Thư Hiên, Vũ Huy Cương, Kiến Giang và nhiều người nữa cũng bị đi tù. Đó là năm 1965 hoặc 1966. Bạn thân của tôi là Bùi Ngọc Tấn cũng dính vào vụ này. Kể ra nếu Tấn không ở Hải Phòng thì chưa chắc đã bị bắt.
Nguyễn Đức Tùng:
Tại sao ở Hải Phòng lại bị?
Dương Tường: Cũng giống như trong cải cách ruộng đất, mỗi xã, mỗi thôn, đều định trước chỉ tiêu là phải tìm cho ra từng ấy, từng ấy địa chủ, trong vụ “xét lại” hình như chỉ tiêu bắt người cũng được định trước cho từng địa phương, nghĩa là một địa phương phải bắt bao nhiêu người thì mới đúng chỉ tiêu. Hải Phòng không phải là trọng điểm “xét lại” nhưng cũng cần bắt một số và chẳng may Bùi Ngọc Tấn rơi vào số ít đó. Nếu Tấn mà ở Hà Nội thì có thể không sao. Đó là tôi đoán vậy, chứ không khẳng định là thực tế đã diễn ra như thế. Có điều chắc chắn là tất cả những người bịt bắt trong vụ này đều không được xét xử công khai. Phần mình, tôi cũng đã chuẩn bị sẵn ba lô để họ gọi là vào thẳng nhà tù, vì thấy bạn bè như Vũ Thư Hiên đã bị bắt. Nhưng công an gọi tôi lên thẩm vấn một tháng trời mà không bắt.
Nguyễn Đức Tùng:
Anh nhìn lại vụ án xét lại như thế nào?
Dương Tường:
Rất nhiều người bị bắt oan và không có án xử gì cả (mình quen mồm gọi là “vụ án” chứ thực ra, có xử gì đâu mà gọi là án!). Vụ xét lại là một cố gắng của những người trí thức muốn ủng hộ các cởi mở ở Liên Xô vào lúc đó, làm cho xã hội có một bộ mặt nhân bản hơn. Thật ra phong trào xét lại cũng tương tự như đổi mới sau này.
Nguyễn Đức Tùng:
Nhưng sau đó cuộc sống của anh và gia đình chắc là bị ảnh hưởng?
Dương Tường:
Ảnh hưởng nặng nề. Vợ chồng tôi nếm đủ mùi, nhưng thôi, mình chả muốn kể khổ làm gì. Bây giờ nói về thơ. Như anh Nguyễn Đức Tùng có đọc, thơ của tôi viết như thế thì vào những năm 1960 ai mà đọc được, báo nào mà dám đăng, vì vậy thơ tôi không in được, và không có độc giả.
Nguyễn Đức Tùng:
Tình trạng thơ không có độc giả, sáng tác không có tiếng dội lại, không có phản hồi đã ảnh hưởng như thế nào đến quá trình sáng tạo của anh?
Dương Tường:
Tôi đã tâm niệm từ đầu rằng con đường thơ của tôi sẽ không thay đổi. Tôi đã chọn con đường ấy, đã chịu nhiều hệ luỵ, nhưng sẽ đi đến cùng. Vì vậy tình trạng không in được thơ, không có độc giả, không ảnh hưởng nhiều đến con đường của tôi. Tất nhiên là tôi cũng có những độc giả riêng của mình, đó là những bạn bè thân quen. Nhất là những bạn trẻ yêu mến thơ tôi, có khi họ ghi chép lại, nhờ thế mà nhiều bài thơ tôi bị mất vẫn tìm lại được, nhờ sự ghi chép của các bạn trẻ.
Tuy vậy, trong sáng tác văn học, cái feedback của độc giả và nhà phê bình là rất quan trọng. Nếu tôi có những feedback như thế, kịp thời, chắc là thơ tôi đã có nhiều thay đổi. Vì chỉ có một nhóm bạn bè thân, và vì khá cô độc, cái mạch nguồn của thơ tôi không phát triển thành các nhánh rẽ khác mà lẽ ra nó phải có. Đó là một hạn chế đáng tiếc. Rất đáng tiếc.
Nguyễn Đức Tùng:
Điều anh nói đang chạm đến một vấn đề của xã hội Việt Nam hiện nay. Cũng có nhiều người cho rằng bất chấp sự áp bức của một số chế độ, tự do của người sáng tác là không ai lấy đi được, và vì vậy tự do xuất bản không ảnh hưởng gì nhiều đến sáng tác của một nhà văn.
Dương Tường:
Không phải đâu, độc giả ảnh hưởng lớn lắm. Có Bá Nha thì ít nhất cũng phải có một Tử Kỳ chứ. Mặc dù vậy tôi cũng có một số bạn trẻ yêu thơ Dương Tường, và cũng có ảnh hưởng đối với thơ của họ.
Nguyễn Đức Tùng:
Đó là ảnh hưởng của anh lên người khác, chứ còn ảnh hưởng của người đọc lên thơ anh lại là một chuyện khác. Trường hợp này ảnh hưởng của người đọc là không đáng kể, và như vậy là một thiệt thòi cho nhà thơ, đúng không ạ?
Dương Tường:
Vâng. Đúng thế. Tôi tiếc lắm, vì nếu như tôi được in công khai và có sự phản hồi kịp thời của dư luận văn học, thơ tôi ngày nay chắc đã phát triển ra thành những hướng bất ngờ khác.
Nguyễn Đức Tùng:
Tôi đã đọc tuyển tập Thơ Dương Tường [2] của anh, trong đó có những bài tôi thích như bài “Tình khúc 24”, bài “Bella”, hay phần thơ “Tôi đứng về phe nước mắt”. Ngôn ngữ của anh giản dị, nhưng thật ra không dễ hiểu. Giản dị và dễ hiểu là hai khái niệm khác nhau. Tiếc rằng có hiện nay nhiều người không phân biệt được điều này. Có những câu hay đột ngột, nhưng cũng có những câu chưa thuyết phục lắm. Xin phép được trích dẫn trước mặt anh.
 
Mặt trời Colorado
dậy sớm
Đánh cắp của ta quà tuyết đêm qua
Là bài hay và dễ hiểu.
Bao giờ
về
thượng nguồn thơ
nghe
u ơ
Cũng hay và dễ hiểu.
Đến như:
Bao giờ về
U tịch
Bên kia?
Thì phạm vào lỗi lặp lại (non-originality).
Hồ môi thơ lã chã âm xưa
bản nháp chiều tơ liễu
đưa mưa
 
Thì hay nhưng hơi khó hiểu đối với những người đọc trung bình. Rõ ràng là thi pháp tượng trưng, hơi bị lộ.
 
Khoảnh khăk
Phố nằm tênh hênh
Con jó thôk
bỗng chốk
vú nũm cau
phau phau
 
Thú vị và bất ngờ. Nhưng dễ rơi vào tình trạng tự bắt chước mình. Một khuyết điểm mà Trần Dần cũng không tránh được.
Còn những câu như:
 
Người đàn bà hít mùi mồ hôi ba năm chờ
cười vô lối
Cửa sổ sóng sánh tiếng huýt sáo của một người
Đi chơi đêm
 
Rất đặc sắc. Mang dấu ấn riêng của Dương Tường. Chúng đã làm tôi liên tưởng đến E. E. Cummings (1894-1962), một nhà thơ dùng hết cuộc đời mình để nắm bắt những giây phút sống động đầy cảm giác thực tại, bằng cách lược bỏ các suy tư vốn dễ phát sinh về thực tại đó.
 
When by now and tree by leaf
She laughed his joy she cried his grief
Bird by snow and stir by still
Anyone’s any was all to her
 
Viết như thế thì tuyệt quá.
Dương Tường:
Cám ơn anh Nguyễn Đức Tùng đã đọc thơ tôi. Nếu có thì giờ tôi rất muốn nghe những phê bình góp ý khen chê của một nhà thơ và nhà phê bình thuộc thế hệ trẻ và ở nước ngoài như anh. Tôi rất cần sự thưởng thức và đánh giá của người đọc.
Nguyễn Đức Tùng:
Hôm nay ngồi trước tập thơ mới nhất, tập thơ Đàn của anh. Đó là một thứ thơ ngoài lời. Tôi xin nói rằng có thể gọi anh là nhà thơ đứng ở biên giới của ngôn ngữ. Điều đó không phải bao giờ cũng có lợi cho anh. Không phải ai cũng đọc được, hoặc họ đọc được mà không tán thành. Nếu anh có những feedback kịp thời, có lẽ anh sẽ còn phát triển hơn nữa về hướng này.
Dương Tường:
Những feedback ấy đã không có vào đúng lúc mà nó ra đời. Khi người ta viết lại quá khứ và công nhận tác phẩm của mình, thì cái mạch nguồn thơ của mình vào lúc ấy đã không còn nữa, Tôi nghĩ ở Việt Nam đã có nhiều người cũng rơi vào tình trạng như tôi.
Nguyễn Đức Tùng:
Tập thơ Đàn cần một thứ độc giả riêng của nó. Nó gồm ba mươi trang gồm các hình vẽ với các ghi chú rải rác. Tôi thích bức số một, số hai, số ba, số năm, theo thứ tự trong tập này. Chúng gây cảm giác mênh mông khó tả. Nhưng những bức khác như hình số bốn có dáng như một ly rượu, một nhánh cây leo, và con bướm đậu trên chân ly, tôi không thích vì nặng tính quy ước. Thưa anh, như vậy thơ đã hoá thành hội hoạ hay một thứ nghệ thuật sắp đặt trên giấy rồi chăng?
Dương Tường:
Không phải. Thơ không phải là hội hoạ dù rất gần với hội hoạ. Các tác phẩm của tôi cũng không phải là tranh, mặc dù nhìn như những bức tranh. Đó là một thứ thơ không dùng đến ngôn ngữ thông thường và sử dụng các biểu đạt siêu ngôn ngữ (meta-language).
Nguyễn Đức Tùng:
Theo nhận xét riêng, tôi cho rằng Dương Tường là một trong những nhà thơ trí thức của Việt Nam hiện nay còn sống. Một thứ scholar. Một tinh thần như thế, một phong cách trí thức như thế làm lợi hay làm hại cho thơ? Và như thế nào?
Dương Tường:
Tôi bắt đầu thực hiện tập thơ Đàn khi cảm thấy cần mở rộng biên giới của ngôn ngữ, nếu tôi được phép dùng theo cách nói của anh Nguyễn Đức Tùng ngày hôm qua. Anh Châu Diên, người viết lời giới thiệu cho tập thơ Đàn cũng nói rằng: “Thơ không lời, theo cách gọi của Trần Dần, thực ra không phải là một cái gì dị thường lắm. Ở đầu nguồn, có lẽ là những calligrammes của nhà thơ cách tân hàng đầu của Pháp Guillaume Apollinaire, những bài thơ được trình bày bằng cách viết biểu hình, mà tôi tạm dịch bằng một từ Hán Việt tân tạo: thư đồ thi. Cũng như cái mắc áo, cái bồn tiểu lật sấp của Marcel Duchamp là tiền đề cho hình thức installation (sắp đặt) sau này, thư đồ thi của Apollinaire, theo tôi nghĩ, là tiền đề cho thơ ngoài lời hay thơ không lời mà Dương Tường và Trần Dần thể nghiệm vào giữa những năm 1970”.
Nguyễn Đức Tùng:
 
Ai bẻ ghi tôi
Tu-huýt còi
Hoang ga em?
 
