Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Trần Quốc Phiệt. Show all posts
Showing posts with label Trần Quốc Phiệt. Show all posts

Saturday, June 19, 2021

EM TÔI: TRẦN QUỐC TRIỀN, NGƯỜI ĐI LÊN TỪ MUÔN VÀN KHÓ KHĂN - Trần Quốc Phiệt

 


Em Tôi: Trần Quốc Triền,

Người Đi Lên Từ Muôn Vàn Khó Khăn

 

                              Bài viết của Trần Quốc Phiệt

 

Thế mà chú ấy đã khuất bóng đời non bảy năm rồi, ngồi một mình ngẫm lại như mới ngày hôm qua. Tất nhiên thời gian rồi cái gì cũng sẽ phôi pha nhạt nhòa, nhưng vết bầm này thì hằn sâu quá kỹ. 

Thật ra tôi chưa muốn khơi lại cái sự mất mát quá lớn lao đó, vì chẳng biết lấy gì để bù đắp vào được, đành phải cố gắng giữ thái độ bình thản bằng cách im lặng, nhưng dẫu không khơi lại thì chính nó vẫn cháy âm ỉ trong lòng. 

Nhiều lần anh em trong gia đình gặp mặt, trước bàn thờ, nhìn vào di ảnh, chúng tôi không giao ước mà vẫn trùng hợp, cùng nhìn nhận một sự việc như nhau và không một ai nói một bất cứ điều gì về chú ấy. Ai cũng giữ kín trong lòng một nỗi xót xa ngậm ngùi, vì chắc chắn lời nói ra sẽ đi kèm theo dòng nước mắt. 

Con gái đầu của chú ấy, đã vài lần nói với tôi về Ba cháu trong sự đau buồn thương nhớ, thật thấm thía với nỗi đau của cháu mình, nhưng còn lời nào để chia sẻ và an ủi. Tôi đành lảng tránh bằng câu trả lời “lâu rồi mọi sự sẽ phôi pha”, hãy sống bình thản cho những ngày kế tiếp, hãy mạnh dạn dấn bước tiến lên. 

Nhưng hôm nay tôi đang chuẩn bị viết về chú em tôi theo yêu cầu của một đồng môn Nguyễn Hoàng. 

*** 

Năm 1953, giữa mùa đông rét buốt mưa dầm gió bấc ở cái xứ vốn đã nghèo nàn lại càng tiêu điều thêm bởi chiến tranh dai dẳng. Tại làng An Lưu, Quảng Trị, một chú bé vừa chào đời, hai ngày là phải xa mẹ, năm ngày kế sau, tại bệnh viện Quảng Trị, bà vĩnh viễn lìa trần. Chú bé tội nghiệp ấy được đặt tên là Trần Quốc Triền. Đó là đứa em bất hạnh của người viết bài này. 

Vâng, đúng là chú em tôi có một cuộc đời không giống như mọi người, ngay từ tấm bé đã không hề được mẹ bồng bế trong vòng tay. Không hề thấy di ảnh mẹ mình, vì qua chiến tranh nhà tan cửa nát “Lửa bao lần bốc xám mặt quê hương…”  Tất cả đã là tro tàn xác vụn tả tơi. 

Trong chuỗi ngày tang thương u buồn đó, dưới căn nhà tranh vách đất lè tè, đã ấn sâu trong trí óc tôi, khi vừa lên tám, bao nhiêu điều không bao giờ quên được. 

Làm sao tôi có thể quên được tiếng nấc nghẹn ngào của những người trong gia tộc mỗi lần nhắc đến mẹ tôi. Những bữa ăn đạm bạc, bên cạnh ngọn đèn dầu leo lút là một chén cơm và đôi đũa. 

Làm sao tôi quên được tiếng khóc của chú em tôi thèm vú mẹ, và tiếng à ơi gà trống nuôi con lắc nôi dỗ dành, hòa trong âm thanh buồn bã của côn trùng réo gọi giữa những đêm dài buốt lạnh quạnh hiu. 

Làm sao có thể quên được mỗi buổi chiều chị tôi, cô gái chưa đầy mười hai tuổi, phải bồng chú em đi quanh xóm để xin bú dạo. Nhưng chưa hết, vài tháng sau, Ba tôi bị Tây bắt nhốt vào nhà lao Quảng Trị. Anh chị em côi cút đùm bọc lấy nhau, cháo rau qua bữa. 

Tuổi thơ của chú ấy bắt đầu những ngày như thế đó, trước khi có cuộc sống bình thường để học hành thành đạt. Tất nhiên trong hoàn cảnh như vậy nuôi nấng cũng rất gay go, có điều may mắn là không ốm đau lặt vặt. Và đặc biệt nhờ Bà O, húy danh là Trần Thị Hốt, chị của Ba tôi tận tình chăm sóc mem búng, đó là công lao trời biển, anh chị em chúng tôi khắc dạ ghi lòng. Hiện bàn thờ Bà O Trần Thị Hốt được đặt trong nhà chú Trần Quốc Triền.

Trần Quốc Triền ngay từ nhỏ đã biểu hiện nhiều nét thông minh. Gia đình tôi các bà O đọc thì phải đánh vần nhưng truyện Kiều lại thuộc vanh vách. Ba tôi thì thơ phú đầy mình, nên mọi giao du hằng  ngày với bạn hữu, Chú ấy chỉ ngồi lắng nghe mà thuộc cả. 

Lên bốn tuổi đã qua nhà hàng xóm, đọc những gì “nghe lóm” đó cho người khác thưởng thức. Có lần chiều tối cả nhà phải đi tìm trong lo lắng, sợ chú đi tắm ao đìa sa chân sẩy cẳng, ai dè đến nhà người ở tận đường Quan ngồi đọc thơ cho cụ già nghe. 

Ở bậc tiểu học là một học sinh xuất sắc trong trường, luôn chiếm vị thứ nhất tất cả các lớp. Năm cuối cùng ở bậc nầy, Thầy Trần Xuân Yên, Hiệu trưởng trường tiểu học  An Lưu, cũng là giáo viên lớp Nhất, rất thương và đặt tin tưởng ở trò Triền. Vào thời gian đó Ba tôi là Hiệu Trưởng trường tiểu học Triệu Lăng. Khi cùng vào họp trong Ty Tiểu Học Quảng Trị, Thầy Yên nói với Ba tôi rằng: “Thầy yên chí, kỳ này thi vào đệ thất Nguyễn Hoàng, em Triền phải có tên thôi…” 

Theo dõi việc làm bài thi của em mình, tôi phát hiện điều đặc biệt ở phần nhập đề luận văn để mở đầu cho lời bình giải câu ca dao “……” là có nhận xét sâu sắc, lối mở đề gợi sự tò mò cho người xem…và dự đoán là chú em tôi có khiếu văn chương. 

