Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Nguyễn Bá Trình. Show all posts
Showing posts with label Nguyễn Bá Trình. Show all posts

Thursday, September 17, 2026

ĐÊM ĐỌC "ĐIỀU MINH GIẢN" - Thơ: Nguyễn Bá Trình

 



 Đêm đọc Điều minh giản

 

 Đêm đọc Điều minh giản

 Dạ lan thoảng ngoài hiên

 Suối ngàn xưa thôi vọng

 Gió không lùa liếp phên

 

 Giữa kỳ quan yên tĩnh

 Chim giật mình kêu đêm

 Chợt nhìn ra cửa sổ

 Ô kìa trăng đang lên       

 

 &&&


Chú thích từ  vi.wikisource

https://vi.wikisource.org/wiki/%C4%90i%E1%BB%83u_minh_gi%E1%BA%A3n

 

Điểu minh giản - 鳥鳴澗

của Vương Duy, do Ngô Tất Tố dịch

 

Nguyên văn chữ Hán     

 

人閒桂花落,

夜靜春山空。

月出驚山鳥,

時鳴春澗中。

 

Phiên âm Hán Việt

 

Nhân nhàn quế hoa lạc,

Dạ tĩnh xuân sơn không.

Nguyệt xuất kinh sơn điểu,

Thời minh xuân giản trung.

 

Dịch nghĩa

 

Người nhàn nhã, hoa quế rụng,

Đêm thanh tĩnh, ngọn núi mùa xuân yên.

Trăng nhô lên làm kinh động loài chim núi,

Ở trong khe núi xuân, hót vang lên.

 

Bản dịch của Ngô Tất Tố

 

Người nhàn hoa quế nhẹ rơi,

Đêm xuân lặng ngắt trái đồi vắng tanh.

Trăng lên, chim núi giật mình,

Tiếng kêu thủng thẳng đưa quanh khe đồi.

READ MORE - ĐÊM ĐỌC "ĐIỀU MINH GIẢN" - Thơ: Nguyễn Bá Trình

Saturday, September 12, 2026

VỀ THĂM LẠI XÓM KHE THÔN CỒN TÀU - Nguyễn Bá Trình

 

Tác giả Nguyễn Bá Trình


Về thăm lại XÓM KHE thôn Cồn Tàu

( Hay: Thời gian như nước chảy qua cầu)

 

XÓM KHE, nhớ cống Cây Đa

Có nương  Cụ Khóa, vườn trà mụ Am

Ra đi tuổi mới mười lăm

Giờ về đám trẻ hỏi nhau ông nào

 Đến cây đa  theo lối nao?

Cháu chẳng thấy cây đa nào quanh đây

Vậy thì cái cống gạch xây?

 Không có cống chỉ cầu nầy mà thôi   

Còn khe Nước Trong đâu rồi?

Nước trong đang chảy qua cầu, ông ơi

                   Nguyễn Bá Trình

 

  

Bài bình 


Đăng nhập 


Bài thơ "Về thăm lại XÓM KHE Thôn Cồn Tàu" (hay "Thời gian như nước chảy qua cầu") của cụ Nguyễn Bá Trình là một tiếng lòng đầy thổn thức, chạm vào góc sâu thẳm nhất của tình yêu quê hương và quy luật nghiệt ngã của thời gian. Lấy bối cảnh cuộc trở về sau bao năm xa cách, bài thơ gợi lên sự đối lập sâu sắc giữa ký ức vẹn nguyên và thực tại đổi thay, để lại trong lòng người đọc nỗi bâng khuâng, hoài niệm.

 

1. Ký ức tuổi thơ vẹn nguyên và nghĩa tình

 

Mở đầu bài thơ, tác giả đưa người đọc trở về với những hình ảnh thân thương, cụ thể của làng quê ngày cũ:

"XÓM KHE, nhớ cống Cây Đa

Có nương Cụ Khóa, vườn trà mụ Am"

Những danh từ riêng như cống Cây Đa, nương Cụ Khóa, vườn trà mụ Am không chỉ là những địa danh thuần túy, mà là "tọa độ ký ức" của tác giả. Đối với một người ra đi từ tuổi mười lăm – cái tuổi thiếu niên đầy ắp kỷ niệm – thì quê hương chính là những con người cụ thể, những mảnh vườn, gốc cây gắn liền với cuộc sống bình dị. Hai câu thơ đầu mang giọng điệu kể lể, tự nhiên như một lời tự tình, chứng tỏ dù thời gian có trôi qua bao lâu, hình bóng quê nhà vẫn chưa từng phai nhạt trong tâm thức người ly hương.

 

2. Sự ngơ ngác trước thực tại thay đổi

 

Nút thắt của bài thơ nằm ở cuộc đối thoại giữa nhà thơ (người già trở về) và đám trẻ nhỏ (thế hệ mới của làng):

 

"Giờ về đám trẻ hỏi nhau ông nào

Đến cây đa theo lối nao?

Cháu chẳng thấy cây đa nào quanh đây"

 

Sự xuất hiện của câu hỏi "ông nào" đầy ngơ ngác của đám trẻ như một gáo nước lạnh dội vào lòng người đi xa. Ông nhận ra mình đã trở thành người lạ trên chính quê hương mình. Bi kịch hoài niệm tiếp tục tăng dần khi tác giả đi tìm lại những chứng tích cũ: cây đa đại thụ ngày xưa nay đã không còn, thay vào đó là cái lắc đầu "chẳng thấy" của lũ trẻ.

 

3. Sự chuyển giao mang tính quy luật

 

Bi kịch hoài cổ lên đến đỉnh điểm nhưng cũng được hóa giải một cách nhẹ nhàng qua hai cặp câu hỏi - đáp cuối cùng:

 

"Vậy thì cái cống gạch xây?

Không có cống, chỉ cầu nầy mà thôi

Còn khe Nước Trong đâu rồi?

Nước trong đang chảy qua cầu, ông ơi"

 

Cái cống gạch xây thô sơ ngày xưa nay đã được thay thế bằng chiếc cầu hiện đại. Khe Nước Trong – biểu tượng cho sự thuần khiết, dịu mát của quê hương – tưởng như mất đi, nhưng thực ra vẫn chảy, chỉ là chảy dưới một cây cầu mới.

 

Câu trả lời của đứa trẻ: "Nước trong đang chảy qua cầu, ông ơi" vang lên thật hồn nhiên nhưng mang sức nặng của một triết lý nhân sinh sâu sắc. Quê hương không mất đi, nó chỉ đang thay da đổi thịt. Thời gian như nước chảy qua cầu, cuốn đi những vật chất cũ kỹ (cống gạch, cây đa) nhưng mạch ngầm quê hương (dòng nước trong) và tình yêu xứ sở thì vẫn tuôn chảy bất tận qua các thế hệ.

 

Lời kết

 

Bằng thể thơ lục bát điêu luyện kết hợp với hình thức đối thoại tự nhiên, cụ Nguyễn Bá Trình đã viết nên một bài thơ giàu chất suy tưởng. Bài thơ không bi lụy, oán trách sự đổi thay của thời gian, mà là sự chấp nhận quy luật phát triển trong niềm rưng rưng thương nhớ. Đó là tiếng lòng chung của tất cả những ai từng có một miền quê để nhớ, để thương và để trở về.

