Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Lê Văn Huấn. Show all posts
Showing posts with label Lê Văn Huấn. Show all posts

Wednesday, February 11, 2026

Ô KHÊ - DÒNG SÔNG QUÊ HƯƠNG - Bài và ảnh của Khê Giang

Tác giả Khê Giang

 

Ô KHÊ - DÒNG SÔNG QUÊ HƯƠNG

Khê Giang

 

Sông Ô Khê khởi nguồn từ các khe nhỏ ở vùng đồi phía Tây của xã Hải Trường. Trong “Ô Châu cận lục của Dương Văn An” không thấy nhắc đến địa danh này, tuy nhiên theo “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn gọi đây là khe Ồ Ồ, đến “Đồng Khánh địa dư chí” mới mô tả tương đối chi tiết: “Một dòng sông nhỏ từ địa phận xã Trường Sinh ở thượng nguồn chảy đến hạ nguồn ngang qua đường Quan Báo (ở chỗ tục gọi là cầu Bến Đá) đến giang phận xã Văn Quỹ dài 11 dặm, rộng hơn 12 trượng một thước, khoảng sông ở phía hạ lưu rộng khoảng một trượng, nước sâu khoảng 2-3 thước.”

Cầu Bến Đá bắc ngang sông Ô Khê

 

Cũng như sông Nhùng, sông Thác Ma và Thạch Hãn, sông Ô Khê chảy theo hướng Tây Nam-Đông Bắc, sông chảy vắt ngang qua quốc lộ 1A, phía bờ Bắc là làng Trường Thọ, thôn Mỵ, thôn Đông, phía bờ Nam là làng Trường Xuân và thôn Trung, qua khỏi địa phận thôn Trung, dòng Ô Khê nhập vào sông Ô Giang.

 

Sông Ô Khê

 

 Nguyên thủy sông Ô Khê là một dòng chảy quanh co ở phía hạ lưu, khi chảy đến Biền, dòng sông lại đột ngột rẽ trái và quặt ngược theo hướng Tây Bắc ôm lấy vòng cung bến Ông Chữ,  sau khi qua Hác Lở (địa phận cuối  của xóm Giữa, thôn Mỵ) lại rẽ phải theo hướng Đông Nam xuôi về xóm Sen, tại đây, sau nhiều đoạn uốn lượn, dòng sông chảy qua cổng Biền Quan rồi theo hói Bàu Pheo chảy về Rào Cái (Ô Giang) tại thôn Đông.

Tại bến Ông Hách, sông Ô Khê có một nhánh nhỏ chảy men theo mặt hậu của xóm Giữa và xóm Quán, hình thành những bàu nước nhỏ như Ràn, Rộộc…,  dòng chảy này, ngoài nhiệm vụ cung cấp nước cho các thửa ruộng cao (trưa) còn có tác dụng điều hòa thời tiết cho vùng dân cư sống men theo bờ bắc của hai xóm trên. Một con lạch nhỏ hướng từ tây sang đông khởi nguồn từ xóm Thượng An sau khi xuyên qua đường Thiên lý có tên là hói Đàng Nác, dòng chảy hợp lưu với hói Bàu Pheo đưa nước về hạ lưu qua bụi Tre Một.

Từ thuở khẩn hoang, sông Ô Khê là huyết mạch giao thông quan trọng trong làng, sau khi có hệ thống sông đào, đây là  trục giao thương giữa các địa phương trong và ngoài tỉnh, từ nơi hợp lưu với dòng Ô Giang, nếu xuôi về hướng Đông Nam, dòng chảy sẽ bắt gặp sông Ô Lâu tại thôn Câu Nhi. Tại ngã 3 sông này, nếu rẽ phải chúng ta sẽ đi về thượng nguồn của Thác Ma (Mỹ Chánh) để đến với các làng Mỹ Xuyên, Phước Tích, Hội Kỳ, Mỹ Chánh, Lương Điền, Xuân Lộc, Tân Lương…,  khi đến cầu Phước Tích, nếu rẽ trái theo dòng Ô Lâu có thể đưa chúng ta đến Phò Trạch và xa hơn nữa là Truồi, nơi thượng nguồn của sông Ô Lâu. Còn rẽ theo về  phía hạ nguồn, dòng chảy sẽ đi qua  làng Ưu Điềm ở bờ nam, Câu Nhi, Văn Quỹ, Hà Lỗ, An Thơ, Hưng Nhơn, Phú Kinh ở bờ bắc, men theo các xóm làng,  dòng chảy tiếp tục di chuyển qua cầu Vân Trình, sau đó hoà chung với nguồn nước mặn của Phá Tam Giang rồi đổ ra biển Đông theo cửa Thuận An.

 Cũng từ nơi hợp lưu giữa sông Ô Khê và sông Ô Giang, nếu rẽ trái xuôi thuyền về hướng Bắc, chúng ta sẽ đến làng Trung Đơn theo Kênh mới Mai Lĩnh nối với Cựu Vĩnh Định tại ngã ba Hói Dét, dọc theo tuyến này, qua Ô Giang, chúng ta có thể đến Văn Vận từ một nhánh của sông Nhùng, từ đây chúng ta theo dòng Vĩnh Định đến  Quy Thiện, sau đó ngược ra  Triệu Phong, hoặc  sau khi đến ngã ba sông ở Hội Yên, nếu rẽ phải xuôi theo dòng Tân Vĩnh, ta sẽ xuôi ra biển qua cửa Việt Yên.

Trừ mùa mưa lũ, dòng Ô Khê quanh năm xanh mát, cảnh quan  như một bức tranh thủy mặc: thảm thực vật hai bên bờ sum suê nhẩy nhựa, những hàng tre rì rào xỏa tóc, những cây Bội cổ thụ với những chùm quả chín mọng đỏ rực cả một góc trời, những gốc Mưng thả những chùm hoa màu huyết dụ đong đưa theo gió, những cây Muối buông những chùm trái hạt chuỗi rũ bóng xuống dòng sông, những đám Dành Dành mọc ven sông điểm những nụ hoa trắng xen lẫn những quả chín sớm khoe màu vàng cam rực rỡ.

Đẹp và kỳ bí có lẽ đó là hoa Mỏ Quạ, một loại dây leo thường mọc hoang, sinh trưởng bằng cách ôm lấy các loại cây thân mộc hoặc bụi tre dọc bờ sông, cho những chùm bông tím thẫm, một chùm hoa chứa cả hàng trăm đài hoa ăm ắp mật ngọt, là niềm vui thích của trẻ con khi dùng ống hóp (tre) để hút mật, hay nghịch ngợm dùng hạt chà vào vật cứng, sau đó áp vào da gây bỏng rát, tuy nhiên loại hoa này có rất nhiều lông tơ tựa như trái mắt mèo ở Nam bộ, lỡ dính vào là gải cả ngày.

