Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Đông Hà. Show all posts
Showing posts with label Đông Hà. Show all posts

Sunday, January 24, 2016

LỜI TỰ SỰ CỦA NGƯỜI ĐƯA GIÓ - Đông Hà





LỜI TỰ SỰ CỦA NGƯỜI ĐƯA GIÓ

Đông Hà đọc tập thơ Người Đưa Gió của Bùi Viết Anh.


Một ngày nào nọ, Bùi Viết Anh bảo tôi rằng anh làm thơ. Tôi cười nghĩ đấy là lời nói đùa. Thời nay thơ không phải là model dành cho người trẻ tuổi. Rồi cũng một hôm nào nọ, Bùi Viết Anh bảo tôi rằng anh in thơ. Tôi bật cười và sau đó là sự tò mò. Tại sao một người trẻ tuổi, làm việc ở một lĩnh vực không liên quan gì đến văn chương nghệ thuật, lại kiên quyết đến với thơ nhường vậy?

Nhưng giờ cầm trên tay tập Người Đưa Gió, những băn khoăn của tôi đã vỡ tan. Bởi ở đó tôi không còn thấy một Bùi Viết Anh của tuổi trẻ bồng bột hay đùa cợt hay đại loại gì đấy mà là một người đàn ông chững chạc đang bắt đầu nói lên tiếng nói của chính thân phận mình.

Với 65 bài trong tập thơ đầu tay của mình, Bùi Viết Anh viết về tình yêu, về cuộc đời, về quê hương như một lẽ tất nhiên. Thơ Bùi Viết Anh không hướng đến sự mới mẻ về hình thức hay nội dung như những người làm thơ trẻ hiện nay đang cố gắng đạt đến. Người đọc khi đến với tập thơ này chỉ được cảm nhận một tấm lòng thơ trong những cung bậc cảm xúc rất đời thường của một con người bình thường. Đó là yêu thương hờn giận, đó là khao khát say mê và đó cũng là xót xa ray rứt trước tình đời, tình người. Trong câu chữ ấy, người đọc có thể thấy được sự si tình của một chàng trai mới lớn trong cách tỏ bày rất riêng:

Em đến phương trời xa tít tắp
Lãng quên
Anh
Một bóng hình lay lắt
Đêm em!
(Đợi)

Thông thường với những người ngoại đạo khi làm thơ với tâm thế “giãi bày cho vui”, người viết hay rơi vào cách thể hiện bằng lối mòn dễ dãi nhưng ở đây Bùi Viết Anh đã biết cách rút chữ đến kiệm lời. Nên câu chuyện tình day dứt nhưng không rơi vào sáo rỗng. Hai từ trong câu kết “Đêm em” như mở ra một không gian thời gian toàn vẹn của nỗi nhớ với nhân vật trữ tình duy nhất là “em” choán đầy. Điều này khiến thơ Bùi Viết Anh mới mẻ và hiện đại không ngờ.

Ở bài “Mối tình đầu”, anh lại trở nên già dặn một cách đáng kinh ngạc. Từ cách chọn lối thơ lục bát truyền thống đến cách dùng từ cho đến cả cách cư xử trong tình yêu đều như thể là một người qua lắm trải nghiệm cuộc đời:

Khóc than cho mối tình đầu
Câu thơ rớt giữa bờ sầu chia ly
Ngậm cười gặp gỡ làm chi
Thiêng liêng môi mặn dành khi đắng lòng

Ba câu thơ đầu là lời than chung cho những kẻ thất tình, nhưng câu cuối bật ra khiến người đọc nhận thấy ở đây một tấm lòng nhân hậu thủy chung. Thất tình mà còn để dành khi đắng lòng thì quả thật, trái tim yêu này mang một tình yêu đẹp kiểu … cổ điển!

Trong “Lạy Kiều”, chàng trai ba mươi tuổi đã có những câu thơ đắng chát nỗi nênh sự tình sự đời:

Kính thưa một kiếp đoạn trường
Kiều ơi xin lạy một đường tình duyên
Ba mươi năm một lời nguyền
Vô duyên! Hẹn gặp ngọc tuyền người ơi

Cái duyên cái tình như thể của người đời xưa. Không những vậy, chữ duyên trong câu thơ còn nghe xót xa như định mệnh “Lỗi duyên hỏi tại trời xanh”. Thời nay, những người trẻ tuổi thường không nặng lòng tin vào duyên kiếp. Mà thơ Bùi Viết Anh vẫn tin vào duyên nợ cuộc đời. Như thể đã qua quá nhiều trầm luân và đạt đến sự giác ngộ của tình trường trong tâm hồn của một con người trải qua nhiều cay đắng.

