Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Lâm Bích Thủy. Show all posts
Showing posts with label Lâm Bích Thủy. Show all posts

Friday, February 22, 2019

TÌNH VÀ XUÂN TRONG THƠ TÌNH YẾN LAN – Lâm Bích Thủy



            Tác giả Lâm Bích Thủy


TÌNH VÀ XUÂN TRONG THƠ TÌNH YẾN LAN 
                                                         Lâm Bích Thủy
Từ trước tới nay, nói về “thơ tình” hay “mùa xuân” thì người ta chỉ nhắc tới Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Xuân Quỳnh ... chứ mấy ai biết đến tình và xuân trong thơ linh Lân tức Yến Lan của Bàn Thành tứ hữu của miền đất vang lừng thế võ.

Ai đâu biết, có bao nhiêu suối tình và xuân trong thơ của nhà thơ Yến Lan. Những con suối tình đã âm thầm chảy không ngừng nghĩ, bền bỉ, dạt dào cho tình yêu quê hương và mùa xuân của nhân loại trong thơ Yến Lan. Cuối năm đến với thơ tình và xuân của Yến Lan để rung động trước vẻ đẹp của non sông đất nước và tình người cũng là để nhà thơ dắt ta đi qua cuộc hành trình nhân thế với những nét tế vi của cuộc sống.

Đề tài về tình yêu văn học nhân loại “nhiều như sao trên trời, như cát dưới biển” Đặc biệt là thơ mới 1930-1945 luôn choáng ngợp trong mọi cung bậc của tình yêu. Người ta cho rằng “Thơ Yến Lan không nằm ngoài qui luật đó. Nhưng thơ tình Yến Lan với cái riêng trong phong cách đã cho ra đời nhiều bài thơ tuyệt tác.” Đóng góp của ông trong mảng đề tài này là cái chất riêng khó gặp ở phong cách thơ khác cùng thời. Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam” từng đánh giá thơ Yến Lan “có cái không khí là lạ nhưng nhẹ nhàng dễ khiến người ta thích.”
Sắc xuân và tình yêu của linh Lân như những con suối âm thầm chảy cả một đời thơ:

Mây mãi sa đà đình núi cao
Chim say tổ ấm chẳng rời nhau
Nếu không ngọn suối ra sông lớn
Một chút tình quê biết gửi đâu”
                                (Ơn suối)

Thật vậy, nếu tình yêu trong thơ Xuân Diệu được nhận định “Vừa có cái cao khiết của tâm hồn vừa có cái cường tráng lành mạnh của nhục thể” thì tình yêu trong thơ Yến Lan rất chân thật trong cảm xúc bởi được bao phủ lớp sương khói bàng bạc, huyền diệu, thơ mộng. Cảnh vật, con người được ông tả hết sức bình thường nhưng được nhà thơ phủ lên không gian thơ một lớp sương khói của thời gian.

Ai về xóm Cửi năm năm trườc
Đều thấy em ngồi dệt đoạn tơ
Quanh em vàng tựa trời gieo xuống
Vàng ở trong màu xuân lắm thơ
                                               (Vàng)

 Hình ảnh đẹp của cô thôn nữ đang ngồi quay tơ, dệt vải bình thường nhưng hình ảnh bình thường ấy của cuộc sống được nhà thơ vẻ đậm nét huyền diệu. Người đọc được chìm trong không gian vàng huyền hoặc, nhẹ nhàng và thơ mộng
Không biết tự bao giờ, nỗi buồn đã đi vào thơ ca, trải dằng dặc theo cuộc sống nhân loại. Với Nguyễn Du đó là nỗi đau của đời: Trong “Kiều”   

Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng

 Còn nữ sĩ Xuân Hương là nỗi buồn, ngán ngẫm cho duyên phận không trọn vẹn như mong ước (Tự tình)

Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại
Mảnh tình san sẽ tí con con

 Xuân Diệu thì ngẫn ngơ buồn vì cô đơn bơ vơ, ngay trên mảnh đất quê hương

Hôm nay trời nhẹ lên cao
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn

Hàn Mặc Tử thì tái tê:

Thân tàn ma dại đi rồi
Rầu rầu nước mắt bời bời ruột gan
                 (Muôn năm sầu thảm)

 Với tính cách hiền hòa, kín đáo và tế nhị, thơ tình Yến Lan không thể hiện sự đòi hỏi của ham muốn mãnh liệt. Cả với nỗi buồn phải chờ đợi mỏi mòn Yến Lan cũng trải nó ra man mác:

Lầm lũi em đi chẳng nói năng
Vắng em anh cũng thắt buồng gan
Gần nhau hay phải xa nhau mãi
Mặt biển tình ta dải thẳng băng
                            (Cam chịu)

 Tình yêu trong thơ ông dù dang dở, song không phải “Tình chỉ đẹp khi còn dang dở/Đời mất vui khi đã vẹn câu thề” (Hồ Dzếch), bởi cái triết lý rất nhẹ nhàng mà thâm thúy của ông về qui luật cuộc đời:
 Cái triết lý về thời điểm hạnh phúc cứ theo mãi kiếp người, dằn vặt, trăn trở. Cảm nhận về tình yêu thì nhẹ nhàng, trong sáng nhưng lại khắc khoải khôn nguôi

 Em đi, ngày tháng biệt mùi tăm
Kén đã luân sinh mấy kiếp tằm
Một mảnh hồn ta còn đọng mãi
Trên vành nong úa sắc thời gian
(Mùa xuân này lạnh lắm em ơi)

 Viết về tình yêu, Yến Lan thường mượn hình ảnh ẩn dụ “Thuyền và bến”. Đó là hình ảnh trở đi trở lại như một bài ca dao, nhưng thơ Yến Lan vẫn rất mới, mới ở thể thơ, ở cảm hứng thơ. Không hoảng loạn như Hàn Mặc Tử, không đắm say, cuồng nhiệt như Xuân Diệu, không kỳ bí như Chế Lan Viên; Yến Lan cứ nhẹ nhàng, từ tốn, giản dị như cuộc sống. Nhưng cuộc sống vẫn luôn vận động, biến chuyển với cái triết lý riêng của nó. Đó là nỗi buồn về những cuộc tình dang dở, là nỗi khát khao được yêu âm thầm mà mãnh liệt, là niềm tự hào được sống, được là tinh hoa và được liên đới với bao kiếp người:

 Ta đang sống vì có người đã chết
Hồn kết tinh bằng bao nhớ thương xưa
Đời lớn nhanh và mạnh như bẹ dừa
Tôi là cả tinh hoa muôn thế kỷ
Sống phút sống của hàng ngàn thi sĩ
Mơ giờ mơ của bao cửa không gian
Mơ hồn xuân như đã mở thiên đàng
Tôi sống khỏe và hoa hồn độ nở
          (Những giọt bông hường)

 Tình yêu đôi lứa trong thơ Yến Lan không dữ dội, cuồng nhiệt mà đằm thắm, thiết tha lắm!