Nhưng quyến rũ và được ưa thích bậc nhất vẫn là hoa Dẽ (Mù Tru), trên các triền sông  dọc theo đường cái, rất dễ bắt gặp những bụi hoa nầy, hoa tỏa hương thơm lừng vào buổi sáng, đây là loài hoa của tuổi học trò, vì đến mùa hoa nở, tranh thủ đi học sớm, các học sinh nữ thường hái đem dấu trong hộc bàn, đựng trong cặp, hay cài trên bím tóc.  Hoa có mùi hương thoang thoảng êm dịu, không thể nhầm lẫn bất kỳ một loài hoa nào khác.

Các loài thủy sinh đến mùa cũng đua nhau trỗi dậy. Những cây Trăm nở hoa vật vờ lặn ngụp theo con sóng, những hàng đọt Đợi (rau Mớp) tím sẩm nhón chân trồi lên mặt nước, những loài rong ken dày dọc triền sông, nơi trú ẩn của các loài tôm cá.

Trên dòng sông phía hữu ngạn, đoạn qua bến nhà thờ họ Trần, có một cây Sanh thuộc hàng đại cổ thu. Theo một số bậc cao niên, cây nầy có dễ đến hàng trăm năm tuổi, tán cây rậm rạm, u tịch, nơi đong đầy những câu chuyện bí ẩn mà bất cứ ai  dong thuyền đi qua, dù lúc đó là ban ngày, đều có cảm giác rờn rợn lạnh người. Dọc theo con bến này, theo về phía thượng nguồn, là vườn Mung (một loại tre không có gai) quanh năm rợp bóng, nơi chiều chiều từng đàn cò chấp chới, chao liệng rồi sà xuống cải nhau chí chóe khi  tranh nhau chỗ đậu qua đêm.

Đa số người dân quê tôi đều dùng nước sông để sinh hoạt, tắm rửa. Trên các bến sông, từ sáng sớm tinh mơ, đã nghe tiếng kẽo kẹt, tiếng bước chân của các cô thôn nữ đi gánh nước về. Chiều đến, khi hoàng hôn buông xuống, các bến sông thường rộn ràng, tấp nập khi người dân tập trung tắm giặt, bơi lội thư giãn sau một ngày lao động nhọc nhằn. Như một người mẹ quê lam lũ, ngoài chở nặng phù sa, sông Ô Khê quanh năm cung cấp các loại thủy sản, cá tôm cho dân làng. Những tiếng gõ tròng chiều chiều vang rền mặt nước, những câu hò bàng bạc trong sương, những chiếc rớ Bà (vó) dầm chân trong nước, bốn gọng vó dang tay như muốn ôm hết cả dòng sông. Vui nhộn và hấp dẫn nhất là những ngày sau cơn lũ, lúc nước lưng bờ. Chiều chiều, dọc hai bờ sông, đông đảo đội quân câu cá Thát Lát với mồi câu là những chú Ăn Mày (ấu trùng Chuồn Chuồn) được xúc từ các vũng nước nước đọng trên cồn Đình.

Những năm thanh bình, dòng Ô Khê lại dậy sóng với lễ hội đua ghe. Đây là một môn thể thao sông nước vui nhộn,  thể thức thi đấu tùy số lượng các đội tham gia nhiều hay ít. Nếu ít thì thi đấu một lượt, nhiều thì chia thành bảng đấu, mỗi bảng thi loại trực tiếp, kết quả chọn các đội đứng đầu vào chung kết xếp hạng. Để tiện cho người dân theo dõi đường đua, thường chỉ giới hạn trong khoảng 300m. Nếu độ dài đường đua càng lớn thì  phải quay nhiều vòng, nơi quay vòng được cắm bằng một cây tre gọi là Vè, đây là điểm mốc quan trọng trong suốt hành trình đối với các ghe đua. Nếu không khéo ôm cua, rất dễ bị ghe bạn qua mặt, hoặc chìm ghe, và đây cũng là đoạn hồi hộp và huyên náo nhất của các cổ động viên. Những tiếng la hò cổ động hòa trong tiếng trống giục giã tạo nên không khi sôi nổi vang động hai bên bờ sông. Tùy theo từng thời kỳ, số lượng vận động viên trên mỗi ghe có khác nhau, nhưng thường là số lẻ. Các thế kỷ trước, mỗi ghe chỉ có năm người, sau này tăng lên bảy, chín, … Trong ghe lúc nào cũng có một người chỉ huy cầm chèo lái.

Năm 1979, để tăng cường thoát nước ở vùng hạ lưu nhằm giảm thiểu lũ lụt, một đoạn sông đào đã được mở ra tại Biền, đưa nước chảy thẳng ra Ô Giang qua địa phận thôn Trung, việc đào sông đã khắc phục được phần nào về việc thoát nước nhưng đã vĩnh viễn xóa bỏ một cảnh quan xinh đẹp và thơ mộng nhất của dòng sông. Cũng từ đây, đoạn đi qua Hác Lỡ đã trờ thành dòng sông tù và xóm Sen đã trở thành xóm đảo.

Theo dòng chảy thời gian, giữa chập chùng chiến tranh, giữa quạnh hiu trong ly tán, trên dòng Ô Khê bây giờ không còn cảnh tấp nập thuyền ghe, không còn cảnh nhộn nhịp tại các bến quê khi chiều về, các lễ hội đua ghe rồi cũng tròng trành theo năm tháng, nhưng người dân Trường Sanh quê tôi dù đi đâu về đâu, trong ký ức vẫn bồn chồn, khắc khoải nhớ về con sông quê, nơi có những hàng cây quanh năm xanh mát, nơi có khói lam chiều tỏa ra từ bếp lửa trên các thuyền câu, nơi  có những tiếng đánh tròng vồn vã thân quen hay những tiếng hò trầm buồn man mác, tất cả đã tắm gội, in sâu vào tâm khảm của những người con xa xứ.

Khê Giang

Liên kết: 

https://www.facebook.com/le.van.huan.343346?locale=vi_VN

READ MORE - Ô KHÊ - DÒNG SÔNG QUÊ HƯƠNG - Bài và ảnh của Khê Giang

Wednesday, June 26, 2024

NHỮNG NGÔI VƯỜN - Khê Giang

 

 

Khê Giang

NHỮNG NGÔI VƯỜN


 