Đúng vậy, sau này Trần Quốc Triền cũng vào ngồi ban C. Học hành ra sao thì tôi không theo dõi nữa. Chỉ biết rằng chú ấy không hề rớt kỳ nào, cho đến khi vào Huế học Đại Học Sư Phạm Đệ Nhị Cấp ban Anh văn. Tốt nghiệp năm 1975. 

Tuy sinh viên Trần Quốc Triền là một Phật tử nhưng được chấp nhận nội trú ở Cư Xá Sinh Viên Xavier, do Linh Mục dòng Tên Thiên Chúa Giáo sáng lập và điều hành, tại số 4 bis Lê Thánh Tôn, Huế, bốn năm liền, nhờ thông qua thư giới thiệu của hai vị Linh Mục giáo xứ Thạch Hãn, Long Hưng và thành tích trong học bạ các lớp bậc trung học. 

Ngoại lệ đó đã được Cha Giám Đốc người Tây Ban Nha, kế nhiệm Linh Mục Jacques De Leff chấp thuận, khi xem kết quả học tập và lời phê của quý vị giáo sư từng phụ trách. Tại nơi này, chú em tôi đã được quý Cha tận tình động viên và giúp đỡ. Bây giờ những vị này đều đã là người thiên cổ, nhưng gia đình chúng tôi luôn nhớ ơn những ân nhân cao quý ấy. Và xin ghi nhận tình cảm thắm thiết tương thân, đồng môn, đồng hương… những bạn hữu của chú em tôi.Tất cả đều là sức đẩy cho chú ấy từng bước đi lên. 

Chú em cũng làm thơ khi còn rất trẻ, Đệ Tam, Đệ Nhị đã có thơ đăng trên Văn, Văn Học, Bách Khoa với bút hiệu Trần Lưu An. 

Là một Phật Tử thuần thành với pháp danh Tâm Tuyền. Trong gia đình chỉ có Cô Lê Thị Thùy Tiên, con gái của Bà O em Ba tôi, cùng đi sinh hoạt Phật Tử với Triền từ khi còn ở làng. Sau này Tiên cũng là nữ sinh Nguyễn Hoàng, chú Triền là người hướng dẫn việc học hành thi cử cho cô ấy.

Trong một tập Chân Dung và Kỷ Niệm, tôi chỉ đọc lại bản copy, Cô Tiên đã viết bài “Còn Mãi Bên Nhau, tưởng nhớ anh Trần Quốc Triền, rất chí tình, dạt dào thương nhớ. 

Cũng qua Chân Dung và Kỷ Niệm, trong một bài khác với nhan đề “Về Một Người Đã Ra Đi…”  của bạn học của chú Triền là anh Nguyễn Khắc Phước, mà tôi đã tìm lại được những dấu chân của chú em mình. Và như nghe văng vẳng đâu đó giọng ồ ồ của chú ấy đang ngâm bài thơ lục bát “Đỉnh Mù”… để cảm nhận nỗi xót xa trầm ngâm. 

“Lên cao mới biết trời gần

Dăm cây trụi lá trơ cành mân mê

Nỗi buồn trắng đục nằm kề

Mờ câm hơi đá lối về còn xa…” 

Số bài thơ của Trần Lưu An hiện tôi có không nhằm nhò gì so với số đã viết ra, bị thất lạc rất nhiều sau cơn binh lửa, trong những lần di tản. Bài tôi ưa ý nhất là Quảng Trị 72. 

Xin ghi ra đây để cùng dành một phút lắng sâu với nỗi niềm về quê mẹ.

 

Quảng Trị 72 

                     Trần Lưu An

 

Phố xá nớ chừ nghe tiêu điều lắm

Xa quá rồi sao thăm được nữa đây

Trong trí tưởng đàn quạ đen lẳng lặng

Bóng nhập nhòa theo bóng nắng lắt lay.

 

Cây thôi còn để mùa thu rụng lá

Tổ mất rồi se sẻ cũng bay xa

Nhà tan hoang và người đi chốn lạ

Đêm tiếp ngày thêm những giọt đắng cay.

 

Lúa thôi vàng trong ruộng cày bằng đạn

Khoai thôi xanh luống đất tưới bằng bom

Dòng Thạch Hãn nghe trăm chiều ly tán

Nhớ nhịp chèo xưa con nước nỉ non.

 

Người sống đó và người đã chết

Hồn tưởng chừng lạnh buốt heo may

Vẳng ai gọi tiếng sao mà tha thiết

Vẫy nhau hoài chấp chới một bàn tay.

1972

 

Ai ngờ rằng đằng sau tâm hồn thơ văn lai láng ấy lại là một con người say mê võ thuật: Thái Cực Đạo,và Không Thủ Đạo. Riêng Thái Cực Đạo đã đạt được đai đen thời còn là học sinh trung học,đó là nhà giáo Trần Quốc Triền. 

Tuy đã có bằng cấp cử nhân, tốt nghiệp sư phạm đại học đệ nhị cấp khoa Anh ngữ, nhưng những bước đi đầu tiên trên vùng biển xanh trời trong cát trắng Nha Trang cũng lắm gian truân. Rồi ra thì giá trị của trí tuệ cũng còn chỗ đứng, khi đó một khung trời ấm mới mở bừng lên. 

Có một thời gian chú Trần Quốc Triền làm cho công ty cà phê. Vì nhu cầu cần một người thông thạo Anh ngữ nên chú ấy được đi khá nhiều Quốc Gia trong khu vực Châu Á cũng như Châu Âu. Đặc biệt năm 1994, Chú ấy đã được đến Hoa Kỳ với vai trò thông và phiên dịch, nhưng tôi đọc trong Business Card thấy ghi bằng Anh ngữ là Phó Giám Đốc Giao Dịch. 

Sau này chú trở lại ngành giáo dục, chức vụ sau cùng là trưởng bộ môn tiếng Anh trường chuyên Lê Quý Đôn, Nha Trang. 

Ngoài ra chú ấy còn điều hành Trung Tâm Ngoại Ngữ Hàn Thuyên ( Han Thuyen Foreign Language Centre) cũng tại thành phố Nha Trang. 

Là người chịu đọc, chịu học để thăng tiến trí tuệ nâng cao hiểu biết. Cho nên khi đã ổn định vẫn tiếp tục học để lấy MA (Master of Arts). Lớp đầu tiên của chương trình Fullbright. Tôi không rõ ở quê nhà học vị hậu đại học đó được gọi là gì, nên xin ghi lại bằng tiếng Anh. 

Cuối mùa hạ năm  2005, chú em Trần Quốc Triền của tôi đã lìa trần, sau sáu tháng nằm bất động vì tai biến mạch máu não. Để lại biết bao thương tiếc cho gia đình, bà con, bạn hữu và đồng nghiệp, bảy năm đã trôi qua, chưa vơi được xót xa ngậm ngùi. 