Vì với tình tôi phải nhẹ nhàng
 Phải là ý ngọc, phải tim vàng
Phải là trọn vẹn, là trong sáng
Là một bài thơ khắc chữ nàng
              (Đồng nội hồn tôi)

 Còn thứ tình nào mảnh liệt hơn thế khi dòng trường giang không còn cuộn sóng và lòng người trở thành một bến đò của dĩ vãng, của ngàn năm đợi:

Em đi bờ bãi cũng theo đi
Sóng lặng trường giang trải phẳng lì
Từ ấy lòng anh làm cố độ
Câu thơ chờ đợi hóa chòm si
                                (Cổ độ)

 Quê hương trong mỗi người là sự mặc định của số phận. Người ta có thể có nhiều vợ, nhiều chồng nhưng quê mỗi người chỉ một mà thôi. Chính vì triết lý rất đời ấy, tình quê của Yến Lan không bao giờ đổi thay, không bao giờ chối bỏ. Sống đời nô lệ, bị áp bức thơ ông thể hiện trạng thái “đau, ngơ ngẩn, sầu muộn, quặn mình, nức nở” đến tái tê trong “Bình Định vào năm 1935”.

Nhánh tòng bá có đau vì xứ sở
Chớ quặn mình thêm nức nở hồn tôi
Không được sống xin cho cùng được thở
Vạn lý tình trong gió ngọt xa xôi

 Bao đời nay, thi sĩ yêu trăng trong thế bị động, vầng trăng là đối tượng để yêu để được say đắm thở than. Không hiểu sao, chỉ riêng Bình Định quê tôi, vầng trăng lại phát ra thứ ánh sáng đến diệu kỳ, lạ lẫm, để các thi sĩ sinh ra trên dải đất này đều bị ám ảnh. Thứ ánh sáng kỳ ảo đó, với Hàn, trăng ở xa đến vậy mà ông đã sở hữu được  để rồi: “Ai mua trăng tôi bán trăng cho” Ông say ánh trăng như ma cà rồng say máu:

Gió rít tầng cao trăng ngã ngữa
Vỡ tan thành vũng đọng vàng khô
Ta nằm trong vũng trăng đêm ấy
Sáng dậy điên cuồng mửa máu ra
                                 (Say trăng)

 Ánh trăng trong thơ Xuân Diệu, thường gợi một không gian rộng đến choáng ngợp như một sự đối lập với nỗi cô đơn, nhỏ bé của con người:

 Trong vườn đêm ấy nhiều trăng quá
Ánh sáng tuôn đầy các lối đi
………
Trăng sáng , trăng xa, trăng rộng quá
Hai người, nhưng chẳng bớt bơ vơ

 Với Yến Lan trăng là chủ động, trăng ấp ủ, nó như chất vi lượng bồi bổ cho cơ thể:

Trăng đi từ tóc đi vào máu
Như sữa tuôn dòng chảy khắp thân
Tôi yêu trăng quá, mê trăng quá
Như má yêu môi, đến đến gần
             (trích) Bệnh trăng

Bởi vì chỉ có mình ông được ánh trăng vây phủ, bao bọc nâng niu vỗ về khi ông vừa lọt lòng mẹ trên bãi cát vàng dưới ánh trăng “Tôi lọt lòng ra giữa bãi trăng.. Từ đó ánh trăng là tình yêu là cội nguồn  Cho nên có hệ lụy là:

Từ thuở lên hai đã yêu trăng
Đã bồng đã ấp, đã nâng niu
Ban ngày tôi ngủ trong lòng mẹ
Lại ngủ trong trăng lúc tắt chiều.
                    (trích) Bệnh trăng

 Yến Lan đã nhẹ nhàng, đỉnh đạt bước vào làng thơ cùng “Bến My Lăng” với hình ảnh ông lái đò u buồn đợi khách trên bến sông đầy trăng huyền ảo, ánh trăng chạy dọc theo thời gian và chiếu sáng lung linh như một nhân chứng lạnh lùng chờ đợi khắc khoải suốt bao năm, mãi đây vẫn còn ám ảnh lòng khách thơ.

Khi dòng thơ mới chiếm lĩnh trên văn đàn, các thi sĩ thi nhau làm thơ tình yêu. Thơ tình Xuân Diệu thật giản đơn và hời hợt “Đố ai định nghĩa được chữ yêu” Không ai trả lời nên ông giải bày tiếp “Có khó gì đâu một buổi chiều/Gặp người con gái ngây thơ ấy/Rồi thương, rồi nhớ thế là yêu” Có lẽ tình yêu quá đơn giản như thế nên cuối cùng cuộc tình của ông không trọn bề.
 Tình yêu đôi lứa mấy ai đong, đo, đếm, diễn tả được, cho dù muôn vạn chiếc máy tính siêu hiện đại. Thời gian, mọi thứ trở nên bất lực nhưng tình yêu trong thơ Yến Lan thì không, nó trở thành vĩnh cữu...

