Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Nguyễn Văn Trình. Show all posts
Showing posts with label Nguyễn Văn Trình. Show all posts

Sunday, October 11, 2026

ĐÀ NẴNG MỘT NGÀY MƯA - Thơ: Nguyễn Văn Trình

  



 Đà Nẵng một ngày mưa

         Nguyễn Văn Trình – BD: KA THI

 

Sáng Đà Nẵng mưa giăng đầy trên phố

tôi ngồi bên quán nhỏ, nhưng đầy hoa

Nguyễn Văn Linh con đường đông đúc lạ

mà lòng tôi trôi dạt tận trời xa

 

Giữa quán đông, người nói cười rộn rã

hương cà phê, quyện điệu nhạc ngân nga

cung Trịnh rót như lời kinh khe khẽ

tôi lặng nghe, mà thấm cõi ta bà

 

Ngoài khung cửa, dòng người trôi cuồn cuộn

người và xe xuôi ngược giữa mưa bay

có cánh chim khuất dần về phía ấy

để trời xa tím nhớ ở nơi này

 

Ôi phía ấy, có người thương trở giấc !

có vầng trăng còn thức giữa canh dài

tôi ngồi nơi phố đông mà thấy vắng

nghe lòng mình thương nhớ chảy về ai...!?

 

                                  Đà Nẵng, tháng 10/2026

                                               NVT


Tác giả NGUYỄN VĂN TRÌNH

Bút danh: KATHI

Hội VHNT tỉnh Quảng Trị - ĐT 0914 415 931

Email: nguyenvantrinh58@gmail.com

Đ/C: 65B Đường Chu Mạnh Trinh, Phường Nam Đông Hà, tỉnh Quảng Trị



 

READ MORE - ĐÀ NẴNG MỘT NGÀY MƯA - Thơ: Nguyễn Văn Trình

Monday, September 28, 2026

CHÙM THƠ NGUYỄN VĂN TRÌNH: Tổ quốc trong tim / Người giữ đảo bình yên / Nơi - người gác cửa / Vững vàng nơi đầu sóng

 


Tổ quốc trong tim

                     Nguyễn Văn Trình

 

Chiều rót xuống

Sông Sêpôn một gam trầm rất nhẹ

dòng nước khẽ lặng, như mang theo nỗi nhớ không tên

bên kia đất bạn Lào

mờ ảo trong màn mưa tĩnh lặng

bên này Hướng hóa

nắng quê nhà gần gũi đến thiêng liêng

 

Mưa rừng buông

những sợi dài như thời gian không dứt

thấm vào áo, vào da và vào cả những tĩnh thức

anh cùng đồng đội trực, đi giữa miền biên viễn

bước chân chắc, hiển nhiên như một lời thề

 

Không ai gọi tên nhau

giữa mênh mang trời quê và đại ngàn

ánh mắt chứa chan

thay lời giữ chặt một niềm tin

có những điều, chỉ lặng im mới nói được

như tình yêu Tổ quốc

âm thầm mà sâu hơn nước dòng sông

 

Trường Sơn đông dựng trước mặt

xanh đến tận cùng nỗi nhớ

như vòm trời che chở, những bước chân đi

sau lưng anh là những gì

bản làng ấm mùi khói bếp

những nếp nhà, gửi trọn niềm tin nơi anh

 

Anh đi qua chiều

qua mưa, qua những giới hạn của mình

lặng thinh như dòng sông không cần gọi tên để nhớ

từ trong nhịp thở

anh mang theo một điều rất nhớ – Tổ quốc trong tim

 

                                                                NVT

 

Người giữ đảo bình yên

                          Nguyễn Văn Trình

 

Đảo thức dậy trong tiếng sóng vỗ

một màu xanh trải dài

từ bãi biển đến rừng nguyên sinh

nơi ấy, có người lính biên phòng đứng gác

như cột mốc sống giữa sóng bạc trùng khơi

 

Anh đi qua những rạn san hô lấp lánh

nơi đàn cá đang bơi

có đủ ánh sáng, sắc màu dưới biển

anh nghe gió luồn qua triền rừng phong ba

qua những cây bàng vuông bền bỉ

như không bao giờ ngừng nghỉ giữa biển trời

 

Những bãi biển đẹp hoang sơ

cát trắng ven bờ trải dài

không chỉ đẹp bởi ánh nắng ban mai

mà còn bởi dấu chân của các anh

in lên đó sau mỗi lần tuần tra

bình yên đến lạ, từ những điều hoang sơ

 

Anh bước chân qua

những hệ thống hầm hào cũ sót lại

nơi còn mang hơi thở của thời gian dài lửa đạn

đứng trước tượng đài liệt sĩ anh cúi đầu

nghe tim mình vang lên thẳm sâu lời hứa

tiếp nối ngọn lửa đấu tranh

những gì cha anh đã giữ gìn bằng máu

 

Cột cờ trên đảo vẫn đứng đó

vẫn hiên ngang trước gió

lá cờ tung bay như con tim gõ nhịp

con tim Tổ quốc đang đập giữa Biển Đông

và trong các anh, những người lính trẻ

là phần tiếp nối quá khứ

luôn giữ ý chí kiên cường

để đảo mãi bình yên ...

 

                                      NVT

 

Nơi - người gác cửa

                Nguyễn Văn Trình

 

Có những buổi chiều

trôi rất chậm trên dãy Trường Sơn

mây chờn vờn như quên mất lối về

người lính gác, giữa bốn bề yên tĩnh

nghe thời gian rơi, in từng nhịp rất khẽ

 

Sông Sê pôn

mang màu nước dịu nhẹ, của những điều rất cũ

không như thác lũ, nhưng khi chạm vào ánh mắt

người lính thấy mình trong dòng nước ấy

một bóng nhỏ, nhưng đầy kiêu hãnh

 

Cửa khẩu Lao Bảo người đến và đi

hành lang kinh tế Đông - Tây

nơi đây, mở ra như một cánh cửa

người lính, giữ cho cánh cửa ấy

luôn bình yên, rộng mở

 

Đêm rơi muộn

nhẹ như một nhịp thở

khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa

từng thanh âm vang lên, như một lời ca không dứt

anh giữ đất bằng sự lặng im bền bỉ

như giữ một giấc mơ, không dễ gì lay chuyển....