Nhân ghi lại sự kiện đau xót này, xin tỏ bày lòng tri ân đến quý bà con, đồng nghiệp, đồng hương, đồng môn, thân hữu và môn sinh … đã chia sẻ cùng gia đình chúng tôi vào những tháng ngày đen tối ấy. 

Trong nỗi xót xa thương tiếc, tôi đã viết bài thơ “Hoài Cảm” như là lời tâm sự với chú em mình, xin ghi lại nguyên văn như sau:

 

Hoài Cảm 

         Hạ Thái Trần Quốc Phiệt

   Viết để thương tiếc Trần Quốc Triền

                    (1953 -2005)

 

Năm ba tuổi (53), chưa có lần thấy mẹ

Em vội về gặp mẹ ở bên kia

Tóc muối tiêu, anh ngỡ em còn bé

Mãi thương em như thuở mẹ lìa đời.

 

Em bước đi một quảng đời trăn trở

Buổi bú nhờ vú lạ những người quanh

Mẹ đi rồi, tưởng em chết trăm phần

Ơn phước lạ em lớn lên bừng sáng.

 

Chừ tháng năm đã đi vào dĩ vãng

Mà dễ đâu quên được chuỗi lăn trầm

Đời chông gai em vượt lắm gian truân

Mới thành đạt nên danh, sự nghiệp

 

Rồi hôm nay nghe em vĩnh biệt

Anh lặng người mắt lệ ướt mi quanh

Mẹ sinh em chưa dỗ ngọt một lần

Thiếu thốn đó, gia đình thương em lắm.

 

Anh hạ bút dòng thơ, môi đang đắng

Mắt anh quầng vì khóc ngót nửa năm

Nói gì thêm khi đời đã định phần

“Tử vô kỳ, sinh thì hữu hạn”

 

Nơi xa xôi trời ở đây cũng xám

Mây giăng buồn tím nhạt tận đồi xa

Anh quặn đau lòng trăm nỗi xót xa

Chữ u mê sao trải lòng anh thẳm

Mất em rồi, ôi vô vàn cay đắng

Lời khôn cùng, thương nhớ lắm em ơi!

 

Ngày 05 tháng 9 năm Ất Dậu

07 – 2005

 

Bài thơ viết rất nhanh và gởi liền bằng email, nhưng đang trong thời kỳ xây lăng, nên non cả tháng sau mới đọc cho người quá vãng trước mộ phần.

Trong một bài khác của anh tôi với tựa đề “Khóc Em” có những lời tâm huyết như vầy:

……………………………….

Hứa hẹn anh em lại gặp nhau

Vơi đầy tâm sự suốt đêm thâu

Lật trang kỷ niệm thời thơ ấu

Dấu ấn còn đây, em ở đâu?

………….......Trần Hữu Chước

 

Tôi biết rằng Thím Triền và các cháu không thể đọc vì bị xúc động, nên người đọc là một đồng hương, đương nhiệm thư ký của chú Triền trong trung tâm ngoại ngữ Hàn Thuyên.

 

Người đã tự nhận là:

 

1 - Lời ngỏ

 

Nửa đời em chẳng biết làm thơ,

Trần gian ai có học chữ ngờ,

Thầy đi để lại bao thương tiếc,

Khóc thầy nước mắt kết thành thơ.

 

Người đồng hương thư ký, chỉ ghi  tên Thổ, thay lời Giám Đốc Trần Quốc Triền để nhận và hồi đáp thơ gởi từ phương xa. Bài thơ gồm 14 khổ, viết về các tình huống khác nhau của các thành viên trong gia đình, vắn tắt nhưng rất xúc động. Xin trích vào đây ba khổ, và kính gởi lời đa tạ Chị Thổ.

……………………………………

 

8 – Nghe Đọc Thơ Hai Anh

 

           Nghĩa trang Phước Đồng

           chiều Chủ Nhật 30-10-05

 

Em đọc thầy nghe, hồn đứng lặng,

Hồi lâu, thầy nói: “cám ơn cô”

Cám ơn cô đã đọc thơ,

Nhịp cầu đã nối đôi bờ âm dương,

Lời thơ chan chứa tình thương,

Hồn tôi còn mãi vấn vương cõi trần.

………………………………………


9 - Hồi Âm

 

Em nhận thư anh một buổi chiều,

Mây trôi ảm đạm gió đìu hiu,

Bên ngôi nhà mới nồng hương khói,

Lời thơ sưởi ấm giấc cô liêu.

…………………………………

Trong nỗi nhói đau khi nhắc lại sự mất mát gần đây và những ngày tháng u ám xa xưa, cũng có một chút an ủi nhẹ nhàng về những bước vươn lên từ vũng bùn đen của em tôi. 

Tất cả đã khởi đi từ muôn vàn khó khăn, và cũng đã chấm dứt vào cái ngày oan nghiệt giữa năm 2005. Hoài niệm những bước đi qua từng chặng đời của chú ấy, với biết bao là nhớ thương và tiếc nuối. Tất cả đã vào quá vãng khi ngậm ngùi ngoái lại tháng ngày qua: 

Còn ai giẫm trên bãi biển Nha Trang những buổi chiều vàng phai nắng nhạt.

Còn ai để nghe âm vang sóng dồn, dương reo Cam Ranh, Đại Lãnh…..

Còn ai  trở về đứng bên Tịnh Tâm, Trường Tiền, Thương Bạc… nhìn con thuyền lướt ánh trăng, lắng nghe câu hò mái đẩy…

Còn ai dừng chân bên cầu Ba Bến ngắm dòng sông Vĩnh Định mặt nước lững lờ trôi.

Còn ai  ghé qua Chợ Hôm, Chợ Cạn để người quen kẻ biết niềm nở chào hỏi thân thương…

Còn ai in bóng trên đường làng, lối xóm, hớn hở tay bắt mặt mừng dưới hàng tre già vang lời chim mừng mùa lúa mới…

 

Thế là hết, Trần Quốc Triền đã giã từ tất cả.

Xin ghi lại vài hàng chân tình mộc mạc này để chiêu niệm những chặng đời từng có bên nhau. Với lời nguyện cầu cho người khuất bóng sải cánh an bình về phương trời tịnh độ.

