Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Trương Ngọc Bỉnh. Show all posts
Showing posts with label Trương Ngọc Bỉnh. Show all posts

Saturday, February 8, 2025

Chùm thơ Trương Ngọc Bỉnh - THÌ THẦM CÙNG XUÂN | HOÀI VỌNG MỘT THỜI | TÌNH KHÚC VỚI BIỂN

Tác giả Trương Ngọc Bỉnh

.

Thì Thầm Cùng Xuân

.

Em nhẹ tay chạm vào nụ hồng xuân

Xuân đến rồi đi đã bao lần

Em ngỡ rằng xuân đang đứng đợi

Mắt biếc nhớ ai … dáng lặng thầm?

Chào xuân em đứng ngắm nụ hồng

Xuân dần qua … em nuối tiếc tàn đông

Kỷ niệm đong đầy từng sợi nhớ

Chút nắng bừng lên sưởi ấm lòng

Đưa tay em với lấy mùa xuân

Dạo xuân, em khoe áo sắc hồng

Hương thoảng dấu son … vùng ân ái

Nặng nợ, anh vay mái tóc bồng

.

Hoài Vọng Một Thời

.

Trưa hè dừng lại bên sông Truồi

Lững lờ con nước buồn về xuôi

Hương xưa, Nam Phổ cau vào rộ

Trầu xuân, Tế Xuân dạ bồi hồi

Con nước chờ trăng tuần hạ đó

Ước ao chim cá … mấy liền đôi?

Nhớ mong chi nữa … mây về biển

Núi buồn nhòa nhạt … cả một thời.

.

Tình Khúc Với Biển

.

Cơn sóng dập dìu mãi xa đưa

Liếm bờ cát mặn … thoáng ngày xưa

Vai tựa hương tóc, trăng sao lặn

Biển hát câu thề … vọng giấc mơ

Trời biển bao la, ta vẫn chờ

Thương ai đong đếm mấy vần thơ

Như hải âu buồn vương ốc đảo

Dấu lệ nhìn nhau … mắt hoen mờ

Vạt nắng chiều đông mãi nhớ ai?

Tháng ngày mòn mõi, đời khó phai

Cánh én liệng chao … buồn biển mặn

Xót đau cuộc tình … cõi thiên thai.

T.N.B.

 

 

 

 

 

READ MORE - Chùm thơ Trương Ngọc Bỉnh - THÌ THẦM CÙNG XUÂN | HOÀI VỌNG MỘT THỜI | TÌNH KHÚC VỚI BIỂN

Tuesday, January 14, 2025

Trang thơ Trương Ngọc Bỉnh: TÌM LẠI NẼO XƯA | CHIỀU ĐÔNG VỀ HUẾ | NỖI LÒNG

  

Tác giả Trương Ngọc Bỉnh


 Trương Ngọc Bỉnh


TÌM  LẠI NẼO XƯA

 

 

Người về tìm lại nơi phố vắng

Hình bóng ngày xưa, phút ban đầu

Dòng Hương ước nguyện chiều phai nắng

Lỡ nhịp Trường Tiền … trong niềm đau

 

Chợt nhớ quay về nơi gác trọ

Nam Giao dốc đợi … người chờ mong

Thương gót bước … chiều lên Bến Ngự

Thuyền xuôi con nước … bến còn trông.

 

 

 

CHIỀU ĐÔNG VỀ HUẾ

 

 

Cuối đông anh gọi Huế … “Huế ơi!”

Mưa phùn giăng mắc rét theo người

Dòng Hương vẫn lặng lờ sương khói

Cảnh cũ, người xa … thấy bồi hồi

 

Kiệt “Mù U” chẳng thấy tăm hơi

Người đi xa vắng, lạc phương trời

Kỷ niệm dâng trào miền ký ức

Dấu chân lá rụng chợt nhớ người.

 

 

 

NỖI LÒNG

 

 

Hè về xoan rộ đầy cành

Thoảng đưa hương ngát, nắng vàng lung linh

Thương ai cách trở muôn trùng

Phượng rơi tan tác … thấy lòng mình đau.

 

Thu về nỗi nhớ ai hay

Bặt chim tăm cá … Huế sầu bơ vơ!

Thương ai tháng đợi năm chờ

Kẻ đi người ở bến bờ chia xa …

 

   T.N.B.

 

READ MORE - Trang thơ Trương Ngọc Bỉnh: TÌM LẠI NẼO XƯA | CHIỀU ĐÔNG VỀ HUẾ | NỖI LÒNG

Thursday, November 21, 2024

NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG (Kỳ 10) - Trương Ngọc Bỉnh

 

Giáo sư Lê Quang Thái


NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG

Trương Ngọc Bỉnh

Cựu học sinh, Trường Trung học Hải Lăng,

Khóa 5, 1964 - 1968

 

PHẦN 10:

 

Xin được mến mộ gửi gắm mấy dòng cảm nhận về cố giáo sư Lê Quang Thái, một trong những vị giáo sư đã đồng hành cùng trường Trung học Công Lập Hải Lăng từ những năm đầu trường mới hình thành.

    Tôi phải khẳng định chắc nịch rằng “Thầy là một giáo sư đa hệ!”. Ngoài việc giảng dạy bộ môn chính là Việt Văn (gồm 2 phân môn: Cổ văn và Kim văn), Thầy còn “bao lô” các môn khoa học, xã hội và tự nhiên (Lịch sử, Địa lý, Công dân, Toán) ở các lớp đầu cấp. Ở lớp tôi, Thầy cũng đã được phân công dạy mấy giờ “Hán tự nhập môn” đầu năm Đệ thất, nhưng sau đó đã bị loại khỏi chương trình vì không phù hợp với xu thế. Dù học được mấy giờ, nhưng tôi vẫn còn nhớ kỹ phương pháp Thầy hướng dẫn tự viết các nét của Hán tự: nét ngang, nét sổ, nét phải trái, nét chấm, nét mũi mác…

    Thầy sống rất giản dị - phải nói là rất bình dị nhưng không vì thế mà làm giảm đi tác phong, tư cách của một Thầy giáo cả khi lên lớp cũng như lúc sinh hoạt ở nhà trọ. Hiếm khi chúng tôi thấy Thầy mang một đôi giày da tươm tất để lên lớp qua bao mùa mưa nắng như các Thầy trong trường! Sở trường của Thầy là những đôi dép nhựa (sandal) có quai sau, trong suốt như dép Tiền phong (Hải Phòng) sau 1975.

     Rồi mỗi sáng sớm, mỗi giờ học của Thầy, tổ trực nhật phải chuẩn bị một “món quà” trước lớp, đó là bó cành roi dương liễu để hành xử, răn đe các cô cậu nhác, lười soạn bài, không thuộc bài hoặc nghịch ngợm dù khi Thầy ở vị trí giáo sư bộ môn cũng như giáo sư hướng dẫn.

    Những tháng ngày tập tểnh “tân binh” đầu cấp ấy rồi cũng thoáng qua mau… Đến năm lớp Đệ lục, nhân cách dần phát triển, việc tự giác và ý thức học tập được nâng cao, các mối quan hệ Thầy - Trò, bạn bè bắt đầu dè chừng, đi vào chuẩn mực hơn.

    Vốn sinh ra ở vùng quê, lớn lên bước ra trường tỉnh, nên Thầy Lê Quang Thái rất thấu hiểu một cách chân tình cho đám học trò nghèo mà hiếu học của vùng trũng lúa nước của quận Hải Lăng, được đỗ đạt để bước chân vào trường công lập. Với cơm đùm gạo bới, ăn nhờ ở đậu, sáng sớm cuốc bộ hoặc họa hoằn may mắn con nhà hơi khá có xe đạp, đạp từ các làng xã cách xa >15<cây số để mong kiếm con chữ cho cái thân mai sau. Mặc cho mưa rét, nắng gió, bão lũ …, thách thức cũng như cuộc chiến xảy ra ngày càng ác liệt trên quê hương.

    Thầy Lê Quang Thái không chỉ là một tấm gương sáng về phong cách sống: giản dị, thực tế, thẳng thắn, tôn trọng sự thật mà còn là một tấm gương tự học, tự nghiên cứu cho các thế hệ học sinh chúng tôi noi theo.

    Thầy có trí nhớ phải nói là vượt trội như một quyển từ điển sống để nghe lại và “tra cứu” về nhiều nhân vật, biến cố lịch sử; xâu chuỗi có hệ thống lô gích về ngày tháng, niên đại, địa điểm… mà Thầy đã chứng kiến. Những sự kiện này đã cuốn hút tôi vào chuyện kể của Thầy! Tôi nghĩ không còn ai ngoài tầm kiến thức uyên bác như Thầy để mà tranh thủ “tham khảo”!.

    “Thầy như con tằm mãi miết nhả tơ, dệt nên những tấm lụa đẹp và hữu ích cho đời. Thầy luôn tôn trọng sự thật, mang tính nhân văn, không hề có thiên kiến, ác ý với cá nhân nào!” (Điếu văn Ban liên lạc Nguyễn Hoàng - Quảng Trị tại Sài Gòn ngày 28-10-2020, trước lúc gia đình di quan Thầy về với đất Huế.)

    Sau khi lần lượt tốt nghiệp, rời các cấp trường học: Trung học Hải Lăng, Trung học Nguyễn Hoàng (Quảng Trị), tôi lại có duyên gặp lại Thầy cũ: Thầy Lê Quang Thái- là giáo sư được Bộ giáo dục bổ nhiệm giảng dạy bộ môn giáo dục cộng đồng của khóa 2, cuối cấp năm học 1971-1972 của chúng tôi tại trường Sư phạm Huế.