 Dồn lên thành thạch nhũ
Lớp phấn -đá - tình - em
Cuồn cuộn như bão tố
Cơn gió lộng hồn anh
Thời gian vút mủi tên
Em kể gì năm tháng
Tảng thạch nhũ tan ra
Bên gối người sấp mặt
Cơn bảo cũng chan hòa
Con suối tình dào dạt

 Tình yêu của nhà thơ thật giản dị, hạnh phúc khi cuộc sống thanh bình ở một vùng quê, lúc ông cháu dạo chợ ngày Tết cổ truyền khiến ông trở nên tươi trẻ hơn

 Ta đến hàng đồ chơi
Ngựa gỗ chen gà đất
Xem nghệ nhân vẽ vời
Có đậm màu dân tộc
Ta đến hàng sứ, sành
Chọn bình hoa chậu kiểng
Vui còn chú môn sinh
Đem biếu chùm lan biển

Sắc màu mùa xuân, hương vị Tết tràn ngập trong thơ ông mặc dù xuân nhà ông đến muộn hơn:

Vụng sắm cành đào không kịp tết
Ra giêng chợt hé một vài bông
Xuân người lả tả bay đi hết
Ngoảnh lại xuân ta mới chớm hồng .
                                  (Xuân muộn)

 Ngoài sắc xuân, tình đời, tình người nhà thơ không ước mơ gì lớn, ông chỉ chọn cho mình cái quí hơn - đó là tình người :

Mơ một mùa xuân đẹp
Tình đời rộng bao la
Chớ vin nhà chật hẹp
Cổng khép người lại qua

 Thơ tình của Yến Lan thể hiện sự mạnh mẽ, nhưng tha thiết và nồng nàn. Thế mà đến giờ tôi chưa nghe ai nhắc một câu thơ tình nào của ông. Tiếc thật!...

                                                             Lâm Bích Thủy



READ MORE - TÌNH VÀ XUÂN TRONG THƠ TÌNH YẾN LAN – Lâm Bích Thủy

HÀN MẶC TỬ VÀ MAI ĐÌNH - Lâm Bích Thủy




HÀN MẶC TỬ VÀ MAI ĐÌNH
Trích HK “Về người cha thi sĩ”

Chương: Những người bạn của cha.

 Khi còn ở Hà Nội, tôi thường nghe cha ngâm nga “trời hỡi bao giờ tôi chết đi/ bao giờ tôi hết được yêu vì…/ ai đem tôi bỏ xuống hầm sâu…” lời bài thơ sao tội nghiệp, cay đắng làm vậy, tôi tò mò hỏi cụ, và ông kể cho nghe về người công dân số hai của nhóm thi hữu ở đất Bàn Thành thuộc xứ Nẫu…
Sau giải phóng, năm 1988, ba tôi vào Sài Gòn thăm con và bạn thơ. Ông trình ra một tờ giấy  A4 chi chít tên người và địa chỉ những người cần đi thăm trong dịp này.
Rồi, sau khi thăm nữ sĩ Mộng Tuyết phu nhân của nhà thơ Đông Hồ, đến chú Chế Lan Viên, ông Tôn Thất Kham, ông Nguyễn Bá Tín – em Hàn Mặc Tử; ông bảo với con rể “Mai ta sẽ đến thăm cô Mai Đình, bạn gái chú Tử nghe con”.
Nghe đến tên Mai Đình, tôi ngỡ ông đang nhắc tới một huyền thoại, một nhân vật trong chuyện cổ tích ở tận chân trời góc biển nào đó. Ngờ đâu cô chỉ ở cách tôi có hai phường. Cô ở P.25, tôi P.27- Quận Bình Thạnh.
Tính tôi rất tò mò, mỗi khi nghe tên ai dính đến Hàn Mặc Tử, tôi muốn tỏ tường về những người đàn bà của nhà thơ giàu ngôn ngữ tình yêu nhưng nghèo sức sống này lắm.
Sau khi đi thăm cô Mai Đình về, nhìn vẻ tươi rói của ba khiến tôi càng tò mò. Tôi hỏi ngay: “Cô Mai Đình giờ thế nào ba?” Ý tôi muốn biết diện mạo, tính tình hiện nay của cô. Chả là vì, khi xem bản thảo HK “Hàn Mặc Tử anh tôi” của ông Nguyễn Bá Tín – em Hàn Mặc Tử, thì nhân vật cô Mai Đình là một thanh nữ không nhan sắc, không đứng đắn, đơn phương yêu Hàn say đắm nhưng không được đáp lại, còn bị bác Tử không dám nhìn mặt vì quá xấu. Đáp lại sự tò mò của tôi, ông già nói: “Cô già nhưng trông rất trí thức, rất sôi nổi và nhiệt tình ”. Tôi không thích câu trả lời này, nhưng sau đó ông nói tiếp: “Gặp ba, bà  mừng như “cá gặp nước, như rồng gặp mây. Suốt buổi trò chuyện với ba, bà chỉ nhắc tới Hàn. Ba thấy tình cảm của bà đối với Hàn còn nồng nàn lắm… Bà say sưa kể về ông mà không màng đến có người chồng đang ngồi cạnh ba, bà đọc thơ tình viết về Hàn cho ba nghe làm ba ái ngại quá

EM VẪN BÊN ANH

Lần này em đã quyết tâm
Về đây ở một hai năm mới đành
Để em theo dõi bệnh tình
Bữa ăn, giấc ngủ cho anh đỡ sầu…

                                   Mai Đình

Quả thật, gặp ba tôi-người cuối cùng của Bàn Thành  tứ hữu, cô Mai Đình vui lắm, dường như đã thỏa nỗi khát khao được trút hết bầu tâm sự cho người bạn của người mình thương nhớ mà bấy lâu chưa giải bày được với ai cả. Nghe cô Mai Đình nói về tình cảm của mình đối với Hàn Mặc Tử, thành thật mà nói, ba tôi vô cùng cảm phục ở cô điều mà ít ai làm được .
Nghe ba kể lại, tôi cũng bái phục tình cảm của cô đối với bác Hàn. Ối! sao có thứ tình yêu đẹp, thanh cao, thánh thiện đến khó tin như vậy, mà lại thực 100% kia đấy.  Chính những bài thơ này đã bộc lộ hết tình cảm chân thật của bà đạt tới độ chiêm nghiệm đến vô thường . Bà như trải hết lòng mình, như một lời thách thức với văn chương, với bạn bè, và người thân :