 

Trần Quốc Phiệt


Ca.USA  03-2012

READ MORE - EM TÔI: TRẦN QUỐC TRIỀN, NGƯỜI ĐI LÊN TỪ MUÔN VÀN KHÓ KHĂN - Trần Quốc Phiệt

Friday, June 16, 2017

AN LƯU LÀNG TÔI VÀ HUYỀN THOẠI THẦN ĐÁ - Trần Quốc Phiệt



(Cổng tam quan nhà thờ tộc Trần, An Lưu)



Theo cách nghĩ thông thường thì cái gì cũng phôi pha nhạt nhòa theo thời gian,chưa hẳn mọi chuyện đều như vậy. Có rất nhiều điều hầu như gắn liền với đời người dù cho thời gian và hoàn cảnh đổi thay xoay chiều xuôi ngược, nhất là khi nó được ghi vào ký ức của tuổi thơ trong trắng.Với tôi đó là những kỷ niệm hồn nhiên dẫu là vui buồn hay chua xót, vậy thì ngôi làng nơi gia tộc tôi đã trải qua bao nhiêu đời và đến thế hệ tôi sinh ra, lớn lên rồi cất bước đi xa, dù thời gian được sống ở làng rất ít so với tuổi đời, mà lại là nơi luôn canh cánh bên lòng chưa hề nguôi ngoai thương nhớ.

Thật khó để giới thiệu cho rõ nét đặc thù về làng tôi, trong trí tưởng của người viết thì đó là một ngôi làng tuy nhỏ nhắn nhưng xinh xắn, có tổ chức đạc địa từ căn bản, nên về sau dù qua bao thế hệ, biết bao nhiêu khê thăng trầm thì hình thái làng vẫn còn giữ được như vậy.

Đến tuổi xế chiều nghiêng bóng, đã đi đây đó khắp mọi miền đất nước, đã được đọc nhiều văn thơ, thưởng thức nhiều sáng tác nghệ thuật tả cảnh làng quê, điểm lại không thấy ngôi làng nào giống làng của tôi cả. Cậu học trò ngoài sáu mươi quyết định ngồi làm lại bài luận văn tả ngôi làng của chính mình, nơi đó tôi đã sinh ra, nơi đó tôi có những ngày tuổi thơ vui buồn, có cả khổ đau không thể phai mờ trong tiềm thức.

An Lưu, một địa danh thuộc vùng đất Chợ Cạn, xã Triệu Sơn, quận Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, làng tôi hiền hòa nằm sau lũy tre xanh, những con đường cái nằm ngang, đường đi nằm dọc, chia ra thành từng khu ruộng đồng, từng xóm, nhà nọ nhà kia  trên những mảnh vườn diện tích hầu như không khác nhau lắm, đi lên đi xuống, đi qua, đi  về một vòng người ta có thể phỏng đoán rằng những bậc khai canh khai khẩn thuở nào đã dùng tri thức về hình học để vẽ họa đồ ngay từ những ngày đầu đến định canh định cư nơi đây.

Làng tôi không có cây đa cao ngất từng xanh, không có con sông xanh lơ lững vờn quanh, nhưng có cái dáng dấp thuần túy Việt Nam với lũy tre làng, ruộng vườn, ao cá, mái tranh với khói lam chiều nhẹ nhàng ùn lên  êm đềm theo cánh gió lay động ngọn cau cạnh những mái nhà dân giả rồi tàn phai nhạt nhòa trong bóng hoàng hôn.

Ngôi làng thật gọn gàng, theo sơ đồ ngăn nắp, nhà trước, nhà sau, sắp xếp theo từng xóm, những con đường dọc ngay thẳng đi gìữa hai hàng tre của các vườn hai bên, bóng tre mát dịu dàng, có thể nghe đâu đó tiếng chim hót trên cành hay tiếng kẽo kẹt chạm vào nhau của những cây tre già chênh bóng.

Những con đường làng quê tôi không mang tên danh nhân hay số mục, cái tên đó có từ lâu, cũng không nghe ai kể lại là được đặt ra khi nào, có thể suy đoán là những cái tên được gọi theo cách hình thành, theo điạ thế hoặc mục đích như đường Đựng, đường Bắt, đường Bạn, đường Quan, đường Kiệt, tất cả đều được đắp ngay thẳng, được tu bổ hàng năm, đặc biệt vào những dịp có tế lễ, mà nhất là ngày Tết âm lịch.

Theo cách hiểu của người viết bài này thì ngoài những con đường xóm nằm trong làng, trước làng có hai con đường ngang lớn trên cùng gần bìa làng là đường Bắt, đây là đường dân làng đắp lên, được tu bổ hằng năm trở thành lớn nên mới có tên đường Bắt, theo thổ ngữ Quảng Trị chữ bắt có nghĩa là đắp.

Con đường song song với đường Bắt, cũng chạy từ đầu Đông đến đầu Tây theo bề dài làng là đường Bạn, nghe nói rằng hằng năm đến mùa gặt có những nhóm thợ gặt từ những nơi khác đến gặt thuê, đi thuê người gặt từng nhóm như vậy, gọi là kêu “bạn cắt”, cho nên mới có tên đường Bạn, con đường này cũng là nơi đi lại trong vùng và phụ cận, không đi xuyên qua làng.

Ba con đường nối từ đường Bạn lên đường Bắt, một ở giữa và hai ở hai đầu rất cân đối đều được gọi tên là đường Đựng, theo thứ tự Đông, Tây và Giữa theo tiếng địa phương thì đứng có nghĩa là dọc, theo cách phát âm thiên về dấu nặng đặc biệt của Quảng Trị, như vậy gọi đứng thành đựng lâu ngày thành quen .

Những con đường trước làng, trong làng đã nói đến, điều đang thắc mắc là còn một con đường khác, cũng chạy song song với hai con đường chính trước làng là đường Bắt và đường Bạn, con đưòng này có cái tên rất hay là đường Quan mà lại nằm sau lưng làng, thay vì đường cái Quan là con đường trọng đại, làng tôi dấu con đường Quan đằng sau, trong lúc trâu bò không được leo lên những đường chính trước làng,  chỉ được dùng đường Kiệt và đường Quan để trở về chuồng sau một ngày cày xới hoặc gặm cỏ ngoài đồng.

Câu hỏi chẳng có câu trả lời, xưa bày nay làm, cứ thế mà dùng, cứ thế mà gọi, làng tôi ngôi làng thân thương nghèo nàn đó âm thầm những bước đi theo thời gian, ngày qua ngày, năm qua năm, thế hệ này qua thế hệ khác, phong tục tập quán được lưu truyền, đó là nét văn hóa đặc thù, tình cảm mặn mà với ruộng lúa bờ tre, cần câu ao cá ngọn bèo, cọng rong..

Các cụ xưa nói “nhất cận thị, nhì cận giang”, làng tôi có cái nhất mà mất cái nhì, phía Đông làng giáp xóm Phường của thôn Đạo Đầu, đó là chợ Cạn, chợ nhỏ kiểu nhà quê, nhưng tên thì nổi tiếng trong những lần binh lửa, không có sông, thay vào đó hai con khe ở hai đầu làng - người làng tôi gọi là “trong”-nước chảy bốn mùa, tưới cho cánh đồng lúa tốt tươi.