1. Như định mệnh run rủi, gần cả cuộc đời ba tôi luôn quanh quẩn, nặng nợ với những ngôi vườn. Từ tuổi ấu thơ, tôi đã được tắm mát, vui đùa dưới những tàn lá xanh um, được bẻ hái những chùm cây chín mọng. Như chú ong cần mẫn, ba tôi luôn sắp đặt, bồi đắp khu vườn bằng một niềm đam mê kỳ lạ, ngoài việc vun xới chăm sóc, ông còn thổi hồn vào từng  gốc cây từng lối đi với sự phối trí đơn giản nhưng hết sức ấn tượng. Vườn nhà tôi day mặt ra dòng Ô Khê hiền hòa rợp bóng, con sông hình như cũng nặng lòng với khung cảnh cảnh điền viên, nên ngày ngày vẫn vuốt ve, níu kéo khu vườn bằng những con gió lao xao, mát rượi. Từ sáng sớm, khi mặt trời chưa kịp ló đầu bên kia triền sông, ngôi vườn đã tràn ngập tiếng chim, lũ chim Sẻ chiếm hữu các cây Cau, một tán cây có khoảng mười gia đình trú ngụ, chúng tàm tổ trên các bẹ lá, có lẽ do nhà cửa gần kề, dễ bị nhòm ngó, nên chúng cải nhau suốt ngày. Trên ngọn khế Giành là nơi làm tổ thường xuyên của đôi chim Chào mào, tiếng hót của chúng nghe trong trẻo, yên bình, man mác vị thơm của mùa trái chín. Trong hốc cây Duối sau vườn là ngôi nhà của cặp chìa vôi (Chích chòe than) bản hòa ca của chúng mỗi buổi sáng nghe lảnh lót ngọt lịm như tiếng suối trong vắt giữa núi rừng. Ồn ào náo nhiệt nhất vẫn là lũ chim Rôộc ( Dồng dộc). Chúng làm tổ trên bụi tre cao nhất trong vườn. Ngoài việc lắm mồm, có lẽ loại chim này là loại giữ quán quân trong việc xây tổ. Gần cả trăm ngôi nhà treo, được chúng kỳ công xây dựng, lủng lẳng bám trên ngọn tre, sớm chiều đu đưa theo gió. Chót vót trên những đọt măng Vòi (tre non) là nơi độc tấu của mấy chú Chàng Làng, chúng bắt chước hầu như tất cả những giọng hót hay của các loài chim, thậm chí lúc cao hứng chúng giả luôn giọng của các loài gia súc hay tiếng khóc trẻ con... nghe là lạ.

Cạnh bờ ao sau lưng vườn, dưới những gốc tre già là nơi lũ Cuốc hay lần mò, trà trộn vào đàn gà nhà để kiếm ăn, chỉ nhác thấy bóng người là chúng lủi ngay vào bụi.. lũ Cuốc chẳng bao giờ cất nổi một tiếng hót, nhưng tiếng kêu của nó vào những đêm thanh vắng nghe thật não ruột.

       Rồi một mùa hè không giống như những mùa hè êm ả khác, tiếng súng, dồn dập vọng về. Khi hơi thở chiến tranh đã lượn lờ bên kia sông, lũ chúng tôi cùng gia đình gồng gánh hớt hải hòa vào đoàn người di tản, bỏ lại ngôi vườn với những hàng cây đứng run bần bật sau mỗi tiếng bom.

Sau hai năm tản cư trở về, chúng tôi bàng hoàng đứng trước ngôi vườn hoang phế, khu vườn thân thương nơi cất giữ những kỷ niệm êm đềm tuổi ấu thơ của chị em tôi đã biến thành bình địa. Những cây cau đổ gục úp mặt nằm sóng soài trên đất, những cây ổi bậc gốc, da thịt cháy xém, loang lỗ...những thân tre ngã rạp, cành víu vào nhau dùng dằng che khuất lối đi. Khu vườn im ắng, oi nồng, không một tiếng chim. Một hố bom sâu hoắm, nằm cạnh góc vườn đã xô chôn vùi toàn bộ ngôi nhà cổ, tổ ấm thân thương mấy đời của gia đình tôi.

            Ngậm ngùi đứng nhìn ngôi vườn hoang lạnh, đổ nát, mắt ba tôi đỏ hoe, ông như muốn khụy xuống trên khu vườn cổ nơi tuổi thơ ông đã chăm chút vun trồng. Rời khu vườn tang tóc, ông lên khu chợ cạnh Quốc lộ 1 dựng một căn nhà, mở quán cho mẹ tôi buôn bán. Trong hơi thở tất bật của phố xá, tôi nghĩ ba tôi cũng sẽ nguôi ngoai về khu vườn..

2.  Nhưng chưa đầy một năm, kể từ ngày rời khu vườn cổ, ông lại một mình mò mẩm trở về với nó, vậy là một mình một bóng, ông gầy dựng lại từ đầu. Ngày đi làm Hợp tác, chiều về ông tranh thủ dọn lại khu đất loang lổ, nhặt nhụm đôi chút thời gian rảnh rỗi, ông tìm đến những ngôi làng ít bị ảnh hưởng của chiến tranh để xin cây con về trồng. Thấy ba kham khổ, mẹ tôi điều chị Hai tôi về vườn để hỗ trợ cho ông công việc nội trợ, nhưng có lẽ không quen cảnh ruộng vườn, nên chị tôi đã im lặng rút lui. Mười hai tuổi có lẽ chưa hiểu gì nhiều về trách nhiệm, nhưng vì một phần thương ba, một phần đam mê ruộng vườn, cây cỏ… Tôi quyết định rời bỏ phố xá về ở với ba. Ngày qua tháng lại chẳng biết tự lúc nào tôi đã trở thành một nông dân thực thụ. Một buổi đi học, buổi còn lại tùy theo mùa vụ, tôi tháp tùng cùng ba làm vườn, ra đồng trồng khoai, cắt cỏ, bứt rạ, bẫy chim…rồi ra hói xuống sông cất vó, tát đìa… Tối đến lui cui xắt chuối, vằm rau nấu cám cho heo, khuya phải lật đật dậy sớm thổi lửa, nấu cơm để kịp bữa ăn sáng cho ba ra đồng.

            Việc chăm sóc ngôi vườn  thường diễn ra trong những chiều muộn hay giữa những đêm trăng sáng, hai cha con cặm cụi, tất bật, nhiều khi mê mải quên cả bữa ăn. Thế rồi, trời cũng không phụ người lam lũ, bằng sự sự nỗ lực của hai cha con, chỉ năm năm sau, khu vườn đã sum suê ngọt ngào cây trái. Những chùm cây trĩu quả,  ngọt lịm, những lối đi râm mát đã đẩy lùi hình ảnh hoang tàn, xơ xác mới hôm nào.

Ngôi vườn nhà tôi hiện ra như một ốc đảo xanh tươi, trù phú nằm thanh bình giữa thôn xóm vẫn còn loang lỗ những vết tích của chiến tranh. Hình như cảm nhận được cái không gian yên bình quen thuộc đang hồi sinh, nhiều loài chim đã mách bảo, rủ nhau về vườn trở lại. Niềm vui, sự đầm ấm trong gia đình cũng được nhân lên, các em tôi đã quyết định về ở hẳn với ba, thay vì chỉ về thăm vườn mỗi dịp hè như những năm trước. Ngôi nhà nhỏ lại đầy ắp tiếng cười và mỗi tối lại văng vẳng tiếng học bài ê a, của các em tôi.