TUYÊN BỐ

Tôi chẳng sợ cảnh nghèo hèn đói khó,
Tôi không kiêng thứ da thịt khác người
Vì lòng tôi, tôi chỉ biết yêu thôi
Và thân thể có phải đâu châu ngọc?
Tôi yêu chàng đã khắc sâu vào tim óc,
Tôi thờ chàng như một vị thần linh…
                                          Mai Đình

Từ khi gặp lại nhau, ở quê, ba tôi thường xuyên nhận được thư cô gửi thăm. Những năm cuối ba tôi thường đau yếu cô rất quan tâm đến sức khỏe của ông như cô em đối với người thân còn lại. Lần nào về Qui Nhơn, bận gì bận cô vẫn tìm cách lên thăm ông. Cô còn làm cầu “nối vòng tay lớn” giữa nhà thơ với đồng hương Bình Định. Trong đó có cô Hoa Phương, vợ của nhà thơ Lam Giang. Tiếc thay hai người chưa có dịp hội ngộ: Cô Hoa Phương để lại thư cho ba tôi:
“…Rất tiếc là anh đi vắng. Vì thế tôi không được may mắn làm quen với anh. Tôi tâm nguyện là khi về tới Qui Nhơn sẽ tìm đến thăm anh chị với tất cả tấm lòng quí mến. Thơ anh rất hay, tình anh chị rất đẹp “qua thơ của anh” cho nên tôi ước ao được gặp, thật đáng buồn! Tôi đã già, gần 70 tuổi khó lòng về Qui Nhơn được nữa để thăm anh chị-một nhà thơ vào bậc thầy. Tôi xin phép anh cho tôi được gửi đến tặng anh vài bài thơ mới tập làm. Trước đó cũng có làm chơi một vài bài nhưng chưa gọi là thơ, chưa hiểu gì về luật-mong được anh thương những cô em gái tỉnh nhà yêu thơ-mà đừng cười chê, trái lại xin anh nâng đỡ những cây bút nữ còn rất híếm hoi trong tỉnh nhà để đàn em nó nhờ.
Kính chúc anh chóng bình phục, chị trọn vẹn hạnh phúc bên anh đến giờ chót của cuộc đời.
Thân kính
Qui Nhơn 29/5/1991

                                                                 Lâm Bích Thủy

READ MORE - HÀN MẶC TỬ VÀ MAI ĐÌNH - Lâm Bích Thủy

Tuesday, January 9, 2018

CHỊ GÀ MÁI HOA MƠ CỦA TÔI! - Lâm Bích Thủy


tarnh-ga-mai


CHỊ GÀ MÁI HOA MƠ CỦA TÔI!

Má đi chợ mua về một con gà mái và nói: "Để mai nấu cháo đổi bữa". Ba nhốt tạm nó vào cái lồng tre mượn cô Ba Đen. Con gà đẹp lắm! lông màu trắng, lốm đốm đen, giống như những cánh hoa. Ba gọi nó bằng cái tên nghe thinh thích “chị gà mái hoa mơ”. Tôi khoái vô cùng. Nhưng, nghe ba nhắc lại lời má: "Mai má nấu cháo cho cả nhà ăn một bữa thật đã!". Tôi không thích ý nghĩ của ông bà già tí nào; nghĩ đến việc phải ăn thịt con gà mái đẹp thế này thì  tiếc đứt ruột, tội lắm, thương lắm đa!
    Nhà tôi thời gian này là cơ sở sản xuất xà phòng, cung cấp cho thị trường các huyện trong vùng tự do. Hôm sau, tôi nghe ba, má dậy lục đục rất sớm; tôi dây theo. Tuy chưa nghĩ ra cách giải thoát chị gà, nhưng thấy cơ hội ba thì bưng thúng tro đổ vào lu, má thi gánh nước cho vào chảo; cả hai đang bận túi bụi chuẩn bị cho việc nấu xà phòng. Tôi chạy xuống bếp, trước hết phải “liều mình cứu chị gà mái hoa mơ cái đã, hạ hồi phân giải sau!”. Đầu tiên, tôi mở lồng, thả gà ra để thoát án tử hình trưa nay cái đã.
    Được thả, nó chạy một mạch ra tận dãy rào gai bàn chải, ở trước nhà, như trốn ba tôi vậy. Làm xong việc, má bảo “Nước sôi rồi, anh vào bắt con gà dùm em đi anh!”. Ba tôi xuống nhà bếp nhìn thấy cái lồng trống không, liền kêu lên “Má con Thủy đâu? ai mở lồng cho gà ra mất rồi!”. Ông vừa nói vừa nhìn thấy tôi lấp ló sau cánh cửa, nghi hoặc. Rồi, chắc như đinh đóng cột, bằng câu: “Ai mà trồng khoai đất này!?” Ý nói thẳng ra là chẳng ai ngoài tôi. Tôi đứng thập thò xó cửa, lắm lét nhìn ông già với thái độ dò xét hậu quả đến với mình. Nhưng, hôm đó, hình như có bà tiên phù hộ; ông già không truy xét đến cùng tội tày đình của tôi; chỉ chép miệng tiếc rẻ: “Mất toi con gà mái ghẹ ngon quá!”. Đến chiều, trời nhá nhem tối, cả nhà đều kinh ngạc; chị gà mái hoa mơ đã đứng ngay trước sân, mắt dớn dác tìm kiếm cái gì đó như rất quen thuộc nơi này.
    Thấy tôi lấp ló sau cửa, vẻ sợ sệt, ông già trở nên thân thiện. Ông nói với tôi giọng nhẹ tênh: “Bích con! đi lấy cái lồng thử xem nó có chịu vào không.” Tôi mừng quá, chạy đi lấy cái lồng, đặt ngay nơi má để nó hôm qua, khi mới đem từ chợ về. Quả nhiên, thấy cái lồng, gà liền nhảy lên đứng trên miệng. Một lát, rồi một lát nữa nó chui tọt vào, nằm xuống, đưa đôi mắt lờ đờ bị quáng, ngó quanh; nó tỏ ra hài lòng, lấy cái mỏ rỉa đôi cánh với vẻ mãn nguyện.