Sau lưng làng là rú, không có những loại cây to lớn, phần nhiều trầm bù và tràm, một số nương khoai, đất rú hầu như toàn cát trắng nên không thích hợp cho những loại cây khác, chỉ có thể trồng dương liễu hoặc sầu đâu, nếu có điều kiện kỷ thuật cao chắc là có thể trồng được nhiều loại cây hữu ích khác nhưng làng tôi chưa được như vậy, cho nên rú khá rộng, đa phần làm nghĩa điạ cho người quá vãng. Bên cạnh đó có những đụn cát vàng, dân làng thường gọi “đôộng” giữa” độ cao thấp tùy năm, tùy mùa theo chiều gió mà xoi hoặc bồi, vì thế đụn cát khá linh hoạt về hình thể cả màu sắc.




Trước làng là đồng ruộng lúa, chia ra ba loại: gần trong cùng là ruộng “nẩy”, kế là ruộng sâu, phần rìa còn lại ở những vùng đất cao là ruộng cạn, số đất còn lại gọi là nương. Các loại ruộng và nương có công dụng trồng tỉa khác nhau cho từng loại nếp, lúa, mạ khoai sắn hoặc hoa màu.

Ngôi đình làng tọa lạc trên một mảnh đất cao nằm phía trước chính giữa làng, nơi đó dùng để hội họp, chung quanh quang vắng, theo những người già kể lại thì trước kia ở đó có lùm cây với nhiều cây cao bề thế, tất cả đã bị triệt hạ trong cuộc chiến chống Pháp (45-54).

Hai ngôi nhà thờ của hai họ Lê, Trần bề thế ở hai đầu, lộ hẳn tiền đường, tam quan ra phía trước, trước kia còn có nhà thờ họ Nguyễn, đã bị sập đổ trong chiến tranh trước 1954, sau này họ Nguyễn rất ít dân số, phần lưu lạc vào Nam lập nghiệp sau 1975, nên bàn thờ được đặt phía đầu Tây của làng, trên đất hương hỏa của gia đình họ Nguyễn.

Theo trong gia phả lưu lại, khi từ miền ngoài (Nghệ An) vào thì ba vị gồm ba họ Nguyễn, Lê, Trần là tiền khai khẩn, hậu khai canh của làng An Lưu, hiện tại có thêm gia đình họ Trịnh, họ Trịnh là họ “ngụ”, bắt đầu có từ khi người ở trông coi chùa của làng, làm nhiệm vụ ông từ, nhang khói và giữ chùa làng, ngôi chùa đã bị sập đổ theo chiến tranh, ông từ họ Trịnh trở thành cư dân làng từ đó.

Khác với các làng mạc miền Nam, đình làng là nơi thờ thần hoàng, ở làng An Lưu của tôi nói riêng và xứ tôi nói chung, thần hoàng thờ trong nghè làng, nghè làng được xây cất trang trọng và uy nghiêm, trước có tiền sảnh, để nhóm họp, bày biện lễ vật, kế tiếp là chánh điện nơi đặt hương án, bài vị có đủ tước phong, phẩm trật của vua ban.

“Không thiêng ai gọi là thần”, theo những câu chuyện truyền khẩu thì thần hoàng làng tôi rất linh thiêng, hằng năm, đặc biệt vào ngày đầu năm Tết âm lịch, dân làng mang lễ vật đến nghè tế lễ thần hoàng trước, sau đó mới đi tế lễ các nhà thờ họ, vào ngày đầu năm không phải họ nào tế lễ họ nấy, mà các trưởng tộc phải đi dự lễ tế mừng tuổi tân niên các vị khai khẩn của làng.

Từ thuở nào nghè An Lưu đã nằm trong khu rú phía Tây của làng, trước kia rất cổ kính, sau những cuộc chiến tranh dai dẳng, khốc liệt hư hại đi rất nhiều, nay đã được xây dựng mới hoàn toàn.

Nghè làng tôi đặc biệt ngoài thờ cúng thần hoàng, còn thờ một vị thần khác mà dân làng ai cũng biết chuyện đó, nhưng thần gì, tên gì thì người viết không nắm vững, chỉ nghe người lớn tuổi hơn nói lại là thần đá, chính người viết không những nghe kể tận tai mà còn từng vài lần đến thăm thần đá tận mắt, câu chuyện được lược kể thế này.


Vào ngày nọ có một ngưòi Phương Sơn, là làng nằm cạnh An Lưu về phía Tây, cách nhau chỉ  con đường dọc và bờ tre, người nầy đi “dủi” cá trên vùng đất thuộc An Lưu, trong trời đông lạnh buốt anh ta “dủi” hoài mà chẳng được gì, anh liền khấn cầu xin cho “dủi” được một ít mang về cho gia đình dùng bữa, lần “dủi” kế đó anh thấy nặng tay, mừng thầm trong lòng nhưng khi cất lên là một hòn đá, ném hòn đá đi anh tiếp tục, nhiều lần như vậy, cũng chỉ hòn đá như trước, liền mang hòn đá lên bờ, để ngay ngắn và khấn: nếu linh thiêng cho tôi “dủi” đầy một “oi” cá thì sẽ mang về thờ, chỉ một lần “dủi” kế đó,”oi” cá của anh đã đầy, vô cùng kinh ngạc, anh mang hòn đá về nhà để lên bàn thờ, chuyên cần nhang khói.

Từ ngày thờ hòn đá trong nhà, làm ăn trở nên khấm khá, anh liền lập một bàn thờ trước nhà, bàn thờ quay mặt ra hướng đồng lúa của làng, trong khi nhà anh càng ngày càng khá giả thì đồng lúa của làng năm nào cũng bị cháy, có người hay chuyện báo ra làng, làng liền đến thương lượng thỉnh hòn đá về thờ trong nghè, gọi là thờ thần. Đến nay người dân làng vẫn gọi là hòn đá, nhưng nêu quan sát kỷ ta thấy đó là một phù điêu, có lẻ từ phù điêu có vẻ bác học quá nên ít người dùng. Nghè Phương Sơn quay mặt về hương Tây, tức làng Linh An, cũng từ đó làng Linh An hằng năm bị hỏa hoạn, phải đắp một gò cao trên gò có “yểm” con ngựa sắt mới yên.

Người viết bài này đã đôi lần đến thăm phù điêu thần đá, khá lớn, tượng hình ngồi, lối điêu khắc và hoa văn mang dáng dấp cổ Chàm, một cánh tay bị gãy được nối lại, lý do nào sẽ nói sau đây.