Nhưng hơn cả trong tập thơ đầu tay này, tôi quý nhất ở Bùi Viết Anh là sự chân thành mộc mạc mà rất thâm trầm da diết trong chất tự sự trữ tình về một cái tôi cá nhân riêng biệt. Đó là giọng điệu của một người trẻ tuổi sớm từng trải trong cuộc đời, sống nhiều để từ đó chắt chiu lên từng vần thơ đầy xúc động:

Tôi là một thằng con trai
Sinh ra vốn gầy gò ốm yếu
Ba mươi tuổi bốn mươi cân chưa vượt nổi
Nên gọi tôi: Một thằng nhãi nhẹ cân.

Một thằng nhãi nhẹ cân
Nên tôi sống với tâm hồn bé nhỏ
Chỉ dám yêu ngôi làng bên dòng sông không chảy
Yêu cây tre đã gãy ngọn tự bao giờ

Những câu thơ như một bản tường trình về sự bé nhỏ của thân phận, sự bé nhỏ của tâm hồn nhưng quả thật, với hai câu: “Chỉ dám yêu ngôi làng bên dòng sông không chảy/Yêu cây tre đã gãy ngọn tự bao giờ” thì quả thật chàng trai nhẹ cân này có một trái tim không hề bé nhỏ. Tình yêu ấy sao mà bao dung, đằm thắm và trìu mến đến vô cùng. Dòng sông thì phải chảy, cây tre thì phải cao ngọn. Vậy mà Bùi Viết Anh đã chấp nhận tất cả những sự thật ngược lại của lẽ tự nhiên đó. Như các một người tình yêu tình nhân của mình thì hẳn nhiên yêu luôn những thói xấu của người ấy. Yêu bằng một tình yêu không cân phân lựa chọn, đó mới chính là tình yêu đích thực, nhân ái và đầy bao dung. Nên thơ Bùi Viết Anh đã vượt lên cái tầm thường để bộc lộ một tâm hồn lớn lao không mấy ai dễ hồ có được.

Ở góc nhìn khác, Bùi Viết Anh đã khiến tôi giật mình khi anh chạm vào một đề tài quá quen thuộc cho biết bao thi nhân tự cổ chí kim, đó là vẻ đẹp của con sông Hương thơ mộng xứ Huế. Nhưng hãy xem cách nói của người làm thơ trẻ tuổi này:

Chiều nay nâng chén ngang mày
Cụng ly sông nhé muôn ngày lại không
Ly này chúc tụng mùa đông
Con sông nằm ngửa nhìn không thấy nhà

Ly này nhấm nháp mùa qua
Văn Lâu giờ vắng tiếng là đà buông

Ly này uống thật, nói suông
Ngàn năm sông vẫn trần truồng đấy thôi
(Uống rượu với sông Hương)

Viết về sông Hương quá nhiều, thơ hay cũng vô kể. Nhưng dòng sông trong cái nhìn của một lần “uống thật, nói suông” mà buột miệng “Ngàn năm sông vẫn trần truồng đấy thôi” khiến tôi quá đỗi bất ngờ. Khó cắt nghĩa câu thơ. Nhưng cảm giác thân thuộc, yêu dấu, gần gụi quá chừng. Không còn khoảng cách, không làm dáng, không “nịnh”, người thơ đang nói với sông như nói với một người nằm trong tình yêu dấu của mình. Thật đấy. Thật thế. Thì cái tình Huế của chàng trai này đã nồng nàn sâu đậm biết bao. Mà cũng táo bạo xiết bao.

Như lẽ thường tình của những người trẻ tuổi, ở tập này, Bùi Viết Anh chọn in nhiều những bài thơ tình. Tuy nhiên tôi lại thích những câu thơ chiêm nghiệm về sự đời của một chàng trai mới lớn nhưng đã kịp trải qua những dâu bể cuộc đời để từ đó viết cho riêng mình những lời thơ tự sự. Đó là cảm giác của  những hư và thực: “Tuổi trẻ qua thời ngông/ Tâm tư đầy thổn thức/ Giật mình mơ và thực/ Âu như là chiêm bao” (Xưa). Hoặc đôi lời của một người đi bước quá dài giờ ngồi ngoảnh lại: “Tuổi người đã ngậm cười/ Còn gì mà mong mỏi/ Những buồn vui trong cõi/ Chỉ còn lại như là…” (Chào thu). Đây là cảm giác của sự từng trải. Và với tuổi đời còn quá trẻ, thì Bùi Viết Anh phải tinh tế để thu nhặt từng cảm giác sống của mình mới có thể có được những ý niệm về cuộc đời như thế.