READ MORE - VỀ THĂM LẠI XÓM KHE THÔN CỒN TÀU - Nguyễn Bá Trình

Sunday, September 6, 2026

LỜI CẢI CHÍNH TƯ LIỆU TRONG TRUYỆN NGẮN: "DÒNG XƯA BẾN CŨ” CỦA NGUYỄN BÁ TRÌNH - Nguyễn Bá Trình

Tác giả Nguyễn Bá Trình


 LỜI CẢI CHÍNH TƯ LIỆU TRONG TRUYỆN NGẮN: 

"DÒNG XƯA BẾN CŨ”  

CỦA NGUYỄN BÁ TRÌNH

Nguyễn Bá Trình



Kính gửi quý độc giả,

Cách đây nhiều năm, tôi có xuất bản truyện ngắn Dòng xưa bến cũ (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, năm 2018). Trong tác phẩm, ở đoạn viết về dòng sông Ô Lâu, người kể chuyện có đưa ra nhận định rằng dòng sông này khuất lấp và ít được nhắc tới vì những con người sống ven sông chưa làm nên danh tiếng để người đời nhớ đến. Sai lầm nầy xuất phát từ sự thiếu hiểu biết địa lý dòng sông Ô Lâu.

Gia đình tôi ở xóm nhỏ bên bờ Ô Lâu. Trong sự hiểu biết của một đứa bé, tôi cho rằng Sông Ô Lâu bắt nguồn từ Thác Ma và kết thúc ở ngã ba Câu Nhi. Tôi mang sự hiểu biết lệch lạc đó trong đầu óc của đứa bé rời xa quê hương từ rất sớm. Ô Lâu với tôi chỉ một khúc sông ngắn ngủi nhưng đẹp vô cùng. Lớn lên, tôi bắt đầu viết lách. Tôi đưa hình ảnh khúc sông đầy thơ mộng đó vào truyện ngắn DÒNG XƯA BẾN CŨ và xem đó là dòng sông Ô Lâu. Từ đó lại đặt câu hỏi rằng tại sao một dòng sông thơ mộng như thế mà không nổi tiếng như các dòng sông khác trên đất nước Việt Nam… Phải chăng do những con người ở hai bên bờ sông đã không làm được những kỳ tích để quê hương được nhắc đến.

Nay qua quá trình tìm hiểu về địa chí, lịch sử, tôi tự nhận thấy đây là một thiếu sót rất lớn về tư liệu của bản thân. Dòng sông Ô Lâu hiền hòa thực chất là cả phần sông còn lại chảy qua thôn Câu Nhi rồi đổ ra biển lớn. Mà Câu Nhi  là vùng đất địa linh nhân kiệt, quê hương của gia đình cụ Bùi Dục Tài – vị Tiến sĩ đầu tiên của xứ Đàng Trong dưới triều Lê sơ. [1, 2] Hơn nữa, trong thi ca cũng nói nhiều về con sông nầy mà tôi chưa có dịp đọc.

Một tác phẩm văn học dù mang tính hư cấu nhưng khi chạm vào các địa danh thực tế thì không thể tách rời lịch sử oai hùng của vùng đất đó. Vì vậy, tôi viết lời cải chính này trước hết để tạ lỗi với vong linh cụ Bùi Dục Tài cùng bà con vùng đất Hải Lăng, Quảng Trị, sau là để quý độc giả khi đọc tác phẩm này hiểu đúng về giá trị văn hóa - lịch sử quý báu của dòng sông Ô Lâu. [1, 2]

Nếu có cơ hội tái bản, tôi sẽ bổ sung, chỉnh sửa trực tiếp vào sách.

Trân trọng cảm ơn quý độc giả.

NGUYỄN BÁ TRÌNH

 

 

READ MORE - LỜI CẢI CHÍNH TƯ LIỆU TRONG TRUYỆN NGẮN: "DÒNG XƯA BẾN CŨ” CỦA NGUYỄN BÁ TRÌNH - Nguyễn Bá Trình

Monday, October 28, 2019

MƯA MÙA ĐÔNG - Truyện ngắn Nguyễn Bá Trình

Nhà văn Nguyễn Bá Trình



MƯA MÙA ĐÔNG
Truyện ngắn
NGUYỄN BÁ TRÌNH

Ai ở vùng Bình Trị Thiên cũ mới biết được cơn mưa mùa đông xứ ấy như thế nào. Cơn mưa kéo dài đến vài ba ngày có khi đến cả tuần. Không còn thấy trời đất. Một mầu xám chì đẫm ướt. Lầy lội và nhớp nháp. Những giọt mưa đan xen, như thể tranh nhau mà rơi xuống, nếu không rơi kịp thì không còn cơ hội để rơi nữa. Mà cũng đúng vậy, giọt mưa cũng như đời người, không bao giờ có cuộc sống lần thứ hai. Rơi, rơi, rơi! Rơi náo nức, rơi bồn chồn, tranh nhau rơi. Có một lần tôi nhìn những giọt mưa mùa đông rơi trên vườn cây trong vườn đúng lúc lòng đang có tâm sự. Tôi đang nghĩ về một mối tình đã đi qua trong đời…
 Cái tâm sự nầy giống như những giọt mưa rơi trên những ngọn lá trong vườn nhà tôi.
Phải nói thêm một chút về khu vườn của lão già gàn ấy. Lão già gàn là câu nói của xóm giềng chỉ ông già của tôi hồi ấy.
Cũng lạ, khu vườn nhà tôi không rộng lắm, thế mà ông già lại trồng toàn những thứ cây linh tinh, chẳng đem lại một nguồn kinh tế nào. Có người hỏi, thì ông già chỉ cười: Tôi có trồng đâu nó tự mọc lên đây.
-Sao ông không chặt đi mà trồng vào đó mấy cây cam cây quýt không phải lợi hơn sao? Người hàng xóm nói. Nhưng ông già lại cười:
-Cam quýt thì chim chóc làm sao đến xây tổ. Chú có khi nào thấy chim làm tổ trên cây cam cây quýt bao giờ không?
-Tại ông có cái ăn cái mặc rồi thì nghĩ vậy, còn như nhà tôi thì đốn quách mấy cây đó từ lâu rồi.
Ông già tôi lại cười:
-Chú nói vậy cũng đúng thôi. Sở dĩ con người ta phải tính toán thiệt hơn vì phải lo giải quyết miếng cơm manh áo, nhưng khi cái nợ cơm áo không làm vướng bận đầu óc mình nữa thì nên cho nó thanh thản một chút. Đừng tính toán thiệt hơn, cho dù vì như vậy mà việc làm của mình không mang lại hiệu quả kinh tế. Chú không biết đấy, mùa hè chim sẻ làm tổ đầy trên các cành me và chim sâu thì làm tổ đeo lỏng dỏng khắp các nhánh sầu đông. Chúng hót ríu ra ríu rít vui lắm. Con cái đi làm suốt ngày mình không làm bạn với chim chóc thì chuyện trò với ai đây. Mai mốt tôi chết rồi, con cái muốn chặt muốn phá, trồng gì tùy ý nó.
Trong xóm ai cũng cho cha tôi gàn, nên về sau chẳng ai góp ý để ông kiếm thêm một chút lợi lộc từ khu vườn ngoài đồng tiền hưu còm cõi của ông nữa.
Hôm đó ngồi trong nhà một mình tôi nhìn khu vườn chìm trong cơn mưa cuối đông.
Bắt đầu tôi ngắm những giọt mưa rơi trên đọt cây dông, cũng có người gọi nó là cây vông, thứ cây mà càng cuối đông thì lá càng xanh tươi. Trong âm vang ồn ào của cơn mưa, tôi như nghe thấy lời trách móc:
Mưa rơi trên đọt dông
Mùa đông không rụng lá
Như trách ai vô tình
Chẳng hay mùa đông qua.
Nhìn xa hơn chút nữa tôi bắt gặp hình ảnh cây me tây đang lắt lay, quầy quật trong cơn gió. Loại cây nầy cũng lạ, thân thì một người ôm không xuể, mà lá thì từng cánh nhỏ lăn tăn. Lá như vậy làm sao chịu đựng nổi những giọt mưa như roi quất. Từng đám, từng bầy bị bức ra và tung hắt. Phải có cái gì đó làm cho những giọt mưa quay quắt đến thế kia chăng? Tôi chợt khám phá ra hình như nó có một tâm sự giống như tâm sự của chính mình:
Mưa quay trên vòm me
Xé bứt từng chiếc lá
Nghe tình yêu nghiệt ngã
Đang dày vò giọt mưa!