Đúng là có thể xem Dương Tường, trong một số bài, là một E. E. Cummings của Việt Nam. Do những điều kiện lịch sử khắc nghiệt, trải qua những vụ án như NVGP, vụ án xét lại, một Cummings như thế đã không có điều kiện để tạo dựng hình ảnh (image) của mình lớn hơn, vươn được lên đẳng cấp thế giới, cả về nghệ thuật lẫn ảnh hưởng.
Các nhà phê bình văn học Việt Nam hiện nay hình như không ai đọc Dương Tường như một nhà phê bình, và giúp cho người đọc trung bình có khả năng tiếp cận nó ở mức độ phổ thông. Theo anh có phải vì các nhà phê bình Việt Nam không có đủ trình độ lý luận, hay bởi vì họ vướng phải những chuyện nào khác?
Dương Tường:
Các nhà phê bình không quen với cách viết của tôi nên họ ngại. Người Việt Nam thường chậm hơn trong những cách tân văn học và nghệ thuật. Dư luận chính thống cũng không ủng hộ tôi. Nói chung là do văn hoá và học thuật của chúng ta còn đi sau thế giới.
Có một điều thú vị là tập thơ Đàn của tôi có một bức được dùng làm bìa cho cuốn sách quan trọng của Victor Shklovsky, cuốn A Sentimental Journey – Memoirs, 1917-1922 do Nhà xuất bản Dalkey Archive Press, Illimois (Mỹ), ấn hành năm 2004. Quả là một bất ngờ khi tôi nhận được thư của Nxb này xin phép được dùng một trang trong tập Đàn làm bìa cho cuốn sách đó. (xem ảnh).
Nguyễn Đức Tùng:
Kể về số phận, Dương Tường là người đi xuyên suốt chiều dài lịch sử của đất nước, và là người tham gia, mặc dù không phải là nhân vật chính, vào các sự kiện sôi động ở miền Bắc. Thế thì toàn bộ tư tưởng của anh, suy nghĩ và hành động của anh trong đời sống, như một công dân, đã ảnh hưởng đến thơ của anh như thế nào. Dòng thơ ngôn ngữ của anh, và sau này dòng thơ ngoài lời, đã được cắm rễ trên mảnh đất ấy như thế nào? Thơ có phản ảnh đời sống của anh không? Anh có chủ định mang những vấn đề của đời sống vào thơ không hay anh cố tình gạt chúng ta khỏi toà lâu đài của thơ ca?
Dương Tường:
Nếu đọc kĩ, sẽ thấy trong thơ tôi nhiều dấu ấn của dòng đời. (Đọc thơ)
 
Ở đây tất cả đều tủn mủn
Chỉ riêng khổ đau là hoành tráng
Thôi chào Tovarish [3] Thế kỉ
Giờ lũ hồng rồi
Tôi chẳng còn thì giờ dặn dò cái chậu giặt
Kìa con chim xứ rét đã về
Ngậm một nhành IM hoá thạch
Tôi đi
Hành tinh hoang
 
Nguyễn Đức Tùng:
Có ba nhà thơ cùng thời mà ngôn ngữ thơ của họ có những nét giống nhau, tôi xin xếp loại là dòng thơ ngôn ngữ ở Việt Nam, đó là Trần Dần, Lê Đạt, Dương Tường, trong đó Dương Tường có những nét riêng. Anh so sánh như thế nào giữa thơ anh và thơ của Trần Dần, Lê Đạt xét về mặt nghệ thuật?
Dương Tường:
Về thơ tôi gần với Trần Dần hơn cả, và có chịu ảnh hưởng của anh ấy. Lê Đạt và tôi cũng có những điểm tương đồng. Lê Đạt tự gọi mình là phu chữ, còn tôi đã từng viết rằng mình một đời ăn nằm với chữ. Tiếng Việt, ăn nằm có nghĩa là vợ chồng. Nhưng đối với Trần Dần, thì tôi coi anh ấy vừa là bạn vừa là thầy của tôi. Những người thầy của tôi trên thế giới có Apollinaire, E. E. Cummings, còn ở trong nước thì tôi chịu ảnh hưởng của Huy Cận, Đinh Hùng, nhưng tôi có hai người thầy trực tiếp là Trần Dần và Tất Vinh. Tất Vinh là anh ruột của vợ tôi. Tất Vinh không phải là một người cách tân lắm, nhưng từ buổi đầu anh ấy là người đã truyền cho tôi cái đam mê về thơ.
Nguyễn Đức Tùng:
Từ sau 1954 ở miền Bắc có hai dòng văn chương, dòng chính thống được nhà nước bảo hộ, và dòng văn chương phi chính thống bị cấm đoán, cấm xuất bản, trong đó có anh. Giới trẻ ở miền Bắc lớn lên dĩ nhiên hoàn toàn chịu ảnh hưởng của dòng văn chương thứ nhất, cả về tư tưởng lẫn tâm hồn, và do đó mà về bút pháp. Đọc một số các nhà văn lớn lên ở miền Bắc, ngay những người khá cách tân, hiện nay khoảng từ bốn mươi tuổi trở lên, về tiểu thuyết hay về thơ, thì thấy rõ như thế. Nhưng các nhà văn, nhà thơ trẻ hơn, sinh ra hay lớn lên sau 1975, đang tìm cách thoát khỏi các ảnh hưởng này. Đó là sự phủ nhận tích cực. Nhìn lại, anh nghĩ sao về các thành tựu của những nhà thơ lớn thuộc dòng chính thống như Tố Hữu, Chế Lan Viên? Ảnh hưởng văn chương của họ như thế nào?
Dương Tường:
Về mặt con người, tôi không dành một sự kính trọng đặc biệt nào cho Chế Lan Viên, nhưng về mặt văn chương thì ông ấy đúng là một nhà thơ lớn. Còn Tố Hữu là con đẻ của cách mạng, vị trí của ông ấy trong thơ cũng không ai xoá được, mặc dù tôi không thích thơ ông. Không thích là một chuyện mà thẩm định khách quan là một chuyện khác. Nói về mặt nghệ thuật, chúng ta phải có một khoảng thời gian để quên đi những mặt phi nghệ thuật của một tác giả, trước khi có thể đọc lại họ một cách bình thường. Hiện nay thì có người cũng chưa đọc như thế được. Điều đó là dễ hiểu. Ngay cả trong tác phẩm của họ, không phải bài nào cũng hay và đáng ca ngợi như hiện nay. Cái việc ca ngợi quá đáng như thế, trở thành một sự sáo rỗng, tuyên truyền, nói cho cùng là có hại cho cả Chế Lan Viên lẫn Tố Hữu.
Nguyễn Đức Tùng:
Từ sau kháng chiến chống Pháp, xét về mặt lịch sử và về mặt nghệ thuật, thơ Việt Nam có nhiều nhánh rẽ, ít nhất là năm hay sáu nhánh: thơ miền Bắc chính thống, thơ miền Bắc phi chính thống, thơ miền Nam, thơ hải ngoại, thơ trẻ cách tân không bị cấm đoán hoặc là bị cấm đoán hiện nay. Từ 1954 đến 1975, về mặt nghiên cứu và phê bình văn học, miền Bắc đã thiết lập xong những thành tố căn bản, như việc đào tạo những tài năng về lý luận, nghiên cứu, phê bình, và các viện nghiên cứu. Trong khi đó về mặt sáng tác, nhờ có tự do, miền Nam đã có được một nền văn học phát triển, trong đó thơ ca mang lại nhiều thành tựu, với các tên tuổi còn lại từ thời tiền chiến như Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, đi qua các giai đoạn kế tiếp với Nguyên Sa, Bùi Giáng, Quách Thoại, rồi sau đó là Tô Thuỳ Yên, Du Tử Lê, Nguyễn Bắc Sơn, Nguyễn Đức Sơn, Nhã Ca, và một truyền thống dư dật về tiềm năng, sau này còn kịp gieo những hạt giống sáng tạo bay bổng của nó ở khắp nơi v.v… Anh nghĩ sao về dòng thơ miền Nam trước đây?
Dương Tường:
Do điều kiện lịch sử anh em chúng tôi ở miền Bắc rất ít được đọc miền Nam, ví dụ như anh Du Tử Lê mà tôi mới gặp hôm qua cùng với anh, tôi mới chỉ được đọc một hai bài, cho đến hôm nay mới có trên tay cuốn sách của anh Nguyễn Đức Tùng vừa tặng mà chưa kịp đọc (Với Du Tử Lê, đời sống trở nên thơ mộng hơn [4] ). Đối với những người mà tôi đã được đọc tương đối đầy đủ, thì ở miền Nam ngoài Vũ Hoàng Chương và Đinh Hùng là những nhà thơ mà tôi hết sức yêu mến từ thời trước, những người khác như Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền, và một mảng nào đó của Nguyên Sa, là tôi đặc biệt kính trọng.
Nguyễn Đức Tùng:
Các nhà thơ trẻ thường dành cho anh sự yêu mến. Nhận định của anh về sáng tác của các nhà thơ trẻ trong nước hiện nay như Vi Thuỳ Linh, Nguyễn Vĩnh Tiến, Lynh Bacardi, Lê Vĩnh Tài, Nguyễn Thế Hoàng Linh, Lý Đợi, Nguyễn Thuý Hằng v.v… ra sao? Các sáng tác của họ là những đóng góp quan trọng hay chỉ là những trò nhảm nhí không có giá trị văn học?
Dương Tường:
Tôi là người rất kì vọng ở lớp trẻ, rất hoà đồng với họ. Tính tôi thì rất ham…
Nguyễn Đức Tùng:
Ham vui?
Dương Tường: (Cười)
Ham vui thì đúng rồi. Nhưng ý tôi muốn nói là ham hoà đồng vào lớp trẻ. Tôi cho rằng nếu gọi những đóng góp của họ là những đóng góp lớn thì không đúng hoặc nên dè dặt, nhưng đó là những thứ quặng. Quặng thì không phải là vàng, nhưng nếu biết gạn đục khơi trong thì sẽ có thể tìm ra vàng trong đó. Họ cần sự tinh luyện.
Nguyễn Đức Tùng:
Sự tinh luyện đó là gì? Lớp trẻ cần làm gì và học gì để có sự tinh luyện đó?
Dương Tường:
Sự tinh luyện nằm ở chỗ không được thoả mãn với chính mình. Thường xuyên học hỏi thêm nữa. Rất nhiều. Khi họ được lăng xê, thì đó chỉ là bước đầu mà thôi. Đọc nhiều, học nhiều, tư duy thơ nhiều hơn nữa.
Nguyễn Đức Tùng:
Ở gần chỗ ngồi của chúng ta hôm nay có chân dung rất đẹp của Dương Tường treo trên vách, do Vi Thuỳ Linh dựng trong ngày hội thơ tháng giêng ở Hà Nội. Vi Thuỳ Linh tạo ra nhiều dư luận khen chê khác nhau. Có những dư luận thuần tuý văn chương, và những dư luận phi văn chương. Anh nghĩ sao về thơ của cô? Nói cụ thể hơn, với tư cách một người làm thơ lớp trước và là người đã từng viết phê bình và điểm sách, anh nhận định những mặt mạnh và những mặt yếu của thơ Linh ra sao? Tôi cũng có đọc bài phê bình của Nguyễn Thanh Sơn về Vi Thuỳ Linh.
Dương Tường:
Tôi là một trong những người cổ vũ Vi Thuỳ Linh và giới thiệu cô với độc giả. Tôi cũng là người đã dịch thơ Linh ra tiếng Pháp đăng trên Europe, một tạp chí lớn ở Pháp. Tôi cho rằng thơ Linh có được cái cảm xúc nguyên chất và tạo ra một mạch chảy của riêng mình. Sau tập thơ Đồng tử, tôi có nói với Vi Thuỳ Linh rằng nếu cô cứ tiếp tục làm như thế thì cô sẽ hết vốn, hết tinh hoa. Vốn đây là vốn chữ. Vì mỗi nhà thơ có một lượng chữ tinh cốt nhất định.
Nguyễn Đức Tùng:
Anh muốn nói là từ vựng?
Dương Tường:
Đúng thế. Từ vựng. Mỗi người chỉ có một từ vựng giới hạn mà thôi. Tất nhiên, tôi nói từ vựng đây là từ vựng đặc thù của nhà thơ, mang dấu ấn của nhà thơ. Đừng có tiêu phí chữ. Cái đó là cái yếu của Vi Thuỳ Linh. Cô ấy cứ viết ào ào đi. Cần phải biết dừng lại để suy nghĩ, nói chung là phải biết dừng lại.
Nguyễn Đức Tùng:
Một nhà văn nữ Hoa Kỳ trong một lớp dạy về văn học mà tôi được tham dự mới đây, có nói đại ý rằng: khi viết thì viết cho hết ý mình, đừng có để dành lại cho cuốn sách khác, vì đến lúc đó lại có cái khác.
Dương Tường:
Điều đó rất đúng, nhưng trong một tác phẩm cụ thể thì mình phải tập viết ngắn. Vi Thuỳ Linh viết thơ rất dài, vì cô không thể nào viết ngắn được. Tức là chưa biết tạo ra tinh chất.
Nguyễn Đức Tùng:
Rất nhiều nhà văn, nhà thơ ở miền Bắc thuộc thế hệ thơ chống Mỹ, hoặc của miền Nam trước đây và ở hải ngoại, đều đồng ý với nhận định rằng thơ trẻ hiện nay lẫn lộn giữa thật và giả, và rằng các xúc động của thơ trẻ là ít có thật. Anh nghĩ thế nào về nhận định có phần nghiêm khắc này?
Dương Tường:
Tôi cho rằng những người đưa ra nhận định như thế hoặc là giáo điều, hoặc là không chịu đọc kĩ các nhà thơ trẻ và chịu khó kiểm nghiệm họ. Cần phải hoà đồng với tâm thức của giới trẻ hiện nay, đứng trong góc nhìn của họ thì mới hiểu và thông cảm được. Cần phải thấy cái suy nghĩ dằn vặt, cái thao thức của lớp trẻ hiện nay, chứ nếu mà đứng xa cách như thế và đưa ra sự phê phán thì tôi cho rằng nếu không phải hồ đồ thì cũng chưa được chín chắn cho lắm.
Nguyễn Đức Tùng:
Kế hoạch viết của anh như thế nào trong một hai tháng tới hay một hai năm tới?
Dương Tường:
Trong một năm nay tôi không viết gì nhiều, đúng ra viết rồi lại xé, vì khi đọc lại tôi thấy thơ của mình chưa có gì mới. Nó thiếu cái evolution.
Nguyễn Đức Tùng: Tiến bộ, tiến hoá?
Dương Tường:
Cũng không phải là tiến hoá, evolution, theo cách tôi hiểu, có nghĩa là triển diễn, không nhất thiết là “tiến”. Khi tôi không thấy được cái đó trong thơ mình, thì tôi xé bỏ bản thảo. Chưa khác được những cái tôi đã làm trước đây. Có thể nói là tôi đang ở trong giai đoạn khủng hoảng sáng tác. Nhà thơ bao giờ cũng phải tìm cách vượt qua cái mình đã làm, và không được lặp lại.
Nguyễn Đức Tùng:
Ngoài thơ, anh còn viết ở nhiều thể loại. Nhiều người biết đến anh như một dịch giả hoặc nhà nghiên cứu văn học. Ví dụ trong tập Chỉ tại con chích choè [5] , có bài của anh tranh luận với Hoàng Trinh về nhà văn Mỹ Faulkner, kí năm 1970. Những bài như thế có được xuất bản không, dư luận ra sao?
Dương Tường:
Bài đó chưa bao giờ được xuất bản trước 1975. Tôi còn gửi tới tạp chí và tới Hoàng Trinh. Ông ấy lúc đó là viện sĩ. Ông ấy có đọc hay không thì tôi không biết chắc. Nhưng tôi đoán là có đọc. Vì sau đó trong cuốn Phương Tây văn học và con người, ông ấy bỏ bài về Faulkner ra ngoài. Nhưng im lặng không lên tiếng gì cả.
Nguyễn Đức Tùng:
Anh là một trong những người rất hiếm hoi am tường những bộ môn nghệ thuật khác nhau. Những người làm thơ có nên có những hoạt động khác ngoài thơ không? Điều đó có giúp ích gì cho họ không?
Dương Tường:
Tôi không phải là người thường đưa ra lời khuyên. Nhưng tôi tin rằng người làm văn học cần có cái culture generale, tức là cái nền văn hoá chung. Không có cái nền văn hoá như thế thì anh chỉ viết một thời gian rồi hết vốn liếng, không đi xa được. Tuy nhiên, do làm nhiều thứ quá, từ dịch thuật cho đến hội hoạ, tôi cũng thấy mình ôm đồm nhiều quá, ôm nhiều quá thì không chặt. Qui trop embrasse mal étreint, người Pháp nói thế. Trong lời bạt cuốn Chích choè tôi cũng gợi ý để anh Lê Đạt khi viết lời bạt nhắc đến điều này.
Nguyễn Đức Tùng:
 