 

                                                                 NVT

 

Vững vàng nơi đầu sóng

                           Nguyễn Văn Trình

 

Chiều muộn

rơi xuống mặt biển

tàu anh vẫn vững vàng nơi biên cương đầu sóng

một chấm nhỏ giữa đại dương mênh mông

nhưng mang dáng hình của Tổ quốc

 

Anh ngồi trên boong tàu

chỉ lặng im, đôi mắt dõi theo từng chuyển động

nơi đường chân trời chưa yên

từng con sóng bạc đầu

nối nhau sắp thành hàng hàng, lớp lớp

 

Súng anh đã sẵn sàng

như một lời cảnh báo âm thầm

rằng biển này đang có người canh giữ

và không ai được phép xâm phạm

 

Biển xanh, trời rộng

hải âu gọi nhau trên từng lớp sóng

anh nghe lòng mình dịu lại

và tình yêu biển, mãi lớn dần theo gió

 

Trong mờ xa kia, là đất liền

là nơi luôn bình yên trong tim anh

vì nơi ấy có trời xanh quê hương và gia đình

là điểm tựa để anh đứng vững ở nơi này

để biển trời, mãi trong xanh

như nỗi lòng của người đầu sóng

 

                                        NVT

 

 

Tác giả NGUYỄN VĂN TRÌNH

Bút danh: KATHI              

Hội VHNT tỉnh Quảng Trị - ĐT 0914 415 931

Email: nguyenvantrinh58@gmail.com

Đ/C: 65B Đường Chu Mạnh Trinh, Phường Nam Đông Hà, tỉnh Quảng Trị

 

 

 

READ MORE - CHÙM THƠ NGUYỄN VĂN TRÌNH: Tổ quốc trong tim / Người giữ đảo bình yên / Nơi - người gác cửa / Vững vàng nơi đầu sóng

Tuesday, September 22, 2026

CHÙM THƠ NGUYỄN VĂN TRÌNH: Dáng chiều / Với biển / Đợi nắng

        


 

 Dáng chiều

                   Nguyễn Văn Trình

 

Chiều rơi chậm trên vai gầy tĩnh lặng

mây lững lờ, nhưng ngại nỗi chia xa

em đứng đó, bên dốc đồi sim tím

tà áo bay chạm nhẹ gió ngân nga

 

Hoàng hôn xuống, mắt em chiều lấp lánh

ánh nhìn sâu như giữ cả trời quê

nghe trong đó những điều chưa kịp nói

lặng rơi vào miền ký ức đê mê

 

Hoa sim tím gọi mùa thương trở lại

bước chân em như lạc giữa vô cùng

nghe tim khẽ rung, theo chiều chầm chậm

một nỗi buồn lan rất nhẹ mông lung

 

Chiều khép lại sau lưng em khe khẽ

gió vẫn còn vương vấn bước chân êm

em mang theo, cả một trời tím nhớ

để hoàng hôn còn lại nỗi êm đềm...

 

                                    NVT

 

Với biển

             Nguyễn Văn Trình

 

Chiều buông nhẹ, xuống phía trời xa

em đứng lặng im trước biển ngà

nước biếc ôm trời trong vắt quá

gió về khẽ chạm mái tóc hoa

 

Mắt em vời vợi hướng thiên thai

theo bóng thuyền xa khuất dặm dài

hải âu chấp chới ngang trời rộng

gợi một niềm riêng mãi chẳng phai

 

Lòng em tan giữa biển thênh thang

theo cánh buồm nâu, đến miên man

bay mãi về nơi không giới hạn

mà nghe tiếng sóng, vỗ mênh mang

 

Em đứng bên trời, với biển thôi

biển xanh mà dạ hóa xa xôi

chân trời phía ấy mờ mây phủ

chỉ có lòng mình trôi mãi trôi...

 

                               NVT

 

Đợi nắng

          Nguyễn Văn Trình

 

Hoàng hôn

nghiêng xuống chiều rất khẽ

giọt nắng nhẹ, mềm như ký ức

em chạm vào khoảng lặng

nghe lòng mình náo nức

 

Thu cũ

đã đi qua như đánh thức

để lại mùi hương, sao xót xa

dòng sông chảy qua trong trí nhớ

như còn vọng mãi bờ lao xao

 

Cây phượng già

còn bao khát vọng

che bóng cả một thời xa ngái

ghế đá vắng người qua, ngồi lại

chỉ còn hơi ấm cũ, của ngày xưa còn mãi

 

Trời xanh

của ngày thu dấu ái

xanh như niềm hy vọng

em từng mong mọi điều

sẽ ở lại nơi này

 

Nhưng chiều nay, thôi khép lại

như trang sách cũ không lời

em ngồi đây đợi nắng, đầy vơi

thấy lòng mình chơi vơi quá đỗi ...

 

                                   NVT


Tác giả NGUYỄN VĂN TRÌNH

Bút danh: KATHI              

Hội VHNT tỉnh Quảng Trị - ĐT 0914 415 931

Email: nguyenvantrinh58@gmail.com

Phường Nam Đông Hà, tỉnh Quảng Trị

 

 

 

 

 

 

 

 

READ MORE - CHÙM THƠ NGUYỄN VĂN TRÌNH: Dáng chiều / Với biển / Đợi nắng

Friday, September 4, 2026

THƠ NGUYỄN VĂN TRÌNH TRONG DÒNG CHẢY VĂN HỌC ĐƯƠNG ĐẠI QUẢNG TRỊ - Lê Đàn

  



Thơ Nguyễn Văn Trình trong dòng chảy 

văn học đương đại Quảng Trị


Nhà thơ Lê Đàn

Hội VHNT Tỉnh Quảng Trị

 

        Văn học đương đại Việt Nam là một không gian sáng tạo giàu bản sắc, xuất hiện mạnh mẽ từ những biến động lịch sử sau năm 1975, tiếp nối giai đoạn đổi mới từ thập niên 1980 và phát triển đa dạng cho đến ngày nay. Đặc trưng của thơ ca đương đại là sự hòa nhập giữa cá nhân và tập thể, giữa ký ức và hiện thực, giữa truyền thống và văn hóa bản địa, và cả những hơi thở chung của thời đại mới. Trong dòng chảy ấy, nhiều giọng thơ của các vùng miền đã khẳng định được vị trí riêng, đóng góp cho bức tranh chung của thơ ca Việt Nam đương đại thêm phong phú, trong đó có Nhà thơ Nguyễn Văn Trình, sinh ra và trưởng thành nơi miền quê Quảng Trị khói lửa mà giàu truyền thống cách mạng và thơ ca. Tính đến nay, Nhà thơ Nguyễn Văn Trình đã xuất bản được bốn tập thơ in riêng:“Mây trắng bên trời” – NXB Thuận Hóa, Năm 2011; “Nắng chiêm bao” NXB Hội Nhà Văn, Năm 2019; “Bóng chiều rơi” NXB Hội Nhà Văn, Năm 2022; và “Thôi đành rong rêu”, NXB Thuận Hóa, Năm 2024. Bên cạnh đó, anh còn có rất nhiều bài thơ in chung trong các tuyển tập văn học địa phương, của Trường Đại học Sư phạm Huế, có gần hàng trăm bài thơ đăng trên các trang web, các báo, tạp chí của địa phương và trung ương.

