“TRÂU ĂN MỘT ĐỒNG MÀ
CON ĐÓI CON NO”
Truyện ngắn
Hoàng Thị Bích Hà
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị -
cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất
lượng cao của Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng
khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn
xao một niềm vui khó tả.
Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà
còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành
cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích.
Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
Sáng hôm sau, ông ngoại gọi điện sang bảo:
-Con có vô Sài Gòn thì tới nhà của cậu Hải mà
trọ. Nói với cậu ấy, cho cháu ở nhờ để đi học.
Như Nguyệt đáp:
- Dạ thôi ba, để con đưa cháu vô rồi tính.
Cúp máy, chị vẫn ngồi yên một lúc lâu. Thẫn
thờ nhìn xa xăm, lòng bỗng đau như chạm vào quá khứ.
Nghe chị kể, tôi ngạc nhiên:
-Có sẵn nhà đó, sao không cho cháu ở, đỡ được
bao nhiêu tiền trọ?
Nguyệt không trả lời ngay.
Nụ cười trên môi chị chợt tắt. Một khoảng lặng
rơi xuống. Chị nhìn ra ngoài sân, nơi có cây cau thấp, thân lấm tấm những vết
sẹo cũ của thời gian và bão tố. Chị nói với tôi:
- Không dễ thế đâu, nàng ơi.
Tui mừng vì con đậu đại học tốp đầu, chất
lượng. Mừng! Nhưng lòng cũng đầy lo lắng. Nỗi lo cũng lớn dần theo từng bước
chân con sắp đi xa. Tiền trọ, tiền ăn, tiền học..., Nhưng tui sẽ cố gắng lo cho
con.
Chỉ lo những ngày con đi xa, ấm lạnh không có
mẹ bên cạnh. Nhưng có lẽ để con ra với đời mới mau trưởng thành.
Những năm tháng tuổi thơ nghèo khó chợt ùa về.
Rồi rồi chị kể, chậm rãi như lần giở lại từng
lớp ký ức đã cũ mà chưa hề nguôi.
-Ba tui… ổng đã bỏ mẹ con tui từ khi tui mới
hai tuổi, anh Hai lớn nhất cũng mới mười tuổi, chị ba 5 tuổi, em trai nhỏ nhất
mới ba tháng tuổi. Ông theo người đàn bà khác, Lúc ấy mẹ tui mới ba mươi tuổi,
Một mình mẹ dắt bốn đứa con về quê ngoại Phong An, (cách Huế chừng hai mươi cây
số) sống lay lắt bằng nghề ruộng, rẫy.
Về làng quê cũng nghèo. Mẹ cực khổ nuôi con
bằng rau cháo qua ngày. Anh em tui cố gắng học, nhưng học được chừng nào hay
chừng ấy, chứ không thể tới bờ tới bến. Anh Hai học hết lớp chín đành nghỉ, ở
nhà làm phụ mẹ nuôi em. Chị Ba gắng gỏi lắm cũng chỉ đến lớp mười một rồi xin
đi làm công nhân. Còn tui, học hết phổ thông, đành gác lại giấc mơ đại học, đi
học may để mưu sinh. Đứa em út chọn con đường ngắn hơn: học trung cấp thú y rồi
ra làm ở trạm xã. Còn cha tui, như một con nước khác chảy về phía đời sống của
riêng mình.
Ông là một sĩ quan. Sau biến cố năm 1975, ông đi
“cải tạo” hơn ba năm. Trở về, việc đầu tiên ông làm là tìm lại người tình của
ổng. Rồi ông tìm mẹ tôi để nói phải trái về việc kết thúc. Cuộc ly hôn chóng
vánh chưa được bao lâu cũng vừa kịp cho một hành trình khác: sang Mỹ theo diện
HO cùng người đàn bà đã khiến ông rời đi năm xưa. Rồi ba tui dắt vợ mới của ổng
qua Mỹ.