Ở đây tất cả đều tủn mủn.
Chỉ riêng khổ đau là hoành tráng
 
Là những câu thơ hay và dễ hiểu của Dương Tường. Viết được như thế là vì anh đã sống qua một thời gian khổ của dân tộc. Cái thời ấy đến nay vẫn còn. Nhưng viết như thế này:
 
Em đi
môi mọng
đùi mọng
vú ấm
tim trống
đầu trống
Em đi - nhớt đêm
Em đi - mưa xiên
Em đi - trời nghiêng
Em - đời bỏ quên
 
Thì không phải ai cũng thưởng thức được. Theo tôi, Dương Tường đã tạo ra được một lối viết mới với cách dùng chữ táo bạo.
Dương Tường:
Muốn làm ra những điều táo bạo, tôi nghĩ phải có những kiến thức thông thường và những kiến thức sâu sắc về văn hoá, lịch sử. Sự không đọc nhiều hiểu rộng của lớp trẻ bây giờ cũng là một điều đáng lo, đáng báo động.
Nguyễn Đức Tùng:
Ở trong nước hiện nay những nhà phê bình nào theo anh là quan trọng đặc biệt đối với thơ?
Dương Tường:
Tôi cho rằng Hoàng Ngọc Hiến là người có nhiều đóng góp cho phê bình văn học, anh là người đưa ra khái niệm “Chủ nghĩa hiện thực phải đạo”, là một người rất tâm huyết. Tôi đánh giá cao Phạm Xuân Nguyên giữa những người trẻ tuổi hơn. Có một cây viết phê bình trẻ cũng có nhiều khả năng mặc dù viết ít là Nguyễn Thanh Sơn. Ngô Tự Lập cũng là một cây bút lí luận-phê bình đáng chú ý, nhưng anh bạn trẻ này có một nhược điểm giống tôi là… (cười) “đa mang” quá.
Nguyễn Đức Tùng:
Còn nếu nhìn chung cả một nền phê bình văn học thì sao?
Dương Tường:
Tôi chỉ xin giới hạn ở nền phê bình trong nước. Theo tôi, nói chung đó là nền phê bình thiên lệch, nó không có khả năng phát hiện được những tài năng văn chương, mặt khác nó không bênh vực được những giá trị nhân văn và nghệ thuật bị vùi giập. Đối với những cuốn sách dở thì không ai phê bình, còn đối với những cố gắng cách tân chưa được định hình thì họ lại đánh.
Nguyễn Đức Tùng:
Mặc dù không phải là người chính thức trong NVGP, anh là người theo sát các hoạt động đó. Anh nghĩ sao về việc phát Giải thưởng Nhà nước cho bốn người vừa qua? Anh Nguyễn Trọng Tạo có nói hôm qua trong buổi gặp nhà thơ Lê Đạt rằng cách phát giải thưởng đối với anh Hoàng Cầm là không đàng hoàng.
Dương Tường:
Cái giải thưởng ấy theo tôi là quá muộn. Tiếng Anh nó có cái tính từ overdue dùng ở đây là thích hợp nhất. Overdue có nghĩa là quá muộn như là một món nợ quá hạn lâu rồi vẫn chưa trả. Điều thứ hai là tôi rất tiếc là không có Hữu Loan trong số những người được tặng Giải thưởng Nhà nước đợt này. Tôi nghe nói là Hội đồng xét giải cũng có nhắc đến anh ấy nhưng có người bảo Hữu Loan có những tuyên bố quyết liệt trước đây nên họ gạt ra. Thứ ba là Hoàng Cầm, phát giải thưởng thì nhắc đến “Lá diêu bông”, nhưng “Lá diêu bông” là một bài trong tập Về Kinh Bắc, tập sách đã đưa cả Hoàng Cầm lẫn Hoàng Hưng vào tù. Hoàng Hưng chỉ cầm tập sách ấy mà lại còn đi tù lâu hơn Hoàng Cầm.
Tôi nghĩ: làm sao mà không có một lời xin lỗi công khai được.
Tóm lại là nó có hai tính chất: overdue và không thật đàng hoàng.
Nguyễn Đức Tùng:
Anh nhận xét ra sao về các tờ báo và các website do các nhà văn hải ngoại thành lập?
Dương Tường:
Tôi cho rằng talawas là website quan trọng nhất hiện nay, nó cung cấp một diễn đàn cho tất cả những cá nhân có ý kiến riêng. Đây là điều mà trong nước không thể nào làm được? Mặc dù có bị tường lửa, theo tôi biết trong nước cũng đọc talawas rất nhiều chứ không ít đâu. Vì vậy nó rất quan trọng. Mặc dù không thể không có những khuyết điểm nào đó, vì nó đụng chạm đến nhiều vấn đề khác nhau, talawas và các tờ báo liên mạng khác ở hải ngoại và ở trong nước có nhiều đóng góp và tôi mong rằng những đóng góp đó ngày một lớn hơn nữa.
Nguyễn Đức Tùng:
Tôi đã từng đọc bài thơ “Bức tường Việt Nam” anh viết ở Washington trực tiếp bằng tiếng Anh cùng bản dịch tiếng Việt của chính anh.
 