Nhà thơ Nguyễn Văn Trình và nhà thơ Lê Đàn.

       Thơ Nguyễn Văn Trình là một trong những giọng thơ tiêu biểu của thơ ca miền trung – Quảng Trị với cảm thức sâu sắc về quê hương đất nước, về đời sống con người Quảng Trị vùng đất gắn liền với lịch sử chiến tranh, khát vọng hòa bình và cả những nỗi đợi chờ của người miền trung, nơi sở hữu một truyền thống thơ ca sôi động và có sức lan tỏa rộng rãi. Nhiều nhà thơ sinh ra và lớn lên ở nơi đây đã dệt nên bức tranh thơ ca mang đậm bản sắc quê hương, trong đó có nhà thơ Nguyễn Văn Trình đã để lại những dấu ấn đáng ghi nhận của thơ ca đương đại Quảng Trị nói riêng và cả nước nói chung, từ mảnh đất này - mảnh đất của thi ca và lịch sử.

     Cội nguồn cảm hứng trong thơ Nguyễn Văn Trình là quê hương, là ký ức và thiên nhiên miền Trung Quảng Trị. Sinh sống và sáng tác chủ yếu ở quê hương, nên tâm hồn nhà thơ Nguyễn Văn Trình luôn thấm đượm tình quê hương sâu nặng, gắn bó với từng cảnh vật mộc mạc như: dòng sông, bờ tre, giếng nước và tuổi thơ nơi làng quê chân chất. Đó cũng là một mảng đề tài lớn trong thơ Nguyễn Văn Trình. Quê hương không chỉ là yếu tố địa lý mà còn là ký ức, là “nơi trú ngụ” cho cảm xúc và tư tưởng thơ ca, tiêu biểu cho mảng thơ này có một số bài thơ như: “Thẫn thờ chốn quê, Chiều trên sông quê, Hồn quê, Thương hoài giếng quê, Mãi bờ tre xanh...” đã chuyển tải chân thực và tha thiết tình yêu quê hương qua những gam màu ngôn từ giản dị, mộc mạc, mà giàu cảm xúc, giàu nhạc điệu. Trong bài: “Chiều trên sông quê”, nhà thơ viết: “Vãn chiều ghé bến sông quê / Ngắm con đò nhỏ xuôi về cuối sông / Mênh mông năm tháng ngái trông / Nô đùa lũ trẻ dưới sông trưa hè...” Những hình ảnh bình dị như: “Con đò, dòng sông, lũ trẻ nô đùa”...đã gợi lên bức tranh miền quê thanh bình, giàu âm thanh màu sắc thiên nhiên và ẩn chứa trong đó là nỗi niềm man mác, hoài cổ. Đây là điểm khác biệt của thơ Nguyễn Văn Trình so với một số xu hướng thơ đô thị đương thời. Nguyễn Văn Trình hướng về những giá trị bình dị nhất của đời sống nông thôn, để từ đó đi đến sự chiêm nghiệm sâu sắc về ký ức và sự tồn tại của con người.

     Ngôn ngữ trong thơ của Nguyễn Văn Trình hiện đại mà vẫn giữ được sự gần gũi, phong cách thơ của ông cũng vậy, không rập khuôn máy móc theo chuẩn mực cổ điển, hay thậm chí không lặp lại các thủ pháp nghệ thuật phức tạp, rối rắm, khó cảm nhận của một số xu hướng thơ đương thời. Thơ Nguyễn Văn Trình sử dụng ngôn ngữ giàu tính sáng tạo linh hoạt, bình dị mộc mạc dễ cảm, nhưng giàu hình ảnh gợi liên tưởng sâu sắc, nhịp điệu thơ đầy biến hóa nhẹ nhàng nên khiến lời thơ vang vọng như giai điệu thân thuộc của đời sống làng quê thường nhật của con người: “Vẳng nghe sông hát lời quê / Về đây tìm lại đam mê một thời...” (Chiều trên sông quê) cách nhà thơ kể chuyện bằng thơ không dừng lại ở việc mô tả, mà còn khai mở chiều sâu cảm xúc, dẫn dắt người đọc bước vào thế giới nội tâm đầy hoài niệm, suy tư về thời gian, thân phận con người. Nhờ vậy, thơ Nguyễn Văn Trình vừa biểu đạt được cảm thức cá nhân, vừa phản ánh được những biểu hiện chung của cộng đồng miền Trung sau chiến tranh, cả trong thời bình xây dựng và hội nhập.