Nhìn qua nhà hàng xóm bị chìm khuất sau màn nước, chỉ còn thấy mù mờ hàng cây sầu đông trụi lá, ngăn cách nhà tôi và nhà của X, người mà tôi từng yêu và giờ thì cô ấy đã đi lấy chồng. Khác với cây dông, sầu đông thì đến tiết đông chí khó mà tìm thấy trên cành một ngọn lá, dù là lá vàng. Có lẽ vì thế người đời mới đặt tên cho nó là Sầu đông. Mưa mà rơi trên cành sầu đông thì có ý nghĩa gì nhỉ. Đúng rồi, cũng là một lời trách móc:
Mưa trên cây sầu đông
Âm thầm trút hết lá
Sao lại chờ nắng hạ
Mới trỗ chồi đơm bông!
Sao vậy X? Sao em bỗng nhiên lại làm mặt lạ với anh? Sao em lại nhận chìm anh một cách  đau đớn?  Em đang hạnh phúc với ai kia, sao không phải với anh?
Vậy là một buổi chiều nhìn cơn mưa mùa đông trong khu vườn tĩnh mịch của ông già tôi, với tâm trạng của mình tôi viết ra thành vần điệu và ghép lại rồi đọc một lần nữa nghe có ổn không:
Mưa vẫn rơi rơi mãi
Giọt hoài trên tầu lá
Như có điều tâm sự
Chưa bao giờ nói ra

Mưa rơi trên đọt dông
Mùa đông không rụng lá
Như trách ai vô tình
Chẳng hay mùa đông qua

Mưa quay trên vòm me
Xé bứt từng chiếc lá
Nghe tình yêu nghiệt ngã
Đang dày vò giọt mưa

Mưa trên cây sầu đông
Âm thầm trút hết lá
Sao lại chờ nắng hạ
Mới trổ chồi đơm bông.

Và để cho ý tứ bài thơ được trọn vẹn, tôi kết thúc bằng mấy câu cuối nói lên tâm sự của mình:
Mưa không rơi trong lòng
Mà sao nghe buốt giá
Bởi người làm xa lạ
Nên lòng cứ thiết tha
Mưa vẫn rơi rơi mãi
Trắng xóa cả chiều đông. 

X đã đi lấy chồng. X đã trở thành người xa lạ. Bài thơ nầy tôi sẽ gởi cho ai đây!                    
                                                    *
                                                    
-T. ơi, cậu có bài thơ nào mới viết gởi cho mình đi! Trang web của mình vắng thơ cậu lâu rồi đó.
 Tôi mở mail và thấy câu nhắn của H, chủ một trang web Văn chương có nhiều độc giả. Đúng rồi, đã lâu tôi không nặn óc làm thơ, ngoài bài Mưa mùa đông mà tôi viết chiều mưa hôm nọ.
Tôi bèn gởi cho H. Cũng như những bài viết khác, tôi ký tên LVT.
                                                         
  Trang Web của H rất nhiều tác giả gởi bài đến nên anh qui định, những bài được chọn để đưa lên mạng phải sau ba ngày tính từ ngày nhận.
 Do công việc vẽ vời quá bận rộn, nên hơn mười ngày sau khi gởi bài, tôi mới lên mạng. Việc đầu tiên của tôi là mở trang web của H ra xem thử bài của mình đã post lên chưa.
Ở mục Thư viện thơ tôi đã đọc thấy tiêu đề bài thơ tôi mới gởi, in đậm nét chữ màu hồng rõ ràng: MƯA MÙA ĐÔNG 2.
Ủa! Sao lại có số 2 phía sau ? Số 2 nầy có ý nghĩa là gì? Và sao H sửa mà không hỏi ý kiến tôi? Có khi nào H làm vậy với các bài viết của tôi đâu.
Ủa! Tôi lại ngạc nhiên hơn nữa. Ai đã mạo nhận bài thơ của tôi? Đề thì sửa lại thành  MƯA MÙA ĐÔNG 2, nghĩa là thêm số hai vào, mà tên tác giả không phải là tôi mà NTB. Có sự nhầm lẫn nào đây? Tôi nhấp chuột vào phần xem tiếp rồi đọc. Khi ấy mới phát hiện ra không phải bài thơ Mưa mùa đông của tôi. Lòng tôi hơi run rẩy bởi một thứ cảm xúc khó tả. Tôi như nuốt từng chữ của bài thơ:

Mưa mùa đông 2

    Cơn mưa chiều thật lạ
    Ngồi ngắm từng hạt rơi
    Mà lòng dâng nỗi nhớ
    Một điều đã xa vời

    Từng giọt mưa nối tiếp
    Chuyện của những ngày xưa
    Đưa ta về ký ức
    Nước mắt bỗng như vừa

    Mưa chiều nay tơi tả
    Xót cho một cõi lòng
    Như đi trong buốt giá
    Tan nát những điều mong

    Mưa ơi đừng rơi nữa
    Thương nhớ sũng cả tim
    Bao nhiêu điều chưa ngỏ
    Ta mãi vẫn luôn tìm

    Mưa có về nơi ấy
    Cho ta nhắn một câu
    Dù chân trời góc bể
    Từng đêm mãi nguyện cầu

    Ôi sao mà nhung nhớ
Mưa mùa đông ở đâu.

Đọc xong tôi mới phát hiện ra bài thơ của mình được post lên trước bài nầy, cách hai bài của hai tác giả khác. Nghĩa là bài Mưa mùa đông 2 được post lên sau khoảng thời gian một tuần.
Rõ ràng bài thơ nầy viết từ xúc cảm sau khi đọc bài Mưa mùa đông của tôi. Vậy thì NTB là ai? Có lẽ bài thơ của tôi đã gợi lên nỗi niềm tâm sự của ai đó. Chuyện nầy trong thơ văn cũng bình thường thôi. Nhưng mà nghe nầy:
Ôi sao mà nhung nhớ
Mưa mùa đông ở đâu!
Hai câu thơ nầy nên hiểu sao cho đúng đây? Có thể tác giả nhớ nhung ai đó bởi một cơn mưa mùa đông đã đi qua trong đời? Nhưng nếu đúng như vậy thì mấy chữ Mưa mùa đông phải viết bằng phông chữ thường chứ. Đằng nầy lại viết nghiêng tô đậm. Điều nầy chỉ có nghĩa là tác giả bài thơ đang nhung nhớ Mưa mùa đông, nghĩa là nhung nhớ tác giả bài thơ Mưa mùa đông. Cũng có nghĩa là đang nhớ đến tôi!