    Chúng tối đã tìm tòi và đọc được lời tựa của Tiến sĩ Trần Đức Anh Sơn, người đã được phép dầy công tập hợp những bài biên khảo, nghiên cứu Thầy Lê Quang Thái để ấn bản tập sách: “Khảo luận về miền Thuận – Hóa”, trong đó có những lời giới thiệu về Thầy: “Từng giảng dạy tại trường Trung học Nguyễn Hoàng (Quảng Trị), Trường PTTH Hai Bà Trưng (Huế)” thì bản thân tôi làm gì có được những cảm xúc và kỷ niệm sâu lắng về Thầy! Sau ngày 30/04/1975 và đất nước đã hòa bình thống nhất, nhưng Thầy trò chúng tôi tan tác lạc đàn như sau cơn bão giông, chồng chất những lo toan và khó khăn trong cuộc sống. Đây cũng là điều hiển nhiên của một đất nước vừa trải qua cuộc chiến ý thức hệ: giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước!

    Bẵng đi một thời gian sau 1975, Thầy không tiếp tục sự nghiệp dạy học phổ thông nữa mà chuyển sang một ngã rẽ mới: viết báo, nghiên cứu lịch sử Việt Nam và Phật giáo. Thầy đã từng cộng tác với các tạp chí Cửa việt, Giác ngộ, Sông Hương, Trung tâm Văn hóa Liễu Quán tại Huế. Ngoài những công việc nêu trên, Thầy được mời thỉnh giảng tại Trường Trung cấp Phật học Thừa Thiên Huế và được Giáo hội Phật giáoThừa Thiên Huế ủy nhiệm việc nghiên cứu về lịch sử và sự phát triển của Phật giáo miền Trung.

    Có ai hiểu thấu tâm trạng những ngày giao thời giữa 2 chế độ mà những vị giáo sư, tiến sĩ, cao học … của chế độ cũ đã ra “đầu phố, cuối chợ” để kiếm sống qua ngày: sửa, vá, bơm xe đạp, đạp xe ôm hoặc bươn chải với chiếc xe đạp cà tàng, thầm lặng đi giao hàng tận hang cùng ngõ hẽm của thành phố. Trong lúc thấp thỏm chờ thanh lọc, học tập đường lối chính sách để ước mong được xét lưu dung, lưu dụng, được hội nhập vào luồng gió mới, góp phần còn lại của năng lực trí tuệ đối với đất nước.

    Hồi còn học với Thầy Lê Quang Thái ở Trung học Hải Lăng, có năm Thầy phụ trách giáo sư hướng dẫn, khi biết Thầy không có giờ dạy, chúng tôi “Top 5 của lớp” thường đến nhà trọ của Thầy - đối diện hơi chếch với UBHC xã Hải Thọ (trước 1968). Khoảng cách giữa Thầy và chúng tôi được rút ngắn, Thầy trò lại thấm hiểu nhau hơn, gắn bó sâu đậu. Những câu nói mộc mạc chơn chất động viên của Thầy từ ngày ấy đã gieo niềm tin vào lứa tuổi học trò của chúng tôi: “Khi đứng trước đám đông thuyết trình thì xem họ ở dưới như đất cày!"

    Tôi còn nhớ vào hồi hình như lớp Đệ lục với Thầy. Thầy đã giao cho tổ 2 của tôi thuyết trình đề tài cổ văn, bài “Tú Uyên và Giáng kiều”. Tôi là thuyết trình viên, bạn Phan Khắc Vỵ - tổ trưởng chủ trì. Cả 2 lên ngồi ở vị trí bàn giáo viên. Thầy Thái ngồi ở dưới lớp làm cố vấn. Cả lớp theo dõi và đặt vấn đề, thuyết trình viên cùng chủ trì giải đáp. Thầy bổ sung, mở rộng và đúc kết bài học. Ngày ấy mà Thầy đã có những sáng tạo về phương pháp, phá rào lối dạy từ chương “Thầy giảng, trò chép”.

    Qua các giờ thuyết trình, lớp học chuẩn bị trước bài học chu đáo, lớp hoạt động sôi nổi, kiến thức được khắc sâu, học sinh mạnh dạn xây đựng bài học.

    Hằng năm, mùa Vu Lan hiếu hạnh lại trở về. Tôi chạnh lòng nhớ đến một bài thơ ca ngợi tình mẹ, tình mẫu tử hơn cả trăm ngàn lần bài học đạo đức, luân lý. Xin được trích đăng mấy khổ trong bài Khói Trắng của nhà thơ Kiên Giang mà Thầy Thái đã gieo vào tâm hồn chúng tôi ngày ấy:

 

    “Hương cau thơm phức ngôi sao mẹ
    Thơm ngát mái nhà, thơm áo cơm
    Con thở trong mùi thơm bát ngát
    Thịt da mái tóc quyện mùi thơm

    Nước mắt chảy xuôi ... tình mẫu tử
    Chảy theo nước mắt cuộn mồ hôi
    Mẹ đem cái chết làm nên sống
    Nước mắt một dòng ... vẫn chảy xuôi

    Ngày xửa ngày xưa thời trẻ dại
    Con đau rên siết mẹ sầu lo
    Bán đôi bông cưới mua thang thuốc
    Mua bánh tai heo, giấy học trò

    Đêm nào con khóc đòi ru ngủ
    Mẹ thức mỏi mòn: nhịp võng đưa
    Thân lạnh nằm khoanh lòng mẹ ấm
    Mẹ ơi ! Con lớn giữa niềm ru

    Nhớ ngày mẹ ốm nằm trong xó
    Chiếu lạnh ủ không ấm vóc gầy
    Đau đớn ... không hề rên siết khẽ
    Sợ con nghe tiếng mà buồn lây

    Nói làm sao hết mẹ hiền ơi !
    Công đức niềm đau lẫn tiếng cười
    Mẹ lấy bụi đời làm phấn sáp
    Che dù trời nắng, đội mưa rơi

    Nhớ mùa cau trổ trong vườn cũ
    Mẹ quét lá vàng ủ lấy phân
    Khói trắng lên trời như tóc bạc
    Con ngỡ khói tóc quyện mây Tần.”

    …………………………………

    Sau 20 năm thuyên chuyển công tác và định cư cuối dãi đất miền Trung, Trung bộ, tôi mới trở về thăm quê (1981 – 2001). Thời gian cũng khá dài, cuộc sống nơi xứ người rất khó khăn. Nỗi nhớ quê, nhớ người thân ... có thể ví bằng nỗi nhớ của các cụ ra đi tập kết sau Hiệp định Genève 1954 và mãi mùa xuân 1975 mới hồi kết vào thăm quê hương. Những cuộc gặp gỡ rồi chia tay giữa người xa quê với bạn bè đã để lại nhiều kỷ niệm khó phai. Đặc biệt là đêm hội ngộ bè bạn Hải Lăng tại nhà bạn Dương Thí (Thi) ở phe Nhất, Diên Sanh. Đêm đó có cả Phước (Đà Nẵng), Thị Mỹ, Ngọc, Thanh, Gái …

    Do xa quê quá lâu, từ lúc chuyển công tác vào Nam (1981), bạn bè chẳng có tin tức về tôi, qua 20 năm mới về quê. Bích Ngọc lại tâm sự: “Tụi tau tưởng mi đã chết nên lập bàn thờ mỗi lần họp mặt!” (để nói về tôi)... Đêm dài nhưng tâm sự tình cảm vẫn không vơi để rồi sáng hôm sau, các bạn thổ địa bố trí xe máy vòng vèo lên thị trấn Hải Lăng ăn cháo vạc giường, rồi trở về Trung Đơn (Hải Thành) để thăm giáo sư Hoàng Thị Chanh. Cô giáo cũ Anh văn, Vạn vật của trường Trung học Hải Lăng.

    Trên đường về Phú Lộc (quê ngoại của các con tôi), ngang qua Huế, tôi đã nhớ như in số nhà 11/9 phố Nguyễn Trường Tộ, Tp.Huế để ghé thăm thầy Lê Quang Thái và cô Lê Thị Tránh. Qua vấn an sức khỏe thầy cô, Thầy bỗng dưng đi lên gác và đem xuống một quyển tạp chí Sông Hương để tặng tôi với mấy dòng chữ ngay đầu bài viết của Thầy: “Bể dâu mà không bể đâu anh!” Bút tích của Thầy và tạp chí vẫn còn đây mà Thầy đã đi xa 4 năm thật rồi” (27/10/2020 – 27/10/2024)

    Thầy ghi: Thân tặng

    Anh chị Trương Ngọc Bỉnh

    Và các cháu – để nhớ mãi chất Quảng Trị

    17/07/01

    (Ký tên)

    (Tạp chí Sông Hương số 149-7-2001), trang 9.)

    Qua bài này, tôi (người viết) đề nghị Tiến sĩ Trần Đức Anh Sơn đính chính lại đề bài như ý của Thầy chứ không phải “Bể dâu mà không dâu bể đâu anh” mà Tiến sĩ đã giới thiệu ở cuối chủ đề 2 “Di tích – Danh nhân”.

    Ngoài ra, đã có một số ngày tháng, niên đại … chưa chính xác do in ấn hoặc những lý do nào khác.