Viết ở bức tường Việt Nam
bởi lẽ mình với cậu
chưa hề biết nhau
nên mình đến
bởi lẽ cậu bỏ lại mẹ cha cùng
người hôn ước
và mình cũng từng giã biệt vợ con
nên mình đến
bởi lẽ tình yêu mạnh hơn thù hận
và có thể bắc cầu qua mọi đại dương
nên mình đến
bởi lẽ cậu không trở lại
còn mình đã có ngày về
nên mình đến
 
At the Vietnam wall
because i never knew you
nor did you me
i come
because you left behind mother, father
and betrothed
and i wife and children
i come
because love is stronger than enmity
and can bridge oceans
i come
because you never return
and i do
i come
 
Anh nghĩ sao về cuộc chiến tranh Việt Nam vừa qua?
Dương Tường:
Tôi mong rằng sau này người Việt Nam chúng ta cũng có một bức tường như thế để tưởng niệm những người lính tử trận ở cả hai bên. Nhìn lại, tôi vẫn nghĩ đây là một cuộc huynh đệ tương tàn, trong đó những người lính là những người mất mát nhiều nhất, những nạn nhân lớn nhất, lính miền Bắc cũng như lính miền Nam. Cần phải nghĩ về họ và viết về họ với sự thương mến và lòng kính trọng cao nhất. Những vết thương mà cuộc chiến tranh Nam Bắc gây ra trong lòng dân tộc chúng ta rất khó lành, còn lâu mới lành. Văn học cần phải đi về hướng đó, làm sáng tỏ lịch sử.
Nguyễn Đức Tùng:
Xin cám ơn anh. Chúc anh khoẻ và còn sáng tác lâu dài.
 
*
 
Nhà thơ Dương Tường đưa tôi về. Hai người đứng ở ngã tư đường dưới những tàn phượng vĩ toả bóng mơ màng, chờ taxi rất lâu, vì mải trò chuyện quên cả đón xe. Sau đó, trời tắt nắng, anh cùng đi taxi với tôi về khách sạn, rồi mới chia tay, quyến luyến.
 
Nguyễn Đức Tùng
 
***

[1] “Poetry, as the language of the unconscious and of dreaming, has its roots in primary process experience and is closer to the primordial union with the mother than the secondary process language of prose. The poems that move us most deeply are those which evoke the poignancy of that lost union, when in fantasy the boundaries of self and other were melted away.” (Craig Powell, được trích dẫn bởi Gary Geddes, 20th Century Poetry and Poetics, Fouth Edition, Preface pg. xv, Oxford University Press, Toronto, 1996).
Tạm dịch: “Thơ ca, như là ngôn ngữ của vô thức và giấc mơ, bắt nguồn từ các kinh nghiệm thuộc quá trình sơ cấp và gần với sự hòa hợp nguyên sơ của tình mẫu tử hơn là ngôn ngữ văn xuôi vốn thuộc về quá trình thứ cấp. Những bài thơ làm chúng ta rung động một cách sâu xa là những bài thơ dấy lên được nỗi xúc cảm về sự hòa hợp đã mất này, khi trong giả tưởng những biên giới giữa cái tôi và người khác trở nên nhạt mờ.”
 
Người thực hiện phỏng vấn cũng xin nói thêm về các khái niệm mà Powell đã diễn tả quá ngắn gọn trên đây, có thể khó hiểu đối với một số độc giả ít tìm hiểu về phân tâm học. Đoạn này, viết vào lúc biên tập, là dành cho quý độc giả đó.
Một trong những lý thuyết nổi tiếng của Freud là lý thuyết “topo”, topographic concepts, được xây dựng từ khoảng 1900, đặc biệt trong cuốn Diễn dịch các giấc mơ (The Interpretation of Dreams). Freud chia tâm trí ra làm ba vùng hoạt động có chức năng khác nhau. Ý thức (conscious), được xem là phần “trên cùng”, tiếp nhận các tác động từ môi trường bên ngoài và các tác động từ cõi tiền ý thức (preconscious). Cõi tiền ý thức (hay tiềm thức) chứa các hoài bão, cảm xúc, kí ức… mà người ta có thể thăm dò được nếu biết cách tập trung chú ý, một cách tự chủ. Các hoạt động tâm thần của ý thức và tiền ý thức được gọi là secondary process (các quá trình hay diễn trình thứ cấp).
Vô thức là phần “dưới cùng” của tâm trí, nơi mà ý thức không thể tiến vào được bằng phương pháp tập trung chú ý. Vô thức chứa các ý tưởng, cảm xúc, hoài vọng bị nén lại. Tiền ý thức hoạt động như một bộ máy kiểm duyệt, kiểu như Ban Tư tưởng Văn hoá ở Việt Nam, đứng giữa một bên là vô thức một bên là ý thức.
Chỉ khi nào cơ chế kiểm duyệt này không làm việc, đi “nghỉ hè” đâu đó, ví dụ như trong các giấc mơ, các ý tưởng, cảm xúc, hoài vọng bị nén lại trong cõi vô thức sẽ hiển lộ vào trong ý thức. Các hoạt động tâm thần của vô thức được gọi là primary process (các quá trình hay diễn trình sơ cấp). Primary process là đặc trưng cho các suy nghĩ của trẻ con, hiện ra trong các giấc mơ, và dễ quan sát hơn ở những người chậm phát triển trí tuệ (mental retardation).
(Nguyễn Đức Tùng)
[2] Dương Tường. Mea Culpa và những bài khác. Tuyển tập thơ. Nhà xuất bản Hải Phòng 2005.
[3] Tovarish, tiếng Nga, nghĩa là đồng chí.
[4] Nguyễn Đức Tùng. Với Du Tử Lê, đời sống trở nên thơ mộng hơn. Tuỳ bút và phê bình. Tự Lực Bookstore xuất bản. California 2007
[5] Dương Tường. Chỉ tại con chích choè. Tạp luận. Nhà xuất bản Hội Nhà văn 2005.
(Talawas)
 
READ MORE - HÀ NỘI, DƯƠNG TƯỜNG - Nguyễn Đức Tùng

Monday, April 11, 2022

THÁNG TƯ, LÊ ĐẠT - Nguyễn Đức Tùng thực hiện

 Để nhớ tháng tư, mười lăm năm trước, ở Hà Nội.

                                                  Nguyễn Đức Tùng
                                                  (4. 2007- 4. 2022)
 
Từ trái sang phải: Du Tử Lê, Lê Đạt, Nguyễn Đức Tùng
(Ảnh: Nguyễn Trọng Tạo)
 
Người đầu tiên mà chúng tôi đến thăm trong dịp ghé Hà Nội tháng 4. 2007, là nhà thơ Lê Đạt. Chúng tôi gồm có Nguyễn Trọng Tạo, Du Tử Lê, Nguyễn Đức Tùng và một số bạn bè văn nghệ, đến nhà riêng của ông. Lê Đạt vừa dọn đến ở chung với người con trai được một năm, trong một khu phố yên tĩnh, hơi khó tìm đường. Trời Hà Nội sáng sớm mây mù, gió lao xao, mát mẻ dễ chịu. Đường nào cũng có nhiều cây xanh, nhưng không nghe tiếng chim hót. Trước ngõ nhà ông có vài gánh hàng rong, làm tôi nhớ đến Hà Nội ba mươi sáu phố phường của Thạch Lam. Lê Đạt tiếp chúng tôi trên căn gác nhỏ, nụ cười vui, dáng điệu nhanh, hỏi và trả lời dứt khoát. Trong câu chuyện, thỉnh thoảng ông phá lên cười. Trên vách tường sau lưng chỗ ông ngồi, có treo hai tấm hình. Một là tấm poster lớn đem về từ Ngày hội Thơ Việt Nam 15 tháng Giêng âm lịch, tổ chức ở Văn Miếu Hà Nội, chụp chân dung của ông, phía sau là nền hoa mimosa vàng. Poster được chuẩn bị bởi nhà thơ trẻ Hữu Việt. Bên cạnh là giấy chứng nhận Giải thưởng Nhà nước 2007.
 
                                                         NĐT (4. 2007)
 
Nguyễn Đức Tùng: Thưa anh Lê Đạt, xin chúc mừng anh vẫn còn giữ được sức khỏe và sự minh mẫn để làm việc. Người yêu thơ anh, theo dõi báo chí, chắc chắn sẽ vui khi biết rằng anh vẫn làm thơ và vẫn dành rất nhiều sự quan tâm đối với thơ ca Việt Nam.
 
Lê Đạt: Rất mừng được gặp các anh từ nước ngoài về và ở trong Nam ra. Chúng ta có dịp gặp nhau như thế này là quý lắm. Tôi vẫn còn viết được nhưng không còn viết được nhiều như trước.
 
Một thân hữu văn nghệ: Anh có thường tập thể dục không?
 
Lê Đạt: Mỗi ngày tôi đều đi bộ hai tiếng đồng hồ bờ Hồ Tây. Khi lạnh thì mặc thêm áo ấm.
 
Du Tử Lê: Anh còn hút thuốc lá không?
 
Lê Đạt: Không, tôi đã bỏ thuốc từ lâu. Nay thì bỏ hết. Trước đây tôi cũng hút ghê lắm
 
Nguyễn Trọng Tạo: Đọc các bài viết trước đây, các ông ấy thường cho là các anh thuộc loại sống truỵ lạc (cười).
 
Lê Đạt: (cũng cười) Những việc ấy thì nhiều.
 
Nguyễn Đức Tùng: Trên poster nhân Ngày hội Thơ ở Hà Nội vừa qua, treo ở tường sau lưng anh, có “lời khuyên” của nhà thơ Lê Đạt “Gửi người làm thơ trẻ” như sau: “Các nhà thơ trẻ để tránh khỏi nhạt nhẽo sáo mòn tuyệt đối không nên đến cửa hàng đặc sản gọi cho mình một món bi kịch.” Tôi rất chú ý đến lời khuyên này. Anh cho rằng tuổi trẻ ngày nay không có bi kịch của riêng họ? Họ đến các cửa hàng đặc sản hơi nhiều phải chăng?
 
Lê Đạt: Tôi không thích từ “lời khuyên” lắm. Nghe nó đạo mạo quá. Ta thống nhất với nhau là đó chỉ là một từ dùng tạm nhé. Mỗi thế hệ đều có bi kịch riêng của mình. Vấn đề là anh có nhận ra cái bi kịch ấy không và có sống với nó hay không. Các nhà thơ trẻ ngày nay cần sống nhiều hơn cái không khí của thời đại mình như những người làm chứng và như những tác nhân. Ai cũng biết rằng trong thơ cái giả không sống lâu.
 