Ngày rời Huế để vào Sài Gòn, ông mang theo cả va li tiền. Còn vợ cũ và bốn đứa con thì ở lại, trắng tay.
Từ đó, ổng cắt liên lạc với mấy mẹ con.
Mẹ tui một mình nuôi con trong cảnh khó nghèo.
Ngày xưa, ba đi lính, gia đình theo chân ổng. Có con thì khai sinh để được
hưởng lương con. Mẹ chỉ việc nội trợ, chăm sóc ông bà nội và các con. Vậy mà
đùng một cái, ông bỏ ngang, chia tay vợ con khi đã tìm được tình yêu mới. Từ
bữa nớ, tụi tui không còn nằm trong phần đời của ba tui nữa.
Mấy mẹ con dắt díu nhau về quê ngoại, sống
tiếp trong thiếu thốn và nỗi buồn phụ bạc. Mẹ tui gầy như chiếc lá khô vì buồn,
nhưng vẫn ráng làm lụng nuôi con. Mẹ bảo: các con là động lực sống của mẹ.
Mười năm sau, từ Mỹ ông trở về. Không phải để
bù đắp, mà chỉ để thăm cha mẹ già. Bốn anh em Nguyệt được gọi lên. Cuộc gặp gỡ
ngắn ngủi, vài câu hỏi xã giao, rồi ai lại về với cuộc đời nấy.
Ổng chẳng hỏi gì đến mẹ tui. Rồi mấy năm sau,
ổng về lại Huế mua đất, làm nhà. Ổng bảo: “Đi Mỹ vậy đủ rồi, nay về Huế dưỡng
già.” Gia đình mới của ổng nay ở khu đô thị cao cấp An Cựu. Thằng con trai út
của ổng với vợ sau là Thế Hải vừa đậu đại học năm ngoái, ổng liền bay vào Sài
Gòn mua cho nó một căn nhà ngay quận Ba. Vì thế mà ổng mới bảo Thành Phong vô
Sài Gòn xin ở nhờ cậu Hải.
Tui nghe mà im. Có những chuyện, nghe thôi là
đủ.
Tui là con gái của ổng mà chẳng được ổng thương,
nói gì đến cháu. Nên thôi! Biết rằng lúc này, sự giúp đỡ dù từ ai, nếu thật
lòng cũng đều đáng quý. Biết là ở trọ thì phải tiền đóng, gạo góp mà ăn, chẳng
dễ gì nhờ vả. Nhưng tui không thấy an toàn cho con.
Còn về phần tui, Như Nguyệt chậm rãi kể tiếp:
tui học được, nhưng vì hoàn cảnh nên phải đi đường vòng. Sau phổ thông, tui đi
làm thợ may để sống. Khi kiếm được chút đỉnh, tui mới thi vào Cao đẳng Sư phạm,
thực hiện ước mơ làm cô giáo còn dang dở. Thực ra tui thích Đại học Sư phạm,
khoa Sử, nhưng không dám mơ. Nghĩ rằng học cao đẳng cho nhanh, ba năm ra trường
đi dạy. Rồi tui ra trường, xin được một trường huyện. Dạy được hai năm thì gặp
anh Phạm Tiến, lúc đó đang làm thợ nhôm, xây dựng trường. Hai đứa quen nhau,
một năm sau thì cưới.
Nhà Tiến ở Vĩ Dạ. Ba Tiến là thầy giáo về hưu.
Mẹ chồng đã mất. Trong nhà còn mấy cô chị và em chồng, người làm giáo viên,
người làm y tế cộng đồng. Chỉ có Tiến hoc chưa xong 12, nghỉ ngang đi học thợ
nhôm. Tiến hiền, nhưng vô tâm. Đi làm xa, nửa năm mới về, khi đưa tiền, khi
không. Tuy nhiên, anh ta có một ưu điểm: không gái gú, chỉ nhậu thôi. Còn mấy
mụ o chị em chồng thì do dảnh lắm. Khó tính, hay kiếm chuyện. Bố chồng cho vợ
chồng tui một miếng đất độ năm mươi mét vuông sau vườn, xây cái nhà để ở, nhưng
không cho chủ quyền. Muốn ở thì ở, chứ mua bán cầm cố là không được.