    Công trình nghiên cứu, biên khảo của Thầy Lê Quang Thái được Tiến sĩ Anh Sơn sưu tập đã thắp lên một ngọn đuốc, góp một bông hoa thơm ngát trong dòng chảy văn học - văn học sử của nền văn học Việt Nam thế kỷ 21 và cho lớp lớp hậu thế học hỏi, tham khảo.

 

    Kính cẩn thắp một nén hương lòng dâng lên Thầy Lê Quang Thái đã yên nghĩ nghìn thu trên đất thần kinh.

 

    Ngày tri ân: 20-11-2024.

    Trương Ngọc Bỉnh

READ MORE - NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG (Kỳ 10) - Trương Ngọc Bỉnh

Tuesday, July 30, 2024

NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG (9) _ Trương Ngọc Bỉnh

  


NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC 

VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG  (9)

Trương Ngọc Bỉnh, Cựu học sinh Trường Trung học Hải Lăng, Khóa 5, 1964 -1968.

               

Phần  9

Một nữ giáo sư giảng dạy môn Vạn vật và Anh văn bậc Trung học Đệ nhất cấp. Cô có "body" cao ráo, cân đối  và thật đẹp.  Khuôn mặt Cô trắng sáng, căng như trứng gà bóc ... và càng ửng hồng, bừng lên mỗi khi Cô nổi cơn thịnh nộ, cùng lúc giương đôi mày lên cao... Qua cơn sóng gió, vẻ mặt Cô trở lại tươi sáng, phơn phớt nhạt hồng, hiền như "Ma Soeur ", cuốn hút học sinh vào lời giảng. Thế mà trong tiết dạy của Cô, đã có "Ngựa chứng..." tung cát bụi!

   Một thời đã xa, không biết có còn đọng lại một vài ký ức trong Cô vào những năm đầu chân ướt chân ráo vào nghề dạy học? Cô bây giờ đang ở bên kia "thiên đường tự do ", xa tít nữa vòng trái đất, thời gian vụt qua hơn nữa thế kỷ rồi!  Cô Phan Thị Lan, dạy  môn Vạn vật, lớp Đệ lục chúng tôi năm học 1965 - 1966.

     Có ai trong lớp mình (lớp Đệ tứ, Khóa 5) còn  nhớ chuyện bây giờ mới kể, xin bật mí lại rằng:

     Hồi đó, Cô Lan đang giảng bài “Con nhện” (Phần đời sống và tập tính), Cô dừng lại, đưa ra câu hỏi cho cả lớp: -"Vì sao nhện mẹ ôm bọc trứng dưới ngực và bụng của nó " Dưới lớp im re, không một tiếng động! Thuở ấy, tôi có vóc hình thấp và nhỏ con nên ngồi bàn trên cùng, đối diện với bàn giáo viên. Tôi cúi đầu hơi thấp xuống gầm bàn, hớn hở nhìn lui mấy bạn nữ ở bàn sau: Gái, Thể, Mỹ, Thị Bình, Diên... và cả lớp. Chẳng có mống tay nào đưa  lên xin trả lời! Theo ý tôi đoán biết, nghĩ thầm : Nhện mẹ thao tác như vậy để bọc trứng của nó nhận lấy thân nhiệt từ nhện mẹ mà nở ra theo chu kỳ, tựa như con gà mái ấp ổ trứng. Tôi vội vàng nói nhỏ với các bạn  nữ ở bàn sau: - "Ê! Bây đừng cười nghe , để tau trả lời." Tôi đưa tay và được phép trả lời: - "Thưa Cô, do cái chôống hắn rứa!" Cả lớp phá lên cười, xé tan sự im lặng trong mấy giây lát vừa qua, (chôống = giống, giống nòi, thuộc về phương ngữ ...như rựa= rạ, đầu gối= trốôc cúi, rỗ = đúa v.v...). Cô im lặng, đỏ mặt, nhìn trân tráo vào tôi, tỏ vẻ tức giận nhưng không có phản ứng lộ vẻ ra ngoài! Giây phút căng thẳng của lớp qua mau. Cô lấy lại bình tĩnh, giải thích đúng như điều tôi suy nghĩ và thêm ý: để bảo vệ, tránh các kẻ thù (thiên  địch) tấn công bọc trứng làm mồi! Tiết dạy rồi cũng nhẹ nhàng, từ từ trôi qua như những áng mây trắng mùa Hạ bên khung cửa sổ, tan nhanh vào bầu trời cao trong xanh vời vợi ...

   Cả lớp nghỉ chuyển tiết tại chỗ. Tôi quay lại nói với các bạn nữ: - "Lần sau, tau dám chắc bị truy bài cũ rồi bây ơi! " Tôi về nhà "gạo bài" tiết vừa học thật trôi chảy, vì nghĩ rằng tiết tới của Cô, mình như một tội phạm, sẽ đứng trước "vành móng ngựa!"

   Thời gian như lao nhanh hơn, giờ dạy của Cô với lớp rồi cũng sẽ đến. Sau thủ tục chào đón Cô vào lớp , Cô Lan đảo quanh nhìn một vòng bao quát lớp và chắc chắn kiểm tra sự hiện diện của tôi - học sinh có "sự cố" tiết trước, hôm nay có nghỉ học? Cô đến bên bàn giáo viên, đặt cái túi xách bằng da lên bàn, bắt đầu tiết dạy. Tên tôi có chữ cái B, chỉ xếp sau hai bạn Hoàng Thanh Bình và Lê Thị Bình. Xin mở ngoặc, tản mạn đôi dòng với những người bạn đã để lại ấn tượng khó phai của những ngày đầu bước vào đầu cấp học. Năm học lớp Đệ thất có bạn Phạm Hữu Ân, được xếp tên đầu sổ gọi tên và ghi điểm (theo Alphabet ), nhưng khoảng chừng một -hai tháng, bạn Ân cùng các bạn Lý  Ái Dung, Lê Đình Do, Nguyễn Thanh Sơn (cùng có gia đình ở Thị xã Quảng Trị ), lần lượt, lác đác chuyển về Trường Nguyễn Hoàng, Thị xã Q.Trị; còn bạn Nguyễn Ngọc Giàu (ở Tp Huế) chuyển về Huế - tất nhiên là vào Trường công lập! Hiện nay, bạn Ái Dung, Đình Do  đã định cư ở đất nước "Cờ hoa", còn các bạn Ân, Sơn và Giàu thì mịt mù "cà cưỡng". Sau khi "bẻ càng cua", các bạn ấy cũng thật "chịu thương , chịu khó" từ Thị xã Q.Trị vào - ra Hải  Lăng bằng xe đò, trong chiến tranh, đường sá bom mìn ... Trong số các bạn ở Thị xã Q.Trị , có bạn Sơn nói tiếng Bắc đặc ròng! Bạn thường mang theo cơm trưa, thức ăn của Sơn "trội hơn "  -món lạp xưởng! Chúng tôi thường ngồi ăn cơm nắm buổi trưa trên bàn học sinh và cùng trao đổi thức ăn với nhau bằng những đôi đũa  yếu ớt  của cành dương liễu vừa bóc sạch vỏ tươi từ phía sau trường. Các bạn Ân, Do và Dung thì không  thấy bóng dáng ăn cơm trưa tại lớp học. Bạn Giàu trọ học, ăn cơm tháng, nhà của Nguyễn Ngọc Dũng , cựu học sinh Khóa 6, ở Phe Nhất , xã Hải Thọ. Kể ra năm người bạn của lớp tôi vừa nói, cũng thật dũng cảm: trường nhà không "chọi" mà  chọi  trường xa? Các bạn lặng lẽ ra đi mà không một lời giã từ bè bạn! Có ai đó đem lòng quay quắt mà níu kéo đóa hồng Ái Dung, nổi trội, ấn tượng... họa may ở lại cho hết năm học... hết cấp không ? Buổi sáng, chúng tôi vào lớp , nhìn thấy chỗ ngồi lần lượt trống vắng từng bạn được nhắc tên ở trên... cho đến lúc không còn ai đi thêm nữa! Các bạn  đến và đi  như một hiện tượng đặc biệt, đã để lại trong lớp những dấu hỏi  và lưu luyến khó phai!

   Trở lại tiết dạy của Cô Lan, tôi được ưu tiên  đánh dấu vào sổ điểm và lên trả bài cũ! Các Cụ đã từng dạy: " Tri kỷ, tri bỉ - bách chiến, bách thắng ". Tôi đã đoán trước , có sự chuẩn bị, phòng thủ nên tôi đã tự tin và mạnh dạn mang vở bộ môn lên và trao cho Cô để chuẩn bị  trả lời. Cô "xoáy" hai câu hỏi. Tôi trả lời được nhưng chưa hoàn hảo mấy! Dưới lớp, lúc đó cũng hồi hộp theo dõi tôi ... và tôi cũng đọc được ý nghĩ của lớp: Tiết trước, trả lời hài hước, làm Cô giận, nay bị Cô truy bài. Cuối cùng,  Cô "phán" ngắn gọn và khô khốc "13 điểm" (nay = 6.5 điểm). Tôi nhận lại vở, cám ơn Cô và về chỗ ngồi ...