            Nhưng niềm hạnh phúc trong ngôi vườn yên bình ấy cũng không được kéo dài. Số phận khu vườn đã được định đoạt sau số phận của chị tôi. Sống trong một vùng thuần nông, nhưng nhà tôi là một trong số ít ỏi những gia đình sống bằng nghề buôn bán, vì vậy từ nhỏ đến lớn chị tôi chưa tiếp xúc với việc đồng áng bao giờ, sau khi nghỉ học chị  đi học may và giúp mẹ tôi quán xuyến công việc kinh doanh. Mười tám tuổi chị đi lấy chồng, sau khi về làm dâu chừng được nửa năm, chị theo chồng vào Nam lập nghiệp.

        Từ miền Nam xa xôi những thông tin buồn bã tới tấp đổ về. Chị tôi vào miền Nam bao nhiêu ngày là bấy nhiêu thời gian mẹ tôi thao thức trăn trở, lúc thở ngắn thở dài, lúc đầm đìa nước mắt. Cuối cùng không thể chịu nổi những tháng ngày phập phồng lo âu cho cuộc sống của đứa con bé bỏng trên đất khách quê người, mẹ quyết định đưa cả gia đình rời quê hương vào Nam sinh sống. Một quyết định được nhiều người cho là liều lĩnh. Tuy nhiên ngay thời điểm ấy và mãi về sau này tôi luôn cảm nhận đó là một quyết định hợp lý và kịp thời, vậy là tất cả anh em chúng tôi buộc phải nghỉ học để lên đường vào Nam.

            Những ngày chuẩn bị xa quê, tôi thấy ba bần thần im lặng, trong tâm trạng rối bời ngổn ngang ấy, ông vẫn ra vườn chăm sóc, sờ sẩm từng loại cây, những động tác ông làm có vẻ tẩn mẩn, chậm chạp hơn, tôi nhận ra việc ông ra vườn không phải là chăm sóc mà là sự vuốt ve bịn rịn, khi biết mình vĩnh viễn không bao giờ trở lại trên mảnh vườn yêu thương, gắn bó này nữa. Bao nhiêu năm dày công tạo dựng, vun đắp ngôi vườn từ một hình hài tàn phế trở thành một mái ấm tươi xanh, nên cái cảm giác xa rời nó làm ông đau đớn gấp nhiều lần so với khu vườn cũ bị tan hoang trong bom đạn. Điều đau đớn đó cũng dễ dàng lý giải: khu vườn cũ do chiến tranh đã bỏ ông, còn bây giờ khu vườn mới, chính ông đã đành lòng bỏ nó, bỏ cái núm ruột quê hương, nơi đã gần sáu trăm năm tổ tiên khai phá giữ gìn.

            3. Vẫn cái điệp khúc da diết ấy, đôi khi như một lập trình có sẵn, vừa đặt chân vào vùng đất phương Nam, sau khi mua một ngôi nhà tại chợ cho mẹ tôi buôn bán, ông lại dồn công sức cho việc làm vườn, khác với quê nhà là vùng chiêm trũng, nơi định cư mới là mãnh đất Ba zan màu mỡ, vừa trồng hoa màu ba tôi vừa thả cây lâu năm. Thật không thể tin được, tại đất khách quê người thiếu thốn trăm bề, chỉ một mình Ba chăm chút gầy dựng (lúc này tôi đi học xa) vậy mà cũng chỉ có bốn năm, ngôi vườn đã thành hình. Những cây Điều, cây Mít trĩu quả, hàng trăm bụi Dứa cho trái ngọt thơm, những choái Tiêu cũng đến tuổi cho hạt. Với diện tích lên đến nửa ha, ông dùng cây Mì rào hết chu vi khu vườn để thả gà, ba làm chuồng nuôi thỏ.. Do là vùng đất  Bazan quanh năm đỏ quạch vì bụi đất nên khó có thể so sánh với khu vườn xanh mướt ngày nào. Nhưng tôi luôn mừng thầm vì cuộc sống của gia đình đã phần nào ổn định, chị tôi đã được bảo bọc, nâng đỡ và đặc biệt là ba tôi  có chổ để khuây khỏa lúc tuổi già.

Nhưng niềm vui của ba như ngọn lửa mới vừa nhen nhúm lại bị dập tắt, khoảng thời gian này không hiểu vì lý do gì mẹ tôi không muốn cho ba tiếp tục làm vườn, cho rằng việc làm vườn không mang lại hiệu quả kinh nên mẹ quyết định kêu người để bán.

        Là người hiền lành ít nói, ba thường nhịn mẹ trong những lúc có chuyện quan trọng hay bất hòa. Không còn ai để cầu cứu chia sẻ, ba vịn vào tôi như một tia hy vọng cuối cùng. Trở về thăm nhà, tôi đã cố gắng thuyết phục, giải thích cho mẹ việc ba làm vườn ngoài kinh tế còn là niềm vui. Nhưng rồi, tia hy vọng cuối cùng ấy cũng dần đà lịm tắt, tôi không đủ sức để làm sứ giả hòa bình. Không thể cải thiện được tình hình, tôi buồn bã vác ba lô lên vai đón xe trở lại trường, leo lên chiếc xe than đầy khói bụi, tôi đau đớn ngoái nhìn ngôi vườn như đang giãy nảy giữa trưa hè oi bức và hình ảnh ba tôi hiện lên với nét mặt thất thần, buồn bã.

            4. Phải đến hai năm sau kể từ ngày mẹ tôi bán đi khúc ruột thứ ba của ông, tôi  mới lóp ngóp ra trường.

Sau khi ổn định công tác,  tôi tranh thủ mở phòng khám tư ở nhà và lặng lẽ, gom góp nuôi nấng ước mơ của mình. Tôi còn nhớ như in cái ngày tôi báo với ba là tôi đã có đủ tiền để mua một mảnh đất cho ba làm vườn, ông vui mừng hớn hở như một thanh niên trai trẻ mới lần đầu lập nghiệp, đêm đó hình như ông thức trắng.

Vậy là tôi và ba tiếp tục gầy dựng lên ngôi vườn thứ tư. Để thỏa sức tung hoành, lần này khu đất mới mua có diện tích rộng gấp đôi khu vườn cũ, tôi hăm hở cùng ba đi mua cây giống về trồng. Tranh thủ những ngày nghỉ tôi lên vườn cùng đào lỗ, ươm cây cùng ba, tôi thấy ông như trẻ lại. Rút kinh nghiệm từ ngôi vườn trước, ba đầu tư những loại cây công nghiệp có giá trị thu nhập cao, còn cây ăn trái chỉ trồng xen canh vừa đủ ăn vặt. Chẳng bao lâu sau, khu vườn đã cho thành quả ngoài mong đợi. Từ tiền thu hoạch cây trái, ngoài việc trang trải cuộc sống, ông đã về quê xây lăng mộ cho ông bà, một ước nguyện đeo đẳng bao nhiêu năm kể từ ngày rời xa núm ruột quê hương. Từ một cái chòi tranh tạm bợ trong vườn, ba tôi đã xây được một ngôi nhà khang trang và đón mẹ tôi về ở, có lẽ đây là khoảnh khắc gần gũi đầm ấm nhất của đôi vợ chồng đã ngoài lục tuần.