Bài thơ nầy tôi viết về tâm sự mình dành cho X. Nhưng X thì đã lấy chồng từ lâu, và tôi nhiều lần thăm hỏi bạn bè biết được X đang hạnh phúc bên chồng con. Nghe đâu nàng có ba người con, và người nào cũng thành đạt cả. Chắc chắn X không bao giờ đọc bài thơ của tôi, và giả dụ trong trường hợp vô tình nàng đọc được thì cũng không thể nào có những cảm xúc sâu sắc và viết nên vần điệu hay đến thế. Bởi tôi biết X không hề có chút tâm hồn lãng mạn của văn chương và điều mấu chốt là nàng không yêu tôi thì làm sao có thể viết lên những vần thơ xúc động như vậy?
NTB? NTB?? Là ai???
Trời đất! Mình dốt thật, sao mình không hỏi H địa chỉ email của tác giả bài thơ khi tác giả gởi bài đến cho H nhỉ.                                                                          *

Đọc địa chỉ email của tác giả bài thơ, H gởi cho tôi: NTB71@gmail.com, tôi ngờ ngợ ra một điều gì đó dù rất mơ hồ. Tôi còn nhớ rõ, X sinh ngày 12 tháng 11 năm 1971. Con số 71 trong địa chỉ có phải là năm sinh của X không? Một nghi vấn nữa đặt ra trong tôi: Đã có Mưa mùa đông 2 thì chắc chắn phải có Mưa mùa đông 1. Và có lẽ ẩn số mà tôi cần tìm sẽ dấu trong Mưa mùa đông 1.
Tôi gõ máy một cách thận trọng:
Xin được chào tác giả bài thơ MƯA MÙA ĐÔNG 2
Thật là đường đột khi tôi gởi thư nầy đến tác giả, nhưng dù sao thì thư cũng đã đến địa chỉ rồi. Tôi xin tự giới thiệu tôi là LVT độc giả thường xuyên của trang web Y, và là người rất yêu bài thơ MƯA MÙA ĐÔNG 2. Trước hết cho tôi được cảm ơn tác giả NTB đã cho tôi đọc một bài thơ rất xúc động. Sau nữa tôi có một chút thắc mắc nhỏ xin được hỏi là khi tác giả đặt tiêu đề cho bài thơ của mình là MƯA MÙA ĐÔNG 2, vậy thì NTB có thể cho tôi biết bài thơ MƯA MÙA ĐÔNG 1 là bài nào? Vì lòng mến mộ, tác giả có thể giới thiệu bài thơ ấy cho tôi đọc được không? Tôi thành thật xin lỗi nếu tác giả không hài lòng về yêu cầu của tôi. Chúc NTB sáng tác được nhiều bài thơ hay cho độc giả cùng thưởng thức. Rất mong nhận được hồi âm. LVT.
                                                                     
    Chưa đầy vài tiếng sau, tôi nhận được thư hồi âm ngay. Cũng thật quá đỗi ngạc nhiên. Nội dung thư thế nầy thì thử hỏi giải thích sao đây:
Thể theo yêu cầu của LVT tôi xin gởi bài thơ MƯA MÙA ĐÔNG 1.
Tiếp đến NTB in nguyên bài thơ Mưa mùa đông của tôi. Với lời ghi chú :
Bài thơ MƯA MÙA ĐÔNG 1 mà LVT hỏi chính là bài thơ Mưa mùa đông của anh đấy anh LTV ạ.
(Ngoài ra không một lời giải thích gì thêm) 
Đêm đó nằm vắt tay lên trán suy nghĩ, tôi vùng dậy đọc lại bài thơ MƯA MÙA ĐÔNG 2 thêm một lần nữa dù tôi đã đọc nó không biết bao nhiêu lần. Và tôi đã ngộ ra: Tác giả bài thơ MÙA MÙA ĐÔNG 2 viết nên những cảm xúc từ bài thơ của tôi và rõ ràng tác giả vẫn âm thầm thương nhớ tôi ngần ấy năm. Những câu thơ ràn rụa nước mắt ấy nếu không phải của X thì còn của ai. Bởi trong đời tôi chỉ có một người con gái duy nhất mà tôi gần gũi và yêu thương, đó là X, và chính X cũng biết được điều ấy. Vậy thì sao X bỏ tôi mà đi lấy chồng? Chắc phải có nguyên do mà tôi không hiểu. Bởi hồi yêu X, tôi còn là thằng con trai dại khờ.
Lúc ấy đã 2 giờ sáng, tôi mail cho X:
Quá đủ rồi X. Em bỏ anh đi lấy chồng mà không nói với anh một lời. Anh đau đớn mấy năm qua chưa đủ hay sao. Giờ em trở lại chơi trò mèo vờn chuột với anh. Em là người độc ác nhất trên đời mà anh gặp đấy X ạ.
 Lập tức tôi nhận được thư trả lời ngay, điều đó chứng tỏ nàng cũng thức trắng đêm để đợi thư của tôi. Thư vỏn vẹn có mấy chữ:
Anh khờ quá anh LVT ạ. Anh làm em đau khổ suốt một đời!
Anh LVT, anh có biết thế không?

NGUYỄN BÁ TRÌNH

&&&

Nguồn: nguyenbatrinh.com


READ MORE - MƯA MÙA ĐÔNG - Truyện ngắn Nguyễn Bá Trình

Saturday, July 18, 2015

BUỔI GẶP MẶT KỲ DIỆU - truyện ngắn Nguyễn Bá Trình

Tác giả Nguyễn Bá Trình



Nguyễn Bá Trình
Buổi Gặp Mặt Kỳ Diệu

Tặng bạn Phạm Tịnh 
và các bạn cựu học sinh lớp Đệ nhị, Khoa học Toán
niên khóa 64-65 trường Trung học Nguyễn Hoàng Quảng Trị

Các bạn chờ tôi lâu chưa? Để tôi đếm xem đã đầy đủ chưa nào. Một, hai, ba,…, bốn mươi bốn, bốn mươi lăm. Đủ rồi. Trời đất! 

Thật là kỳ diệu. Đã mấy mươi năm rồi!  Không ai nghĩ được rằng chúng ta lại có buổi gặp gỡ đầy đủ hôm nay. Ôi các bạn còn trẻ quá, vẫn như ngày nào thôi. Có lẽ mình là người duy nhất ở đây già đi theo thời gian phải không các bạn? Nếu không báo trước mình sẽ tập trung các bạn về  đây thì các bạn có nhận ra mình không? Mấy mươi năm chứ ít đâu. 

Các bạn  ngồi yên và đừng nói gì cả, để xem mình có nhớ tên từng bạn một không nhé. Đầu tiên, hai bạn nữ là Uyên và Thanh? Lớp mình hồi đó chỉ có hai bạn nữ làm sao mình không nhớ được. Đúng không? Vậy là đúng rồi. Đến: thằng Bình nầy, thằng Dương nầy. Rồi đến đứa nào đây nhỉ? Thằng nầy tên gì mình quên mất rồi. Khoan, khoan. Các  cậu che bảng tên các cậu lại để mình cố nhớ xem…à… à …Thôi xin lỗi cậu, mình không nhớ nổi. Giở bảng tên cậu ra đi. A!  Hà. Trời đất ! Thằng Hà đây mà. Đúng là mình đã già thật rồi. Lú lẩn quá đi mất.  Sao? Hình như thằng Hóa muốn nói gì phải không? Biết rồi. 