   Chuyện kể về bài học thứ hai, gần 60 năm trước, cũng môn Vạn vật với Cô Lan - lớp Đệ ngũ (nay lớp 8) vào năm học 1966 - 1967 như sau:

   Trong bài giảng : "Bắp thịt nhị phúc"  có hai tiết, tiết 1 đã qua , tôi chuẩn bị bài thật kỹ, kể cả phần hình vẽ theo nội dung đã học, nắm vững các vị trí có bắp thịt nhị phúc trên cơ thể con  người, mà Cô đã dẫn chứng bài trước. Do tính hiếu kỳ, muốn tìm hiểu để nắm thêm kiến thức bài thực tế hơn, tôi đã xin phép Cô đặt câu hỏi: -"Thưa Cô , ngoài các vị trí bắp thịt nhị phúc trên cơ thể người mà Cô đã dẫn chứng , vậy còn chỗ nào khác có bắp thịt nhị phúc nữa không? " Lúc này, Cô đứng nhìn cả lớp, có ý đưa ra câu hỏi, hỏi đố để nhờ cả lớp trả lời, để rồi Cô bổ sung, điều chĩnh! Chẳng có cánh tay nào đưa lên xin trả lời! Sau đặt câu hỏi, tôi vẫn  lớ ngớ đứng tại chỗ vì Cô chưa cho phép ngồi! Cô quay sang hỏi tiếp tôi: - "Vậy thì theo em, em có biết  nơi nào còn lại  ...có bắp thịt nhị phúc? " Lúc này,  cả lớp cũng lo cho tôi , có suy đoán là tôi thách thức Cô hoặc câu trả lời của tôi là một dẫn chứng hàm ý không trong sáng , có tính khôi hài, chọc cười cho cả lớp ... Tôi đáp lại câu hỏi của Cô với sự tự tin và trong sáng, không như các bạn suy đoán nghi ngờ từ một phía và có thể không tích cực của Cô! Tôi dẫn  chứng : Bắp thịt ở cằm và gót chân ... Vậy mà sau đó, bản thân tôi cũng áy náy, ví như làm phật lòng Cô giáo. Tôi quay lại bàn sau nói với các bạn nữ những ý nghĩ  như tôi đã kể về bài Con nhện đã học ở lớp Đệ lục, với Cô Lan. Quả đúng, tiết sau tôi đã bị truy bài cũ! Tôi nhận được con điểm 9 (=4.5 điểm bây giờ!) Bài mới , cả lớp im re, ngồi ngậm tăm, buồn như đám ma , chẳng ai khua mép... mà cố gắng,  "say sưa " nuốt những lời Cô truyền thụ ...

   Vậy là hai năm học được thọ giáo  với Cô Lan, Cô và trò như những người  có "oan gia trái chủ". Bên trời đất nước "Cờ hoa", mong Cô bao dung và nhận nơi đây tấm lòng xin thứ lỗi muộn màng của học trò cũ ngày xưa ...

                        (Còn tiếp )

READ MORE - NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG (9) _ Trương Ngọc Bỉnh

Wednesday, October 25, 2023

NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG (8) - Trương Ngọc Bỉnh

Tác giả Trương Ngọc Bỉnh


NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG

Trương Ngọc Bỉnh, Cựu học sinh Trung học Công Lập Hải Lăng, 

Khóa 5, 1964 - 1968


Phần 8 

Trong lần họp mặt Cựu học sinh Trung học Công lập Hải Lăng ngày 11 /6 / 2016 tại Trường Tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai, thị trấn Ngải Giao, tôi thấy Ban Tổ Chức còn bỏ sót xướng danh Giáo sư Phan Văn Trà (trong danh sách các Giáo sư đã giảng dạy tại Trường Trung học C L Hải Lăng trước 1975).

Thầy Phan Văn Trà đã giảng dạy môn Việt văn, lớp Đệ Tứ chúng tôi - năm cuối cấp, ra trường.

Dáng người Thầy Trà cao như Thầy Dự. Thầy có mái tóc bồng bềnh, có vẻ nghệ sỹ! Những người có năng khiếu về văn chương thường có tâm hồn rất phong phú... và còn có chút lãng mạn "đeo bám" để thổi hồn vào nghệ thuật!

Cho đến bây giờ tôi vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng cho chính bản thân và cứ băn khoăn, hoài nghi về cánh tay trái của Thầy Trà bị mất đi! Có phải Thầy bị động viên vào lính rồi bị thương hay do một tai nạn nào đó mà Thầy đã mất đi một phần thân thể rồi trở về, tiếp tục gắn bó với bục giảng, bụi phấn? Thầy giảng bài rất say sưa, đến nội dung, đoạn nào của một tác giả đều có thơ tuôn chảy dẫn chứng như cuốn hút, mời gọi học sinh những tiết văn học cổ qua những tác phẩm thơ ca của Chu Thần, Uy Viễn Tướng Công, Tam nguyên Yên Đỗ ...hay đại thi hào Nguyễn Du ... Những vần thơ lưu bút mà chúng tôi tập tểnh gieo hồn đã mang nhiều sắc thái đậm đà, tình tứ ảnh hưởng ý tưởng của các thầy,cô dạy Việt văn!

Mỗi lần tan trường, Thầy Trà cưỡi chiếc Honda SS 50 đời 67 cùng đi với Thầy Lợi, Thầy Minh, Thầy Khán... Chiếc xe của Thầy Trà được thiết kế cần kéo - đẩy "Âm- ma - za" gần với tay ga - tay phải, nên việc vô số dễ dàng.

Không biết Thầy Phan Văn Trà hiện nay ở đâu, còn sống hay đã mất? Những lời phê của Thầy (Giáo sư môn Việt văn) trong thành tích biểu về mặt học lực và hạnh kiểm của tôi ở lớp cuối cấp đã thôi thúc bản thân vượt qua nhiều trở ngại về sức khỏe, hoàn cảnh thời cuộc để hoàn thiện con đường học vấn và nghề nghiệp để tiến thân cùng bạn bè …

(Còn tiếp.)

Trương Ngọc Bỉnh

READ MORE - NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG (8) - Trương Ngọc Bỉnh

Thursday, October 19, 2023

NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG (7) - Trương Ngọc Bỉnh



Những mãnh ghép ký ức 

về một ngôi trường


Trương Ngọc Bỉnh, Cựu học sinh 

Trường Trung học Công lập Hải Lăng, 

Khóa 5, 1964 - 1968


Phần 7 

Đồng hành cùng quý Thầy giáo còn có ba Cô giáo (Giáo sư): Lê Thị Tránh, Phan Thị Lan và Hoàng Thị Chanh. Mỗi Cô giáo là một đóa hồng tươi, tô điểm thêm cho đội hình của Trường! Ba Cô vẫn tràn đầy nhiệt huyết của tuổi thanh xuân khi bước vào nghề, vào Trường.


Cô giáo Lê Thị Tránh



Cô Lê Thị Tránh dạy môn chủ lực của lớp cuối cấp chúng tôi là Anh văn (và Nữ công gia chánh dành cho các bạn nữ sinh). Tôi nhớ áng chừng Cô Tránh đã theo lớp chúng tôi liền mấy năm học, cho đến khi chúng tôi tốt nghiệp, ra trường - qua các Giáo trình: L'Anglais Vivant, được mấy tiết sau đó chuyển qua Let's Learn English và Lớp Đệ Tứ thì học English for Today - Book Three.

Thuở ấy, nhà Cô Tránh ở mặt tiền đường phố Trần Hưng Đạo (hiện nay chỗ đó là Chợ Quảng Trị), con phố chính của trung tâm Thị xã - là một cửa hiệu lớn, nhìn lướt vào, ngoài các mặt hàng tạp hóa ... nổi bật nhất là hai hũ rượu thuốc rất bự, màu cánh gián!

Những năm chiến sự nổ ra ác liệt. đoạn đường từ Ngả ba Long Hưng vào Dốc Quán Dê (Q.Lộ 1 cũ ) thường hay bị các Chú Bộ đội chôn mìn để đánh xe quân sự Mỹ và vè xe của lính Việt Nam Cộng Hòa. Cứ mỗi buổi sáng tinh mơ thường có toán lính Mỹ đi bộ theo sau hai lính Mỹ cầm hai cái bàn rà mìn có cán dài vừa tầm, huơ huơ gần sát mặt đường. Mỗi người lính đi một nửa mặt đường để rà tìm mìn chống chiến xa, mở đường cho các đoàn công-voa (tiếng Pháp: convoi, tiếng Anh: convoy = đoàn xe quân sự) ra các căn cứ Mỹ ở Ái Tử, Khe Sanh, Tà Cơn, Làng Vây ...