Nhưng cái số phần nghiệt ngã lại bám riết lấy ông, đang vào thời điểm an nhàn và đầm ấm nhất thì mẹ tôi lâm bệnh, cơn tai biến đã cướp đi những bước chân từng một nắng hai sương của mẹ. Thế là ba tôi ngoài công việc vườn tược giờ phải kiêm thêm nhiệm vụ làm Ô sin. Mặc dù được chữa trị nhiều phương pháp Đông, Tây, nhưng đôi chân của mẹ tôi yếu dần theo năm tháng. Các em tôi cũng lần lượt lập gia đình, không còn ai ở lại vườn với ba mẹ nữa, vậy là chúng tôi quyết định đưa hai ông bà về thị trấn để dễ bề chăm sóc.

Về thị trấn chỉ mới vài tuần ông đã quay lại khu vườn, ông không chịu nổi sự tù túng của cuộc sống đô thị, biết khó lòng thay đổi quyết định của ba, chúng tôi đành lòng bố trí một đứa cháu về ở với ông, ngoài việc chăm sóc nội trợ còn phòng lúc trái gió trở trời...

 Rồi đứa cháu ngoại ngoan hiền ấy cũng đến tuổi lập gia đình, vậy là ba  lại sớm tối thui thủi một mình. Việc để ba phải đơn côi trong ngôi vườn vắng người qua lại là nỗi phập phồng của chị em tôi, khi mà sức khỏe của ba cũng lui dần theo năm tháng. Vậy là chúng tôi âm thầm lên kế hoạch xây cho ba thêm một ngôi nhà ở thị trấn, việc thi công được giữ bí mật tuyệt đối, đến ngày khánh thành công trình, chúng tôi mới đưa ông về. Biết sự sắp đặt có phần cương quyết của chúng tôi, ông đành phải buông xuôi.

Như một sự quan thúc cuối đời, trong chuỗi ngày còn lại, ba tôi đã phải quanh quẩn giữa bốn bức tường, với phố xá ồn ào náo nhiệt.

Sống trong căn nhà đầy đủ tiện nghi với sự chăm sóc ân cần và chu đáo của chị em tôi, nhưng sức khỏe của ông ngày một yếu dần. Tiểu đường, Tăng huyết áp, hai căn bệnh ấy cứ âm thầm bám riết ba. Mặc dù, ngày ngày vẫn mê say công tác xã hội, vẫn vui vẻ cười đùa với con cháu, nhưng trong sâu lắng tôi biết ba như con chim đang ở trong chiếc lồng chật chội ngột ngạt. Việc sơn phết, trang trí ngọc ngà cho chiếc lồng cùng với thức ăn bổ dưỡng cũng không thể giúp ông tăng thêm khí lực như khi tung cánh giữa đại ngàn.

            Và ba tôi đã ra đi chỉ vài năm sau đó, trong muôn vàn lý do mà người ta thường đổ cho bệnh tật, tuổi tác, số phận...Tôi rưng rưng nhận ra một nguyên nhân sâu thẳm, đó chính là nỗi buồn vì những tháng ngày bị quản thúc của chị em tôi.

            Khu vườn cuối cùng của cuộc đời ông, đến bây giờ chị em tôi vẫn giữ lại, tuy nhiên do thiếu bàn tay chăm sóc của ba, chúng không còn xanh tươi, mượt mà như trước nữa. Chỉ có điều, mỗi khi đặt chân lên con ngõ quanh co ấy, là tim tôi như bị nghẹn lại, trên từng lối đi, từng đám cỏ vẫn thấp thoáng tiếng bước chân của ba, vẫn còn nguyên vẹn gương mặt thất thần, buồn bã của ba trong những tháng ngày… ba đối diện với sự tuyệt vọng.

Trong sự yên ắng tĩnh mịch của ngôi vườn, trong cái cảm giác chênh vênh giữa cõi hư hao, tôi chỉ muốn thét lên: Ba ơi! Chúng con có lỗi với ba.

                                                         Khê Giang

READ MORE - NHỮNG NGÔI VƯỜN - Khê Giang

Tuesday, June 18, 2024

NHỚ LA VÂN - Thơ Khê Giang

 

Nhà thơ Khê Giang

NHỚ LA VÂN

Khê Giang

 

Em còn nhớ đến La Vân

Những năm Tết về xóm Chợ

Ngôi đình lao xao xác nhớ

Bụi hồng quanh quẩn hàng hiên.

Những ngày mưa qua Vườn Chanh

Nước ôm lưng cầu Ông Ép

Gập ghềnh chiếc xe Chà Rẹc

Chở mùa qua những lênh đênh.

Em còn nhớ xóm Sầu Riêng

Tiếng xe cuối đường thổ mộ

Thương Hồng Lan mùa lá đổ

Chiều nghiêng về phía Cây Dầu.

Những ngày Suối Lúp mưa sâu

Trượt trơn dốc về Ông Biện

Bưng Cơm nước trôi lời hẹn

Ai còn qua suối Đưa Em?

Nhớ ngày nắng về Vinh Thanh

Ốp Yang Va mừng lúa mới,

Mảnh trăng khuya tần ngần đợi

Lời ca sóng sánh giọt đàn.

Những mùa đăng bẫy Núi Nhan

Vườn Tranh đêm về mễn tác

Tiếng khuya vỡ lời lục lạc

Người đi như bóng không hình!

Những ngày rong ruổi Bàu Chinh

Lối qua Đường Cùng Huyện Đỏ,

Suối Chích bằng lăng tím nở

Cu gù dậy núi Gà Bươi.

Thương người qua dốc Ba Mươi

Bỏ quên lối về Tầm Bó

Bàu Sen những mùa hoa nở

Run run tiếng cuốc gọi chiều.

Em còn nhớ căn chòi xiêu

Leo heo phên gầy mỏ sịa

Lúa ngô nhớ mùa trồng trỉa

Trăng gầy thấp thỏm qua hiên.

Những ngày gió trở niềm riêng

Cơn mưa đầu mùa như vội

Ngọt bông bí xào nấm mối

Mắt em tươi đọt rau rừng.

Ngày mưa quên về rẫy bưng

Bà Chằn lạnh lùng quây lửa

Tắc kè thả lời theo gió

Tiếng buồn sâu hoắm lòng đêm.

Xóm làng giờ đã thay tên

Lối quê mấy mùa yên ngủ

Người đi qua… ngày xưa cũ

Có còn nhớ đến La Vân?