   Cứ như thế, ngày lại ngày, tôi liều mình cứu nó. Thế là ý muốn nấu cháo thay bữa của má không thực hiện được, và ba cũng thôi ý nghĩ thịt nó nữa rồi, tôi mừng lắm! 

   Nói thật, từ hồi nào, nhà tôi không có thói quen nuôi bất cứ con gì, ba không thích và cũng ít thời gian! Đấy, hôm nọ, cậu ba Thành cho 2 con chó bụ bẫm, dễ thương lắm, mới bỏ bú mẹ; chỉ qua một đêm ở nhà tôi, nó nhớ mẹ khóc la inh tai nhức óc, làm cả nhà không ngủ được. Tờ mờ sáng, ba dậy, bắt tôi mang trả lại cho cậu; tôi năn nỉ nhưng ông già kiên quyết không cho ở thêm giây phút nào nữa. Tôi tội nghiệp cái phận con chó này mấy hôm liền.
    Con gà mái hoa mơ đã hơn chục ngày mà không nghe ba bảo sao. Vậy là ổn rồi đây! Ba còn tỏ thái độ quan tâm, khen nó nữa chứ: “Con gà này ngoan nết đấy”. Nghe ba khen tôi mừng lắm, điều này chứng tỏ ba cũng có cảm tình với chị gà, nghĩa là đồng ý cho tôi tiếp tục nuôi nó!.. Tất nhiên là nó ngoan rồi, không ị bậy trong nhà, sáng tự ra sân kiếm ăn, nhặt thóc vãi để tự nuôi thân này, chiều tối về tự nhảy vào lồng ngủ này v.v...; nó ngoan lắm nhé!

   Từ khi có con gà trong nhà, hình như ba cũng vui. Ba còn biểu lộ tình cảm đến chị gà mái hoa mơ của tôi một cách thái quá nữa là đằng khác. Ông đi tìm gỗ và tre đóng cho nó cái chuồng đặt một nơi cố định, để hàng ngày tôi khỏi xách lồng ra, vào nữa. Ba đặt chuồng ở gian nhà, nay là nhà bà Chuối-người hàng xóm tốt bụng. Ít lâu sau, mào chị gà đỏ tươi, trông chị càng đẹp ra. Rồi chị bắt đầu kêu “cục cục cục, cục tác”, đó là dấu hiệu đã trưởng thành, đang tìm nơi đẻ trứng. Ba hiểu ý, đi lấy rơm lót vào rổ tre, làm cho nó cái ổ để ngay ở góc  chuồng.
    Thế rồi nó đẻ đúng 10 quả. Tuy so, nhưng khá to và đều, 10 quả như một.  Khi ấp, chị gà  say mê quá quên cả ăn, ngủ làm ba sợ nó đói, nên hai lần trong ngày, ông tự tay bốc nắm gạo, vãi ngay trước cửa chuồng rồi kêu - chúc chúc- gọi nó ra ăn, thưởng cái công cần cù của nó.

   Đúng 28 ngày, 9 gà con chào đời. Nhìn những chú gà mới nở, như 9 nắm bông màu vàng biết cử động; mắt chúng thì tròn xoe, đôi chân thì lùn lùn, tíu tít quanh mẹ; khiến ba tôi cực kỳ thích! Còn gà con thứ mười, làm nũng, chưa chịu ra, mẹ gà bỏ mặc! Ba phải ấp thay, bằng cách lấy bông ủ quanh quả trứng, bỏ vào cái họp thiếc rồi đem phơi nắng; chốc chốc chạy ra trông chừng. Suốt cả buổi sáng, nó vẫn cố ì lại trong vỏ. Cuối cùng, ba phải dùng đến tay, gỡ từng mãnh vỏ dính bết lông để lôi nó ra. Nó quặc quẹo, yếu ớt, tội lắm!... Nhưng cũng chỉ ít sau, nghe tiếng kêu chip chip của các anh chị liền chạy theo ra sân đi tìm cái ăn.

   Rồi, có một khuya, tôi bỗng nghe “cạch, cạch, cạch cà rạch cạch; cạch, cạch, cà rạch cạch” nhịp nhàng như ai đang gãy đờn,…Đêm tối, vắng vẻ, tỉnh lặng nghe thế tôi sợ quá. Tôi nghĩ là có con ma đang ngồi ở đầu tôi gãy đàn. Bà ngoại tôi từng dạy: “Nếu lúc nào gặp ma, con không được la, kẻo nó hút hồn thì chết”. Tôi không dám hé răng, chỉ nhẹ nhàng kéo mền trùm kín đầu. Nhưng tiếng cạch, cạch như tộng vào đầu làm chói cả tai tôi. Tôi lại nghe cả tiếng sột soạt ở trước mặt (sau này tôi mới biết đó là tiếng động được phát ra do lông mi của tôi chạm vào mền). Nỗi sợ của tôi lên tới cực điểm, không thể chịu được nữa, tôi la lên: “Ma! ba, má ơi! có ma trên đầu con!” Tiếng la thất thanh của tôi làm kinh động đến ba má. Hai người nhào ra, hỏi dồn: "Đâu, ở đâu?". Tôi liền một mạch như súng liên thanh: “Đó, đó, nó đang gãy đờn trên đầu con đó...”. Ba tôi lật mền, xem tai, xem đầu nhưng không tìm thấy gì. 