Trong mấy năm học, trên đường đạp xe đến trường, tôi đã tận mắt thấy một xe Mỹ đổ kềnh bên vệ đường, cháy sém còn trơ khung sườn xe biến dạng... quân trang, quân dụng vung vãi, nổi lềnh bềnh hai bên ruộng vào mùa lụt! Dân - thanh niên nam nữ ... nói chung tất cả "trớng mén" đều chạy đến chỗ xe Mỹ bị dính mìn có cột khói lên cao vừa tỏa ra! Vị trí xẩy ra là Cống Lấp (Q.Lộ 1 cũ), đoạn giữa Thôn Mỵ và Thôn Hậu.Từ xóm nhà của hai anh em Ông Cừ, Ông Khâm (Thôn Hậu), dân chạy vào gần hơn! (non non 1,2 km). Phía "bầu đoàn thê tử" của Xóm Quán và Xóm Trằm, Thôn Mỵ - xa hơn cỡ 1,5 km! Họ đến nơi thì mấy chiếc trực thăng đã quay đầu, lên cao, tiếng xoành xoạch nhỏ dần, theo hướng Căn cứ Phú Bài, Huế rồi, chẳng ai biết Mỹ chết, bị thương bao nhiêu! Đoàn Công - voa thì vẫn chạy ra hướng Quảng Trị. Dân chúng có được một bữa "bắt hôi" đồ Mỹ thú vị, ngoạn mục! Trông toàn cảnh như Chợ nổi Cái Răng - mà không có thuyền - chỉ thấy người ta ngụp lặn, mò vật dụng; kẻ thì lấy cây, gậy để xăm dò xách quân trang đẫm nước, chìm giữa ruộng ngập. Chưa ai gặp xác Mỹ chết chìm còn sót lại cả. Hú hồn hú vía! Trên đường lộ, nơi cao ráo, kẻ có người thân vớt được xách quân trang, mở ra "kiểm hàng" phá lên cười khi gặp được đồ xịn: Máy ảnh Canon, Minolta, radio, cassette, chăn bông, túi ngủ, nệm cao su, áo ấm...

Các Cô giáo đã từ giã xe đò của hai nhà xe nối liền thị xã Quảng Trị và phố chợ Diên Sanh - là Ông Chương: Bác tài có đôi má "lúm đồng tiền" sâu hoắm, móm mém!

Bác lái rất cẩn thận và an toàn nhất với vận tốc chưa lên tới 30 km/h. Mặc ai khen chê: "Ngựa chạy cũng tới biền quan, voi đũng đĩnh cũng sang bến đò!".Thân bác cũng già như như chiếc Chevrolette sơn màu xanh lá cây đã xuống nước, ọp ẹp của thời Đệ nhị thế chiến còn sót lại. Còn chiếc G.M.C (General Motor Company ) của bà Vẹm, chủ xe cùng tuyến với bác Chương, vận tốc có nhích lên nhưng cũng chẳng là mấy! Thế mà hai "cổ vật" nầy ăn nên làm ra: trên mui thì gà, vịt triêng gióng (quang gánh), thúng mủng, mít, hàng tạp hóa... Trong khi các xe chạy tuyến Quảng Trị- Diên Sanh - Huế thuộc loại xe xịn hơn, hiệu Renault, taxi Puegot có con rắn há miệng, mạ kền sáng loáng chạy dài chính giữa ca-bô ra trước két nước, biển kiểm soát. Chỉ xe Renault có chở hạn chế hàng thập cẩm so với hai xe nói ở trên...

Ba Cô giáo: Cô Tránh, Cô Lan và Cô Chanh cùng song hành dùng xe đạp, vừa làm phương tiện đến trường vừa thể thao mà bảo vệ "phần nào" được mạng sống trên đường đi! Mỗi buổi sớm mai nắng ấm vừa rải nhẹ lên sân trường cát mịn, ba Cô trong tà áo dài (đổi sắc từng ngày) đã xuống yên trước cổng, dắt xe đạp vào trường. Kể về Cô Tránh, bạn bè đồng môn ai cũng không quên giọng nói, giọng đọc trong thanh của Cô. Khuôn mặt Cô có nước da "bồ quân", so ra hồi đó không trắng sáng như khuôn mặt Cô Lan!

Trong những tiết đầu gặp gỡ các giáo sư bộ môn, thông thường những tiết này dùng để chép chương trình của môn học đó vào trang đầu của mỗi quyển vở học, sau đó Thầy, Cô giáo cùng giao lưu với học sinh, làm quen với lớp. Nếu tiết này là của Giáo sư Hướng dẫn (nay là GV Chủ nhiệm) thì có nhiều việc cần phải làm đặc biệt cơ cấu đội ngủ cốt cán của lớp để giúp việc cho Giáo viên Hướng dẫn. Trong tiết này, Thầy Cô giáo đã gieo niềm tin bằng những lời động viên như trao cho tuổi trẻ những ngọn đuốc soi đường mà Thầy Cô giáo đã định hướng.

Đến tận bây giờ, tôi còn nhớ mãi câu châm ngôn mà Cô Tránh đã dẫn chứng trước lớp: "Mặt trời không bao giờ lặn ở nước Anh!"; rồi Cô giải thích và mở rộng thêm để kích thích sự đam mê việc học ngoại ngữ và hướng ứng dụng tương lai của thế giới về mọi lĩnh vực: Khoa học kỹ thuật, kinh tế, ngoại giao, du lịch... Thực tế đã chứng minh cho đến ngày nay - hơn nữa thế kỷ - việc học ngoại ngữ nói chung cũng như sử dụng tiếng Anh tùy theo trình độ) đã chứng tỏ lợi ích thiết thực, lan tỏa đến tận hang cùng, ngõ hẻm của đời sống xã hội, cộng đồng thế giới!

Trong một tiết dạy của Cô Tránh, Cô chú trọng việc học sinh sử dụng được từ ngữ mà Cô đã cung cấp bằng việc gợi ý đặt câu của Cô. Cô đưa ra những ví dụ ví von, có phần hóm hỉnh mà học sinh nhớ lâu. Chẳng hạn tôi còn nhớ từ ngữ "balance" (cân bằng), Cô đã lồng ghép vào câu : "Can you balance the stick on your end nose?" . Phần này cũng được thêm cái lợi là tập cho học sinh mạnh dạn nói - vì học sinh sợ sai, nói chậm, lắp bắp sợ bạn cười nên cứ rụt rè hoài!

Sau khi chuyển công tác vào miền Nam vào tháng 8/ 1981, tháng 7 / 2001 tôi mới về thăm quê. Tôi đã đến Thành phố Huế để thăm Cô Tránh và Thầy Thái ở căn nhà 11/ 9 phố Nguyễn Trường Tộ vào ngày 17.7. 2001 (sẽ có phần riêng kể rõ hơn về Cố Giáo sư Lê Quang Thái)! Đứng trước Cô và Thầy, tôi có cảm nhận Cô còn có sức khỏe hơn Thầy.Thầy tiều tụy ốm nhom đi nhiều... bởi những tháng ngày vòng vèo, bươn chải với chiếc xe đạp cà tàng... khắp thành phố Huế, sau ngày độc lập thống nhất đất nước. Mặc dù xa quê tròn trịa 20 năm, tôi thường hỏi thăm bạn bè tình hình sức khỏe của Thầy, Cô đã dạy mình, đặc biệt có còn được lưu dung? Và nghe được số lưu dung nhiều hơn số từ giả "nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý". Không những thế, có Thầy còn được đi học tập đường lối Cách mạng tại các trại cải tạo - vì dính vào đảng phái, tổng động viên (sỹ quan biệt phái), cán bộ quản lý trường học… của chế độ Việt Nam Cộng hòa, trước 30/4/1975!

Những ngày Cô Tránh và Thầy Thái chuyển gia đình vào sống tại Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh, cựu học sinh các khóa của Trường THCL Hải Lăng và Nguyễn Hoàng đã đến thăm Thầy, Cô trong những lần bệnh, ốm hay vào dịp Lễ, Tết ... Có khi cựu học sinh tổ chức họp lớp, họp khóa... lại hợp đồng địa điểm gần nhà Cô, Thầy để Cô, Thầy bước qua mấy bước tham dự cho thuận tiện!

Sau hai lần phẫu thuật, hiện nay sức khỏe Cô Tránh đã xuống cấp, yếu lắm! Ngày mấy anh chị em chúng tôi vào thăm Cô (10.4.2023 ), mặc dù Cô rất mệt nhưng cũng cố gượng dậy bước đi khó khăn từ đi-văng qua bàn ngồi tiếp chúng tôi...Thấy Cô tiều tụy đi qua "cực chẳng đả", không vững mà xót xa, thương cảm!

(Còn tiếp)

Trương Ngọc Bỉnh


READ MORE - NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG (7) - Trương Ngọc Bỉnh

Wednesday, July 12, 2023

NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG (6) - Trương Ngọc Bỉnh

 


NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG (6)


Trương Ngọc Bỉnh, 

Cựu học sinh Trường Trung học Công lập Hải Lăng, 

Khóa 5, 1964 - 1968 

(Phần 6, tiếp theo) 

Chân dung và ký ức về Thầy giáo, Cô giáo ngày ấy 

     Với một đội ngũ Giáo sư khoảng chừng 15 vị nhưng rất đa hệ và chuyên sâu. Có những Thầy giáo, Cô giáo dạy giỏi cả 3 - 4 môn học ngoài môn chính! Dẫn chứng như Thầy Cái Ngọc - giáo sư hướng dẫn lớp cuối cấp chúng tôi, đã bao trọn gói "5 lô": Toán, Vạn vật, Sử & Địa và Công dân giáo dục! Mỗi giờ lên lớp, Thầy, Cô giáo chỉ có - và duy nhất một quyển sách giáo khoa tùy theo từng khối, lớp. Có mượn "Đuốc lá dừa" của Cụ Đồ Chiểu cũng chẳng tìm ra nữa dòng giáo án!!! Tất cả kiến thức mà học sinh đón nhận đều ở trong "3": TRÍ - TÂM - TÌNH của Thầy, Cô trao gởi! Ví von như một bộ phim sắp chiếu mà người Thầy vừa là đạo diễn vừa là diễn viên trước lớp. Lương tâm, kiến thức và trách nhiệm của Thầy, Cô giáo đã chắt lọc, vượt lên ràng buộc hữu hạn của kiến thức giáo khoa, đem lại lợi ích cho cả hai phía: sự sáng tạo của người dạy và cảm hứng của người học. Người dạy không bị vướng bởi "Vòng Kim cô" mà sách giáo khoa là "pháp lệnh"!