Nguyễn Đức Tùng: Anh cũng nói: “Nên học thêm một, hai ngoại ngữ để có thể đọc được nguyên bản vì đọc thơ dịch là một việc vạn bất đắc dĩ”. Thưa anh, tác động của thơ nước ngoài đến thơ Lê Đạt như thế nào? Nói rộng ra, ảnh hưởng của thơ thế giới đối với thơ Việt Nam ra sao? Tôi hình dung rằng đây là một câu hỏi rất lớn.
 
Lê Đạt: Đúng là một vấn đề rất lớn. Thế hệ của tôi thường biết tiếng Pháp. Cũng có nhiều người đọc được cả tiếng Nga hay tiếng Anh, có người cũng đọc được chữ Hán. Ảnh hưởng là rất lớn, mình biết được người ta đã làm gì và đang làm gì. Học nhiều thứ. Học ở các bậc thầy cả về kĩ thuật làm thơ.
 
Nguyễn Đức Tùng: Nhờ các dịch giả mà người Việt Nam được đọc các tác phẩm lớn hoặc hay của thế giới, hãy lấy một vài ví dụ như Sử ký Tư Mã Thiên (Nhữ Thành), Chiến tranh và hoà bình (Nguyễn Hiến Lê), Doctor Zhivago (Nguyễn Hữu Hiệu), Đèn không hắt bóng (Cao Xuân Hạo), Thơ Tagore (Đỗ Khánh Hoan), Bông hồng vàng (Vũ Thư Hiên) v.v… Như vậy việc dịch thơ chẳng lẽ không đóng góp được nhiều vào việc thưởng thức và sáng tạo thơ ca hay sao?
 
Lê Đạt: Thơ khác với tiểu thuyết. Thơ rất khó dịch. Người nào đã đọc được trong nguyên bản rồi thì không thể chịu được bản dịch của thơ. Độc giả bình thường thì có thể đọc thơ dịch, vả lại cũng chẳng có cách nào khác, nhưng anh là người làm thơ thì anh nên cố đọc trong nguyên bản ít nhất một ngoại ngữ.
 
Nguyễn Đức Tùng: Anh cũng tâm sự tiếp với các nhà thơ trẻ như sau (cùng trên tấm poster): “Các nhà thơ trẻ còn quá quen với cách làm thơ ngẫu hứng. Ai cũng biết cảm hứng là cần nhưng cảm hứng chỉ là khởi đầu, sau đó là mồ hôi và sự vật lộn với từng con chữ”. Có người đọc thơ Lê Đạt lại tin rằng thơ anh đầy sự ngẫu hứng đối với ngôn ngữ.
 
Lê Đạt: Điều đó không sai. Nhưng muốn tạo được cái ấn tượng thơ mình là đầy ngẫu hứng, thì mình phải lao động cật lực.
 
Nguyễn Đức Tùng: Nhưng cũng có người khác lại cho rằng trong tập Bóng chữ, và những bài thơ sau đó nữa, các con chữ bị vật lộn quá nhiều.
 
Lê Đạt: Những ý kiến khác nhau như thế càng chứng tỏ thơ của mỗi người chứa những yếu tố sáng tạo khác nhau. Tôi cũng biết đến những ý kiến chỉ trích rằng Lê Đạt là người làm khổ chữ. Tôi làm khổ chữ hay chữ làm khổ tôi? Việc đó còn hạ hồi phân giải. Thì tôi đã tự nhận là phu chữ kia mà.
 
Nguyễn Đức Tùng: Trên tập thơ Mimôza gần đây nhất, đăng ở Hợp Lưu số tháng 6&7 / 2006, anh có giải thích một đoạn rất hay về chữ mimôza. Một kỷ niệm gần như là tình yêu có thật trong đời.
 
Nắng tạnh heo mày hoa lạnh
Mimôza chiều khép cánh mi môi xa
 
Tôi rất thích hai câu này, so với nhiều câu khác của Lê Đạt, và cho nó là tiêu biểu cho trường phái thơ ngôn ngữ ở Việt Nam mà đại diện là Trần Dần, Lê Đạt, Dương Tường, Đặng Đình Hưng.
 
Từ những năm 1960 và nhất là 1970, ở Mĩ cũng có trường phái thơ ngôn ngữ, có người gọi là L-A-N-G-U-A-G-E. Các anh có ảnh hưởng nào của các nhà thơ Mĩ không hay hoàn toàn là một sự tình cờ?
 
Lê Đạt: Là sự tình cờ.
 
Nguyễn Đức Tùng: Theo dõi các bài viết của anh trên Hợp Lưu, talawas, và những tờ báo khác thì thấy anh là một trong những người rất hiếm không những làm thơ mà còn chịu khó trình bày, diễn giải để giúp người đọc hiểu rõ hơn về thơ. Trong tập Bóng chữ, trước bài “Ông phó cả ngựa”, anh có một đoạn mở đầu rất quan trọng.
 
Bậc phó cả
dễ ít nhiều
Tạo hoá
Cùng cánh thợ
 
Lê Đạt: Cám ơn anh đã nhắc đến đoạn này. Tôi vẫn tin rằng ngày nay cái đọc cần phải khác ngày trước, và người đọc cần tham dự vào quá trình sáng tạo của nhà thơ. Anh ta là đồng tác giả. Con ngựa của ông phó cả ngựa cũng là những con chữ sinh sôi bất tận.
 
Nguyễn Đức Tùng: Tập thơ Bóng chữ của anh lúc ra đời đã gây ra nhiều tranh luận sôi nổi. Sau nhiều năm im lặng từ thời kỳ Nhân văn-Giai phẩm, nhà thơ Lê Đạt trở lại với người đọc. Có thể hiểu rằng sự mong đợi của mọi người lúc đó đối với anh là rất lớn, nhưng họ không chờ đợi anh viết một loại thơ lạ như thế, khác hẳn thời kỳ NVGP. Hiện nay tình hình chắc đã khá hơn, và người ta không còn chỉ trích thơ Lê Đạt nữa?
 
Lê Đạt: Tình hình có khá hơn, nhưng vẫn còn nhiều người không hiểu hoặc không thích thơ Lê Đạt. Theo tôi đó là điều bình thường vì nhà thơ ít nhiều cách tân nào cũng kéo theo họ những người ủng hộ nồng nhiệt và những người chống đối. Tôi có nhớ Matisse đã phát biểu đại ý như sau: “Ba mươi năm nay người ta không chửi bới tôi nữa, kể cũng hơi buồn.”
 
Du Tử Lê: Các anh em vừa gặp nhau ở Sài Gòn xong lại kéo nhau ra Hà Nội để thăm anh và bạn bè khác. Những người viết ở nước ngoài thuộc thế trẻ hơn, như anh Nguyễn Đức Tùng, rất chịu khó đọc và gặp gỡ. Tôi cho rằng phải đọc nhiều, gặp nhiều thì mới hiểu nhau được.
 
Lê Đạt: Chúng ta ngồi hết vào đây, sát vào nhau để dễ nói chuyện. Và để đoàn kết. Các ông ấy buồn cười, lúc nào cũng bảo mình nói sai chính sách. Mình nói hơi bị đúng. Mình lúc nào cũng đoàn kết. Tôi còn nói đùa rằng các anh ở ngoài ấy khi về gặp tôi nếu có mắng mỏ gì thì mắng mỏ đi, chứ đừng để bụng, dễ đau bao tử. Văn nghệ thì đối với nhau cứ phải cởi mở, vui vẻ, có gì thì nói thật hết. Chứ văn nghệ mà đối với nhau lại còn tệ hơn chính trị thì không vui. Văn nghệ phải vui hơn chính trị. Không có nghĩa là kém sâu sắc đâu nhé.
 
Nguyễn Trọng Tạo: Anh Nguyễn Đức Tùng từ Canada về, và anh Du Tử Lê từ Mĩ.
 
Lê Đạt: Anh Du Tử Lê cho mình gởi lời hỏi thăm bạn bè ở Mĩ. Tùng chuyển lời hỏi thăm đến Nam Dao giúp mình nhé. Nguyễn Trọng Tạo có đưa cho mình đọc bài phỏng vấn về thơ mới đây trên talawas của Nguyễn Đức Tùng và Nam Dao. Tốt lắm.
 
Đây là tấm poster trong Ngày Thơ Việt Nam, có trích những câu viết của mình. (Nói đùa, cười) Văn thật của mình chứ không phải là đạo văn đâu nhé. Cái cô Phan Huyền Thư khi không lại dính vào chuyện này. Nó lỡ làm như thế thì thôi đi, một số các anh lại gay gắt quá. Mình năm nay đã cổ lai hi rồi, nên thấy cái gì cũng thích nhẹ nhàng.
 
Du Tử Lê: Thưa anh, trong đợt phát Giải thưởng Nhà nước vừa rồi, có anh, anh Hoàng Cầm, và Phùng Quán phải không?
 
Lê Đạt: Có cả Trần Dần nữa. Tất cả là bốn người trong nhóm Nhân văn-Giai phẩm.
 
Nguyễn Đức Tùng: Xin phép anh được chụp tấm hình cái poster Ngày hội Thơ của anh, trong đó có lời khuyên các nhà thơ trẻ, và chụp luôn cái hình của tấm bằng Giải thưởng Nhà nước treo bên cạnh.
 
Lê Đạt: Anh chụp cái poster, nhưng thôi đừng chụp cái hình Giải thưởng Nhà nước nữa. Cái vụ này nó làm tôi nhức đầu lắm (cười).
 
Tôi vừa đọc xong mấy bài viết về vấn đề của Phan Huyền Thư. Các anh ở hải ngoại thì quyết liệt quá, mặc dù các anh đúng. Rồi các anh trong nước cũng khe khắt quá. Tôi vừa đọc bài của anh Nguyễn Hoà ở Hà Nội xong. Tôi không phải là người chủ trương hoà cả làng, về văn chương cái gì cần phê bình thì phải phê bình, nhưng nói nặng quá thì người ta không sửa được. Cái sự đoàn kết lẫn nhau nó vẫn hay hơn là đánh lẫn nhau.
 
Tôi ngẫm ra thế này: Chúng ta đánh nhau rồi có lúc còn ngồi lại với nhau không? Làm sao mà không ngồi lại được? Vậy thì phải ngồi lại với nhau thôi, thế thì đừng nên nói với nhau như hắt nước đổ đi. Chuyện gì bỏ qua được thì bỏ qua, tôi nghĩ không nên giận cá chém thớt. Trên các diễn đàn thì phải phê bình nhưng đừng nên vì giận nhà nước mà giận lây sang cả những chuyện khác.
 
Chúng ta đều là văn nghệ sĩ, mà văn nghệ sĩ thì chế độ nào cũng bị bạc đãi, thế thì chúng ta phải thương nhau. Từ kinh nghiệm cá nhân của tôi mà ra, tôi thấy văn nghệ sĩ mà không biết thương nhau mà chờ chính trị thương mình là một ảo tưởng quá lớn.
 