Đọc Người Đưa Gió, tôi không có ý phẩm bình về tác phẩm này. Bởi thời buổi này người làm thơ nhiều quá, nhưng người trẻ tuổi miệt mài làm thơ thì không nhiều. Và một lẽ dĩ nhiên, với tập đầu tay (và có thể rất nhiều tập về sau, của rất nhiều người làm thơ khác nhau) không thể gọi là hoàn hảo. Một đôi chỗ này nọ, một vài khiếm khuyết thế kia, dăm ba điều chưa ưng ý. Nhưng vẫn có cái cho người đọc thích, thì tôi nghĩ, người làm thơ đã đạt được một cái gì đó trong câu chữ của mình.

Như Bùi Viết Anh đã nói: “Viết sự thật trên đời quá khó/ Trên tình yêu và nhịp con tim” nhưng tôi tin tâm hồn anh sẽ không thỏa hiệp với cái khó mà văn chương bắt đầu dẫn dụ anh đi.
  
                                                                       Đ.H
READ MORE - LỜI TỰ SỰ CỦA NGƯỜI ĐƯA GIÓ - Đông Hà

Friday, November 28, 2008

ĐÔNG HÀ

Đông Hà
Những lá thư tình


Những lá thư tình như những nhát dao

Chuôi dao đã tuột về quá khứ

nhiều khi trong cơn mê ngủ

tôi bàng hoàng



Những thư tình viết từ thuở hồng hoang

Có yêu thương cuồng điên thời trẻ tuổi

( Yêu như thể không yêu là chết mất

chẳng hiểu sao lại sống dậy trong lòng )



Những lá thư tình như những nhát dao

Chuôi dao đã quay về quá khứ

cầm sao không chảy máu bây giờ???


CHUYỆN ĐỜI XƯA

TRONG NHÀN ĐÀM HOÀNG PHỦ


ĐÔNG HÀ




Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trong những cây bút ký tiêu biểu của Huế và cả nước. Anh tung hoành trên nhiều dải đất khác nhau của đất nước nên những trang viết của anh ngồn ngộn chất sống cộng thêm với sự uyên bác vốn có khiến giọng văn của anh càng thêm sang trọng. Anh không chỉ tài hoa trong thể ký mà còn thành công trong lĩnh vực thi ca bởi đây là một người không hề dễ dãi với con chữ chút nào. Với thể loại thơ, Hoàng Phủ Ngọc Tường là người làm thơ luôn bị ám ảnh bởi “cõi chết”. Thân phận và Con Người, Tình yêu và Cái chết luôn xuất hiện trong thơ anh như trực quan về cuộc sống của riêng mình. Thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường đẹp như nỗi buồn đọng lại. Ở đấy, người ta thấy thơ anh đã được sinh ra giữa sự sống và cái chết, niềm vui và nỗi buồn, giữa cái cô đơn ầm ào tuyệt vọng. Những câu thơ hay của anh thường buồn tha thiết “Mai kia rồi cũng xa người/ Tôi về ngủ dưới khung trời cỏ hoa/ Có nàng xoã tóc tiên nga/ Quỳ hôn cát bụi khóc oà như mưa”. Buồn đến dại khờ, đến đê mê đắm đuối. Nhưng khi đến với Nhàn đàm, dường như anh lại tỉnh táo bình tĩnh đến không ngờ. Vẫn giọng điệu tài hoa sang trọng nhưng bình tĩnh, khác hẳn cái chất giọng đa tình của thể thơ và hoài mang của thể ký.

Đến bây giờ có thể nói người viết nhàn đàm trong văn học Việt Nam chưa nhiều, đây vẫn là một lĩnh vực mới mẻ trong khi trên thế giới thể loại này đã khá phổ biến. Giả Bình Ao ở Trung Quốc đã rất thành công ở thể này. Ở Việt Nam, người viết Nhàn đàm có thể kể ra một vài người tiêu biểu như Thanh Thảo, Tiêu Kim Thuỷ… Và nổi trội, viết đều đặn, đầy tay hơn cả vẫn là nhà thơ, nhà văn Hoàng Phủ.