Lại kể về Thầy Cái Ngọc - non nữa thế kỷ - tôi mới gặp lại Thầy vào lần Kỷ niệm 45 năm (1971 - 2016) rời Trường Trung học Nguyễn Hoàng Quảng Trị của Khối NH 6471, tại Nhà Hàng Full House, đường Lê Hồng Phong, thị xã Quảng Trị.

- Thầy Cái Ngọc, vị giáo sư hướng dẫn lớp cuối cấp chúng tôi, có nước da ngăm đen "trặm trịa" hơn Thầy Dự! Thầy Ngọc - đặc biệt có vầng trán hói, trượt lui về phía sau để lại một mãng láng bóng với mấy sợi tóc lưa thưa! Tiếng Thầy giảng bài chậm rải, dễ hiểu; nhất là những lúc Thầy triển khai chứng minh quy tắc, công thức Hình và Đại ..., chợt dừng lại để khắc sâu kiến thức. Chúng tôi chú ý tập trung như được rót từng giọt mật ... Cho tới tận bây giờ, tôi vẫn còn nhớ mãi cái thế ngồi độc nhất vô nhị của Thầy: bắp đùi chân trái ngồi một góc bàn giáo viên, còn chân phải chống xuống thong thả còn dư so với chân bàn, lúc quan sát học sinh làm bài - chứ Thầy không ngồi hẳn vào ghế như vào đầu giờ học. Trong Trường, Thầy Ngọc và Thầy Dự đã có gia đình. Mỗi lần tan học, Thầy Ngọc ngồi lên chiếc "Pus" màu đỏ sậm, có cặp phuột nhún cao, chồm tới trước trông rất hiên ngang như con xích thố trước lúc xung trận! Nhà Thầy Ngọc ở Nhan Biều, bên kia Cầu Ga. Ươm tơ, mớm chữ cùng với các Thầy, Cô, trên miền đất gió Lào, bão lụt... khắc nghiệt gắn bó với hai ngôi trường Hải Lăng và Nguyễn Hoàng cho đến ngày hòa bình. Sau khi đã được "gạn đục khơi trong"... , được lưu dung, Thầy được chuyển vào Trường Đại học Khoa học, Tp Huế. Thầy đã có nhiều đề tài khoa học, đặc biệt là đề tài "Bảo quản động - thực vậ" bằng Phóc-môn (Formaldehyde - HCHO) để giảng dạy cho sinh viên ngành Y.

Lần mở trang học bạ và thành tích biểu lớp cuối cấp, từng lời nhận xét học lực 6 môn học Thầy đã dạy và lời phê tổng quát của Thầy (giáo sư hướng dẫn) mà lòng bồi hồi dâng tràn cảm xúc! Nét bút và chữ ký của Thầy qua hơn nữa thế kỷ vẫn còn nguyên màu mực ... nhưng Thầy đã đi xa thật rồi, chỉ còn đọng lại ký ức trong tôi ...

(Còn tiếp.)


READ MORE - NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG (6) - Trương Ngọc Bỉnh

Wednesday, July 5, 2023

NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG (5) - Trương Ngọc Bỉnh

 



NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG (5)


Trương Ngọc Bỉnh, 

Cựu học sinh Trường Trung học Công lập Hải Lăng, 

Khóa 5, 1964 - 1968 


( Phần 5 , tiếp theo)


Chân dung và ký ức về Thầy giáo, Cô giáo ngày ấy 


     Như trên đã dẫn, trường không có Hiệu phó nên nề nếp, nội quy, kỷ luật học sinh đều do Thầy Võ Văn Dự đảm trách, với chức danh Giám thị, đồng thời kiêm nhiệm thêm một số việc hành chánh do Thầy Hiệu trưởng phân công, na ná như trợ lý Hiệu trưởng.

     Thầy Dự có chiều cao e nhất trường so với các Thầy! Phóoc Thầy hơi gầy; đặc biệt Thầy có bộ ria mép cá trê, được trau chuốt tém tỉa gọn ghẻ cũng dễ nhìn nhưng cũng không kém phần uy lực khi cầm ba tông lướt qua hành lang các lớp. Khuôn mặt và nước da Thầy hơi ngăm đen. Trông Thầy có dáng dấp, tác phong nhanh nhạy như một sỹ quan ngoài trận mạc! Các cậu con trai chúng tôi đôi lúc cũng lè phè, cũng có đứa quên để ý, có người thích ra oai: không đóng áo vào quần, dép không có quai sau ... đều được Thầy Dự "hỏi thăm sức khỏe" bằng chiếc gậy phết vào mông, bay bụi, nghe lốp bốp như pháo xếp giấy. Chúng tôi chạy tá hỏa ra tứ phía! Thế nhưng còn đỡ hơn lãnh "giờ cấm túc". Khi học sinh vi phạm nội quy kỹ luật nhiều lần, có hệ thống, được xem là "nổi trội" trong trường, được Giám thị theo dõi vào Sổ cấm túc, được gọi về văn phòng, có bàn dành riêng , mang theo sách vở tự học ở đó cho đến trống tan học mới ra về! Số giờ cấm túc là cơ sở để giáo sư hướng dẫn đánh giá xếp loại hạnh kiểm kết hợp học lực mà xét kết quả cuối năm. Hầu hết số học sinh ở lại lớp đều do học lực cả năm loại Yếu! Số học sinh ở lại lớp không loại trừ nữ sinh! Không hề có sự chỉ đạo tổ chức ôn tập, thi lên lớp, rèn luyện Hè ... để đạt được chỉ tiêu, xét thành tích thi đua ... Như vậy không có tấm vé "ngồi nhầm lớp" hoặc ở lại 2năm/ 1 lớp cho các "cậu Ấm, cô Chiêu"! Với quy chế học tập và nội quy kỷ luật nghiêm khắc, rõ ràng do đó các cô, các cậu cũng phải tự lo học, ráng gồng mình theo khuôn khổ như lính mới vào quân trường phải buộc mình, ép xác rèn luyện theo quân phong quân kỷ... không còn như mấy năm trước ở trường làng: đi chân đất, mặc quần cộc nghêu ngao, la cà ...

     Đang giờ ra chơi, nghe đám bạn la lớn  Giám thị! Giám thị!" là chúng tôi nhìn lướt qua tác phong của mình! Thầy Dự quản lý trên mấy trăm học sinh mà hiếm khi xẩy ra một vụ đánh nhau có tổ chức. Có chăng chỉ là xích mích, lời qua tiếng lại rồi bạn bè đôi bên can thiệp kịp thời, giao hảo, bắt tay nhau làm thân lại là huề hòa. Ngày đó không hề có học sinh bị mức kỷ luật phải đuổi học!

     Ngày tổng kết năm học 1967 - 1968 cũng là ngày tốt nghiệp ra trường của lớp Đệ tứ chúng tôi - được tổ chức tại Trường Tư thục Bồ Đề Hải Lăng (Sân vận động củ của xã Hải Thọ), hôm đó vắng bóng Thầy Võ Văn Dự. Chúng tôi nghe mang máng là Thầy Dự bị động viên hay chuyển đi nơi khác mà không chắc cho lắm!

Nói về đội ngũ giáo sư bộ môn của trường thì rất thiếu nhưng được đào tạo chính quy, xuất thân từ các khoa, trường Đại học Huế: Sư phạm, Khoa học tự nhiên, Văn khoa ... nói chung chuẩn mực, đa dạng! Thầy giáo, Cô giáo ra trường còn "mới toanh", trẻ trung, đa số chưa có tổ ấm riêng, có quê ở thị xã Quảng Trị, Triệu Phong, Nhan Biều ... xa và nhiều hơn đều từ đất Thần kinh - sông Hương, núi Ngự. Thầy giáo, Cô giáo giảng dạy, quản lý từ bậc Trung học đệ nhất cấp trở lên được tôn xưng trên văn bản là "giáo sư".

     Ngày ấy, quý Thầy giáo, Cô giáo truyền dạy tận tâm không những kiến thức mà còn có cả kinh nghiệm, kỹ năng sống thực tế cho lớp trẻ chúng tôi. Hình ảnh, phong cách của các Thầy, Cô giáo là tấm gương tỏa sáng tới mỗi học sinh. Lớp học trò chúng tôi ngày ấy - nay đã có con đàn cháu đống - vẫn còn ấn tượng những "tấm gương cổ" vẫn còn sáng mãi trong từng thế hệ học sinh mỗi lần Thầy xưa, trò cũ hội ngộ, hàn huyên chuyện trường xưa, lớp cũ. Ngày ấy, phụ huynh nhận thức và tôn vinh những người giảng dạy, giáo dục con em họ là tầng lớp trí thức, là "khuôn vàng, thước ngọc". Người Thầy không bị tác động, thúc bách, nhắc nhở rèn luyện bằng khẩu hiệu, áp phích...bởi họ biết "kính trọng sự tôn vinh của phụ huynh"; không làm lu mờ phẩm hạnh, kiềm chế mọi cám dỗ của vật chất ... Nói chung không vượt qua làn ranh giới hạn của luân lý, đạo đức nghề nghiệp, pháp luật ...