Kể về mình cho các cậu nghe chứ gì? Mình thì có gì đâu để kể. Được rồi mình sẽ kể một vài kỷ niệm có liên quan đến một vài bạn. Sau đó mình hỏi thăm từng bạn một nhé. Năm 1966, đậu tú tài hai xong mình thi vào Đại học sư phạm Huế. Trong thời gian mình học ở đây thỉnh thoảng mình có gặp  Hoàng, hồi đó nó đậu vào Y khoa Huế. Thằng Hoàng ngồi ở đâu? À mình nhận ra rồi. Cái mái tóc bồng bềnh của cậu thì dù ngồi trong bóng tối mình vẫn nhận ra cậu. Hồi đó mình thường gặp thằng Vỹ nữa. Vỹ theo học chứng chỉ MPC. Thằng Vỹ ngồi đâu? À thấy rồi. Cậu thì khi nào cũng khép nép như con gái. Chẳng thay đổi chút nào.  Cậu đang ngồi bên thằng Tròn đúng không? Trời đất! Mấy mươi năm rồi các cậu không thay đổi chút nào. Thấy mặt các cậu mình muốn chảy nước mắt luôn. 

Mình đang kể về mình tới đâu rồi nhỉ? À hồi đó mình học ở Huế. Với thằng Vỹ thì mình có một kỷ niệm nho nhỏ như thế nầy. Bọn chúng mình ba đứa: Hoàng, Vỹ và mình.  Rất thân nhau. Đứa nào cũng nghèo xơ nghèo xác, phải đi dạy kèm để tự kiếm cơm ăn học. Mùa đông năm đó Huế lạnh quá. Người ta bảo mùa đông đó sông Thạch Hãn ngoài mình cá chết trắng sông. Thấy Vỹ đến chơi không có áo lạnh, co ro trong chiếc sơ mi trắng cánh tay.  Nghèo thì nghèo, nhưng mình cũng có đến hai chiếc áo len. Một chiếc rách sờn từ thời trung học. Một chiếc mới đan của bạn gái sau nầy là vợ mỉnh tặng. Vậy là mình chọn chiếc áo mới cho bạn. Mình vô tâm không nghĩ  đó là tình cảm của bạn gái trao cho mình. Các bạn biết không, sau nầy vợ mình kể, tiền mua len đan chiếc áo đó cho mình là tiền cô ấy ăn cắp thuốc  ô rê ô mi xin của gia đình  đem ra chợ bán đấy. Mỗi lần cô ấy chỉ lấy năm viên thôi. Lấy nhiều sợ ông bà già phát hiện ra tủ thuốc của gia đình mình có kẻ cắp đột nhập! Thuở ấy bọn con trai tụi mình khờ lắm, không như bây giờ. Biêt được chuyện nầy bạn gái của mình buồn. Nhưng hiểu tính mình, cô ấy cũng bỏ qua. 

Sau tết Mậu thân, trở lại Huế mình không còn gặp Hoàng và Vỹ nữa. Mình đến tận nhà Vỹ ở Thượng Xá hay Mai Đàn gì đó, lâu quá mình cũng quên, để hỏi thăm. Nhưng người nhà bảo Vỹ đã vào Huế học lại! Vậy là mình biết gia đình Vỹ đang giấu mình chuyện gì đó về bạn ấy. Nhà Hoàng  thì quá xa mình không đến được. Hơn nữa có đến chắc mình cũng không biết thêm điều gì. Cũng như trường hợp của Vỹ vậy thôi. Sau nầy có ai đó kể rằng cả hai cậu đã thoát li theo Cách mạng nhân  tết Mậu thân. Trong một quảng thơi gian dài dằng dặc phải đến mấy chục năm đi dạy học xa xứ, mình không có tin tức gì về hai bạn. Riêng Hoàng, mình nghĩ chắc cậu ta làm lớn, bởi hai lẽ. Thứ nhất, Hoàng học giỏi, thứ hai Hoàng thuộc gia đình có truyền thống  Cách mạng. Ba Hoàng là liệt sĩ thời chống Pháp. Hoàng nhất định phải làm lớn nên không có dịp trở về quê hương Quảng Trị. Nếu có về thăm lại quê hương  thì thế nào cậu ta cũng đến thăm mình dù ở cương vị nào.  Nhưng mình nghĩ thêm một điều nầy nữa, là Hoàng có làm lớn, cũng chỉ lãnh đạo một ngành chuyên môn nghiên cứu về một vấn đề gì đó thôi. Hoàng không tham chính được. Tính Hoàng  ngang tàng khí phách. Không cả nể. Các cậu còn nhớ không, hồi ở trường trung học Nguyễn Hoàng cậu ấy đã từ chối phần thưởng ưu hạng vì cho rằng những người lãnh đạo trong chế độ cũ không đủ tư cách phát thưởng cho cậu. Thế nhưng sau đó thì mình lại được tin cả hai cậu ấy đã hy sinh, chỉ sau thời gian thoát li có mấy tháng.  Từ đó mình không mong gặp lại các bạn ấy nữa.

Vậy mà hôm nay vẫn có mặt cả Hoàng và Vỹ! 

Nói sao hết niềm cảm  xúc  của mình đây. Hoàng! Vỹ!  Các cậu có nghe mình đang nói về các cậu không? Bây giờ mình nói đến Dũng nhé. Mình sẽ nói theo thứ tự chỗ ngồi. Vì cậu nào cũng có với mình một vài kỷ niệm cả. Dũng! Cậu ngồi chỗ ấy chóa ánh nắng mình nhận khó ra đấy. Nhưng cậu yên chí, mình đã đọc được  tên cậu ở bảng tên rồi. Trong đám bạn cũ gặp lại ở Huế thì Dũng cũng là người mình có gặp dù không phải thường xuyên  lắm. Dũng  trọ ở Phú Cam. Hồi đó cậu học gì Dũng? Cậu  cũng thoát li từ năm 68 đúng không?. Cách đây không lâu, ai kể nhỉ? Rằng cậu đã hy sinh khi vượt qua sông Thạch Hản để giành chủ quyền cổ thành Quảng Trị. Vào năm 1972 phải không? Tin ấy thật làm đau lòng mình. Bạn bè lớp mình mình lúc đó là lính của chế độ Sài Gòn cũng có không ít  đứa đang đóng giữ cổ thành Quảng trị. Như thằng Khuynh chẳng hạn. Đúng vậy không Khuynh? Trận chiến giành chủ quyền Cổ thành Quảng trị đẫm máu quá. Là lính tham gia những trận đánh nầy mấy ai được sống sót. Mình cũng có nghe tin  Khuynh chết trong trận ấy. 

Vậy mà hôm nay cậu cũng không thiếu mặt ở đây! 

Mình xin nói thêm một chút về cậu cho các bạn nghe nhé. Khuynh thì mình có một kỷ niệm. Hồi học ở Huế, trong một chuyến xe về thăm nhà ở Hải Lăng, mình quên mang theo thẻ hoản dịch vì lí do học vấn, nên  bị quân cảnh bắt tống lên xe chở về nhốt ở bót. Chúng bắt mình ký vào đơn xin nhập ngũ. Mình không liên lạc được với gia đình nên không ai mang thẻ đến xin cho mình ra. May thay lúc đó mình loáng thoáng thấy  một sĩ quan có vẻ mặt rất quen đi qua. Nhìn kỹ té là là lão Khuynh nhà mình. Vậy là mình kêu toáng lên nhờ nó cứu. Khuynh bảo lãnh, mình mới được ra về. Nếu không thì giờ nầy mình cũng đã phơi xác ngoài chiến trường rồi. Cậu có nhớ chuyện đó không Khuynh? 