Nếu trong thơ, Hoàng Phủ làm thơ như thể “viết di chúc để mà chết” theo nhận xét của Nguyễn Trọng Tạo, viết tuỳ bút như để “trằm” cả gương mặt mình vào đất Thần kinh như lời của Tô Hoài thì trong Nhàn đàm anh lại bình tĩnh “lẩy” lên từng hạt cát của cuộc đời để chiêm nghiệm, trở trăn. Những bài Nhàn đàm nhỏ bé, xinh và giàu chất suy tư trăn trở với cuộc phù sinh. Đôi khi chỉ là một điều rất giản đơn nhưng Hoàng Phủ đã khiến người đọc phải giật mình ngẫm ngợi. Và hình như để đạt được cái “ vỗ vai” đầy thâm hậu ấy, thấp thoáng trong những trang viết của mình, nhà văn đã rút tỉa những chất liệu có từ khởi thuỷ xa xưa để nhắc nhớ con người ngày nay, đó là chất liệu đã hàng nghìn năm tích tụ từ kho văn học cổ Trung Quốc.

Điều dễ nhận thấy là trong rất nhiều bài Nhàn đàm của anh thường xuất hiện các tư tưởng triết học phương Đông, mà điển hình vẫn là tư tưởng triết học Nho- Phật – Lão của Trung Quốc. Vốn là một giáo sư triết học nên việc vận dụng những tư tưởng triết học trong những bài viết của mình là điều dễ hiểu. Ngay trong những sáng tác ở thể loại ký, cũng chính chất triết lý sâu xa ấy đã làm nên tầng vỉa lớp mạch cho tác phẩm của anh.

Với Nhàn đàm cũng vậy, cũng những câu chuyện triết học nhưng ngắn gọn vô cùng, đôi khi câu chuyện có thể chiêm nghiệm cả một đời lại nằm vỏn vẹn trong đôi câu nhẹ nhàng quá thể. Bàn về triết học Khổng Tử đôi khi với Hoàng Phủ chỉ là sự tình cờ “Ngẫu Hứng”: “Trải gần suốt đời người dâu bể, thú thật cho tới nay, tôi vẫn chưa đi hết cuộc chuyện trò ngẫu hứng của thầy trò họ Vương trong buổi chiều xa xôi ấy nơi sườn núi. Có ai giúp tôi hiểu tường tận cái Tâm là gì? Có lẽ cũng chỉ cách thô sơ ấy thôi, như lời thầy Nguyễn Đăng Thục, đêm khuya nằm thật yên, nghiêng tai trên gối và nghe tiếng đập trong lồng ngực”. Lời của triết nhân từ xa xưa vọng về, đi hết cuộc đời dâu bể vẫn chưa “ngộ” được đạo, mà giản đơn chỉ lắng nghe tiếng đập của trái tim mình, ấy là đạo. Thuyết Tâm học của Dương Vương Minh sao phải đi dài đến thế khi lại gần ta trong gang tấc đến thế, phải chăng nhà văn đã tìm ra con đường ngắn nhất giúp người đọc “ngộ đạo” khi bản thân mình đã đi suốt chặng đường dài nhân thế?

Hay trong một bài Nhàn đàm khác, nhan đề tưởng chừng vu vơ tính tình tang “Ai đem con sáo sang sông”, anh lai lấy tích xưa của thầy trò Tam Tạng về chuyến qua sông luỵ dò, luỵ đò xong lại quên ngay đấy. Phải chăng đó là một tâm tính xấu con người hay mắc phải? Người đời gọi đó là “qua cầu rút ván”. Còn Hoàng Phủ lại thấy cái ông “Ngô Thừa Ân là một nhà văn thâm Nho”. Quả thế thật, nhân tình thế thái, ở đâu mà chẳng giống nhau, thời nào mà chẳng mang tâm tính con người. Đã là tâm tính, khó có gì lay chuyển nổi. “Non sông dễ đổi, bản tính khó dời”. Nhưng câu chuyện Đường Tăng nợ con rùa trên chuyến sang sông kia vẫn còn đó, gieo cho người đời một nỗi hoài nghi về thế thái nhân tình. Mượn chuyện xưa để nói chuyện nay, Hoàng Phủ đã gieo vào lòng người đọc một nỗi niềm bâng khuâng pha lẫn cái gì đó chát chua khó tả.