     Thơ Nguyễn Văn Trình trong dòng chảy văn học đương đại là tiếng nói của Quảng Trị, góp phần “bản địa hóa” thơ ca đương đại. Trong bản đồ văn học đương đại Việt Nam, vẫn tồn tại sự phân biệt khá rõ giữa văn học vùng miền với những thế mạnh riêng. Chẳng hạn như thơ đô thị thường tập trung vào những trải nghiệm hiện tại, bản ngã cá nhân, thơ miền núi và các vùng nông thôn đồng bằng bắc bộ tập trung vào những biến động, sự thay đổi nội tại của các vùng quê, còn thơ miền Trung – Quảng Trị thường gắn với lịch sử chiến tranh khốc liệt, nỗi nhớ quê nhà và nỗi trăn trở về cuộc sống... Trong bối cảnh chung ấy, thơ Nguyễn Văn Trình là một tiếng nói đại diện cho văn học đương đại Quảng Trị. Đồng thời góp phần làm phong phú thêm “bản sắc vùng miền” trong tổng thể văn học đương đại Việt Nam. Không chỉ đơn thuần là thơ trữ tình, thi phẩm của Nguyễn Văn Trình còn như một bản nhật ký bằng thơ ghi chép lại nhịp sống và giá trị tinh thần thiêng liêng của cả cộng đồng. Điều này đặt Nguyễn Văn Trình trong dòng chảy tiếp nối những nhà thơ vừa chân chất, mộc mạc vừa hiện đại, mới mẻ, sử dụng thơ ca như tiếng nói gắn liền với đời sống thôn quê, song vẫn mang hơi thở đương đại hội nhập, sâu sắc. Bài thơ: “Phiên chợ ngày cuối năm” là một minh chứng: “Phiên chợ ngày cuối năm vội vã / Xôn xao người bán người mua / Náo nức người đi chợ tết / Mẹ già lụm đụm tay xách nách mang / Thương con thương cháu / Sắm sửa đủ đầy, đợi tết đoàn viên / Ông già đeo đôi mục kỉnh / Nheo nheo nhìn ngắm cành đào / Ước ao có cành cắm tết / ... / Mấy đứa trẻ lon ton theo mẹ / Mong sao có được mang về, món quà đồ chơi bằng nhựa / Tay kiếm cung, múa cùng những đứa bạn xóm giềng / Bày trò trận giả...”

     Thơ Nguyễn Văn Trình còn là tiếng nói giao thoa giữa truyền thống và hiện đại, địa phương và toàn quốc. Thơ đương đại Việt Nam không chỉ có thơ viết về đô thị, mà còn cần có những giọng điệu thơ, như thơ của Nguyễn Văn Trình để cân bằng bức tranh thơ ca. Âm hưởng miền quê, tần số cảm xúc đời thường, sự giản dị mà sâu sắc trong phong cách thơ của Nguyễn Văn Trình vừa tiếp nối truyền thống văn học dân gian Việt Nam - vốn gần gũi với nhạc điệu ca dao, vừa đáp ứng được nhu cầu thẩm mỹ đa dạng của độc giả hiện đại, vừa thể hiện sự tìm tòi về cội nguồn, về ký ức và về tình yêu quê hương đất nước trong thời đại mới. Bài thơ: “Hồn quê” của Nguyễn Văn Trình là một trong những bài thơ tiêu biểu nói về tình yêu quê hương, làng nước sâu sắc: “Chiều quê gió thổi vi vu / Cánh diều bay bổng đưa ru ngọn nồm / Chòm mây tím nhẹ chiều hôm / Đường làng cốm mới hoàng hôn chớm hè / Bước chân dạo dưới hàng tre / Mà nghe sâu lắng tiếng ve tự tình / Quê hương cảnh đẹp lung linh / Rộn ràng cảm xúc nặng tình trước sau...”

        Trong tổng thể văn học đương đại Việt Nam, thơ Nguyễn Văn Trình không chỉ phản ánh quê hương, mà còn là sự đại diện cho cách tiếp cận thơ ca từ tâm hồn con người Quảng Trị vừa riêng biệt vừa có giá trị phổ quát. Điều này giúp thơ Nguyễn Văn Trình có được sự ghi nhận không chỉ ở những người yêu thơ và giới nghiên cứu phê bình văn học ở Quảng Trị, mà còn ở giới nghiên cứu phê bình văn học cả nước, nhằm góp phần vào dòng chảy phát triển sáng tạo không ngừng nghỉ của thơ ca Việt Nam đương đại.

         Có thể khẳng định rằng: nhà thơ Nguyễn Văn Trình đã xây dựng được cho mình một phong cách thơ ca riêng khác, đậm nét quê hương, đã góp phần làm phong phú thêm sắc màu của thơ ca đương đại Quảng Trị nói riêng và thơ ca cả nước nói chung. Nhà thơ Nguyễn Văn Trình đã kết hợp cảm xúc cá nhân với những giá trị chung của cộng đồng, đưa những trải nghiệm về mảnh đất và con người Quảng Trị - miền Trung vào thơ ca trong bối cảnh hiện đại, bình dị mà sâu sắc. Vị trí của thơ Nguyễn Văn Trình trong văn học đương đại Việt Nam không phải là sự “nổi loạn” về hình thức, cầu kỳ rối rắm về nội dung câu chữ, hay cố tạo sự khác biệt về bút pháp nghệ thuật như một số tác giả khác, mà nằm ở sự chân thành, gần gũi và giàu chiều sâu cảm xúc nội tâm và sự trải nghiện cá nhân của nhà thơ. Thơ Nguyễn Văn Trình đã tiếp nối và làm phong phú thêm những giá trị thơ ca truyền thống, khi tiếp xúc với đời sống hiện đại. Điều đó đã tạo nên một góc nhìn thơ ca riêng khác, giản dị, ấn tượng mà bất kỳ độc giả nào khi bước vào thế giới thơ của Nguyễn Văn Trình đều cảm nhận được sự rung động sâu sắc của tâm hồn mình mà thơ ca đã mang lại.

 

     Viết tại phường Đông Hà, ngày 03 tháng 9 năm 2026

    Lê Đàn


 ---

Tác giả: Nhà thơ Lê Đàn

Phường Đông Hà, Tỉnh Quảng Trị.

Email: ledan30353@gmail.com

READ MORE - THƠ NGUYỄN VĂN TRÌNH TRONG DÒNG CHẢY VĂN HỌC ĐƯƠNG ĐẠI QUẢNG TRỊ - Lê Đàn

Sunday, August 30, 2026

TIẾNG VỌNG TỪ MIỀN KÝ ỨC - Nhà thơ Nguyễn Văn Trình giới thiệu tập thơ RÁNG ĐỎ TRỜI CHIỀU của nhà thơ Lê Thanh Hùng

         


   TIẾNG VỌNG TỪ MIỀN KÝ ỨC

 NGUYỄN VĂN TRÌNH

Hội VHNT tỉnh Quảng Trị

 

        Thơ là hình thức sáng tác văn học nhằm phản ánh cuộc sống và những cảm xúc chan chứa, những tâm trạng dào dạt, những tưởng tượng mạnh mẽ, bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh, và nhất là có vần, có nhịp điệu. khi định nghĩa về thơ, nhà văn vĩ đại của nền văn học Anh thế kỷ 19 Willam HaZlitt đã viết như sau:“Thơ là những gì đáng ghi nhớ nhất trong cuộc sống.” với Lê Thanh Hùng cũng không ngoại lệ, anh làm thơ để ghi lại những mảnh ký ức tâm hồn của mình, mà anh đã từng trải qua và cảm nhận một cách sâu sắc về cuộc sống này.