Bây giờ, mấy cậu thấy không, ở hàng cuối cùng đấy, thằng Dũng và thằng Khuynh đang ngồi sát cạnh nhau. Chúng vô tư hồn nhiên. Nhìn chúng  không ai nghĩ rằng sau nầy chúng lại cầm súng bắn vào nhau! Không đau sao được phải không các bạn? Thực ra bọn mình thương nhau không hết làm gì có chuyện hận thù nhau phải không? Chẳng qua là do thời cuộc… Đến lượt cái cậu ngồi cuối cùng đang mỉm cười nhìn mình. Cậu thì mình dễ dàng nhận ra thôi. Các bạn có nhận ra cái thằng ngồi cuối cùng không? Thằng Đạt đấy. Đúng là Đạt, nó làm ăn thành đạt lắm. Mình mới gặp Đạt năm ngoái. Bây giờ nó là giám đốc một công ty tầm cỡ. Đọc trên báo mình biết Đạt  đóng góp cho các quỹ từ thiện khá nhiều. Nhưng nhớ đừng quên quê hương chúng mình đấy nhé.

Mình nghĩ thế nầy các bạn ạ. Cái giá để có được  Hòa bình, Độc lập cho nước nhà, quê hương và lứa tuổi của bọn mình phải trả là quá lớn. Vì vậy đứa nào sau chiến tranh mà may mắn  còn sống sót đến bây giờ thì nên cố gắng làm một cái gì đó dù là nhỏ nhoi trong khả năng có thể,  cho xứ sở Quảng trị quá nhiều đau thương của bọn mình. Nếu không có điều kiện để  làm được cái gì đó thì cố gắng giữ đừng để phôi pha  tấm lòng yêu mến quê hương. Được vậy  cũng đáng trân trọng rồi. Phải không các bạn? Các bạn đừng cho mình tập trung các bạn về đây để lên mặt nhé. Nhất là Hoàng mình hiểu tính cậu. Nhưng bản thân mình có gì đâu mà lên mặt với các bạn? Mình đang nói với tất cả chân tình của mình đấy.                               
-Ông ơi! Ông ngồi làm gì trên gác mà lâu vậy? Xuống phụ giúp tôi một tay.

Các bạn ngồi đợi mình một lát nhé. Mình sẽ lên lại bây giờ. Trời đất! Mấy mươi năm mới gặp lại nhau. Mình có quá nhiều tâm sự để chuyện trò với các bạn. Mình sẽ trở lại ngay bây giờ.

                                                             *

-Ông đang làm gì vậy? Sáng nay mất điện, không có TV để coi, thằng cháu nội của ông nó không chịu ăn. Ông có cách gì làm cho nó ăn đi.

-Tôi đang xem tấm hình chụp tập thể học sinh lớp 11 của trường trung học Nguyễn Hoàng Quảng Trị  năm xưa mà anh Tịnh vừa sang ra để tặng cho tôi. Ôi trông khuôn mặt của bạn bè thuở học sinh mà nhớ quá. Giá như có một tấm gương thần đem ra soi rọi trên khuôn mặt các bạn để biết được người nào còn, người nào mất, thì hay biết mấy!

 Mà thôi cũng chẳng cần phải vậy. Ta để cho hình ảnh các bạn cứ sống mãi và trẻ trung hoài trong lòng mình. Vậy mà e hay hơn phải không bà.

                                                    Tp HCM  ngày 10-12-2013
                                                                     NBT




     