Cũng lại mượn tích xưa, câu chuyện Trang Tử mổ rồng, hoá ra Rồng có đâu mà mổ? Con người ta thường tự huyễn hoặc mình bằng những điều vu vơ kỳ quặc. Và tin như thể đó chính là cứu cánh của cuộc sống. Tự đánh lừa mình, hay cũng là đánh lừa nhân thế. Hoàng Phủ đành thú thật, một sự thật dễ làm “mệt tim” những người đa đoan trót đam mê nghiệp dĩ “Tưởng rằng đọc Trang Tử để tìm chút thư nhàn. Hoá ra vẫn thế, ngọn đèn khuya, trang sách cũ, và mái tóc hoa râm rối bời…” ( Sát Long chi bối). Hoá ra con người từ truyền kiếp, vẫn hay mơ tưởng chuyện xa xôi, khi giật mình tỉnh lại, vẫn là thực tại cũ, những niềm hụt hẫng cũ, những nỗi niềm chát chua xưa cũ… Vậy mà sao vẫn đi tìm, vẫn huyễn hoặc mình dù biết đó là điều không có thật? Hoàng Phủ là người biết điều ấy, khổ thay lại biết điều mà con người ta bao lâu nay không thể nào tránh khỏi, cả khi biết rồi cũng không thể nào tránh khỏi, nên chuyện cũ tích xưa vẫn còn nguyên, mới rợi.

Hay một câu nói của người xưa, “xích tử chi tâm”. Có lẽ, khi Mạnh Tử chiêm nghiệm điều này, hẳn Ngài cũng không ngờ hậu thế lại cứ mãi trở trăn muộn phiền đến thế đâu. Vậy nhưng với Hoàng Phủ, dường như trong con người này, lúc nào đụng đến chữ “Tâm”, lại như không hề yên ổn. “Thế giới mãi trầm luân trong lửa và máu, chính bởi con người đã đánh mất “ xích tử chi tâm”, để đổi lấy hận thù làm quyền sống” (Bài học vỡ lòng của tôi). Trái đất ngày một nóng lên, bởi môi trường, bởi bầu khí quyển, bởi vòng xoay ngày một vội vã, và cả bởi chiến tranh. Quyền lực, tiền bạc, tham vọng, mưu đồ…tất cả như trộn lẫn, nhào nặn lên làm thành một khối “hận thù” để đổi lấy hai chữ Hoà Bình. Cổ nhân đã từng thấy điều đó, đã “khuyến cáo” chúng ta điều đó, vậy tại sao lại quên khi lẽ ra không được có quyền quên? Hoàng Phủ đã chỉ ra cho chúng ta điều ấy, liệu mấy ai trên thế gian này một lần nữa lĩnh hội ra? Khi mà quyền lực, đồng tiền vẫn còn ở ngôi vì thống lĩnh?

Kinh Dịch vốn là kho tàng thi liệu, văn liệu tuyệt vời và bất tận cho các văn nhân đời sau khai thác. Cũng từ kho báu chữ nghĩa đó, Hoàng Phủ đã khai phá cho người đọc những cơ hội lĩnh hội diệu kỳ. “Quẻ Vị Tế” là một trong những điều kỳ diệu đó. Bàn về Kinh Dịch, không cao tay sẽ rơi vào sự sợ hãi về chữ nghĩa. Nhưng với Hoàng Phủ, người đọc “ngộ” ra những điều thật sâu sắc mà lại đơn giản vô cùng, Vị Tế là một thông điệp vĩnh hằng về phận người: “Hỡi người, người sinh ra không phải để yên nghỉ mà lên đường, lên đường bằng tất cả âu lo của kẻ vượt sông”. Tất cả những lời giải trình về thân phận con người dường như chỉ vỏn vẹn trong chuyến vượt sông đầy định mệnh ấy. Có người đã nói rất buồn rằng “Đời người là quán trọ/ Ung dung nào mấy ai”. Nói về thân phận cuộc đời, không hiểu sao thường ám ảnh về một dòng sông. Heraclit có câu nổi tiếng “Không ai tắm hai lần trên một dòng sông”. Sau này, những chuyến đi của con người cũng trên dòng sông. Mà có phải ai cũng biết bơi và bơi giỏi đâu. “Lỡ bước sang ngang” thôi mà. Nên hầu như đã là người, chuyến sang sông nào mà không thấm đẫm âu lo? Đến bây giờ, nhân loại vẫn từng phút giây chen chúc nhau sang sông, trên chuyến đò Bát Nhã. Và quẻ Vị Tế kia, như Hoàng Phủ đã chỉ ra, rằng đời người là một cuộc hành trình không ngơi nghỉ, còn ôm theo nỗi thắc thỏm của kẻ vượt sông…