Hai nhà thơ Lê Thanh Hùng và Nguyễn Văn 
Trình

         Lê Thanh Hùng sinh ngày: 07/7/1947 tại xã Hải Thượng, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị (cũ). Anh đã từng hoạt động trong kháng chiến và tham gia chiến đấu tại quê nhà. Sau đó anh bị thương trong một trận giao chiến ác liệt với kẻ thù, rồi được Đảng - Nhà nước đưa ra an dưỡng và học tập văn hóa tại trại thương binh thành phố Hải Phòng. Sau đó anh được tiếp tục vào học Đại học xây dựng ở Hà Nội. Và sau khi tốt nghiệp ra trường anh được phân công, về công tác tại quê hương, lần lượt là các huyện, thị như: Vĩnh Linh, Triệu Hải và huyện Hải Lăng sau này. Năm 1991, anh vinh dự được chuyển về công tác tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Quảng Trị, từ đó cho đến lúc về hưu.

         Lê Thanh Hùng sinh ra và lớn lên ở một vùng quê nghèo Hải Lăng, Quảng Trị, nhưng đây là vùng quê hiếu học và giàu truyền thống cách mạng. Cũng như bao người con ở vùng quê nghèo Hải Lăng đầy cát trắng và nắng gió này, Lê Thanh Hùng đã từng trải qua thời kỳ bom đạn, khói lửa của chiến tranh ác liệt ở nơi đây. Hiện thực đời sống của quê hương, gia đình, của địa bàn chiến đấu, của đơn vị nơi anh công tác… đã giúp anh hun đúc nên những vần thơ đầy cảm xúc dâng trào.

       Lê Thanh Hùng làm thơ khá sớm, anh đến với thơ hồn nhiên và giản dị như chính đời sống của anh vậy. Bài thơ anh viết khi về thăm lại trại thương binh ở Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng, tính đến nay đã xấp xỉ 50 năm trôi qua. Với gần năm mươi năm cầm bút, anh đã có gần cả trăm bài thơ và cũng đã được đăng tải rải rác trên các báo, tạp chí của địa phương và trung ương.

        Sau gần năm mươi năm miệt mài cầm bút, và lòng đam mê thơ ca, hôm nay Lê Thanh Hùng đã chính thức cho ra mắt  bạn đọc tập thơ:“Ráng đỏ trời chiều”. Cầm trên tay bản thảo tập thơ khá dày dặn, có gần cả trăm bài thơ, tôi thật sự xúc động và trân trọng tấm lòng của anh dành cho thơ, cho cuộc sống đáng yêu trăm chiều thương nhớ này.

      Đọc “Ráng đỏ trời chiều” của Lê Thanh Hùng, mới thấy hết thơ anh viết khá nhiều, khá phong phú về các nội dung, đề tài và thể loại thơ. Chủ đề trong thơ Lê Thanh Hùng cũng thật đa dạng, gần như gói trọn cả đời sống tinh thần của anh, đó là: tình yêu quê hương - làng nước, hình ảnh người lính, tình yêu gia đình - tình bạn bè - đồng nghiệp, và tình yêu thiên nhiên đất nước tươi đẹp.

      Quê hương làng nước luôn có một chỗ đứng quan trọng trong lòng của mỗi người chúng ta. Mỗi người dân Việt, bất kỳ ai cũng đều có tình cảm thiêng liêng gắn bó với quê hương xứ sở của riêng mình, nơi sinh ra và trưởng thành. Đối với Lê Thanh Hùng cũng vậy, từ lúc cất tiếng khóc chào đời, rồi đến tuổi thơ nhiều vụng dại, rồi những công việc lao động, chiến đấu, rồi đến cuộc sống gia đình… tất cả đã gắn bó máu thịt với làng quê, và đã đi vào thơ của anh một cách giản dị, chân thực như cuộc sống nó vốn có. Tuổi thơ của Lê Thanh Hùng không vui, mà mang mác buồn, khác xa với bao đứa trẻ cùng quê với anh. Cha anh mất sớm, mẹ đi bước nữa, anh sống với bà nội với biết bao vất vả đắng cay của những ngày thơ ấu cơ cực:

Vui buồn từ cái thuở hàn vi

Con chưa sinh cha đã ra đi

Chưa hẹn được cho ngày trở lại

Mẹ nuôi con rau cháo qua ngày

 

Nhìn cháu họ, hai buổi đến trường

Khóc thầm trong dạ nén đau thương

Thương cháu nhỏ, sớm mất tất cả

Biết làm sao hết số kiếp nghèo…

                          (Những ký ức xanh)

        Tình yêu quê hương đất nước là một truyền thống tốt đẹp và đáng quý của dân tộc Việt Nam, cho dù có ở nơi đâu vẫn nhớ về quê hương xứ sở của mình, nơi chôn nhau cắt rốn. Quê hương như mẹ hiền ôm ta vào lòng và dành cho ta những gì đáng nhớ nhất. Quê hương là tình yêu thương, là nơi nuôi ta khôn lớn, che chở, động viên cho ta trong những bước đường đời mưu sinh đầy khó nhọc. Quê hương, hai tiếng thân thương mỗi khi nghe thấy, ta thật xúc động, bồi hồi. Tình yêu quê hương ăn sâu vào máu thịt, đi sâu vào tâm hồn của mỗi người con xa quê. Tình yêu quê hương, đất nước trong thơ Lê Thanh Hùng cũng thật da diết xiết bao, khi anh viết về quê hương Đại Nại, Hải Thượng của mình:

Tôi trở về quê một sớm mai

Trời đông se lạnh gió heo may

Bờ tre giếng nước không còn nữa

Dạ buồn, mắt cũng ướt cay cay…

                                     ( Quê tôi)

        Từ ngàn xưa, quê hương luôn là nguồn mạch quán thông kim cổ, là chiếc nôi nuôi dưỡng tâm hồn, trí tuệ của mỗi người. Tình yêu quê hương là sự gắn bó với truyền thống cách mạng, là niềm tự hào về vùng quê yêu nước. Nơi đây đã khơi dậy tinh thần khát khao sáng tạo, vượt khó vươn lên giành thắng lợi:

Chuyện xa rồi nhắc mãi em ơi

Để nhớ lại những nơi đã sống

Biết khổ cực mới mong tìm lại

Đại Nại mình đâu dễ phôi phai

 

Đánh giặc giữ làng chẳng thua ai

Góp công sức cùng với Hải Thượng

“Bốn anh em”, cùng chung chí hướng

Để Hải Thượng mình sáng như gương.