   Nhưng, rõ ràng cái âm thanh kỳ quặc đó cũng lọt đến tai ba. Ông liền đưa ngón trỏ, dí dí ở môi, ra hiệu im lặng. rồi thì thầm: “Trộm đang đào tường nhà mình, má đứng ở đây canh chừng, anh đi lấy đòn gánh, phang què giò nó!” Nói rồi, ba rón rén đi lấy đòn gánh, rón rén sục sạo từng góc nhà, xó xỉnh, song vẫn không tìm ra kẻ trộm đào tường nào cả.
    Tiếng “cạch, cạch cạch cà rạch cạch, vẫn đều đều vang lên giữa đêm khuya một cách vô ý thức. Cuối cùng ba phát hiện ra, chị gà mái hoa mơ đang dùng cái mỏ quệt bộ cánh cứng để rũ bỏ những con mạc đang cắn ngứa chị ta. Ôi trời! thế là một phen hú vía với chị gà mái mà tôi đã liều mình cứu sống!
    Đàn gà lớn nhanh như thổi. Con nào cũng phây phây, trông mà phát thèm! Hễ lúc nào có khách thì ba đem thịt một con. Ba khoe với các chú nhà thơ như Phạm Hổ, Nguyễn Đình, Vương Linh, Tế Hanh v.v: “Ta được ăn thịt gà là nhờ công cháu Bích đấy!” Sau đó, ông kể lại gốc gác của sự hình thành về đàn gà cho các chú nghe. Các chú cười sằng sặc, nhìn tôi bằng đôi mắt triều mến và khen nức nỡ “con Bích nhà Yến Lan giỏi thiệt!”.  Nghe khen, mũi tôi vốn dĩ đã to càng to ra trông thấy!
    Đó là lần đầu cũng là lần cuối, nhà tôi nuôi gà đến hai thế hệ. Con gà cuối cùng của “chị gà mái hoa mơ” kết thúc đời mình vừa đúng lúc gia đình tôi chuẩn bị đi tập kết, sau tết 1955.
    Hồi nhỏ, trước khi đi ngủ ba tôi hay kể chuyện để chúng tôi đi vào giấc ngủ mau hơn. Ông thường lấy những chuyện ngụ ngôn của Pháp hoặc từ chuyện đời thường để giáo giục con nhân cách làm người, và cách đối nhân xử thế v.v...  Trước khi kể, ông giả vờ ngoáy rốn, nói: "Ba phải ngoáy rốn mới có chuyện kể cho các con nghe".

   Để chuẩn bị ăn tết (1955), má sai tôi đi mượn bàn ủi. Ủi xong bà sai Tú Thủy đi trả. Chị em tôi hay so bì nên má phải công bằng chứ. Thay vì trả cho nhà bà A, nó lại trả cho nhà bà B, vì nhà bà B gần hơn, trả cho ai mà chẳng được. Đến tối, bà A sang đòi. Má nói: Tôi đã bảo cháu trả ngay từ sáng rồi mà. Bà A tưởng má tham nên la lối om sòm; người thì “chưa trả”, người thì “trả rồi” Xóm nhỏ trở nên xôn xao vì hai người không ai chịu ai... Ba đang làm thơ, nghe ồn bước ra. Biết là có sự nhầm lẫn nên gọi Tú về hỏi rõ sự tình. Vậy là rõ. Ba nói: nhà ta sai, má Thủy đến nhà chị B xin lại và xin lỗi chị A. Má biết lỗi và nhận, thế là đôi bên lại hòa thuận, vui vẻ. Tình  làng nghĩa xóm hoạn nạn có nhau.
    Chuyện giải hòa với bà hàng xóm tối hôm đó, ba ngoáy rốn kể rằng:
    Một gia đình gà, gồm một gà trống và một gà mái với bốn nhóc gà con (hồi đó tôi mới có 3 em). Mặt trời vừa ló đằng Đông, gà trống thức dậy, gáy “Ò ó o o!” trời sáng rồi, cả nhà dậy đi thôi!. Thế là gà mẹ dậy đưa đàn con ra vườn tìm mồi. Ra tới vườn, gà mẹ luôn miệng nhắc nhở đàn gà con “Cục ta cục tác, không được lười nhác tự kiếm mà ăn”. 

   Suốt cả năm bươi rác, tìm cái ăn, bộ lông gà xù xì , bụi bặm bám đầy. Gà mẹ cũng muốn cho nhà mình bằng chị, bằng em nên sai con sang hàng xóm mượn bàn ủi về ủi cho những bộ lông nhà mình sạch đẹp để ăn tết. Ủi xong, gà mẹ bất cẩn, không dặn dò kỹ lưỡng gà con trả cho ai. Do đó sinh ra có cuộc cải vả, suýt làm mất tình đoàn kết xóm giềng. Gà trống phê bình, gà mái biết phải trái, nặng nhẹ đã vui vẻ nhận lỗi. Trong cuộc sống mà ai cũng biết đúng sai để sửa thì  đời thêm hạnh phúc, các con nhớ lấy lời này nhé.

                                                                  Lâm Bích Thủy

READ MORE - CHỊ GÀ MÁI HOA MƠ CỦA TÔI! - Lâm Bích Thủy

Thursday, November 30, 2017

CUỘC GẶP GỠ ĐỊNH MỆNH GIỮA YẾN LAN VÀ HÀN MẶC TỬ - Hồi ký của Lâm Bích Thủy


   


  CUỘC GẶP GỠ ĐỊNH MỆNH 
        GIỮA YẾN LAN VÀ HÀN MẶC TỬ

Tôi không tin tạo hóa sinh ra trái đất thì đấng thiêng liêng tối cao nào đó định cho  chỗ này là địa linh nhân kiệt, chỗ kia là đất dữ. Nhưng tôi lại tin lời người xưa nói “nếu có duyên với nhau thì sẽ tụ lại”.  Nói đâu xa; đấy chính Bình Định quê tôi là đất của sự tụ nhân, tụ thủy, là địa linh nhân kiệt với danh xưng là “Đất võ trời văn” thật 100% . Được như vậy người Bình Định luôn mang ơn sự đóng góp nhân tài từ các tỉnh bạn như Nghệ An với họ Hồ đã đưa người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ - Quang Trung; quê Hà Tĩnh với duyên kỳ ngộ cha Đàng Ngoài mẹ ở Đàng Trong đã cho quê tôi nhà thơ tình  Xuân Diệu”; và cảm ơn đất Quảng Trị đã đưa đến một Chế Lan Viên với những sáng tạo mới mẻ, hiện đại nhất trong bút pháp". Cảm ơn đất Quảng Bình đã tặng một Hàn Mặc Tử để rồi có cuộc gặp gỡ giữa ba tôi - nhà thơ Yến Lan và Hàn Mặc Tử định mệnh làm nên nhóm thơ “Bàn Thành tứ hữu” đã mang đến những giá trị nhân văn sâu sắc làm rạng danh cho quê hương Bình Định