                        Khê Giang

 

 

READ MORE - NHỚ LA VÂN - Thơ Khê Giang

Saturday, June 15, 2024

KÝ ỨC LA VÂN (2) - Khê Giang

Hồ núi Nhan (La Vân)

 

 

KÝ ỨC LA VÂN (2)

Khê Giang

 

Bỏ lại mảnh đất chôn nhau cắt rốn, bỏ lại mô hình hoạt động hợp tác xã thiếu hiệu quả, bỏ lại cái đói đang ngày đêm ngấu nghiến rình rập, những người dân từ nhiều nơi của miền Trung đã lũ lượt vào La Vân để tìm kế sinh nhai.

Không còn chọn lựa nào khác ngoài việc phá rừng làm nương rẫy mặc dù họ đã thấm nhuần những câu phương ngữ từ quê hương nguồn cội: “Tội thứ nhất là săn lùng Hà Bá, tội thứ nhì là chặt phá sơn lâm” hay “Ăn được của rừng là rưng rưng nước mắt”. Từ đây những cánh rừng già nhiệt đới có tuổi hàng ngàn năm từ từ ngã xuống. Những cánh rừng bạt ngàn từ núi Nhang vòng qua suối Chích đến núi Gà Bươi đã lần lượt ra đi. Chim chóc, thú rừng nối nhau di tản khỏi nơi tang tóc mà tổ tiên chúng đã từng nương náu.

Khác với Tằm Bó, Lồ Lồ, Xuân Sơn ngoài những cây thân gỗ còn lại là  những hàng tre suôn mượt, vùng rừng khai phá của người dân La Vân đa số là những loại tre gai đặc chủng, mỗi bụi tre này có đường kính lên đến cả 10m, phải kiên nhẫn, phát luồng, rọc nhánh, dựng thang để đốn hạ, đôi khi lần mò chặt đốt cả tuần mới xong một bụi. Để phá được khoảng 1 ha rừng nơi đây có khi phải mất cả tháng.

Cây ngã xuống đâu thì ngô đậu mọc lên ở đó, đây là những cây lương thực ngắn ngày có khả năng sinh trưởng và cứu đói nhanh nhất, do kinh tế khó khăn ngoài thời gian phá rừng họ phải tranh thủ xắn măng, đào củ chụp, cưa củi hoặc lượm hạt cao su đem về bán. Những khi không có điều kiện khai thác các sản vật của rừng một số đã tham gia phiên chợ người để được vào Bình Giã làm mướn kiếm tiền trang trải cuộc sống thường ngày.

Người La Vân thường dựng chòi trong nương rẫy để bảo quản và lưu giữ lương thực cho đến khô mới dùng xe đạp để thồ về nhà. Chỉ những gia đình có chòi quá  nhỏ hoặc số lượng lương thực thu hoạch quá lớn (sợ ẩm mốc) mới thuê xe bò để vận chuyển về vì cước phí rất cao, cước phí này chiếm mất một phần ba tổng giá trị sản phẩm trên mỗi chuyến.

Sau những năm 80, cuộc sống của người dân La Vân đã có phần dễ thở hơn, thôn ấp đã khoác lên mình chiếc áo mới, tuy chưa phải là đẹp nhưng cũng đã coi là tươm tất lành lặn. Rời bỏ ngôi đình chật chội, chợ La Vân đã dịch chuyển về ngã ba và khoác cho mình cái tên mới là chợ Ngãi Giao, các hàng quán cũng đã từ từ mọc lên, sầm uất nhất vẫn là khu ngã ba mặt tiền của chợ (vòng xoay Lê Hồng Phong bây giờ).

Các quán cà phê như Mây Ngàn, Hoa Rừng, Tư Nhà Máy... lần lượt mọc lên. Nép vào một góc nhỏ hai mặt tiền vườn của bà Bảy Phương là một tiệm giải khát nhỏ của Mười Chị, Mười Em phục vụ cho những hành khách trên những chuyến xe tạm dừng chuyến khi ngang qua La Vân, Các quán ăn cũng tiếp nối nhau ra đời: quán cơm Bà Ngơ, quán bún bà Ba Duy, Bà Liễn...đây là những quán ăn sáng nhưng vẫn có thể tranh thủ lai rai được.

Món nhậu lúc này quanh quẩn cũng chỉ là một ít đặc sản rừng, và gia súc gia cầm địa phương. Thức uống lúc này ngoài rượu Hoa Long, rượp Áp xanh có cả bia Sài Gòn, BGI, 33, tuy nhiên đa phần người dân vẫn thường uống rượu gạo tự nấu hoặc uống bia lên men, một loại bia thủ công được chưng cất từ việc lên men trái cây rồi đóng chai. Do hạn sử dụng rất ngắn nên bia được bảo quản lạnh vì vậy hay xảy ra hiện tượng đông đá trong chai, điều bất tiện nhất trong cuộc nhậu là bia không chạy kịp theo mồi. Để giải quyết tình hình đôi khi tự tay mỗi chiến hữu phải ngâm bia trong nước ấm hoặc dùng một chiếc đũa chọc ngoáy cho tan đá thì mới có xăng để chạy tiếp. Loại bia này một số bợm nhậu thường đùa là bia lên cơn.

Đã có nhiều chuyến xe hàng lưu thông tuyến Bà Rịa Long Khánh hay Bà Rịa - Xuân Sơn, đó là những cổ xe cũ của hãng Renaul hay Toyota được chế lại thành xe chạy bằng than củi, đây là một phát kiến độc đáo của các “ kỹ sư” nông dân khi nền kinh tế của cả nước lâm vào khó khăn. Mỗi chiếc xe đều cõng sau lưng một thùng đựng than khổng lồ, cứ độ vài ba trăm mét di chuyển, chú lơ xe dùng dùi gỗ nện ình ình vào thùng than, những hòn than đỏ rực văng tung tóe nhảy múa xuống mặt đường.

Mặc dù trông bụi bặm và nhếch nhác nhưng những cổ máy này cũng đã đóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển hành khách và lưu thông hàng hóa trên những địa bàn mà nó đi qua như: Suối Nghệ, Bình Ba, Bình Giã…Để tận dụng tối đa công năng, mỗi

chuyến xe luôn nêm chặt người và hàng hóa trong một không gian chật chội, không muốn giam hãm trong cảnh tù túng đa số thanh niên thường leo lên mui xe và tất nhiên là phải chịu cái cảm giác chông chênh như ngồi trên lưng trâu mỗi khi xe uốn lượn nhằm tránh ổ gà. Các xe này vòng đi thường chở hải sản từ Bà Rịa, Phước Hải lên và chở củi, nông sản, mủ cao su… từ La Vân đến Bà Rịa trên vòng về.