READ MORE - BUỔI GẶP MẶT KỲ DIỆU - truyện ngắn Nguyễn Bá Trình

Friday, April 17, 2015

BÁT SỮA CỦA CHÓ - Truyện ngắn của Nguyễn Bá Trình


Tác giả Nguyễn Bá Trình


Truyện ngắn của Nguyễn Bá Trình

BÁT SỮA CỦA CHÓ


Trong dịp nghỉ lễ vừa rồi, vợ chồng người con trai của tôi cùng hai đứa cháu đi nghỉ mát ở đảo Phú quốc. Lúc về nó mang theo một con chó đen tuyền, loài chó đặc biệt ở Phú quốc. Trên gáy có một cái xoáy tròn và một cái bờm lông dựng đứng chạy dọc trên lưng. Loài chó nầy không to con nhưng người ta bảo nó rất khôn. Khẩu phần dành cho con chó hằng ngày không thua gì khẩu phần của một người trong nhà, dù lượng thức ăn có ít hơn. Một ít thịt bò, một ít rau xào và một chút cơm. Mỗi lần đứa cháu mang thức ăn cho con chó, trong lòng tôi lại có một chút áy náy. Thay vì nuôi một con chó như thế nó có thể nuôi một đứa bé. Tất nhiên là đứa bé  của gia đình tương đối khá giả. Chứ những gia đình nghèo khó làm gì mà có thịt bò xào với bắp cải! Có lẽ do cuộc sống của bản thân mình vất vả khó khăn quá nên thường hay cảm thông cho những số phận khó khăn, dù cái cảm thông đó cũng chỉ là tấm lòng thôi. Tôi chưa giúp đỡ hay san sẻ với ai được cái gì trong những khó khăn của những cuộc sống quanh tôi. Bởi một lẽ đơn giản: Chính tôi cũng khó khăn. Cái khó khăn của tôi thì nói không rồi. Nó bám riết tôi từ ngày mới sinh ra.Tôi sinh năm Ất dậu, năm đó có hai triệu người Việt Nam chết đói. Cha mẹ tôi hồi đó cũng chỉ là nông dân, nhưng không biết bằng cách nào đã nuôi nổi bốn anh em chúng tôi, dù thiếu ăn nhưng không có ai bị chết đói. Đó là điều thật vĩ đại của cha mẹ đối với tôi.  Những năm sau đó, tuổi thơ tôi cùng với quê hương làng mạc chìm trong khói lửa chiến tranh chống Pháp. Cha tôi theo Việt Minh. Mẹ tôi ở nhà nuôi bốn đứa con. Sự vất vả của mẹ tôi cũng thuộc loại không bút mực nào tả hết. Mẹ tôi kể lại, trong mỗi bửa ăn có đến năm miệng ăn mà chỉ có chưa đầy  nừa lon gạo. Nửa lon gạo nấu cháo với một nồi rau và củ khoai lang. Vậy là trong mỗi khẩu phần anh em chúng tôi mỗi người được hai tô cháo. Chủ yếu là rau, còn cơm thì chắc cũng được vài ba muỗng canh, dính vào các cọng rau. Hết chiến tranh chống Pháp lại chiến tranh chống Mỹ. Cha mẹ tôi qua đời tự thân tôi phải bươn chải với cuộc sống từ những ngày còn học trung học. Lập gia đình, vợ chồng tôi phải lo xoay xở nuôi nấng con cái cho nên người. Bây giờ thì chúng đã thành đạt và tóc mình cũng vừa bạc. Tôi không biết mùi cà phê, thuốc lá hay rượu bia. Vì hồi còn trẻ, tôi không có tiền và cũng không có thời gian giao lưu với bạn bè, giờ thì lớn rồi cũng không tập tành những thứ đó làm gì nữa. Dù vậy cũng chẳng có gì phải hối tiếc. Sau nầy mỗi lần thấy con cái ăn tiêu phung phí, tôi thường đem chuyện tuổi trẻ của mình  kể cho con cái nghe. Nhưng chúng cười: Chuyện cách đây đã nửa thế kỷ ba còn nhắc làm chi. Bây giờ đất nước giàu có thì cuộc sống của mọi người cũng phải sung sướng chứ. Đúng là thế. Nhưng bây giờ có phải ai cũng đang sung sướng cả đâu. Cho dù giờ nầy không còn  ai ăn cháo rau khoai nữa, nhưng sự thiếu thốn không phải đã chấm dứt trên đất nước mình.  Vừa rồi tôi đọc tờ báo do con đem về, trong đó đăng cảnh cả ngàn người dân lao động đứng chen chúc nhau dưới nắng trưa để được nhận một bữa ăn từ thiện do mông công ty nào đó phân phát! Còn bao nhiêu cảnh cơ cực khác mình làm sao thấu hết. Tôi nói dông dài về điều nầy bởi khẩu phần của con chó mà đứa con trai mới mang về. Đó là chưa nói con chó nó mua với giá sáu triệu nữa đấy! Nếu nó chưa mua thì tôi có thể can nhưng nó đã mua về rồi thì phải nuôi, biết làm sao được.
 Sáng nay con chó lại không chịu ăn. Vợ nó lo lắng, pha sữa nhưng nó cũng không  uống. Cuối cùng thằng con trai phải dùng ống tiêm bơm sữa vào miệng cho nó.
Hai vợ chồng nó đi làm đến chiều tối mới về. Vợ tôi thì bận về thăm bên ngoại của bà cùng đứa con gái. Tôi lại phải canh  giữ nhà. Nếu có vợ tôi ở nhà hôm đó thì sự việc đáng tiếc đã không xẩy ra. Bà vốn là người thực tế và chu đáo. Tính đàn bà thường là vậy. Nội tướng mà. Không thực tế và không chu đáo thì làm sao giữ được giềng mối gia đình.
 Cả nhà đi hết vậy là tôi phải làm cái công việc săn sóc con chó thay cho con trai.
 Đến bữa trưa, tôi pha một bát sửa chuẩn bị lấy ống tiêm bơm vào miệng con chó thì một bà ăn xin bồng theo đứa con đứng ngoài cổng ngửa tay vào xin. Tôi dừng công việc cho chó uống sữa bước ra cổng. Một thiếu phụ do ăn mặc nhếch nhác nên tôi không đoán được tuổi, nhưng cũng áng chừng chưa tới bốn mươi. Khuôn mặt còn khá trẻ của người đàn bà nói lên một điều là nếu bà ta được sửa soạn như những người đàn bà có điều kiện khác, thì đấy cũng là một thiếu phụ có nhan sắc mặn mà, chưa dễ nhiều người đàn bà khác có được. Người đàn bà ẳm trên tay đứa bé gầy tong teo. Đứa bé cũng chừng khoảng ba tuổi hoặc ít hơn.  Nó  mặc chiếc áo ba lỗ vàng xỉn, rộng tuyềnh bày rõ những lóng xương sườn. Đầu đứa bé to hơn bình thường so với cái thân còm cõi và tay chân khẳng khiu của nó.
-Ông có gì ăn, cho cháu xin một ít cho đứa con của cháu.
Người đàn bà mở miệng xin.
Tôi nhìn hai mẹ con người đàn bà ăn xin một lượt để xem lời xin ăn của người đàn bà có đúng với thực tế của đứa con bà ta ẳm trên tay không. Với thân hình của chú bé như thế nầy thì chẳng ai có thể hóa trang ra được. Và có lẽ thiếu phụ  cũng đang đói nữa, nhưng bà ta lại không xin cho mình. Tôi nói:
-Được rồi chị vào đây tôi lấy một ít thức ăn cho cháu.
-Dạ cảm ơn ông.
 Người đàn bà đặt đứa con nằm xuống thềm. Tôi hỏi:
-Chị có cái gì đựng thức ăn không?
-Dạ có.
Người đàn bà lục trong chiếc bao vải lấy ra một cái tô.
-Có cái nào lớn hơn nữa không? Thôi được rồi. Chị đứng đây đợi tôi một lát.
-Xin lỗi, ông có thể cho cháu đi toa let một chút được không.
Tôi nhìn người đàn bà, đắn đo một lát rồi nhìn đứa trẻ nằm quắt queo trên hè, tôi nói:
-Được rồi chị theo tôi.
Tôi đi vào bếp và chỉ tay sang hướng trái nói:
-Toa lét phía ấy.
Chờ người đàn bà khuất theo hướng rẽ trái, tôi đến bếp lấy thức ăn. Lấy một cái túi nilon,  tôi chọn các thức ăn bỏ vào. Nghĩ đến thằng bé, tôi đến mở  tủ lạnh lấy cho nó hai gói sữa tươi. Tôi buộc túi nilon lại và để hai gói sữa ra bên ngoài định bảo chị ta cho nó uống ngay bây giờ. Không biết cái công việc nầy tôi làm lâu mau, nhưng khi xong rồi tôi phải đợi chị ta vài phút nữa. Có lẽ chị ta còn tranh thủ rửa ráy. Và đúng như vậy, khi chị ta trở lại thì khuôn mặt còn ướt át. Chứng tỏ chị ta vừa rửa mặt xong.
-Xin lỗi ông, cháu rửa ráy hơi lâu, bắt ông phải đợi.
-Không sao. Đây, gói thức ăn nầy chị mang về mà dùng, còn hai hộp nữa nầy chị cho cháu uống một hộp, cất một hộp để dành cho nó.
-Dạ mẹ con cháu cảm ơn ông nhiều lắm.
Có lẽ đi xin lâu ngày nên trông chị ta cũng có vẻ miệng mồm chứ không nhút nhát vụng về trong cách ăn nói.
Khi trở ra thì đứa bé đã nằm ngủ bên bát sữa mà tôi chưa kịp dùng ống tiêm bơm vào miệng con chó. Nhưng bát sữa đã hết sạch. Tôi cũng mừng. Vậy là sáng nay con chó đã uống được sữa rồi.  Khỏi phải mất công. Tôi nhắc người đàn bà:
-Chị cho cháu uống một hộp sữa đi cho nó đỡ đói.
-Dạ thôi để lát nữa cháu uống cũng được. Ngồi đây lâu phiền ông.
Tôi định ra mở cửa thì nhớ lại mình chưa cho bà ta đồng nào. Tôi móc trong túi lấy ra tờ giấy bạc năm ngàn đưa cho người đàn bà ăn xin:
-Tôi không có nhiều, chị cầm đỡ mấy ngàn nầy mà tiêu.
Người đàn bà cảm ơn rối rít rồi bồng con chào từ giã tôi.
Tôi khóa cổng trở vào định lấy cái tô đựng sữa đem đi rửa, chợt nhận ra một điều: Con chó tôi đã xích lại bằng một dây xích ngắn chưa đầy một mét thì  làm sao nó có thể lết đến tô sữa đặt cách xa nó phải đến gần hai mét để uống? Vậy là đứa bé đã uống hết tô sữa chứ không phải con chó! Thôi thế cũng tốt. Sữa nầy cũng đã được xử dụng đúng phép vệ sinh. Sữa thì tiệt trùng còn cái tô thì đã được rửa xà bong và phơi khô thật kỹ trước khi cho chó uống. Bởi theo thằng con trai, loài chó nầy từ vùng đất mặn đem về đây thay đổi môi trường nó dễ bị bệnh đường ruột. Nên những ngày đầu vấn đề ăn uống của nó phải rất cẩn thận. Có điều là tôi phải chịu khó thêm một chút, pha lại tô sữa khác để bơm vào miệng cho con chó.