Cuộc gặp gỡ đó theo lời kể của ba tôi (nhà thơ Yến Lan) như sau:
- Một sáng chủ nhật, khoảng giữa năm 1930, tôi đang chép lại bài thơ mới làm hôm qua, thì nghe tiếng gọi ngoài cổng chính. 
 Tôi nghĩ: chắc là có khách lạ muốn đến thăm đền (vì người quen tất phải biết ngõ phụ luôn mở rộng ở phía Bắc của góc tường thành) Tôi bước ra, nghe tiếng của hai trang nam tử. Biết là người xa đến vãn cảnh, tôi chào, rồi chỉ hướng cho họ vào đền. Khách mặc âu phục sang trọng: Một, hơi lớn tuổi, nói giọng Bắc, rất chỉnh tề trong bộ Tropical, một là thanh niên mặc nguyên bộ tơ De-ligaon, đội mũ Panama. Đang đi, người trẻ tuổi bỗng ngoặc sang phải, lối hàng rào chè, rẽ sang một góc sân. Ở đó có cây lựu lớn đang nở hoa đỏ rực. Anh níu bẻ một nụ rồi tặng cho người bạn đồng hành, miệng đọc câu Kiều:

Ngoài hiên quyên đã gọi hè
Đầu tường lửa lựu lập lè đơm bông

Rõ ràng là những vị khách thuộc loại hào hoa, ít gặp ở đây. Vừa lúc ấy cha tôi bước ra, hướng dẫn họ đến bên tấm bia đá và mở cửa mời vào chính điện. Tôi trở lại tràng kỷ, làm tiếp công việc bỏ dở.  Được một chốc hai người đi xuống. Cha tôi đưa họ vào nghĩa tự, mời ngồi trên tràng kỷ và đưa mắt bảo tôi xuống nhà lấy bộ bình trà bằng sứ chuyên dùng tiếp khách quí. Có lẽ tờ giấy mà tôi còn bỏ ngỏ trên bàn có những dòng chữ và cách trình bày giống dạng một bài thơ đã làm cho người trẻ tuổi chú ý. Anh hỏi tôi:
- Cậu đang chép thơ à? Tôi bẽn lẽn gật đầu:
 - Dạ, vâng.
- Thơ của bác hay thơ của cậu đấy?
- Dạ thơ của tôi. Im lặng một chốc, anh lại hỏi:
- Cậu làm thơ lâu chưa? Đã đăng ở đâu chưa?
- Tôi mới võ vẽ, cũng có bài được đăng báo.
- Cậu lấy bút danh là gì?
- Tôi ký Xuân Khai. Người trẻ tuổi vui hẳn lên, anh cười:- Vậy tôi với cậu là đồng nghiệp với nhau. Xin tự giới thiệu, tôi là Phong Trần, là Hàn Mặc Tử. Anh quay sang người trung niên, vẻ quí trọng: 
- Vị này là nhà văn, tác giả “Kép Tư Bền”, tập truyện ngắn vừa mới xuất bản đang được cả nước hoan nghênh. Tôi thốt lên một tiếng “À” vui vẻ:
- Hóa ra ông là nhà văn Nguyễn Công Hoan. Tôi đã đọc và đã biết nhiều về ông, nhất là trong cuộc bút chiến với báo Phong Hóa, Ngày Nay về tập chuyện dài “Lá ngọc cành vàng “của ông 
  Lúc ấy nhà văn Nguyễn Công Hoan như tự nhiên có thêm những cảm xúc không ngờ. Ông nhìn tôi một cách trìu mến.
 Hàn Mặc Tử thì gật đầu thích thú, anh tiếp lời:
- Nhân đây ông làm một cuộc viễn du từ Bắc vào Nam để tạ lòng ủng hộ của tác giả mà mình hâm mộ. Hôm nay tôi đưa ông lên thăm một vài cảnh đẹp ở đây, rồi sẽ lên Phú Phong, mảnh đất lịch sử của quê ta. Nhân dịp này ta làm quen với nhau vậy. Tôi đang sống với gia đình tại 20 đường Khải Định-Qui Nhơn. Có đi Qui Nhơn mời cậu ghé chơi, chúng ta là đồng nghiệp với nhau mà.
 Chúng tôi gắn bó với nhau từ buổi ấy. Tôi kể chuyện này với Chế. Chế cho biết đã quen với Tử rồi và cũng muốn có dịp nào đó sẽ giới thiệu tôi với anh.
  Sống giữa lòng Bình Định, những chiều hiu hiu nắng quái, tôi và Chế Lan Viên thường lên lầu cửa Đông mà hai đứa tôi gọi là lầu tư tưởng, phóng tầm mắt nhìn bao quát thị trấn, rồi vọng đến những chân trời xa tắp, lòng ngậm ngùi cho mảnh đất quê hương đã trải qua lắm cuộc đổi thay. Có lúc chúng tôi nghĩ xa hơn đến các triều đại của quá khứ, từng nối tiếp nhau đến sự thăng trầm biến thiên của lịch sử, rồi bàn nhau cùng viết về cảnh điêu tàn, những cuộc đời dâu bể. Hoan đi sâu vào sự đau thương, tàn tạ, thịnh vượng, làm sống lại những lễ hội, sinh ca của các hệ tộc quyền quí, rồi binh biến máu lửa thay cho một thuở thanh bình. Tập thơ của Chế, tên “Điêu tàn”.

  Thành Đồ Bàn cũng thôi không nức nở
Trong sương mờ huyền ảo lắng tai nghe

        Từ một làng xa xôi bao tiếng mõ
Tan dần trong im lặng của đồng quê...