                            ( Đại Nại quê tôi)

         Bên cạnh những bài thơ viết về quê hương, làng nước, thơ Lê Thanh Hùng cũng viết khá nhiều về hình tượng người lính, bởi chính anh là người trong cuộc. Anh viết với tất cả nỗi lòng của một người lính, viết về người lính. Như trong bài thơ:“Những ký ức xanh” anh đã từng tâm sự, trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước trên quê hương mình, anh đã từng cầm súng chiến đấu để bảo vệ quê hương đất nước, chống lại kẻ thù xâm lược, ngoại bang:

Được cầm súng ở trong tay

Cùng vài thằng bạn tối hôm nay

Thành du kích giữ yên làng xã

Nằm hầm bí mật, đêm thay ngày

 

Những tối họp dân gác đầu đường

Để dân học tập các chủ trương

Cho dân hiểu rõ thêm đường lối

Đập tan luận điệu địch tuyên truyền

                        (Những ký ức xanh)

        Với gia đình có truyền thống yêu nước và cách mạng, Lê Thanh Hùng đã sớm giác ngộ và đi theo con đường cách mạng. Anh cũng đã tham gia vào quân đội từ những ngày còn rất trẻ, tuổi thanh xuân mười tám đôi mươi:

Tuổi mười tám vào quân giải phóng

Ra đi cầm súng lúc xuân xanh

Biết bao ước vọng đành dang dở

Gìn giữ quê hương, giữ nước nhà

 

Những lúc xung trận giữa địch ta

Lời thề vang vọng quyết xông pha

Tinh thần đồng đội luôn gắn bó

Cuối cùng chiến thắng, thuộc về ta

               (Trung với Đảng, hiếu với dân)

      Dân tộc Việt Nam là một dân tộc nhiều lần phải đương đầu với các thế lực xâm lược hùng mạnh, hơn ta gấp cả trăm lần về tiềm lực vũ khí. Lịch Việt Nam cơ bản là lịch sử của các cuộc kháng chiến vệ quốc. Vì vậy, hình tượng người lính luôn là hình tượng trung tâm trong đời sống, cũng như trong thơ ca. Hình tượng người lính là nguồn cảm hứng của các sáng tác thơ ca, nhạc họa. với Lê Thanh Hùng cũng vậy, anh đã xây dựng hình tượng người lính trong thơ mình một cách tự nhiên, và đầy cảm xúc dâng trào:

Bao năm chiến đấu ở chiến trường

Sau hòa bình, trở lại quê hương

Xa bạn bè yêu thương đồng đội

Rời quân ngũ, vẫn nhớ thao trường

                       (Bản chất người lính)

        Những bài thơ của Lê Thanh Hùng viết về người lính, dưới góc nhìn chiêm nghiệm của một người trong cuộc. Đó là những người lính hồn nhiên, yêu đời đã dâng hiến tuổi thanh xuân, và máu xương của mình cho Tổ quốc. Họ sẵn sàng vượt qua mọi hy sinh gian khổ để đất nước được vẹn tròn to lớn. Người lính trong bài thơ: “Hai thế hệ” hiện lên đầy niềm tự hào về truyền thống của một gia đình cách mạng, con tiếp bước cha, những người lính ấy mang trong mình trách nhiệm lớn lao là chiến đấu chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ quê hương đất nước:

Vinh dự đứng trước hàng quân

Ba tư chiến sĩ tòng quân đợt đầu

Xuất quân sau đó không lâu

Chiến thắng vang dội, công đầu có cha

 

Lớn lên con đã theo cha

Vào quân giải phóng băng đèo vượt sông

Chiến công, nối tiếp chiến công

Con xin dâng trọn, một lòng vì dân

                                            (Hai thế hệ)

         Đọc “Ráng đỏ trời chiều” của Lê Thanh Hùng, ta cũng nhận ra thơ anh viết khá nhiều, và khá xúc động về tình cảm gia đình, về tình bạn và về tình đồng nghiệp…Đó là những tình cảm thiêng của mỗi con người trong cuộc sống, mà ai cũng từng trải qua và chúng đã trở thành những mảnh ký ức tâm hồn sâu thẳm.

        Tình cảm gia đình có thể giúp cho người ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách trong cuộc sống. Đây là nơi để con người có sự an ủi, có niềm tin, và hy vọng vào một ngày mai tươi sáng, tốt đẹp. Nếu con người sống mà không có tình cảm gia đình, thì sẽ trở nên khô cằn, héo úa và cũng sẽ mất đi một điểm tựa trong cuộc sống của mình. Mỗi con người ai rồi cũng sẽ có nơi chốn bình yên cho tâm hồn, đó là mái ấm gia đình. Sau bao nhiêu gian lao, bão táp, con người luôn hướng về mái ấm gia đình, mong được yêu thương và che chở.

        Khi viết về người vợ tào khang, chung thủy của mình, giọng thơ của Lê Thanh Hùng như thiết tha đằm thắm hơn. Anh giành cho vợ những tình cảm ngọt ngào trân quý, nói với vợ mà như tâm sự với chính lòng mình:

Giờ con cái đã yên bề gia thất

Chúng ta đã lên chức ông bà

Bốn mươi lăm năm, đầu đã bạc

Vẫn yêu đời, vui với cháu con

 

Đếm thời gian, bốn lăm năm qua

Những buồn vui trôi vào quá khứ

Vẫn phải nhớ, những ngày xưa ấy

Để tạo nguồn, cho cuộc sống hôm nay

           (Kỷ niệm bốn lăm năm ngày cưới)

Tình vợ chồng trong thơ Lê Thanh Hùng cũng mang nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau, phong phú và đa dạng. Đôi khi anh viết những vần thơ tặng vợ, nhưng vẫn tràn đầy những cảm xúc ngọt ngào, say đắm, lãng mạn và mộng mơ như thuở tình yêu ban đầu hò hẹn:

Ta biết nhau đâu phải trời ban

Biết bao lần, thời gian dài trăng khuyết

Có lúc nào em thấy luyến tiếc

Bởi vì nhiều đêm, trăng khuyết không tròn

 

Bước trên đường đầy ắp cỏ non

Chắc hết mùa trăng khuyết, trăng lại tròn

Tình chúng ta còn duyên mãi mãi

Rồi trăng tròn, sẽ sáng lại bên ta

                           (Đêm trăng khuyết)

       Viết về tình cảm ông cháu, bác cháu, Lê Thanh Hùng cũng dành những lời thơ yêu thương, dịu dàng nhất. Và không quên những lời căn dặn sâu sắc với các cháu:

Giờ đây cắp sách đến trường

Phải chăm học giỏi, làm gương em mình

Nhớ lời ông dặn đinh ninh

Ngày mai khôn lớn hành trình ước mơ...

                                    (Tình ông cháu)

 

      Hoặc:                

Bây giờ cháu đã lớn khôn

Một vài năm nữa, bước chân vào đời

Nước nhà mong đợi cháu ơi

Mong cho cháu bác, trọn đời sướng vui…

                                        (Mừng cháu đọat giải)

       Mái ấm gia đình là nơi chốn để đi về, là tổ ấm hạnh phúc của mỗi người trong gia đình. Nên khi viết về “Mái ấm tình thân” Lê Thanh Hùng có những lời thơ vừa dung dị, vừa triết lý rất sâu sắc, đọc lên nghe thật thấm thía:

Câu chuyện dâu con xưa đến giờ

Gia đình hạnh phúc, biết làm ngơ

Chắp nhặt từng ly càng dễ vỡ

Nhẫn nhịn, nhường nhau hạnh phúc chờ

 

Mái ấm gia đình là giấc mơ

Nhưng biết bao người, còn lơ mơ

Ông bà cha mẹ, vui gương mẫu

Cháu con hạnh phúc mãi trông chờ…

                            (Mái ấm tình thân)

        Trên tất cả những tình cảm gia đình là tình mẫu tử. Lê Thanh Hùng đã viết những vần thơ nặng nghĩa ân tình về người mẹ kính yêu của mình, tần tảo một nắng hai sương. Với niềm tự hào kiêu hãnh của một người con hiếu thảo, khi mỗi lần được về bên mẹ:

Bên mẹ là no đủ

Cơm đạm bạc mà ngon

Xa cho dù lạc thú

Vẫn luôn, buồn thân con

                         (Bên mẹ)

      Tình bạn, tình đồng nghiệp là một tình cảm tốt đẹp, cần được nâng niu và trân trọng, cũng được Lê Thanh Hùng khắc họa khá đậm nét trong tập thơ này. Như chúng ta đã biết, cuộc đời của mỗi con người cũng giống như một con đường dài hun hút, mà chúng ta không biết những gì sẽ xuất hiện ở chặng đường sắp tới. Vì vậy, trong mọi hành trình cuộc sống, ta luôn cần có những người bạn đồng hành, luôn quan tâm và chia sẻ khi cần thiết. Tình bạn, tình đồng nghiệp luôn sát cánh bên nhau cùng chia sẻ niềm vui, nỗi buồn. Tình bạn cũng là đôi cánh giúp ta bay cao bay xa. 

     Người xưa có câu: 

     “Muốn đi nhanh thì đi một mình, nhưng muốn đi xa thì phải có bạn đồng hành.”. Tình bạn cũng chỉ có thể, có được khi hai trái tim đồng điệu, hai đôi mắt nhìn về một hướng, tâm đầu ý hợp luôn giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống đầy thử thách này. Tuân Tử ở Trung Quốc đã có một câu nói rất nổi tiếng về tình bạn và rất đáng để chúng ta suy ngẫm:“Người chê ta mà chê đúng là thầy ta, người khen ta mà khen đúng là bạn ta, những kẻ vuốt ve nịnh bợ ta là kẻ thù của ta.” Khi viết về tình bạn, tình đồng nghiệp, Lê Thanh Hùng cũng đã có những vần thơ dâng trào cảm xúc, thật xúc động và đáng trân trọng về một tình bạn cao đẹp:

Đêm lạnh về khuya tiếng gió lùa

Len vào khe cửa rèm đung đưa

Nào ai vừa biết tin trong gió

Thằng bạn phương xa muốn dặn dò

 

Hai thằng xa cách ở hai nơi

Thế mà đã mấy chục năm trời

Nhớ xưa, chung chiến hào đánh giặc

Sau ngày gặp lại, tình như xưa…

                           (Nghĩa tình bạn bè)

Khi Lê Thanh Hùng viết về nghề nghiệp của mình, anh cũng cảm thấy rất tự hào và đầy trách nhiệm:

Riêng anh, kho bạc chọn anh rồi

Ngày ngày sổ sách chứng từ thôi

Tiền ở trong kho, hay sổ sách ?

Bí mật an toàn phải giữ gìn

 

Quản lý thu chí phải rạch ròi

Kiểm tra, kiểm soát phải nhớ đời

Chứng từ sổ sách luôn cân đối

Giữ mãi lòng son sắt với đời

                          (Tâm sự nghề)

       Thiên nhiên luôn là một chủ đề lớn trong các tác phẩm văn học xưa nay, được các tác giả văn học quan tâm và phản ánh. Bởi thiên nhiên được xem như là một hình tượng nghệ thuật trong các tác phẩm văn học. 

Đọc “Ráng đỏ trời chiều” của Lê Thanh Hùng, ta thấy vẻ đẹp thiên nhiên cũng là một hình tượng văn học xuyên suốt trong thơ anh. Bức tranh thiên nhiên bốn mùa tươi đẹp hiện lên trong thơ Lê Thanh Hùng mang vẻ đẹp riêng, của một người con quê hương Hải Lăng, Quảng Trị đầy gió Lào và cát trắng.