Gần tối, hai vợ chồng đứa con trai đi làm về. Mới bước vào nhà thằng con trai đã hỏi, con chó ngày nay có uống sữa được không. Nhiều hay ít. Tôi trả lời cho nó yên tâm:
-Tốt, cũng gần hết tô.
-Nó tự uống hay ba phải bơm?
-Phải bơm vào miệng, nó chưa tự uống được.
-Dạ cũng phải vài ngày, ba chịu khó săn sóc nó một chút.
Trong lúc nó bơm sữa cho con chó uống, tôi kể chuyện hai mẹ con người ăn xin lúc chiều cho nó nghe. Ý cũng muốn nhắc nhở nó, trong xã hội còn có nhiều hoàn cảnh bi đát lắm. Nhất là trẻ con, vẫn còn nhiều đứa trẻ đói ăn, thiếu mặc. Tôi kể lại hình thù ốm đói quá thương tâm của đứa trẻ, con của bà ăn xin lúc chiều. Và cũng kể chuyện đứa bé đã uống hết phần sữa của con chó và sau đó nó ngủ một giấc ngon lành.
-Vậy thì ba phải pha sữa  lại à?
 -Cũng phải vậy thôi.
-Mà sao ba lại cho bà ta vào nhà? May mà không có chuyện gì xẩy ra. Con dặn rồi. Vợ chồng con đi làm khỏi thì ở nhà ba khóa chặt cửa lại. Ai có hỏi gì thì đứng ở bên trong mà  trả lời người ta. Chỉ trừ nhân viên điện nước đến  kiểm tra đồng hồ thì phải mở cho người ta vào thôi. Tuyệt đối ba không cho ai được vào nhà. Một mình ba ở nhà mà để người lạ mặt vào thì nguy hiểm lắm. Ba đọc báo cũng đã thấy nhiều trường hợp kẻ gian tìm cách để được vào nhà. Thấy chỉ có người già một mình là nó sẽ ra tay sát hại để cướp của. Chuyện ấy xẩy ra như cơm bữa, ba không sợ sao?
-TRường hợp thanh niên hay người khỏe mạnh xin vào nhà thì mình đề phòng. Đằng nầy là người đàn bà ốm yếu lại mang một đứa con đói khát nữa thì có gì mà sợ. Người đàn bà thì có thể đóng vai người ăn xin, còn không ai có thể ngụy trang đứa con khỏe mạnh của mình thành một đứa bé ốm đói được, con à. Nếu với ai mình cũng nghi ngờ cả thì bỏ rơi những trường hợp như thế cũng tội. Nhất là trẻ con. Con thấy không. Có cho bà ta vào nhà mình đứa trẻ mới có một tô sữa để uống đấy.
-Trời! Ba biết không, đứa trẻ ấy có thể không phải con của bà ta đâu?
-Vậy thì con ai thiếu đói mà bà ta đi xin để nuôi cũng tốt thôi.
-Được vậy thì quá tốt, nói làm gì. Nhưng không phải như ba nghĩ. Có thể bà ta bắt cóc con  ai đó rồi giam cho nó đói để đưa đi ăn xin. Vì nếu còn trẻ như bà ta  mà đi ăn xin thì có ai cho? Ba biết không, có nhiều người bắt cóc con người ta về rồi cho uống thuốc ngủ.  Để nó ngủ mê rồi vác đi xin ăn. Bởi không làm vậy thì nó khóc ré lên đòi về với mẹ, làm sao mà xin ăn.
-Trời đất! Thật tình ba không nghĩ ra được những điều như vậy. Nhưng nếu biết mà nhẫn tâm không cho con bà ta một cái gì  thì tội cho đứa bé quá. Mà cho bà ta thì mình lại vô tình tiếp tay cho âm mưu thâm độc. Lòng người quá sâu hiểm. Cũng may sáng nay không có chuyện gì xẩy ra.
Hai cha con đang nói chuyện thì chợt nghe trong phòng ngủ của hai vợ chồng đứa con trai tiếng con dâu la lên thảng thốt:
-Trời ơi!  Chết rồi. Ví tiền tôi để trong phòng ngủ ai lấy mất mà để cái ví không lại như thế nầy trời!
Chết cha! Kiểu nầy là mình đã mắc lừa con mẹ ăn xin rồi. Tôi nghĩ trong bụng vậy.
Đứa con dâu từ trong phòng chạy ra hớt hải hỏi tôi:
-Sáng nay có ai vào nhà mình không ba?
Cũng chẳng còn cách nào khác hơn, tôi đem chuyện người đàn bà ăn xin vào toa let kể cho con dâu nghe và nói:
-Ngoài con mẹ ấy ra thì chẳng còn ai vào nữa.
Trước vẻ mặt đau khổ của người con dâu tôi ân hận vô cùng. Tôi hỏi:
-Mất bao nhiêu tiền vậy con?
-Toàn bộ lương tháng nầy của con.
-Lảnh lương về sao con không cất vào trong tủ?
-Con định mang theo sáng nay mua một ít đồ dùng, nhưng lúc ra đi lại quên khấy nó ở giường. Xui sao vậy chứ.
Người con dâu quay sang nói với tôi:
-Con đã bao nhiêu lần dặn ba rồi. Không cho bất kỳ ai lạ mặt vào nhà. Vậy mà sao ba lại để cho con mẹ đó vào nhà. Kiểu nầy thì chết mất. Không biết nó có lấy cái gì trong nhà nữa không đây.

 Nói cho đúng, cũng chính vì đứa bé tôi mới mở cửa. Cũng có ý là để nó vào nghỉ một lát cho mát, rồi cho nó ăn một thứ gì. Nếu chỉ một mình mẹ nó thì đời nào tôi  mở cửa. Mà chưa chắc tôi đã cho một xu nào. Bà ta còn trẻ, còn đủ sức lao động kiếm ăn\, mắc mớ gì phải cho. Có lẽ biết thế  nên bà ta đã âm mưu mang theo đứa trẻ. Thật là khôn ngoan và nham hiểm! Tôi nói với người con dâu:
-Ba xin lỗi mấy con, thực tình ba cũng nhớ mấy đứa bây dặn. Nhưng nhìn thằng bé tội nghiệp quá mà cầm lòng không được.
Con trai tôi nói:
-Thôi việc đã xẩy ra rồi, tiền đã mất, có nói cũng chẳng lấy lại được. Thật ra lỗi nầy cũng không phải do ba. Nhưng thương người hại mình là như vậy đó. Rút kinh nghiệm thôi.
Người con dâu vẫn tỏ ra bức xúc vì số tiền mất quá lớn, nó nói:
-Con dặn ba lần nữa, ngoài đường có ai chết cũng mặc họ. Nhất định ba đừng ra mở cửa.

                                                          *
Sáng nay hai vợ chồng đứa con trai đi làm, tôi cẩn thận ra khóa cửa. Trong đầu tôi cứ vang lên lời dặn của người con dâu:
-Ngoài đường có ai chết cũng đừng ra mở cửa.

Con người ta sống với nhau, chẳng lẽ đã đến lúc như vậy rồi sao!       

                                                             NBT
READ MORE - BÁT SỮA CỦA CHÓ - Truyện ngắn của Nguyễn Bá Trình