Không hiểu sao, ở thể ký nhiều lúc giọng văn Hoàng Phủ còn có chỗ tươi, thì trong thơ lại buồn đến đứt ruột, và ở Nhàn đàm cũng vậy, những bài viết ngắn chút xíu, vậy mà vẫn lộ ra giọng buồn da diết. Cái “tạng” nó thế, hay bởi những câu chuyện anh viết thường buồn? Có lẽ tại cả hai. Như câu chuyện “ Cừu Dolly và câu chuyện kiếp sau”. Bàn về công nghệ sinh học hiện đại hẳn hoi, vậy mà trong anh vẫn mang mang câu chuyện cổ xa xưa từ … Trung Hoa cổ đại, rằng “nếu có một kẻ tình si nào đó bị buộc phải chia lìa trong cõi đời này (thí dụ như anh Trương Chi chẳng hạn), thì vào đêm trước khi chết, chàng xin được uống nước sông Hoàng Hà, để kiếp sau gặp lại, chàng sẽ nhớ và nhận ra người yêu dấu của mình trong tiền kiếp. Phút “nhận mặt người quen” đó thường xảy ra trong một cuộc gặp gỡ tình cờ, bằng một sức mạnh làm choáng váng, gọi là “tiếng sét ái tình” (Coup de foudre)”. Những cuộc tình đẹp trên thế gian thường là những cuộc tình buồn. Nhưng điều an ủi giúp những kẻ buồn tình ấy là khái niệm về “kiếp sau”. Có lẽ, ảo vọng về cái kiếp sau ấy giúp họ sống tốt hơn ở kiếp này khi đã trót có cuộc đời buồn đến thế chăng? Trịnh Công Sơn cũng đã từng quan niệm về cuộc đời chỉ là thân phận của con chim di, con phù du bay ngang cõi trần thế, chỉ là “ở trọ’ thôi mà. Bàn về cái mới nhưng lúc nào tâm trạng Hoàng Phủ cũng vấn vương những điều muôn năm cũ…

Trong “Một chuyến tàu” cũng vậy,“Mạc sầu tiền lộ vô tri kỷ” (Đừng buồn rằng con đường trước mặt không có ai là người tri kỷ). Những chuyến tàu xuôi ngược ngang qua, thật khủng khiếp nếu đó chỉ là chuyến đi đơn độc. “Những chuyến tàu từ Đông sang Tây, từ Tây sang Đông” quả thật khiến “Một ngày dài hơn thế kỷ”. Từ xưa, cổ nhân đã cần người tri kỷ, bây giờ con người vẫn cần điều ấy hơn hết, khi mà ngồi trong căn phòng tiện nghi, chỉ một cái nhấn nút có thể với tay ôm cả thế giới vào lòng, nhưng lại bơ vơ vô cùng khi muốn chia sẻ một điều gì đơn giản, khó đến đau lòng.

Mượn chuyện xưa để nói chuyện nay, khó ai có thể tài tình khéo léo như Hoàng Phủ. Những triết luận về cuộc đời từ những câu chuyện cổ được anh giãi bày thật nhẹ nhàng mà mang sức nặng ngàn cân của con chữ. Vì vậy văn phong anh ngắn gọn mà cô đọng hàm chứa biết bao điều.Thiết tưởng không phải ai cũng có được một “nội công thâm hậu” ấy, nhất là khi đang ở trong cơn bạo bệnh tưởng chừng không thể nào gượng lên được. Vậy mà anh không chỉ “gượng” qua cơn bệnh, hơn thế nữa, với những gì anh làm từ con chữ, chúng tôi gọi đó là một sự “tái sinh”, như thể cuộc đời anh là hai kiếp người cộng lại, bây giờ anh đang sống tiếp kiếp thứ hai của mình. Nên văn chương anh vẫn mới mẻ, tràn đầy ngữ nghĩa trong mỗi câu chữ anh góp nhặt để lại cho đời, như con chim oanh vũ mỗi sáng tinh khôi vẫn tha về từng hạt gội, nhảy nhót tưng bừng trong “thành phố vườn” thơ mộng của anh.


ĐÔNG HÀ

READ MORE - ĐÔNG HÀ