Khu vực La Vân, thời điểm này nhiều nhà đã có TV, đa phần là những chiếc TV đen trắng mang nhãn hiệu Sanyo, Sony hay Hitachi, hầu hết là hàng nghĩa địa của Nhật, được chuyển đổi từ xài điện qua bình ắc quy. Những tiệm sạc bình cũng đã nhanh chóng mọc lên, đó là tiệm anh Lợi gần đình chợ La vân, tiệm anh Châu ở Cây Dầu và quy mô nhất là tiệm sạc bình của anh Chính Vàng nằm gần ngã ba khu nhà ông Năm Ngân.

Để tiết kiệm điện, các nhà có TV đa phần chỉ mở chương trình những bông hoa nhỏ (dành cho thiếu nhi) và chờ đến lúc có phim mới mở lại để cùng nhau thưởng thức. Chủ nhân luôn dọn sẵn chỗ cho những người ở chung xóm coi nhờ, số lượng người xem đôi lúc lên cả vài chục. với những bộ phim như: người Nông dân nổi dậy, Người giàu cũng khóc, Nô tì Isaura... đã cuốn hút và lấy nước mắt của nhiều chị em mỗi đêm.

Riêng những anh chàng mê bóng đá, muốn coi những trận cầu Euro 84, Mexico 86 hay các trận tranh giải Châu Âu vào buổi khuya thì mỗi người phải xách theo một bình ác quy để đấu nối, vì cho dù là tivi trắng đen nhưng để coi hết một trận bóng đá đôi khi phải huy động gần cả chục bình để tiếp ứng.

Việc thụ hưởng văn hóa của người dân vào thời điểm này cũng hết sức hạn chế, ngoài việc coi truyền hình, thi thoảng mới xem được một bộ phim màn ảnh rộng của công ty chiếu bóng phục vụ có bán vé, hay cả tháng mới có một đoàn cải lương đến diễn tại đình chợ La Vân. (còn tiếp)

Ảnh: Hồ núi Nhan (La Vân)

 


 

READ MORE - KÝ ỨC LA VÂN (2) - Khê Giang

Tuesday, June 11, 2024

KÝ ỨC LA VÂN (1) - Khê Giang

 

Trung tâm Văn hóa Thể thao huyện Châu Đức

KÝ ỨC LA VÂN (1)

Khê Giang 

 

La Vân cuối thập niên 70 của thế kỷ trước là một ấp của xã Ngãi Giao, “thủ phủ” này cùng với những ấp như Vinh Thanh, Đường Cùng, Kim Long, Quảng Thành, Xà Bang, Láng Lớn, Cù Bị… tạo nên một xã có diện tích lớn nhất huyện Châu Thành (Đồng Nai) thời bấy giờ.

Nguyên thủy La Vân không hề thuộc về Ngãi Giao mặc dù là hai địa bàn giáp ranh. Theo “Địa bạ triều Nguyễn” được lập vào năm 1846 “ Phần tỉnh Biên Hòa”  thì Ngãi giao thuộc Tổng Long cơ trong khi thôn La Vân lại thuộc tổng An Trạch. (Tổng Long Cơ bao gồm 03 xã và 04 thôn: xã Ngãi Giao, Bình Ba, Thới Giao cùng các thôn: Bình Dã, Điền Dã, Tịnh Ba và Khánh Hội; Tổng An Trạch có 02 xã và 06 thôn: xã Bàng La, Hách Dịch cùng các thôn: Câu Bị, Câu Khánh, Khánh Bình, La Vân, La Sơn và Phước Chí). Phải đến năm 1917 khi An Trạch và Long cơ hợp nhất lúc này La Vân và Ngãi Giao mới cùng thuộc tổng Cơ Trạch

 

 

Thị Trấn Ngãi Giao. Ảnh từ baobariavungtau.com.vn

1. Những sắc màu cư dân

Dân cư La vân ngoài người bản địa Châu Ro còn lại hầu hết là dân ngụ cư, họ đến từ rất nhiều vùng miền qua những đợt di dân. Một số cư dân từ nhiều vùng miền đến làm đồn điền cao su từ thời Contra, như gia đình ông Cai Giang từ miền Bắc, ông Đội Hoành có gốc gác từ làng Phú Nông, Phong Điền, Thừa Thiên, ông Võ Viên đến từ Làng Đâu kênh và ông Sáu Liên đến từ làng Đại Lộc cả hai đều thuộc huyện Triệu Phong tỉnh Quảng Trị…

Sau đó là phong trào Dinh điền vào khoảng năm 1961. Trong dòng chảy di cư này có gia đình ông Câu gốc gác từ làng Văn Quỹ, Hải Lăng, Quảng Trị. Nhiều gia đình có gốc gác từ Quảng Nam cũng di dân theo chương trình này, ban đầu họ đến định cư tại Ba Mẫu, nhưng chỉ sau vài năm do thiếu an toàn vì chiến sự, họ lại được đưa về La Vân…trong số này có gia đình ông cả Tru, ông Toại, bà Kê, bà Thanh, bà Sáu Dậu ở xóm Chợ cũ (quanh đình La Vân)

Ngoài những cư dân vào từ miền Trung số gia đình trong tỉnh từ Hòa Long, Long Phước đã đến La Vân khai khẩn lập nghiệp như gia đình ông bà Sáu Cứng, anh em ông Tư Cam.…gia đình bà Năm Kim Hoa từ Long Điền lên La vân bán hàng sành sứ chum vại. Một số có gốc gác từ Tây Ninh cũng tìm về đây tìm kế sinh nhai như gia đình ông Tư Mua, ông Ba Tràng, ông Năm Bằng, ông Tư Dung, Bảy Phương…Đơn lẻ một một số gia đình di dân từ Trà Vinh lên như ông Tư Hưng có gốc gác là người Khơ me, bà Hai Thương ở Sài Gòn,

Một số cư dân gốc Cam Lộ Quảng Trị di dân vào Hàm Tân vào năm 1972, đầu những năm 1980 cũng đã chọn La Vân là vùng đất sinh kế, trong số này có gia đình ông Ngôn, ông Đàm, ông Phụng…

Đợt di cư đến La Vân hùng hậu và quy mô nhất có lẽ là giai đoạn chuyển tiếp từ những năm cuối của thập niên 70 đến những năm đầu của thập niên 80, trong số này hơn 70% là người Quảng Trị đa số là từ Hải Lăng, có làng đi đến cả hàng chục gia đình như làng Câu Hoan, làng Diên Sanh, Trường Sanh, Văn Trị, Văn Quỹ, Trà Trì, Trà Lộc, Mỹ Chánh… Cư dân Thừa Thiên chiếm khoảng hơn 10%, đông nhất là làng Mỹ Xuyên, Mỹ Lợi…, phần còn lại là những địa phương khác.

Làng quê xã Cù Bị, huyện Châu Đức.
Ảnh từ baobariavungtau.com.vn

 

2. Bức tranh nông thôn

La Vân vào thời điểm này như một bức tranh với hai gam màu chủ đạo là xanh và đỏ. Màu xanh bạt ngàn của rừng cao su, và những vuông rừng còn sót lại,  màu đỏ là màu đất Bazan bao trùm lên nhà của, đường sá, nương rẫy vườn tược.