Trong khi đó, làng An Lưu biết được nguyên lai hòn đá nằm trên đất của mình, bèn nhân ngày mùa, Phương Sơn bận lo gặt lúa, An Lưu tổ chức một đội trai tráng khoẻ mạnh qua cướp về, khi  đi qua con khe là ranh giới hai làng, phù điêu đá trì lại không cách nào khiêng đi nỗi, còn “hộ” vào một người khác nói với một người đàn bà Phương Sơn “chạy cá”: “ báo cho dân Phương Sơn biết, An Lưu qua cướp ta về bên đó, mau mau tiếp cứu…”, được tin, trai tráng Phương Sơn dưới đồng chạy về, hai bên giành nhau, bất phân thắng bại, đến nổi phù điêu đá bị gãy một cánh tay, thần đá liền “hộ” lên mà xử rằng: “hai làng đều kính trọng và yêu quý ta, để cho công bằng từ nay một bên thờ vong, một bên thờ xác”, do đó Phương Sơn vẫn tiếp tục thờ xác, An Lưu lập bàn thờ trong nghè làng thờ vong. Tục lệ cứ ba năm tế thần một lần luân phiên, bên này tế thì bên kia cử người sang dự, với những quy định lễ nghi kiêng cử có khuôn phép cho những ai được làng cắt đặt hầu lễ thần.

Đây không phải là một chuyện thờ cúng mê tín dị đoan, mà là một nét đặc thù văn hóa địa phương, cho nên nói đến An Lưu và Phương Sơn vùng chợ Cạn mà không nhắc đến thần đá theo tôi là một thiếu sót,  sự kiện này chắc chắn các nhà nghiên cứu rất cần đến, với khả năng chuyên môn nghề nghiệp họ có thể tìm sâu và biết nhiều hơn như vậy.

Khi ngồi hồi tưởng để ghi lại hình ảnh làng tôi, bao nhiêu kỷ niệm lại quay về như những đoạn phim dĩ vãng, từ ngôi đình làng, nghè thờ thần hoàng, từ đường họ, đền âm hồn, những lăng mộ các bậc khai khẩn khai canh, nhà thờ Công giáo, chùa làng, am miếu, những khu mả mồ dù xưa hay mới đều đã và sẽ là di tích để mãi về sau.

Những đập ngăn nước, mương khe cống rảnh, những gò đống giữa đồng, những tên gọi từng khu đồng sâu ruộng cạn, nương vườn đây đó đều hiện lại đầy đủ trong trí nhớ đặc dày qua hình ảnh mưa dầm giá lạnh hay nắng cháy khô cằn, gió lào gay gắt, hay mưa phùn gió bấc, lầy lội trơn trợt đường quê, hay nứt nẻ ruộng khô nắng hạ.

Còn nghe văng vẳng bên tai tiếng chim sơn ca réo gọi tầng cao giữa đám ruộng rạ trơ sau mùa gặt những buổi chiều hè oi ả khô khan, tiếng dế vang vang buổi bình minh hai bên “dường” ruộng, con cá thia thia sủi bọt dưới gốc lúa trổ đòng đòng, hay vẩy mống cá rô trong ao đìa lặng gió, phất phơ đôi cánh bèo màu tím nhạt lục bình rung rinh.

Tất cả ở trên là bức tranh tổng quát làng tôi trong nỗi nhớ của  một người từ lâu sống tận phương xa nhưng trong lòng còn bao khắc khoải luyến lưu, và kỷ niệm thuở tuổi đời thơ ấu, hồi tưởng về xóm làng dấu yêu với tất cả thâm tình dấu kín đáy lòng, dẫu ngôn từ nào cũng không thể diễn đạt cho cùng.

Trần Quốc Phiệt
 November - 2008
hathaius@yahoo.com
READ MORE - AN LƯU LÀNG TÔI VÀ HUYỀN THOẠI THẦN ĐÁ - Trần Quốc Phiệt

Tuesday, September 16, 2014

ĐÀO LOẠN - thơ xưa của Nhân sĩ Nguyễn Hữu Ngung - Hạ Thái Trần Quốc Phiệt thoát dịch

     Nhân sĩ  Nguyễn Hữu Ngung (1894 – 1956).
     Quê quán: Lan Đình, Do Linh, Quảng Trị.
     Nhà nho, họa sĩ thư pháp cổ điển đông phương, đông y sĩ, thầy dạy Hán văn.
     Bài Đào Loạn được viết năm 1949, khi tiền bối phải rời Do Linh vào Cố Đô Huế lánh nạn.
     Rất đa tạ nhà sưu khảo Hán Nôm Linh Đàn Nguyễn Hữu Kiểm đã cung cấp tư liệu quý hóa này.
     Trân trọng,
     Trần Quốc Phiệt


逃亂             ĐÀO LOẠN

秋夜全家起上逞   Thu dạ toàn gia khởi thượng trình
帆風海導直來京   Phàm phong hải đạo trực lai kinh
意無高計謀何上   Ý vô cao kế mưu hà thượng
國亂多年事不平   Quốc loạn đa niên sự bất bình
桑海綿綿愁幾度   Tang hải miên miên sầu kỷ độ
人民憶憶恨長征   Nhân dân ức ức hận trường chinh
順城呂外繁都會   Thuận thành* lữ ngoại phồn đô hội
心在由靈故里情   Tâm tại Do Linh cố lý tình
         阮有隅                      Nguyễn Hữu Ngung

Sưu tầm và phiên bản của Linh Đàn Nguyễn Hữu Kiểm.


Hạ Thái Trần Quốc Phiệt


CHẠY GIẶC
(Thoát dịch)

Đêm thu lánh nạn thẳng về kinh
Đường biển buồm căng hướng hải trình
Ý bởi đơn sơ đành thất sách
Nước vì tao loạn chẳng yên bình
Đổi thay liên tục dân tình oán
Chinh chiến triền miên thế cuộc kinh
Làm khách lữ hành nơi Thuận Hóa
Mà lòng hoài vọng đất Do Linh.

               Hạ Thái Trần Quốc Phiệt


READ MORE - ĐÀO LOẠN - thơ xưa của Nhân sĩ Nguyễn Hữu Ngung - Hạ Thái Trần Quốc Phiệt thoát dịch

Monday, July 7, 2014

BẢY MƯƠI HÀNH - thơ Hạ Thái Trần Quốc Phiệt


  
Nhịp gõ thời gian điểm bảy mươi!
"Nhân sinh thất thập" đến đây rồi
Giẫm lên lằn mức người xưa hiếm
Mà ngỡ như còn giữa cuộc chơi.

Thỉnh thơ vào án văn đề bút
Gom nắng chiều thương rũ bóng đời
Hiu hắt tà dương rơi cuối ngõ
Chập chờn cánh nhạn lạc xa xôi

*
Cầm bằng bảy chục an nhiên vậy
Sinh bất phụng thời chịu nổi trôi
Nửa chặng phong trần bao nghiệt ngã
Xoáy theo cơn lốc tả tơi đời!