Mẹ chị vẫn ở quê, ngày một yếu đi. Như Nguyệt
đều đặn chạy xe về thăm. Năm ngoái, mẹ chị trải qua mấy cơn thập tử nhất sinh.
Người cha năm xưa có đến bệnh viện một lần, trước khi bà mất đúng một ngày.
Mẹ mất, chị như mất cả bầu trời. Chị thương mẹ
lắm! Nếu không có mẹ chèo chống nuôi con, bốn anh chị em bây giờ ra sao? Khi
cha đã bỏ mẹ, thì đồng nghĩa với việc ổng cũng bỏ luôn con:
-Có người làm cha vẫn có trách nhiệm nuôi con,
nhưng ba tui thì không (chị kể). Trong khi ba đứa con của ổng với vợ sau sống
êm ấm như trên nhung lụa.
Nguyệt cười, mà ánh mắt buồn, nhìn xa xăm như
ngược về miền ký ức:
Chị nhìn tôi, giọng trầm xuống:
-Nàng thấy đó, con ổng mới đậu đại học Sài
Gòn, ổng tức tốc bay vô mua nhà cho ở liền. Còn tui, cũng là con ổng nhưng
không có cái phước ấy.
Nhớ một câu nói của dân gian có câu: “Trâu ăn
một đồng mà con đói, con no.” Nghịch lý là vậy!
Sau mấy năm, gặp lại chị kể: "Con trai
đầu của tui Thành Phong học xong Đại học Bách khoa, có việc làm ổn định tại
Vũng Tàu. Con gái út, Bích Nguyệt cũng rất giỏi, tốt nghiệp Đại học Ngoại
thương Sài Gòn, nay làm ở quận Ba. Tui vẫn đi dạy. Chồng tui vẫn đi làm thợ ở
tỉnh".
Tôi mừng cho chị, xuất thân đáng lẽ không đến
nỗi côi cút, vậy mà cũng lao đao. May mà còn có mẹ!
Như Nguyệt đảm đang, chịu khó như mẹ. Và bây
giờ, trời không phụ lòng người: các con đã thành công.
Hiện nay, gia đình ba Như Nguyệt vẫn ở cùng
thành phố với nàng ấy, nhưng cha con ít gặp. Nói đúng hơn, có gặp thì cũng vì
lý do nào đó chứ chẳng mặn mà gì.
Năm ngoái, tôi về Huế, Như Nguyệt dẫn tôi lên
nhà nội (ở phía chùa Linh Mụ trên cách chừng nửa cây số). Chúng tôi thăm lại
mảnh vườn xưa. Ông bà nội đã qua đời. Bên cạnh nhà nội là căn nhà của mẹ con
Như Nguyệt hồi nhỏ, lúc ba chị chưa bỏ đi và mẹ chị và ba anh em chưa dạt về
nhà ngoại. Nay nhà cửa xuống cấp, chỉ còn mảnh vườn với vài cây cối. Thỉnh
thoảng, Như Nguyệt lên cuốc cỏ, chặt lá dong về gói bánh, khi thì chặt chuối ba
lùn về dú chín cho con ăn. Chị bảo:
-Tuần trước, tui có gặp ba tui cũng lên vườn
chặt buồng chuối đem về cho vợ con ổng.
Hai cha con đứng cùng một vườn.
Chào nhau mấy câu.
Rồi người này quay lưng, người kia cúi xuống
chặt tiếp buồng chuối.
Như chưa từng là ruột thịt của nhau.
Sài Gòn, ngày 10 tháng 4 năm 2026
Hoàng Thị Bích Hà


.jpg)