       Đông qua xuân tới, khi từng đàn chim én chao liệng trên bầu trời mang thông điệp báo hiệu mùa xuân đang về. Không như mùa đông lạnh giá, mùa hè chói chang ánh nắng, mùa thu đượm buồn với những chiếc lá vàng rơi, mà mùa xuân mang tới cho con người một không khí ấm áp dịu hiền. Cái thời điểm kỳ diệu của mùa xuân khiến cho tâm hồn con người bừng lên một sức sống mới. Mùa xuân được ví như nàng chúa xuân tươi đẹp mà Thượng đế đã ban tặng cho loài người. Đó là một món quà vô giá tô điểm cho những hương sắc mùa xuân, là những loài hoa rực rỡ, và đặc biệt là không thể thiếu cành mai vàng, cành đào…Nó đã trở thành biểu tượng đặc sắc nhất của ngày xuân. Thơ Lê Thanh Hùng viết về mùa xuân, về mai vàng, về cành đào đón tết… cũng tràn đầy niềm vui và cảm xúc hân hoan chào đón xuân về:

Từ giả đông về thôi lạnh giá

Rộn ràng chuẩn bị đón xuân sang

Mai vàng khoe sắc đào đua nở

Vương chút men nồng thắm tình ta

                                   (Xuân về)

                         Hoặc:

Lác đác nụ mai vàng

Chuẩn bị đón xuân sang

Mận đào càng rực rỡ

Nghiêng cánh đứng thẳng hàng

 

Khiêm tốn ở một mình

Chàng hướng dương lung linh

Chao mình trong nắng sớm

Đón chào ánh bình minh

                              (Sắc xuân)

        Mùa hè trong thơ Lê Thanh Hùng cũng có nét riêng của vùng quê Quảng Trị đầy nắng gió. Khi những chú ve đua nhau ngân lên khúc nhạc râm ran báo hiệu một mùa hè đã về, là khi trên mọi nẻo đường quê, nơi công sở đã rực rỡ những chùm phượng đỏ, tất cả đã tạo nên một bức tranh mùa hè thật rộn ràng, đủ các sắc màu đầy hoài niệm:

Nghe tiếng ve kêu biết hè về

Đầu đường phượng nở cạnh hàng me

Ngày xưa đi học tôi còn nhớ

Ngày tháng dần qua đã đến hè…

                                           (Hè về)

        Mùa thu hiện lên trong:“Ráng đỏ trời chiều” của Lê Thanh Hùng cũng thật ấn tượng và rất đáng nhớ. Mùa thu là mùa của những đam mê lãng mạn, là mùa của thi ca và ái tình. Mùa thu đã gợi lên cho con người không biết bao nhiêu là cảm xúc dâng trào. Chẳng khó để lý giải lý do, vì sao mà trong văn học lại có nhiều bài thơ hay về mùa thu như vậy. Những cái khoảnh khắc của mùa thu thật xao xuyến làm sao, cũng được Lê Thanh Hùng cảm nhận và tái hiện trong thơ mình:

    Trời giữa thu, vương vấn phút hạ qua

    Được vỗ về chút hơi lạnh làm quà

    Một ít tình còn vương trong gió thoảng

    Nao nao lòng, thu không thể xóa nhòa

                                      (Tâm sự ba mùa)

          Thu qua, đông đến, thế rồi sau chuỗi ngày mùa thu với những làn gió nhẹ heo may, mây trôi bảng lảng. Sau những con đường rợp lá vàng rơi, sau những phút giao mùa đầy ắp tâm tư đáng nhớ. Giờ đây, mùa đông cũng đã đến và mang theo những cơn gió lạnh lùng, rét buốt. Mùa đông là mùa đặc trưng của giá lạnh, nhưng có lẽ mùa đông cũng là mùa tràn đầy cảm xúc và mang lại nhiều thi hứng nhất cho các thi nhân. Vì vậy, mùa đông đã đi vào thơ, nhạc khá nhiều và khá hay. Mùa đông trong thơ Lê Thanh Hùng cũng tràn đầy cảm xúc như thế:

Thu chưa đi, mà đông đã đến thăm

Đem chút lạnh từ đáy lòng sâu thẳm

Tâm hồn thu, mới giả từ anh hạ

Ngắm nhìn đông mà ánh mắt xa xăm…

                           (Tâm sự ba mùa)

       Khi nói về thơ, nhà phê bình văn học hàng đầu của nước Nga thế kỷ 19, Bê-lin-xki, đã viết: “Thơ trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật”. Đọc những vần thơ trong tập:“Ráng đỏ trời chiều” của Lê Thanh Hùng, ta mới thấy hết những trang thơ của anh viết ở trong tập thơ này thực sự là những trang đời của anh, rất chân thực, hồn hậu như chính đời sống vốn có vậy. Có những trang đời của anh buồn đẫm nước mắt đọc lên nghe rưng rưng, nhưng cũng có những trang đời vui tươi, và đầy viên mãn hạnh phúc. Đó là những trang thơ anh viết ra từ tiếng vọng của miền ký ức, để gửi đến cuộc đời, gửi đến bạn đọc gần xa, và gửi trọn hương lòng của anh cho gió mang đi cuối trời.

        Với tập thơ:“Ráng đỏ trời chiều”, chúng ta có thể tin rằng những vần thơ của Lê Thanh Hùng trong tập thơ này, sẽ còn mãi cùng trời xanh mây trắng, sẽ còn mãi cùng thời gian năm tháng cuộc đời. Trong bài thơ mở đầu cho tập thơ, anh cũng đã viết những dòng thơ tự bạch về nỗi lòng của mình, nhằm gửi đến quý độc giả gần xa mong được sự đón nhận, đồng cảm và chia sẻ:

Ráng đỏ trời chiều màu hư ảo

Mây giăng đỉnh núi nỗi hanh hao

Bao nhiêu ký ức này trao gửi

Gửi con cháu, gửi vào thiên thu…

                   (Ráng đỏ trời chiều)

 

Viết tại Phường Nam Đông Hà, tỉnh Quảng Trị

                                 NVT

 

Tác giả NGUYỄN VĂN TRÌNH

Bút danh: KATHI

Hội VHNT tỉnh Quảng Trị - ĐT 0914 415 931

Email: nguyenvantrinh58@gmail.com

Đ/C: 65B Đường Chu Mạnh Trinh, Phường Nam Đông Hà, tỉnh Quảng Trị

 

 

 

 

 

 

 

READ MORE - TIẾNG VỌNG TỪ MIỀN KÝ ỨC - Nhà thơ Nguyễn Văn Trình giới thiệu tập thơ RÁNG ĐỎ TRỜI CHIỀU của nhà thơ Lê Thanh Hùng