Lưới trời giăng mắc đan huyền ảo
Trũng thấp đồi cao những chập chùng
Đành chấp nhận băng truông vượt suối
Không dè, hoài bão hóa mông lung

*
Như thể đoạn trường đeo bổn mạng
Phải thân Kiều gãy khúc đa đoan
Tiền Đường nào tưởng đời quên lẵng
Mảng lưới ngư ông quẳng giải oan

Gởi chốn xa xăm nơi ẩn dấu
Thâm sơn cùng cốc mười năm trường
Bước ra ngoái mặt mình trong kiếng
Nhăn nhúm da nhèo tóc điểm sương

Mắt mỏi mòn trông vời cố quận
Lòng mơ khắc khoải mộng tơ vương
Riêng niềm hoài vọng hồn du tử
Liễu lạnh trăng chìm rũ bến sương.

*
Cố hữu bạt phiêu khắp vạn nẻo
Từ ngày lửa xám mặt quê hương
Rẫy nương ẩn náu đời lưu xứ
Chữ nghĩa ích gì buổi nhiễu nhương!

Chiến hữu bao năm cùng tuyến trận
Sát kề vai giải gió dầm sương
Nung lời thề một lòng son sắt
Phút chốc tan đàn, ngựa lỏng cương!

Cùng cảnh truân chiên thuở đọa đày
Đồng cam cộng khổ sớt chua cay
Ngược xuôi luân chuyển vòng đây đó
Rải rác trăm phương chịu lạc bầy!

Bạn từng hòa vận xa xôi cả
Lời vọng băng ngàn khó ới nhau
Viết một vần thơ trăm nỗi nhớ
Đọc dăm cuốn sách vạn niềm đau!

*
Gẫm lại cõi trần là giấc ngủ
Gốc hòe tỉnh dậy mộng bay xa
Xưa nay nhân thế toàn hư ảo
Không, sắc... kề nhau quả thật là!

Giữa có và không nguyên một lẽ
Có rồi không chung gốc liền vòng
Nửa trang đời vào sinh ra tử
Buổi trói tay cam chịu khóa còng.

*
Bảy mươi mời rượu cùng ai nhỉ
Nhìn lại quanh đây chỉ một mình
Giáo dựng gươm treo ngoài ải vắng
Hương trầm xin bái vọng vong linh

Sinh nhật bảy mươi không yến tiệc
Trong vườn khuya khoắt đếm sao rơi
Ngâm thơ huyễn mộng thay lời tiễn
Hồn lạc phiêu diêu cuối nẻo trời

Người chúc tâng nhau lên bậc lão
Ta cầu trăng rọi suốt thiên thu
Cồn xưa dấu tích gò cương ngựa
Tiễn mộng xa xăm cõi mịt mù

Chẳng ước mơ gì câu bách tuế
Phương này vị đắng vốn triền miên
Rong rêu bám víu bờ nhân thế
Ba chục năm thêm… bấy muộn phiền!

Đốt nến lên ngâm thơ lạc vận
Hồ trường nghiêng cạn giữa đêm trăng
Mảnh hồn tản mạn loang trên giấy
Sinh nhật ta tròn bảy chục năm.

                      Hạ Thái Trần Quốc Phiệt


READ MORE - BẢY MƯƠI HÀNH - thơ Hạ Thái Trần Quốc Phiệt

Saturday, September 14, 2013

MỪNG THÁI TIÊN SINH THOÁT ĐẠI NẠN - Hạ Thái Trần Quốc Phiệt và thi hữu



MỪNG THÁI TIÊN SINH THOÁT ĐẠI NẠN
(Kính gởi Thái Quốc Mưu tiên sinh)

Mừng Thái Thi Huynh thoát nạn rồi
Mong mau bình phục nhậu cùng tôi
”Mờ theo” (Martel) nốc cạn chừng dăm két
Hủ tiếu xơi luôn cở mấy nồi
Vỗ bụng nghênh ngang cười hả hể
Nâng ly khoan khoái cụng tơi bời
Say sưa bù lại ngày kiêng cử
Và viết thành thơ cứ vậy thôi.
Hạ Thái Trần Quốc Phiệt



MONG

Họa 1

Mới nghe anh Thái tháng vừa rồi
Kiếp nạn tai qua: phước Bác tôi!
Thơ phú chỉ chừng: ghi mấy chữ
Văn chương tàm tạm: mới lưng nồi
Gieo vần không khéo xin thông cảm
Xếp luật chưa suông tại rối bời
Mong gởi chúc mừng mau khỏe lại
Làm thơ-xướng họa sẽ vui thôi
Văn Kế Thế



KHÔNG SAO ĐÂU!
(Kính chúc Bác vui mau khỏe)

Họa 2

Không sao.. tai nạn đã qua rồi!
Bất cẩn Ngọc Hoàng nói với tôi
Bắc Đẩu lanh chanh quên hộ khẩu
Nam Tào hối hả tưởng niêu nồi
Ơn nhờ Thánh Chỉ truyền minh chính
Phước hưởng Thi Huynh- khỏi rối bời
Thượng Đế giật mình…ra bạn tốt!
Ban ngay thuốc quý chóng lành thôi!

Trương Văn Lũy
READ MORE - MỪNG THÁI TIÊN SINH THOÁT ĐẠI NẠN - Hạ Thái Trần Quốc Phiệt và thi hữu

Wednesday, July 24, 2013

Trang thơ giao lưu của người cao tuổi: HOA LỤC BÌNH - Hạ Thái-Trần Quốc Phiệt và thi hữu



HOA LỤC BÌNH
Bài xướng Hạ Thái-Trần Quốc Phiệt

Theo dòng lưu lạc lững lờ trôi
Sống giữa thiên nhiên chẳng bến đời
Hạ thắm khoe hoa phơi nắng rọi
Đông tàn bày lá chịu mưa rơi
Tăng duyên lịch lãm tươi màu nước
Bồi dáng thanh tao thắm cảnh trời
Mặc khách tao nhân cùng thưởng lãm
Khéo khen vất vưởng vẫn sinh sôi !


HOA LỤC BÌNH
Bài họa Võ Sĩ Quý

Theo nước tang bồng cuộc nổi trôi
Làm dân lên xuống mặc tình đời
Bọt bèo trên sóng thân tơi rụng
Xơ xác dưới bờ cánh tả rơi
Góp mặt xanh non tươi phận đất
Khoe hoa tím nhạt đẹp duyên trời
Lắm khi phiêu giạt vùi nên nấm
Sinh tử tuần hoàn lại nẩy sôi
Nha Trang 3.3.2011




HOA LỤC BÌNH
Bài họa Phùng Trần-Trần Quế Sơn

Bềnh bồng từng cụm rủ nhau trôi
Chở tháng ngày qua chẳng biết đời
Tím sắc hoa giăng chờ bến hẹn
Xanh thân nụ kết đọng sương rơi
Thu Đông trải lá phơi ngàn gió
Xuân Hạ đơm bông ngắm cảnh trời
Điểm nét thanh quang hồn lãng tử
Dạt theo sông nước trổ mầm sôi!
Illinois, Mar- 02-2011



HOA LỤC BÌNH
Bài họa Trương Văn Lũy

Phải chăng vận nước hay bèo trôi!
Cuộc sống ngây ngô biết phận đời
Đau,thuốc đắng ngâm vào giạ trật
Đói,cơm thừa nhặt hạt dư rơi
Hoa trôi bèo giạt ai mô tá?
Thân níu giòng ngân khóc gọi trời
Bạn đã vào thuyền chơi giỡn sóng
Ta hồ! mặc khách chuyện sinh sôi!