(Còn tiếp)


READ MORE - NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG (5) - Trương Ngọc Bỉnh

Sunday, July 2, 2023

NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG (4) - Trương Ngọc Bỉnh


 

NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG

Trương Ngọc Bỉnh, 

Cựu học sinh Trường Trung học Công lập Hải Lăng, 

Khóa 5, 1964 - 1968 


(Phần 4, tiếp theo)


Chân dung và ký ức về Thầy giáo, Cô giáo ngày ấy 


     Khi lớp Đệ thất (Khóa 5, 1964 - 1968) bước qua cổng trường năm học đầu cấp vào Tháng 9 - 1964,Thầy Hiệu trưởng Lê Công Lợi bước sang năm học thứ hai, tiếp tục vị trí lãnh đạo chủ chốt của trường. Thầy nói giọng Huế rất nhỏ nhẹ, lại từ Huế ra nên tôi dám chắc cú Thầy là người gốc gác đất Thần kinh. Dáng người của Thầy nhỏ gọn. Thầy có chiều cao khiêm tốn! Thầy rất điềm đạm mỗi khi giao tiếp với đồng nghiệp và học sinh. Làn da trên khuôn mặt Thầy luôn phơn phớt ửng hồng. Là con chim đầu đàn mà lại còn lẻ bóng, e có nhiều bông hồng ở mấy lớp cuối cấp thương thầm, mơ ước vu vơ mà chưa có cơ hội để tỏ bày ... hay "tình trong như đã ... mặt ngoài còn e"? 


     Không như người ta nói tréo ngoe của câu tục ngữ: "Đất lành, chim đậu" được chắp vá hài hước vào vế sau cho luôn vần: "Đất nhậu, chim thành mồi"! Thầy Hiệu trưởng dường như đã thấy được "đất lành", đã vướng víu duyên nợ với tình đất và tình người ở nơi chốn Thầy được bổ nhiệm, công tác. Cô - cũng có thể xưng hô là Chị - Lê Thị Cúc - hồi đó đang học lớp cuối cấp (Đệ Tứ, Khóa 2, 1961 - 1965) - là chị ruột của Lê Thị Sáu, bạn học cùng lớp Đệ thất với tôi. Thế rồi, quên đi một thời gian, học trò chúng tôi không còn nghi ngờ gì nữa: Cô Cúc là Fiancé và là đệ nhất phu nhân của Thầy Hiệu trưởng Lê Công Lợi! Có niên huynh nào đó đã tiếc nuối cho bạn bè, mượn hai câu thơ, viết lén lút ngoằn ngoèo trên bảng lớp đàn em cuối buổi học để thách thức Thầy giám thị: "Ngày mai trong đám xuân xanh ấy / Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi!". Trước đó, chúng tôi có nghe mấy niên huynh xì xào chòm xóm rất khẽ trong giờ ra chơi về chuyện tình này mà chẳng ai dám hé môi đi "tám" cho mang họa! Ngày đó, dưới trướng của Thầy có rất nhiều "hoa thơm, cỏ mướt" con nhà trâm anh, gia phong cỡ Ông Nghè, Ông Cử, Thầy Thông, Thầy Phán... có biết bao đồng nghiệp, đồng hương chốn sông Hương, núi Ngự mà Thầy Lợi đã gửi gắm một nữa của mình nơi xứ nắng nóng, cát bỏng và bão lụt triền miên này? Hay Thầy đã sâu nặng với mấy vần điệu liêu xiêu độc đáo của Nguyên Sa - Trần Bích Lan:

     "Áo nàng vàng, anh về yêu hoa Cúc ,

     Áo nàng xanh, anh mến lá sân trường. 

      Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu thương

     Anh pha mực cho vừa màu áo tím."

                          (Trích "Tuổi mười ba".)


     Thầy Lê Công Lợi chỉ làm công tác quản lý, không trực tiếp giảng dạy môn học nào cả. Trường cũng không có chức danh Phó Hiệu trưởng. Trải qua 6 năm học làm Hiệu trưởng, Thầy đã gắn bó với một đội ngũ giáo sư đầy tâm huyết, đồng hành trao gởi con chữ cho con em vùng trũng lúa nước liên hoàn các xã: Kinh, Văn, Nhi, Sơn, Trường, Thọ, Thiện, Thành, Ba, Dương ... của quê hương Hải Lăng nghèo khó mà hiếu học.

     Cứ mỗi chiều Thứ Bảy, Thầy Lợi vào Huế thăm nhà với chiếc xe máy: BS (Brigestone - 50 cc) hợp với chiều cao và vóc dáng của Thầy! Sáng Thứ Hai , đầu tuần, Thầy đã có mặt sớm ở văn phòng cùng quý Thầy, Cô giáo ... Thật đúng như danh tính "Công Lợi", Thầy đã đem tâm và trí phục vụ việc công và mang đến lợi ích cho con em ... Xin kính cẩn cúi mình và đốt một nén tâm hương đến hương linh Thầy ... nơi cõi hiền, đất Bụt mà ngày Thầy lìa cõi tạm, con ở phương xa không về được để cùng bè bạn, đồng môn... tiễn đưa Thầy...

     Thế rồi ngôi trường lại chết yểu vào đầu mùa Xuân năm 1968 sau một đêm giao tranh: một bên công đồn còn bên kia tử thủ, để lại đống hoang tàn đổ nát trên đồi cát. Ngôi trường bi thương, vô tri nằm giữa hai làn đạn, bây giờ chỉ còn trong hoài niệm, khi nhớ và nhắc đến Thầy Hiệu trưởng, Quý Thầy, Cô giáo cũ cùng bè bạn, đồng môn ...

(Còn tiếp.)


READ MORE - NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG (4) - Trương Ngọc Bỉnh

Friday, June 30, 2023

NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG (3) - Trương Ngọc Bỉnh



NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG

Trương Ngọc Bỉnh, 

cựu học sinh Trường Trung học Công lập Hải Lăng, 

Khóa 5, 1964 - 1968 


(Phần 3, tiếp theo)


     Về bộ máy quản lý trường học vào buổi sơ khai ấy, Thầy Nguyễn Thái Ngọc xử lý Quyền Hiệu trưởng. Mọi sự chỉ đạo về chủ trương chính các hoạt động giáo dục của các trường quận trong tỉnh Quảng Trị đều do Thầy Thái Mộng Hùng - Hiệu trưởng Trường Nguyễn Hoàng (gồm 2 cấp: đệ nhất và đệ nhị cấp) làm cố vấn, theo cơ chế ngành dọc của Nha Học chánh Trung nguyên và Cao nguyên Trung phần và của Bộ giáo dục và Tráng niên. (Tư liệu do người viết mày mò tìm hiểu và lời truyền đạt của Cố Giáo sư Lê Quang Thái vào ngày 9.6 2016). 

     Như vậy, dấu mốc lịch sử thành lập trường Trung học Công lập Hải Lăng kể từ năm học 1960 - 1961 và Thầy Nguyễn Thái Ngọc là người Hiệu trưởng đầu tiên - một công dân đất võ Bình Định, mang hào khí khởi nghĩa Tây Sơn của Anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ - Quang Trung! Hiện nay, cựu học sinh của trường không còn cơ may để tìm ra địa chỉ hoặc tông tích con cháu của Thầy. Theo ý nguyện người viết bài này: -Để ghi nhớ Thầy Hiệu trưởng đầu tiên, Ban liên lạc cùng toàn thể Cựu học sinh, Quý Thầy, Cô giáo... nên tổ chức, vận động thành lập "Quỹ học bổng Nguyễn Thái Ngọc" thay cho những lời ca ngợi tri ân ...

    Qua thông tin từ các niên huynh các Khóa 1 & 2 của trường và ý chủ yếu là "Quyển tự điển sống" - Cố giáo sư Lê Quang Thái - Thầy đã bật mí khi tôi tham vấn và nhờ đó tôi có thêm thông tin về cơ sở vật chất đầu tiên của trường Trung học Công lập Hải Lăng vào hai năm học: 1958 - 1959 và 1959 - 1960 thuộc Hệ Bán công và Thầy Nguyễn Văn Bé làm Hiệu Trưởng. Thầy Bé quê gốc miền Bắc, định cư ở Kim Long, Huế. Thầy Bé có mối dây quan hệ với Ông Nguyễn Tri Kiệt - dòng dõi quan đại thần Nguyễn Tri Phương, triều Nguyễn. Vào thời ấy, Ông Kiệt làm quận trưởng hành chánh quận Hải Lăng, có hai người con: Nguyễn Tri Hào và Nguyễn Thị Cẩm Vân theo học ở Hải Lăng. Ở làng Trường Sanh quê tôi cũng có mấy người ra học Trường Bán công Hải Lăng - là con của các vị chức sắc, thân hào trí thức: Tổng thư ký, Viên ấm, Thủ bộ làng ... có máu mặt, còn trâu trên, ruộng dưới, nhà ngói, nhà rường của thời nữa phong kiến nữa thuộc địa, còn của kho, mới có tiền của, có điều kiện phương tiện, mới trèo lên trường quận. Còn lớp con cái thành phần tá điền, bần nông ... thì "em đâu dám mộng mơ!".

(Còn tiếp.)


READ MORE - NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG (3) - Trương Ngọc Bỉnh

Monday, June 26, 2023

NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG (2) - Trương Ngọc Bỉnh

 


NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC 

VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG (2)


Trương Ngọc Bỉnh, 

Cựu học sinh Trường Trung học Công lập Hải Lăng, 

Khóa 5, 1964 – 1968.