   Tập thơ của tôi là “Giếng loạn”. Nghe tôi đôi lần đề cập đến “Giếng loạn” Tử rất muốn xem (lúc này anh đang bệnh). Tôi mang xuống cho anh. Khoảng một tuần sau, Tử đưa trả bản thảo và nói:- Tôi đã xem hết tập thơ rồi. Có một số xúc cảm nên cố làm một bài riêng tặng cậu. Anh lấy ở túi áo ra trao cho tôi và trân trọng nói: - Đây cứ coi như một bài bạt sơ khảo; mà tôi thấy cái nhan đề không ổn. Sao cậu không viết là “Giếng lạng” lại viết là “Giếng loạn”? Tôi đáp: “Có vấn đề về ngôn ngữ tôi muốn thảo luận với anh đấy.” 
  Rồi tôi và Tử bàn nhau hồi lâu, sau cùng thống nhất là “Giếng loạn”. Loạn ở đây là loạn lạc, đầy đủ ý nghĩa hơn, lạng là bỏ hoang. Bài thơ Tử tặng tôi chính là bài “Trăng tự tử” mang dáng dấp của một bài bạt cho cả tập thơ. Tôi đã có chủ ý sẽ in nó vào tập “Giếng loạn” khi xuất bản. Nhưng bản chép tay ấy với cả tập thơ bị thất lạc, lúc đi sơ tán, ngày Pháp mở chiến dịch Át-lăng đánh vào Qui Nhơn. Bản in trên các sách hiện nay là bản lưu từ trong xấp di cảo do anh Quách Tấn giữ.
  Buổi sáng hôm ấy, tôi nhớ dường như sáng 28 Tết âm lịch, năm 1938. Tôi và Chế Lan Viên đến thăm anh. Khi ấy bệnh Tử đã nặng! Mới bước vào cổng nhà, tự dưng tôi có cảm giác căn nhà hiu quạnh quá. Thấy chúng tôi, mẹ Tử bước ra thềm hè, rơm rớm nước mắt:
   -Trí đi rồi các anh à! Cò bót không cho nó ở nhà nữa, vì sợ lây bệnh, bắt phải đưa vào Qui Hòa, Tết nhất đến nơi rồi, nếu đưa nó vào trong ấy thì tội lắm. Nhà cập rập quá, nên lén gửi tạm nó vào trong xóm Động. Các anh có đi thăm thì em Hành đưa đi. Nó vừa chạy đâu đó.

 Đợi lâu không gặp Hành, hai đứa tôi hỏi thăm vào xóm Động. Đấy là cái xóm nhỏ của những người lao động nghèo, nằm trên một bãi cát rộng mênh mông, khoảng khu VI, Qui Nhơn bây giờ. Nhà ở chỉ là những túp lều dựng tạm bợ trên cát, không có nền. Đồ đạc, giường, tủ, bàn, ghế cứ đặt nguyên trên cát. Đường đi vào cũng quanh quất cơ hồ khó tìm ra.
   Chúng tôi vào một cái chòi lợp tranh nhỏ hơn một cái chái bếp. Nóc chòi được chống lên bằng hai cây cột tre. Một tấm phên ngắn dọc theo chiều dài của nóc, ngăn chòi làm hai: nửa trước sinh hoạt bình thường, nửa sau hình như có đặt một chiếc chõng tre với lỉnh kỉnh những thúng mủng..
  Trước tấm phên là cái bàn ọp ẹp, chỉ còn lại một chân trước nối với một khúc củi đẻo từ chảng ba, hai chân sau cột vào hai cọc tre chống mái nhà, Tử đang ở trong ấy (đây là nhà của một phu kéo xe). Nghe tiếng chúng tôi, Tử chậm rãi bước ra, vẻ mệt nhọc:
     - Hai cậu vào tới đây sao…? 
Hoan và tôi ngồi trên ngạch cửa làm bằng một khúc tre, xoay lưng ra ngoài, trò chuyện với anh. Tử gầy, trông hốc hác lắm   Anh không vui như mọi khi.
  Đang nói chuyện thì có bà cụ đem cho anh hai quả keo chín, Tử nhìn hai đứa tôi:- Thứ này mình thích lắm. Mấy năm còn khỏe, mình thường xách ná cao su đi bắn. Có khi đạn rớt vào nhà Tây, mình ba chân bốn cẳng chạy nhanh như sóc. Thế mà bây giờ .!.Anh thở dài.  
  Chúng tôi nói chuyện cho tới giờ tan tầm, thì có một bé trai xách làn cơm vào (chắc là em Hành) Khi cái xách cơm đặt nghiêng nghiêng trên bàn, em lẫn ra phía sau. Tử vẫn giữ cái vẻ thản nhiên, gợi thêm một vài ý nhỏ về thi ca sách vở. Sợ anh mệt và cũng quá giờ chúng tôi đứng lên tạm biệt. Tử nhìn, đôi mắt anh buồn vời vợi
 Sau này, mới biết sau cái Tết ấy, gia đình còn cố giấu anh ở mấy nơi nữa rồi mới vào Qui Hòa.
  Khi Tử mất, mỗi lần nhớ tới anh, tôi lại ngậm ngùi đọc “Những giọt lệ” của anh

Trời hởi! Bao giờ tôi chết đi
Bao giờ tôi hết được yêu vì
Bao giờ mặt nhật tan thành máu
Và khối lòng tôi cứng tựa si?

Họ đã xa rồi khôn níu lại
Lòng thương chưa đã, mến chưa bưa
Người đi, một nửa hồn tôi mất
Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ

Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?
Ai đem tôi bỏ xuống trời sâu
Sao bông phượng nở trong màu huyết
Nhỏ xuông lòng tôi những giọt châu!

Tôi không biết anh viết bài thơ này để nói đến một tình huống nào. Có người bảo là anh viết để than thở về một mối tình trong bao nhiêu mối tình dang dở của mình. Nhưng tôi cứ nghĩ cảm xúc đó bắt nguồn từ buổi sáng hôm ấy, buổi sáng mà tôi và Hoan còn ngồi bên Tử, trong túp lều đơn sơ ở xóm Động… 
  Quả thật tôi không ngờ, lần chia tay ấy là lần vĩnh biệt.
(Theo lời kể của ba tôi)

                                                      Lâm Bích Thủy

READ MORE - CUỘC GẶP GỠ ĐỊNH MỆNH GIỮA YẾN LAN VÀ HÀN MẶC TỬ - Hồi ký của Lâm Bích Thủy