HOA LỤC BÌNH
Bài họa Trương văn Lũy

Sóng nước dập dồn cuộn nổi trôi,!
Mặc nhiên phiêu bạt vẫn yêu đời
Phong ba bảo táp nào nao núng
Sóng dậy triều dâng chẳng ngại rơi
Trổ lá xanh tươi trong dòng nước
Đơm hoa tím nhạt mát vòm trời
Phận bèo phiêu bạt rày đây đó
Luân chuyển sinh tồn vẫn nẩy sôi!



NHƯ THỂ LỤC BÌNH
Bài họa Nguyễn Phú Long

Thân em như thể cánh bèo trôi;
 Tấm lụa phất phơ giữa chợ đời.
 O bế, người yêu xin giữ lại,
 Rẫy ruồng, kẻ chán để buông rơi.
 Dịu dàng nhiều lúc như nhành liễu,
 Kiêu ngạo đôi phen cũng đỉnh trời.
 Mà nghĩ, nhân sinh là thế đó!
 Có thương, có ghét, giận thì sôi.



HOA LỤC BÌNH
Bài họa Lê Bá Lộc
 
Lênh đênh mặt nước lục bình trôi
Chẳng biết về đâu giữa cõi đời
Phó mặc giang hà thân lá rụng
Đành theo hồ hải cánh hoa rơi
Đồng khô dừng bước nghiêng sườn đất
Suối cạn dang chân ngóng đỉnh trời
Đã với non sông cơn sóng dữ
Màng chi những cảnh lửa dầu sôi.



THÂN LỤC BÌNH  
Bài họa Lê Ngọc Kha

Thân thế lục bình mãi nổi trôi
Bềnh bồng đưa đẩy với dòng đời
Sá chi đông đến tràn mưa đổ
Nào quản hè về ngập nắng rơi
Gốc rễ lừng chừng không tựa đất
Lá cành nghiêng ngửa chẳng nương trời
Muôn loài cây cỏ đâu bì được
Nước đục trong đều vẫn nẩy sôi.



TÂM SỰ
Bài họa Văn Kế Thế

Nương gió theo chiều lững thững trôi
Về bên bờ lặng lẽ quên đời
Bướm ong ve vãn ngàn hoa thắm
Sóng nước chòng chành bao lá rơi
Muồn thuở lênh đênh đời mộc mạc
Mấy mùa phiêu bạt kiếp tơ trời
Người ơi xin gởi lời tâm sự
Hoa tím lục bình mãi nổi trôi



HOA LỤC BÌNH
Bài họa Trần Văn Hạng
 
Trên sông lơ lững khóm bèo trôi
Dòng nước đong đưa chẳng chốn đời
Xanh thẩm dập dờn màn nắng chiếu
Nhạt hồng loáng thoáng lớp sương rơi
Tô son tim tím hung màu nước
Điểm cảnh xanh xanh thắm sắc trời
Trôi dạt lênh đênh trên sóng biếc
Mặc nhiên cảnh tượng lửa dầu sôi.


HOA LỤC BÌNH
Bài họa Ly Châu
 
Bập bềnh theo nước lục bình trôi
Hoa tím như mơ giữa cuộc đời
Thân lục mình tròn cơn gió động
Phận bèo dáng thẳng giọt sương rơi
Ðông vui tụ tập sông thành đất
Lẻ bóng đơn côi biển hóa trời
Thuyền gặp lục bình bao chướng ngạị
Lênh đênh thân thế mãi sinh sôi


MÂY HOA
Bài họa Võ Thị Nguyên

Dãi mây tím nhạt thẫn thờ trôi,
Trời đọa tiên nga giáng xuống đời.
Cánh mỏng hoa tươi chờ gió tới,
Thân bầu lá biếc đón sương rơi.
Ven hồ cây cỏ tương tư sóng,
Giữa nước mây hoa luyến tiếc trời.
Ngẫm phận mấy đời, đau nghẹn đắng.
Thương thân một kiếp, nỗi niềm sôi

8/3/2011.


BẾN ĐỜI
Bài họa Văn Thiên Tùng

Bám mảng nương loài cùng nổi trôi
Bồng bềnh đây đó thỏa thân đời
Chụm co lưu gốc khi hanh cạn
Trẩy nhánh đâm chồi mặc tuyết rơi
Kết một nền xanh so thảm cỏ
Đơm ngàn đài tím sánh da trời
Đục trong, bão tố luân mùa chuyển
Hoa lục bình thì cứ nẩy sôi!
Quảng Trị



CÂY LỤC BÌNH
Bài họa Vĩnh Hoàng

Lênh đênh từng cụm mảng bè trôi
Nhờ nước nuôi thân sống ích đời
Chống chọi gió cuồng nhiều thác đổ
Lo toan dòng cạn thiếu sương rơi
Rễ mềm khó bám trên mình đất
Cành ướt úa khô dưới nắng trời
Trọn kiếp phong trần không bến đậu
Sinh tồn nối tiếp chẳng ngừng sôi


VỊNH HOA LỤC BÌNH
Bài họa Phieuvan Thlangdu

Một kiếp bồng bềnh mấy mảng trôi
Lênh đênh nước cuộn cuốn xô đời
Mưa vùi tím đóa hòa mưa đổ
Nắng đốt xanh mình trải nắng rơi
Đã bước đi về không trách đất
Thì thân sống chết chẳng than trời
An nhiên giữa chốn tranh cao thấp
Xót cảnh giòng người mãi sục sôi

03-03-2011 


LỤC BÌNH
Bài họa Motthoi

Xuôi ngược lục bình theo nước trôi
Cũng như thân phận ở trong đời
Bình bồng ngày nắng - nụ hoa hé
Chìm nổi đêm mưa - giọt lệ rơi
Bông trắng vui lòng người khách lạ
Lá xanh vừa ý - đám mây trời
Ung dung sống giữa dòng sông chảy
Mặc lạnh đông về, hè nóng sôi.



Hạ Thái Trần Quốc phiệt biên tập và gởi đăng
READ MORE - Trang thơ giao lưu của người cao tuổi: HOA LỤC BÌNH - Hạ Thái-Trần Quốc Phiệt và thi hữu