Vào mùa mưa những con đường đỏ trơn trợt lầy lội mang đất đỏ bò vào tận nhà, hai phương tiện phù hợp nhất khi lưu thông vào nương rẫy là ngồi trên thùng xe bò hoặc cuốc bộ bằng chân trần. Giày, bốt là hàng quá xa xỉ còn dép thì không thể xử dụng được vì chỉ cần nhấp vài bước là khối lượng đôi dép đã tăng gấp đôi (do đất bám dính), không sớm đứt quai thì cũng chẳng nhấc chân lên nỗi! đoạn đường nào ngập ngụa, sụt lún phải đi vòng men qua vườn tược người dân.

Những lúc đi công chuyện, đi chợ trong ấp cứ vài chục mét phải dừng lại để xỉa đất ra khỏi dép, nhiều người vẫn thường xuyên dự trữ vài cọng kẻm trong túi để phòng ngừa đứt dép giữa đường. Tất cả xe đạp muốn lưu thông đều phải thực hiện chế độ không “quần áo”: Không chắn bánh, không chắn xích, không phanh…Ngay cả nền nhà, dăm bữa nửa tháng phải dùng cuốc để san phẳng những u nần, mô đất đã vón kết thành u cục qua thời gian.

Mùa nắng, từng cơn gió miệt mài thốc bụi đỏ tràn ngập mọi nơi, khi một chiếc xe máy chạy qua là không thấy người đi trước mình cho dù chỉ là một khoảng cách nhỏ. Nhà cửa, bàn ghế, cây cối… tất cả đều đỏ quạch, để giảm sự nhọc nhằn trong việc giặt giũ ít ai may áo quần màu sáng, dù biết đó là những sắc màu nền nã thanh lịch.

La Vân sau chiến tranh ngoài con đường nhựa độc đạo mang tên tỉnh Lộ 2 sau này là Quốc lộ 56 chạy xuyên qua thôn, nối hai vùng Bà Rịa - Long Khánh và một con đường nối hông của con tỉnh lộ này trườn vào đến Xuân Sơn, tất cả còn lại chỉ là những con đường đất bazan đỏ quạch len lỏi qua những vườn cao su, hay những khu rừng um tùm rậm rạp. Gọi là đường nhựa nhưng thật sự chúng đã trở thành con đường da beo khi trên mình mang quá nhiều thương tích, những ổ trâu ổ voi bị lở lói do bom đạn nay giờ tiếp tục oằn mình dưới sự ngấu nghiến hàng ngày của những cổ xe bò bánh sắt ngày đêm ì ạch nối đuôi nhau trên dòng sinh kế.

 

3. Cuộc bươn chải mưu sinh

Đình chợ La Vân được xây dựng từ năm 1967 nằm lọt thỏm cách con lộ khoảng dăm chục mét, chợ chỉ nhóm vào buổi sáng. Do chật hẹp nên hàng quán bày bán bò ra tận mép đường, dẫu trống huơ trống hoác nhưng đây là nơi ngã lưng của những gia đình mới đến khi chưa có được một mảnh đất để cắm dùi. Cộng đồng tạm cư này thỉnh thoảng lại bị giải tỏa và phải vạ vật qua đêm trong các trường học khi có những đoàn hát về đây lưu diễn, có rất nhiều đoàn trong và ngoài tỉnh trôi nỗi đến đây, quen mặt nhất là đoàn Tinh Hoa nơi anh em nghệ sỹ Minh Tiến, Phượng Hằng…cùng với những thành viên gia đình cùng hợp lực biểu diễn.

Cách đình chợ vài chục mét về phía đối diện là con đường chính của người La Vân đi rẫy vào rừng…Để vào được nơi trồng trọt khai thác này mọi người phải vượt qua cầu Ông Ép, gọi là cầu nhưng nơi đây chẳng thấy cầu đâu ngoài một cây cổ thụ bật gốc vắt ngang qua hai bờ về phía hạ lưu còn lại chỉ là con đường đá và đất. Khi những cơn mưa sầm sập đổ xuống người và mọi phương tiện qua đây đều phải bó gối ngồi chờ nước rút, rất may cái mưa đặc trưng vùng này hiếm khi kéo dài quá một giờ.

Đây là đoạn đường khá tấp nập, sáng sớm khi đám gà rừng còn te te gáy bên hai bờ suối Lúp hàng đoàn người gồng gánh tay rựa tay vác xẹc lai đi rẩy, tùy mùa hàng đoàn xe bò leng keng nối đuôi nhau chở gỗ, chở bắp ì ạch băng qua đoạn đường nhọc nhằn này… Vào mùa mưa, mỗi ngày có vài chục chiếc xe bò mắc lầy, việc điều một chiếc xe bò băng qua đoạn suối chỉ vài chục mét này có khi phải mất cả buổi nếu gặp lúc bò trở chứng hay thiếu sự cứu viện của những “chiến binh bò” khác…

Dân La Vân đa phần quần cư ở phía đông lộ, phía tây là vườn cao su của ông Hồng Lan kéo dài từ nhà ông Cai Phong đến tận Cây Dầu, mặt hậu khu vườn loang dài đến tận suối Lúp. Xen lẫn giữa khu rừng cao su Hồng Lan là những vườn cây nhỏ trồng mít, sầu riêng… những khu vườn này sau khi được đông đảo người dân đến định cư đã trở thành địa danh mới của La Vân như Xóm Mít, xóm Sầu Riêng…

Ngã ba La Vân lúc này có một ngôi chợ khá đặc biệt thường tấp nập vào mỗi sáng sớm, đó là chợ xe và chợ người. Chợ xe của người Bình Giã và chợ người là dân nhập cư La Vân. Hai chợ này hoạt động dạng như hoán đổi vị trí nhu cầu cho nhau, người La Vân thuê xe bò để chở nông sản sau thu hoạch và người Bình Giã thuê nhân công của La Vân để làm nương rẫy. Chợ xe là những chiếc xe bò đôi hay bò éc nối nhau nép mình bên vệ đường, xếp hàng từ trước nhà ông Năm Ngân cho đến hông nhà bà Bảy Phương. Chợ người nhóm họp phía đối diện chợ xe dưới gốc bông gòn cổ thụ của quán Bà Ngơ, một ngôi quán kiêm nhiều chức năng: quán ăn, quán nước, bán trái cây, hàng tạp hóa, nơi vá ruột xe hơi, thậm chí có cả một bưu điện chợ trời nơi đặt hòm thư mở, nhận thư từ muôn nơi chuyển đến.

(Còn tiếp.) 






Khê Giang - Lê Văn Huấn

READ MORE - KÝ ỨC LA VÂN (1) - Khê Giang