Trong khi phê bình lẫn nhau, thì đừng rút ván chặt cầu.
 
talawas là một diễn đàn có uy tín, đó là một cơ quan phản biện hay. Nhưng đôi khi vẫn biến đối thoại thành đối thụi (cười).
 
Nguyễn Đức Tùng: Thưa anh, trong các cuộc tranh luận, nhất là khi đến hồi gay gắt, ngay cả những người chủ trương các tờ báo hay các diễn đàn cũng không thể hoàn toàn kiểm soát được. Vả lại tôi nghĩ nếu anh kiểm soát gắt gao quá thì nó lại mất đi cái không khí tự nhiên của sự tranh luận.
 
Nguyễn Trọng Tạo: Cái đó một phần cũng vì Phan Huyền Thư có thái độ không rõ ràng.
 
Lê Đạt: Tôi không phải chỉ nói về vụ Phan Huyền Thư. Cô ấy còn trẻ, và đây chỉ là một tai nạn giao thông nhẹ. Tôi muốn nói đến sự đối thoại nói chung trong văn học và ngoài xã hội.
 
Nếu các anh đọc tôi từ những năm 80, thì tôi đã viết về chuyện nên đối xử như thế nào với nhau trong văn nghệ. Theo tôi, sau một cuộc chiến tranh, anh em trong nhà ai thắng ai thua không quan trọng lắm, vấn đề quan trọng là còn có đường đi lại với nhau hay không. Nghĩ được như thế thì thấy nhẹ nhàng. Ai thắng ai thua mà làm gì, các anh đánh nhau thì chỉ có thơ là thua mà thôi (cười).
 
Tôi chủ trương cần có sự hoà thuận giữa người Việt Nam ở miền Bắc và ở miền Nam, người trong nước và người ở hải ngoại. Cái đó là quan trọng nhất. Còn ai thắng ai thua không hề quan trọng đối với tôi. Những ranh giới như vừa rồi không phải là khái niệm địa lý, mà là khái niệm tâm thức.
 
Người ta cố gắng chính trị hoá chúng ta, thì chúng ta phải chống lại cố gắng chính trị hoá đó. Làm thơ rất khổ sở, chứ có sung sướng gì đâu. Ví dụ như tôi nói vài câu xúc phạm đến anh Du Tử Lê đang ngồi đây, thì làm sao lần sau tôi gặp anh ấy được nữa. Vì vậy những gì bỏ qua được thì nên bỏ qua. Thơ trong nước đã chính trị hoá rồi, thì thơ ngoài nước cũng không nên quá chính trị hoá nữa. Chỉ thỉnh thoảng mới có một vài ông thi sĩ làm quan lớn mà thôi, chứ bọn làm thơ chúng ta đa số là sống nghèo khổ thì phải thương nhau chứ.
 
Nguyễn Đức Tùng: Những cuộc tranh luận văn học mặc dù đúng là làm cho không khí sinh hoạt có khi nặng nề, nhưng mặt khác lại đặt ra được những vấn đề mới. Miễn là chúng được giữ trong biên giới của sự lành mạnh và thuần tuý văn học. Tôi nghĩ là không nên tránh các cuộc tranh luận.
 
Lê Đạt: Tránh làm gì? Và tránh cũng không được. Tôi cũng tin rằng chỉ có tranh luận và dân chủ thì mới có tiến bộ. Tôi chỉ muốn nói rằng đối với những trường hợp có tính cách cá nhân quá thì nên rộng lượng bỏ qua. Cần có cái nhân ái ở bên trong.
 
Có một chuyện cổ tích nói về một ông quan toà xử một phạm nhân, sau đó nổi lên giặc dã, ông chạy loạn qua đúng nơi lãnh địa của người bị ông xử tội. Ông tưởng rằng bị anh ta trả thù, nhưng không. Ông hỏi thì được trả lời rằng: ông xử tôi đúng, mà khi xử thì khuôn mặt ông rất buồn rầu chứ không tỏ vẻ khoái chí hay vui vẻ. Vì vậy mà tôi biết tấm lòng của ông.
 
Nguyễn Đức Tùng: Như vậy là anh muốn nói đến thái độ đối với nhau, hơn là nói về nội dung công việc.
 
Lê Đạt: Phải rồi. Như vụ Nhân văn - Giai phẩm ngày xưa, nhiều người xúm nhau lại đánh chúng tôi. Lại còn phân công người nào đánh người nào.
 
Nguyễn Trọng Tạo: Người ta gọi là đánh hội đồng văn chương. Ý anh Lê Đạt nói là bây giờ cũng có hiện tượng như thế đối với một vài cá nhân.
 
Lê Đạt: Ngày trước có lần Trần Dần kể cho tôi nghe rằng Nguyễn Đình Thi kéo anh ta ra một nơi và bảo: chúng nó phân công tao đánh mày, mày thông cảm. Trần Dần bảo rằng: thì việc mày, mày cứ làm. Nhưng mấy hôm sau khi đọc bài Nguyễn Đình Thi đánh Nhân văn - Giai phẩm thì anh ấy ngã ngửa, vì bài ấy viết nặng nề và ác quá.
 
Nguyễn Đức Tùng: Mở rộng ra các bài viết khác như của Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Mạnh Phú Tư v.v… anh có cùng một nhận xét ấy hay không?
 
Lê Đạt: Các bài viết ấy đều tương tự như thế.
Nguyễn Đức Tùng: Gần đây việc anh và ba nhà thơ khác được Giải thưởng Nhà nước đã gây ra những dư luận khác nhau. Về mặt chính thống, dĩ nhiên là việc trao giải thưởng đồng nghĩa với việc công nhận đóng góp của các anh vào sự phát triển của nền văn học Việt Nam. Nhưng một số dư luận cho rằng cái phương cách mà nhà nước tặng giải thưởng và cái phương cách mà các anh nhận giải thưởng là có vấn đề. Trước khi nói về điều này, tôi nghĩ rằng trước hết cần thấy bản thân giải thưởng là một điều tốt đẹp cho cá nhân những người được giải thưởng. Trước hết là như thế đã. Còn điều đó có tốt cho nền văn học nói chung và có đáp ứng được các câu hỏi của lịch sử hay không lại là chuyện khác.
 
Vì vậy về phương diện cá nhân, tôi xin chúc mừng anh Lê Đạt.
 
Lê Đạt: Cám ơn anh. Có người chê tôi là việc nhận giải thưởng là một việc “không anh hùng”, thì từ thuở biết nghĩ đến giờ, tôi có bao giờ rắp tâm làm một anh hùng đâu? Nói như Montaigne “Tôi chỉ mong muốn sống một cuộc đời có thể lượng thứ được”.
 
Nguyễn Đức Tùng: Như thế người ta có thể hiểu rằng hành động nhận giải thưởng của anh và anh Hoàng Cầm là một cử chỉ đẹp, một cử chỉ cao thượng, đúng thế không?
 
Lê Đạt: Đẹp xấu gì cũng được. Tuỳ. Làm sao tôi có thể từ chối giải thưởng, vì bên cạnh tôi còn có vợ con anh Trần Dần, vợ con anh Phùng Quán và vợ con tôi. Tôi không nhận sao được? Thú thật với anh, bao giờ đối với vợ con, tôi cũng có mặc cảm tội lỗi. Nhất là với vợ tôi, việc tôi làm Nhân văn đã phá hỏng cả cuộc đời nghệ thuật của cô ấy.
 
Lòng nguyên xanh rừng non xuân trụi lá
Oan chồng thương bạc má văn công
 
Số tiền mấy chục triệu của giải thưởng đâu có lớn với tôi. Mà cái danh vị của nó cũng đâu có lớn. Tôi đâu có cần nó để đánh bóng.
 
Nguyễn Đức Tùng: Tôi nghĩ thế này: những người phản đối việc trao giải thưởng không phải là họ phản đối anh, thậm chí ngược lại, họ là những người rất yêu mến anh. Theo dõi trên báo chí, cũng như trò chuyện với nhiều người, kể cả những người đang ở trong nước, tôi thấy họ có hai điều quan tâm. Thứ nhất là, nhà nước trao giải thưởng theo một phương cách không được đàng hoàng, và như thế là xoá sổ món nợ Nhân văn - Giai Phẩm một cách nhẹ nhàng, không xứng đáng với một vấn nạn văn học và xã hội. Thứ hai là, cái cách mà các anh nhận giải thưởng.
 
Lê Đạt: Nhà nước nào cũng “xỉn” trong việc trả nợ nhân dân.
 
Nguyễn Đức Tùng: Nghe nói rằng hình như khi phát giải thưởng, nhà văn Đỗ Chu, mà thú thật tôi không biết là ai, có nói lời xin lỗi riêng đối với anh?
 
Lê Đạt: Đỗ Chu nói nhiều câu rất hay, nhưng chỉ với tư cách cá nhân của anh ấy mà thôi, chứ không đại diện cho nhà nước hay một tổ chức nào cả. Nhiều người nghe, nhưng sau đó chỉ có tôi là nhắc lại một câu của anh ấy trong nhiều câu khác. Về cái sự xin lỗi của anh em.
 
Nguyễn Đức Tùng: Tôi tin là chúng ta cần thấy rằng những tranh luận liên quan đến vấn đề Giải thưởng Nhà nước đối với các nhà thơ Nhân văn - Giai phẩm sẽ còn lâu dài và rộng lớn, và không chỉ giới hạn trong cá nhân của các anh. Thậm chí các anh cũng không phải là trọng tâm. Trọng tâm của vấn đề nằm ở sự khác nhau của các quan điểm. Mặt khác, tuy các quan điểm này có thể rất khác biệt, chúng vẫn bổ sung cho nhau, hơn là triệt tiêu lẫn nhau. Việc nhận giải thưởng của anh không hề giúp chấm dứt các cuộc tranh luận. Nó cũng không làm tăng lên hay giảm đi các giá trị của phong trào Nhân văn - Giai phẩm.
 
Lê Đạt: Món nợ Nhân văn không phải chỉ là món nợ giữa nhà nước với anh em chúng tôi. Đó là món nợ của nhà nước với lịch sử. Và lịch sử bao giờ cũng sòng phẳng. Tôi tám mươi tuổi rồi, sắp chết rồi, khen chê đối với tôi cầm bằng như gió bay đi.
 
Nguyễn Đức Tùng: Những người phản đối việc anh nhận giải thưởng tin rằng nhà nước cần đưa ra một lời xin lỗi và giải thích chính thức đối với vụ án Nhân văn - Giai phẩm, và điều này quan trọng hơn gấp trăm lần so với việc trao tặng giải thưởng.
 
Lê Đạt: Như thế là người ta quên rằng nước Việt Nam không phải là nước Mỹ, không phải là nước Pháp. Nhà nước ta không có thói quen xin lỗi người dân.
 
Nguyễn Trọng Tạo: Như thế là không đàng hoàng.
 