(Tiếp theo kỳ 1 đã đăng)

Một con người mang bệnh hen phế quản, từ lúc lớp Nhì ... cho đến học Hải Lăng, ra Nguyễn Hoàng rồi vô Huế học Sư phạm …, cả đến lúc ra trường, bệnh hen vẫn đeo đuổi bên tôi như hình với bóng! Thế mà hồi gia đình sơ tán vào Đà Nẵng - Dân thành phố Huế cũng sơ tán, tất cả các Trường học đều đóng cửa! Đêm đêm chỉ có xe quân sự hú còi tuần tra các con phố chính: Trần Hưng Đạo , Chi Lăng, Lê Lợi lên Ga Huế, về Đập Đá ... Hỏa tiễn 122 ly vẫn dồn dập xoèn xoẹt vút trên bầu trời từ hướng Nam Hòa lao xuống Mang Cá, Tây Lộc - nơi có BTL Tiền phương Sư đoàn 1! Quân Giải phóng đã tới bờ Bắc Sông Mỹ Chánh! Căn cứ Baston và Chi khu Nam Hòa (Tây Huế), chưa cứu được mình, đang trong ngàn cân treo sợi tóc! Mấy Lữ đoàn: 147, 258 và 369 đang ém quân từ Cầu Vân Trình, có trục lộ 49 chạy ra Tháp Một (thuộc địa phận Thừa Thiên), rồi mới gặp các làng xã Xuân Viên, Diên Khánh, Hải Ba, - Dương … Một hướng rẻ phải về Nhà thờ Tháp Đôi, xã Điền Lộc, Hải Nhuận, phá Tam Giang... lên dọc thị trấn Ưu Điềm, Phong Hòa, Mỹ Chánh... có dịp về mà xem Thành phố Ma của con cháu vượt biển về báo hiếu! Tập làm P V chiến trường, hâm lại một tí!

Trở lại chứng bệnh và việc học hành của tôi. Có ai ngờ đâu? Khi dân Thành phố Huế lục tục từ Đà Nẵng trở về, các Trường học bắt đầu mở cửa cũng là lúc Khóa 2, Sư Phạm Huế thi Tốt nghiệp ra trường. Phạm vi tuyển sinh từ Tỉnh Quảng Tín (Quảng Nam) ra tới Quảng Trị, còn từ Quảng Ngãi vào học ở Quy Nhơn! Tôi đã tốt nghiệp Thủ khoa, Khóa 2, ngày 27.6.1972 với hơn 150 giáo sinh và tôi ở lại Huế ngao du thắng cảnh các lăng tẩm, Đại Nội ... với chiếc Honda Dame đỏ SS 50 của Bác Họ, tôi vượt đèo Hải Vân ra Huế ở lại để thi Tốt nghiệp và Tú Tài Phần 2, ngày 05-7-1972 và đổ luôn. Trong vòng đúng 10 ngày. Hồi đó còn thi viết chứ không phải ABC khoanh, IBM! Một nổ lực của bản thân, bóp còi qua mặt các bạn cùng khóa là dân Quốc Học, Đồng Khánh, Hàm Nghi, Nguyễn Tri Phương … cũng phải nể mặt dân Hải Lăng, Nguyễn Hoàng! Nói trạng, nói khoác một tí các bạn nghe - nhưng có thực để mà nói là một điều bất thường! "Thắng mình là một chiến thắng vẻ vang nhất!" có phải như vậy không các bạn?

Một kỳ thi nghiệt ngã nhưng đầy tự hào của các sỹ tử tí hon!

-Khoảng 90°/° số học sinh tốt nghiệp bậc Tiểu học xuất thân là con em nông dân, đời sống kinh tế còn rất khó khăn. Hằng năm, bão lụt thường xuyên ập tới đe dọa. Mùa màng thất bát, Có năm dân đồng bằng lên mua sắn củ của dân tộc Hướng Hóa, Khe Sanh, Cùa... hoặc vô rừng hái dây búng, trái trắc mao, dom, bứa, hột sót... về Chợ Diên Sanh hay Mỹ Chánh bán, đổi lấy gạo xô, gạo tạ! Trong số con em đó, có nhiều người hiếu học, học khá giỏi hoặc đã lớn tuổi, một số đã không có xe đạp đi lại, chủ yếu là cặp giò và đôi dép "Nhật" mỗi bên chỉ con lưu luyến vơi nữa bàn chân phía trước! Tôi còn nhớ Ba tôi đã gọi bạn chuyên làm "Xáo" đến để mở "chồ". Một đống lúa ngất ngưỡng như cái nón khổng lồ mà chỉ mua được một chiếc xe đạp sườn ngang với gía 800 đồng, năm 1963. Hồi đó mấy ai có được cơ hội ra học trường quận cách xa nhà > 15 < km. Thế nhưng được vào - bước qua cổng trường Trung học Công lập Hải Lăng ví như "Cá vượt vũ môn", là niềm tự hào và vinh dự cho bản thân và gia đình. Hằng năm cứ vào đầu tháng Bảy, có kỳ thi tuyển đầu vào lớp Đệ Thất. Thời đó, các bậc phụ huynh còn bị ảnh hưởng của nền giáo dục Pháp thuộc còn sót lại. Nhiều cụ đã đi học và đỗ đạt bằng Yếu lược,Tiểu học hoặc họa hoằn lắm mới có cụ đỗ Diplôme (Trung học)! Họ sính dùng Tiếng Pháp trong đàm đạo hằng ngày và gọi kỳ thi này là thi "Càng cua", nguyên ngữ Tiếng Pháp là "Concours", từ đó, từ ngữ này được thông dụng, kể cả mấy chị em ngoài chợ cũng thông thạo và xài luôn! Học sinh trúng tuyển đầu vào lớp đệ thất gọi là "bẻ càng", ai trượt vỏ chuối coi như "gãy càng". Vậy, số con em "bẻ càng" là bao nhiêu? Và số còn lại "gãy càng" đi đâu? làm gì?

Trước khi đi tìm các ẩn số nêu trên, người viết xin ngược dòng thời gian, lùi sâu vào lịch sử, mạo mụôi trình làng những điều mình biết để nói lên mạng lưới trường lớp của quận Hải Lăng thời đó:

-Đơn vị hành chánh cấp quận và tên gọi "Quận" thay cho "Phủ" hoặc "Huyện" trong toàn vùng Pháp tạm chiếm vào cuối năm 1953. Thời kỳ Đệ nhất Cộng Hòa (Ngô Đình Diệm, 1956 - 1963 ), ở miền Nam Việt Nam, vào năm 1960, quận Hải Lăng có 22 xã. Mỗi xã có một trường Tiểu học, có xã có 2 trường (Hải Thọ). Trong số 22 xã, có 5 xã vùng ven, áp sát thị xã Quảng Trị: Hải Thựơng, Hải Lệ, Hải Phú, Hải Quy và thị xã Quảng Trị. Số học sinh 5 xã này, dự thi càng cua vào trường Nguyễn Hoàng ở thị xã Quảng Trị. Số gãy càng - nếu gia đình khấm khá và có nhu cầu cho con em học tiếp mới vào học các trường Bồ Đề và Thánh Tâm cũng ở thị xã Q.Trị. Như vậy còn lại 17/22 xã, mỗi xã có một lớp Nhất, bình quân 50 em /1 lớp. Tổng số 850 em mà chỉ có một kỳ thi tuyển một lớp Đệ thất! Tỉ lệ chọi là 1/15! Đối với những sỹ tử tí hon "lều chõng" ngày ấy, sáng sớm mở mắt chỉ thây ao làng, con trâu, giếng nước và cánh đồng ngút ngàn tầm mắt đến thế! Hôm nay ngày thi, lại từng tốp 5, 7 đứa từ các ngõ xóm, qua khỏi cổng làng, rảo bước tòng teng, lặn lội đổ về trường quân để "so găng" đấu trí. Sáng: Làm văn (loại giải thích, so sánh hoặc bình luận); chiều: Toán pháp (gồm các kiểu đề: động tử xe, vòi nước, số học kết hợp số học, hình học...). Một kỳ thi quyết định tuổi thanh xuân đang vẫy gọi phía trước!

Với một lực lượng vị thành niên dôi dư không mấy may mắn còn lại ở các làng xã khoảng > 700 < em (đã khấu trừ 200 em vào học các trường Tư thục; Minh Đức (Diên Sanh), Tân Dân (Hải Chánh), hoặc vào hệ Bán công Hải Lăng - có chung cơ sở với Công lập), đành đoạn ở nhà phụ việc đồng áng, công việc nhà; nữ thì học nghề may, chằm nón lá hoặc ra thành thị giúp việc … Đến lúc con trai thì vai u thịt bắp, trổ tiếng ồ ồ như vịt đực; con gái đến tuổi dây thì "ra mả" thiếu nữ! Bẳng đi một thời gian sau lũy tre làng, nghe nói bị "chuồm nhánh nè" với cặp cá tràu và bó chè Lương Điền, Mỹ Chánh, Tân Lâm... to chà bá rồi! Hoặc đã mang dép râu, nón cối … hay đầu quân trước tuổi với nón sắt, giày sô (botte de saut) ...

(Còn tiếp)

Trương Ngọc Bỉnh

READ MORE - NHỮNG MÃNH GHÉP KÝ ỨC VỀ MỘT NGÔI TRƯỜNG (2) - Trương Ngọc Bỉnh