Lê Đạt: Nhà nước không phải bao giờ cũng đàng hoàng.
 
Một thân hữu văn nghệ: Nhà nước chưa đàng hoàng bao giờ cả?
 
Lê Đạt: Nói chưa bao giờ thì tuyệt đối quá. Đàng hoàng là một thói quen khó khăn. Nhà nước cũng phải học tập để có thể tăng cường chất đàng hoàng và chúng ta nên khuyến khích nhà nước làm việc đó.
 
Nguyễn Trọng Tạo: Đây là Bộ trưởng Văn hoá nói với tôi. Khi có ý kiến đề nghị các anh trong Nhân văn - Giai phẩm được giải thưởng thì có nhiều ý kiến không thuận, chống lại. Có người đòi kiện. Kiện rằng bọn NVGP là bọn phản động chống Đảng, thế thì các anh cho phép họ ngồi cùng chiếu với chúng tôi à. Có những ý kiến rất mạnh mẽ như thế. Ông Bộ trưởng nói với tôi rằng, vì chuyện này mà phải ngồi đọc tài liệu về NVGP. Việc này của ông mất bảy ngày mới xong, để tìm ra những bằng chứng về chuyện phản động hay không phản động. Đọc xong thì ông quyết định ủng hộ việc trao giải thưởng, và chuẩn bị kế hoạch giải trình với chính phủ. Cuối cùng được sự nhất trí cao. Như vậy việc này cũng không đơn giản về phía những người ủng hộ, kiểu như nói một cái là xong.
 
Lê Đạt: Một số người thắc mắc tại sao tôi gọi việc trao giải thưởng là một cử chỉ đẹp. Tôi cho rằng việc nghĩ lại của con người, nhất là của con người quyền hành, là một cử chỉ đẹp và nên khuyến khích để cổ vũ những cử chỉ đẹp khác. Trong phạm vi nhà nước cũng có những người có thiện chí. Mình phải khuyến khích thiện chí của họ.
 
Nguyễn Trọng Tạo: Họ chưa tốt thì làm cho họ tốt, họ tốt rồi thì làm cho họ tốt hơn.
 
Nguyễn Đức Tùng: Gặp anh thì thấy tính anh rất vui vẻ cởi mở. Có thể vì thế mà một số người hiểu lầm rằng anh đã nhận giải thưởng một cách dễ dãi, hồn nhiên, thiếu suy nghĩ chăng?
 
Lê Đạt: Cũng có thể là thiếu suy nghĩ với một số người. Thì tôi nhận xoàng vậy. Nhưng không phải cứ đắn đo suy nghĩ thì phải mặt mày nhăn nhó, đau khổ.
 
Vụ án NVGP lớn như thế, đau khổ như thế, mà trong những ngày đó tôi cũng chỉ cười mà thôi. Cách đây mấy năm một đài phát thanh ở Cali gọi về cho tôi đêm 30 Tết. Anh phụ trách hỏi tôi rằng nghe nói anh Lê Đạt có cái cười đặc biệt lắm, anh có thể cười để chúc giao thừa đồng bào không? Hôm đó tôi cười đúng năm phút đồng hồ (cười… một phút). Đó có thể coi là một kỉ niệm đẹp. Cũng may hôm đó không có quí ngài nào hảo ý giúp đỡ: Lê Đạt nhét túi được bao nhiêu đô mà cười phởn thế. Điều thật đáng buồn trên đời có lẽ là sự hiểu lầm của những người mình vẫn nghĩ là bạn bè. Có một nhà văn ở hải ngoại hỏi tôi rằng: hiện nay nhà nước đối với anh thế nào. Tôi trả lời: tôi có cảm tưởng hiện nay họ đã chuyển tên Lê Đạt từ sổ đen lên sổ đỏ trong hàng ngũ những động vật...
 
Nguyễn Trọng Tạo: Động vật quý hiếm, sắp tuyệt chủng (mọi người cùng cười).
 
Lê Đạt: Những cuộc đua tranh, những nỗi đau khổ trần gian chỉ vừa thời gian một tiếng cười. Nhưng nếu các anh nghiêm túc, thì tôi cũng đâu có phản đối. Tôi đâu có chống lại những người nghiêm túc. Nhưng nếu các anh buộc tôi phải nghiêm túc thì chắc là không được. Chỉ có một điều cần nhắc là muốn đấu tranh cho dân chủ thì phải dân chủ với nhau trước.
 
Nguyễn Trọng Tạo: Khi phát giải thưởng cho anh Hoàng Cầm, không ghi nhận tác phẩm Về Kinh Bắc.
 
Lê Đạt: Tôi đồng ý với anh Nguyễn Trọng Tạo. Về Kinh Bắc chính là Hoàng Cầm.
 
Nguyễn Đức Tùng: Nhân anh nhắc đến Hoàng Cầm, xin đặt câu hỏi với anh. Thưa anh, vụ án NVGP thực chất là một vấn đề văn học thuần tuý hay là một vụ án chính trị, hay là cả hai?
 
Lê Đạt: Nó là cả hai. Đối với chúng tôi là văn học. Đối với chính quyền là chính trị.
 
Nguyễn Đức Tùng: Như thế là rõ. Những người tham gia vào NVGP nhưng không phải là các nhà thơ như Lê Đạt, gồm có Phan Khôi, Trương Tửu, Nguyễn Hữu Đang v.v… có vai trò như thế nào?
 
Lê Đạt: Mỗi người một công việc khác nhau. Anh Nguyễn Hữu Đang là một nhà hoạt động văn hoá lâu năm đáng kính. Anh có công lớn trên mặt trận chống dốt, xoá nạn mù chữ. Phan Khôi và Trương Tửu là những trí thức có uy tín, nhưng không phải là những người ngoan ngoãn vâng lời. Họ không muốn trở thành những nhà trí ngủ.
 
Nguyễn Đức Tùng: Hiện nay những người trí thức như thế, ở Việt Nam, nhất là trong giới văn học nghệ thuật, có còn không?
 
Lê Đạt: Vẫn còn, nhưng không nhiều.
 
Nguyễn Đức Tùng: Hôm qua, anh Nguyễn Thuỵ Kha có cho tôi và anh Du Tử Lê xem các cuốn Giai phẩm mà anh ấy giữ được từ hồi còn nhỏ. Anh cẩn thận cuốn chúng lại trong tờ báo Nhân dân cũ, giấu trên nóc nhà, trước khi đi bộ đội vào Nam. Khi giải ngũ về nhà, anh rất mừng vì chúng vẫn còn nguyên vẹn. Tôi được xem những tờ báo sống sót qua năm mươi năm sóng gió, thật là cảm động. Trong bộ Giai phẩm có rất nhiều người mà sau này ít được nhắc tới như Sĩ Ngọc, Trần Lê Văn… Những người này có vai trò như thế nào?
 
Lê Đạt: Các anh Trần Lê Văn, Sĩ Ngọc v.v… không những viết bài mà còn tham gia vào việc cổ động anh em viết.
 
Nguyễn Đức Tùng: Trong tập Giai phẩm mùa Xuân 1956, với cái bìa màu xanh được trình bày giản dị mà sang trọng, do nhà Minh Đức - Thời Đại xuất bản, ngay sau lời nói đầu, là bài thơ của Lê Đạt. Tôi xin đọc lại bài thơ ấy:
 
Làm thơ
 
Đêm khuya
Bóng đầu anh
Hằn trên trang sách nhỏ
Như bóng hàng cây quặn gió
Lắng xuống mặt đường
Giông bão mênh mông
Anh nhìn Tổ quốc
Đất nước đêm nay trĩu đầu ngòi bút
Hàng vạn vần thơ mang nặng tình người
Anh nghe tiếng đất trời
Xao động lùm cây ngọn cỏ
Như người hiệu thính viên
Đêm không ngủ
Ghi những lời cuộc sống
điện về
Những tiếng nặng nề
Những tiếng cục cằn uất ức
Những tiếng căm thù chua xót
Những tiếng yêu thương…
 
Chất say đắm nồng nàn, tình yêu và sự xả thân vì cuộc sống thật là đáng quý. Ngày nay tại sao thơ Lê Đạt không còn như trước nữa?
 
Lê Đạt: Có nhiều cách nồng nàn và xả thân. Đọc lại tôi vẫn quí những bài thơ tuổi trẻ nhưng tôi không thích viết như thế nữa. Người ta không nên đòi hỏi nhà thơ suốt đời chỉ làm một cách thơ giống nhau.
 
Nguyễn Đức Tùng: Cũng có một lý do ngoài văn học là sau khi bị liên luỵ về vụ án Nhân văn - Giai phẩm, tự khắc người ta phải viết khác đi để tồn tại. Anh có tin vào một thứ thơ phi chính trị? Ngày nay nhìn lại Nhân văn - Giai phẩm, anh có hối hận về những việc mình đã làm không?
 
Lê Đạt: Tôi không hề hối hận. Những việc anh em làm hồi đó tôi vẫn tin là đúng. Người sai không phải là chúng tôi. Khi nào có thời giờ có lẽ chúng ta phải xác định với nhau thế nào là thơ phi chính trị (!)
 
Nguyễn Đức Tùng: Các nhà văn ở miền Bắc thường không biết đến, hoặc không quan tâm, hoặc là cả hai, đối với hai dòng văn học lớn là văn học miền Nam trước 1975 và văn học ở hải ngoại sau 1975. Lê Đạt là một trong những người rất hiếm thường có bài xuất hiện trên các tờ báo hải ngoại. Anh cũng đi rất nhiều, và viết những bài thơ lãng mạn và say đắm ở Pháp.
 
Chân quận mười ba quận ra mười bốn
Cỏ trăm đường cúc trắng ngổn ngang xanh
                                                  (“Pakơrét”)
 
(Pâquerette là loại hoa cúc trắng nhỏ)
 
Anh là một trong những nhà thơ dùng nhiều hình ảnh và khai thác sự liên tưởng (associations) một cách mạnh mẽ. Anh có đọc văn học miền Nam không và nghĩ sao về nó?
 
Lê Đạt: Tôi cho rằng văn học Việt Nam là một, bất cứ nhà văn nào viết tiếng Việt cũng đều là nhà văn Việt Nam. Do điều kiện chính trị và lịch sử, chúng ta ít được đọc nhau, đó là điều đáng tiếc. Thú thật, tôi cũng không đọc được nhiều.
 
Nguyễn Đức Tùng: Nhưng ít được đọc nhau không có nghĩa là phủ nhận nhau.
 
Lê Đạt: Phủ nhận làm sao được. Đó là vốn văn hoá của dân tộc mình. Bây giờ nói về các nhà thơ ở miền Nam trước đây. Những người như Bùi Giáng, Tô Thuỳ Yên, Thanh Tâm Tuyền… Tôi rất kính trọng các ông ấy. Nhưng tôi ít đọc và rất ít hiểu biết về họ, như thế làm sao tôi có thể viết về họ được. Nhưng không viết về họ không có nghĩa là tôi không kính trọng hay quan tâm. Có thể là sau này tôi sẽ viết, nếu như tôi có đủ thời gian, nhưng như thế tôi phải đọc rất kĩ hoàn cảnh xã hội miền Nam và văn chương thời ấy. Mà tôi và nhiều người ở miền Bắc lại không có điều kiện.
 
Du Tử Lê: Thưa anh làm thế nào để các nhà văn miền Bắc và miền Nam, trong nước và hải ngoại có thể hiểu biết nhau hơn?
 
Lê Đạt: Cần phải mở rộng quan hệ, đi lại, trao đổi, cần phải vượt qua các thành kiến do những chính quyền khác nhau cố tình dựng nên. Quan trọng nhất tôi nghĩ là cần phải bám sát tác phẩm. Tranh cãi cho ra nhẽ. Không phải là chín bỏ làm mười đâu nhé. Nhưng cái gì có thể bỏ qua thì hãy bỏ qua, cái gì cần quyết liệt thì phải quyết liệt. Nhưng trong một tinh thần mà tôi gọi là ái hữu văn nghệ.
 
Nguyễn Đức Tùng: Tinh thần ái hữu mà anh nói, hiện nay có phổ biến giữa các nhà thơ, nhà văn ở trong nước, ở Hà Nội hay không? Và nhất là ở những người viết trẻ?
 
Lê Đạt: Tôi có cố gắng truyền đạt cái tinh thần ấy trong giới hạn của tôi, nhưng có làm được hay không thì tôi không biết. Đi đâu tôi cũng truyền đạt cái ý kiến ấy.
 
Nguyễn Đức Tùng: Những người viết trẻ ngày nay có còn cái nhiệt huyết đi làm những chuyện thay đổi xã hội theo một lý tưởng nào đó, hay không? Hay thơ của họ chỉ là những tiếng động mơ hồ phía sau các bức tường mà người khác dựng nên?
 
Lê Đạt: Các nhà văn nhà thơ trẻ Việt Nam hiện nay thích nổi tiếng quá. Theo tôi là không nên. Người viết không nên quá quan tâm đến sự nổi tiếng. Nhưng đứng về mặt phạm trù mà nói: Không tuổi trẻ thời nào kém thời nào cả. Họ chỉ khác nhau.
 
Nguyễn Đức Tùng: Tôi xin phép có sự khác biệt ý kiến với nhiều người ở đây. Tôi không nghĩ rằng so với các thế hệ trước, người viết trẻ thích nổi tiếng hơn. Mà nếu họ có thích nổi tiếng thật, thì điều đó cũng không có hại gì, thậm chí còn có lợi cho sự kích thích sáng tạo. Vần đề có vẻ như là nằm sâu hơn chuyện thích nổi tiếng. Hình như anh cho rằng thế hệ ngày nay có một cái gì đó không được như chúng ta mong muốn. Tại sao thế?
 
Lê Đạt: Thích nổi tiếng không phải là một tội. Nổi tiếng cũng thú vị lắm chứ, nhưng không nên lấy đó làm mục đích của đời mình. Cái thiếu sót chính của thế hệ trẻ hiện nay là vốn văn hoá. Trong văn chương không có trình độ, không có vốn văn hoá, thì anh khó đi xa được.
 
Nguyễn Đức Tùng: Và khó làm ra cái mới? Có thể chia con đường thơ của Lê Đạt làm hai giai đoạn. Giai đoạn NVGP và trước đó. Giai đoạn sau này lặng lẽ sáng tác nhưng không được xuất bản trong nhiều năm. Anh so sánh như thế nào thơ Lê Đạt qua hai giai đoạn này. Nhiều người lấy làm tiếc rằng anh không còn làm thơ như thời kì NVGP nữa.
 
Lê Đạt: Nhân văn hay hậu Nhân văn, tôi bao giờ cũng là người lấy đời mình ra đánh cược, được ăn cả ngã về không. Nhưng công bằng mà nói tuổi trẻ không ít người cũng thích tôi và thích thơ tôi. Tôi cũng rất quý mến họ. Có thể trả lời bằng thơ cho ngắn gọn hơn:
 
Gắng chữ với thời gian tri kỉ
U thất tuần bồ nhí mộng hăm
 
Nguyễn Đức Tùng: Như thế là sau khi bị đánh thời kì NVGP, các nhà thơ như Lê Đạt chuyển hướng sáng tác vì lý do chính yếu là để khỏi bị đánh, hơn là vì nhu cầu nội tại của sáng tạo văn học?
 
Lê Đạt: Sáng tạo văn học bao giờ cũng do đòi hỏi nội tại. Những lí do khác chỉ là phụ.
 
Nguyễn Đức Tùng: Anh có dịp đọc loạt bài “Thơ đến từ đâu” trên talawas hay không?
 
Lê Đạt: Có, tôi có đọc. Các bài phỏng vấn về thơ ấy rất tốt, rất có ích cho những người làm thơ và yêu thơ. Tôi nghĩ là trong nước cần phải đọc nhiều. Tôi cũng thấy nhiều điều mới. Nên làm. Giỏi lắm (cười). Nhưng các bài phỏng vấn Tùng đừng có làm dài, làm ngắn thôi. Tôi già rồi, đọc mỏi mắt lắm, mặc dù rất thích.
 
Nguyễn Trọng Tạo: Những người trả lời phỏng vấn thường phải trả lời dài mới nói hết ý của họ. Vả lại còn có nhiều vấn đề mà các nhà thơ chưa có dịp thể hiện ý kiến của mình ở những nơi khác.
 
Nguyễn Đức Tùng: Các nhà thơ trẻ hiện nay ở Hà Nội như Nguyễn Thế Hoàng Linh, Nguyễn Vĩnh Tiến, Vi Thuỳ Linh, Phan Huyền Thư, Nguyễn Thuý Hằng… có những đóng góp như thế nào đối với văn chương Việt Nam?
 
Lê Đạt: Tôi quí họ như quý tương lai của thơ Việt Nam. Họ cần phải thấy rõ trách nhiệm ấy và lao động thơ nghiêm túc hơn nữa.
 
Nguyễn Đức Tùng: Gần đây ở Việt Nam có phong trào thơ trình diễn. Anh nghĩ sao?
 
Lê Đạt: Tôi chưa đủ thông tin để kết luận. Nhưng tôi thấy nhà thơ cần cảnh giác với từ “diễn”.
 
Nguyễn Đức Tùng: Anh có nói những điều vừa rồi với những người làm thơ trẻ hay không?
 
Lê Đạt: Có chứ. Tôi có nói nhiều. Nghe thì họ cũng tiếp nhận, nhưng về nhà lại quên đâu mất. Những trào lưu thời thượng tuổi trẻ bao giờ cũng thích, nhưng họ chán ngay ấy mà.
 
Nguyễn Đức Tùng: Thơ Việt Nam sẽ đi về đâu?
 
Lê Đạt: Một nền thơ hay bao giờ cũng là hạnh phúc và cơ may của một dân tộc. Có thể có những thời gian mà hạnh phúc và cơ may ấy không xảy ra. Thế kỉ XVIII chẳng hạn, thơ Pháp chẳng mất mùa trầm trọng đó sao?
 
Nguyễn Đức Tùng: Ở đây có những ý kiến khác nhau. Các nhà thơ mới cần có những thể nghiệm mới. Văn chương rất cần các thể nghiệm để tấn công vào các biên giới. Đó là con đường sáng tạo mà thời nào cũng đặt ra. Chẳng lẽ một người thường thể nghiệm ngôn ngữ như anh cũng chống lại sự thể nghiệm của thế hệ trẻ hay sao?
 
Du Tử Lê: Hay vì thơ của họ không thật?
 
Lê Đạt: Tôi chống là chống cái không thật, cái giả vờ, chứ các thể nghiệm thì sao lại chống. Ưu điểm của lớp trẻ là không biết điều, chứ nếu biết điều quá thì lại thành ông già à? Vấn đề là cái không biết điều ấy phải là cái không biết điều chân thật.
 
Du Tử Lê: Thưa anh, thay mặt cho một số bạn bè văn nghệ của riêng tôi ở hải ngoại và ở miền Nam trước đây, tôi xin gửi đến anh lời chúc sức khỏe. Về Hà Nội, được nhìn thấy anh khỏe mạnh như thế này, anh em rất vui. Anh Nguyễn Đức Tùng thuộc vào thế hệ sau tôi, có thể gọi là chuyển tiếp đến thế hệ trẻ hiện nay. Cá nhân tôi, người đọc rất kĩ NVGP và thơ Lê Đạt, ngay cả trước năm 1975, hết sức quý mến anh và các anh Hoàng Cầm, Dương Tường, và những người khác. Như một người làm thơ, tôi nghĩ là tôi học được ở các anh nhiều điều. Vì vậy nhân đây, xin được cám ơn anh. Thêm nữa, tôi rất mong quan hệ văn chương giữa anh em miền Bắc trước đây và miền Nam trước đây, giữa trong nước và ngoài nước ngày một tốt đẹp, không còn ngăn cách.
 
Lê Đạt: (Cười) Cám ơn anh. Tôi rất ghét sự ngăn cách.
 
Du Tử Lê: Chúng ta chỉ có một Tổ quốc, và một ngôn ngữ là tiếng Việt.
 
Lê Đạt: Tôi xin đọc một bài thơ để tặng các anh. Một bài thơ tình (ngâm, lim dim mắt).
 
Anh đến mùa thu nhà em
Nắng cúc lăm răm vũng nhỏ
Mà cho đấy rửa lông mày
Nông nỗi heo may từ đó
Mưa đêm tuổi nổi ao đầy
Đồi cốm đường thon ngõ cỏ
Bướm lượn bay hoa ngày
Tin phấn vàng hay thuở gió
Tóc hong mùi ca dao
Thu rất em
Và xanh rất cao
 
Nguyễn Đức Tùng: Thơ của anh trong bài này đẫm tính ca dao. Không mới lắm so với nhiều bài khác nhưng rất tình tứ. Trong thơ Lê Đạt có chất dân gian không?
 
Lê Đạt: Tôi rất thích ca dao. Nhưng là ca dao sinh sự. Trong đời sống, tôi không phải là người ưa sinh sự. Nhưng đã làm thơ thì thế nào cũng phải sinh sự. Sinh sự mới tạo ra sự sinh được.
 
Nguyễn Đức Tùng: Xin cám ơn anh. Tiếp lời anh Du Tử Lê, tôi xin thay mặt độc giả chúc anh mạnh khỏe và sáng tác lâu dài.
 
Nhà thơ Lê Đạt tiễn chúng tôi ra đường. Mọi người đứng lại nói chuyện một lúc nữa và chụp một số bức ảnh kỉ niệm. Sau cuộc nói chuyện dài, ông vẫn tươi tỉnh, không lộ vẻ mỏi mệt. Hy vọng rằng ông sẽ khỏe lâu như lời chúc của chúng tôi.
 
                                                     Nguyễn Đức Tùng

READ MORE - THÁNG TƯ, LÊ ĐẠT - Nguyễn Đức Tùng thực hiện