Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, October 2, 2026

TÌNH THƠ NGUYỄN TẤT NHIÊN VÀ NỖI NGHIỆT NGÃ CỦA TÂM HỒN MỘNG DU - Trương Công Hải


TÌNH THƠ NGUYỄN TẤT NHIÊN

VÀ NỖI NGHIỆT NGà

CỦA TÂM HỒN MỘNG DU


   Tình yêu là đề tài muôn thuở, bởi nó là bản năng gốc của con người, vì thế chẳng có lớp học nào dạy cách yêu nhau cả.

   Đọc thơ tình của Nguyễn Tất Nhiên gợi ta nhớ trước ông một thập niên có thơ Nguyên Sa.Nay nghiệm ra rằng thơ Nguyên Sa là lời giáo ngôn tình ái, là triết luận, tâm lý của những tình yêu thời mới lớn:

"Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc

Áo nàng xanh anh mến lá sân trường

Sợ thư tình chưa đủ nghĩa yêu đương

Anh thay mực cho vừa màu áo tím."

Tình yêu đó đi từ sự trải nghiệm xuyên qua lăng kính tư duy của Trần Bích Lan, giáo sư triết học, người làm thơ cho những tín đồ đang yêu. Trong đời thực, ngoài vợ mình ra, Nguyên Sa không hề yêu ai cả.

  Còn Nguyễn Tất Nhiên thì khác, thơ ông là nỗi lòng, là lời tự thú của một gã tình si trước bình minh số phận: "Thời mới lớn em dễ dàng xao động/ Buồn thay ta không bắt nổi hồn nàng/ Nên mật tình đắng giọng ngàn năm/ Thôi, phận bạc hãy nhuộm giùm tóc bạc."

   Nhà thơ tên thật là Nguyễn Hoàng Hải, sinh năm 1952 tại Biên Hòa, lớn lên học tại Trường Trung học Ngô Quyền nơi sở tại. Năm 14 tuổi, ông đã làm thơ và biết yêu  từ rất sớm:  "Nắng bờ sông như màu trang vở cũ / Thuở học trò em làm khổ ai chưa?" (Nên sầu khổ dịu dàng)

Cùng bạn học là Đỗ Thiên Phương lập thi văn đoàn, xuất bản hai tập: Nàng Thơ Trong Mắt và Dấu Mưa Qua Đất dưới bút danh Hoài Thi Yên Thi. Đến năm lớp 12, xuất bản tập Thiên Tai. Một tập thơ tình tuổi học trò mà lấy tên "Thiên Tai "đủ để thấy rằng tình yêu đối với ông là một trận bão lòng mà hậu quả là những cuộc tình thua: "Em bây giờ có lẽ, toan tính chuyện lọc lừa / Ta bây giờ có lẽ/ Xin làm người tình thua."

  Năm 1970,  khi đến gặp Du Tử Lê để nhờ giới thiệu thơ đến các toà soạn, ông có hỏi: "Thưa anh, bút hiệu Hoài Thi Yên Thi bạn bè em cho là hơi "sến" phải không anh? Du Tử Lê buột miệng nói "tất nhiên" rồi tiếp: "Họ Nguyễn phải không, cứ lấy hiệu là Nguyễn Tất Nhiên đi, may ra thơ còn đổi vận." Bút hiệu Nguyễn Tất Nhiên ra đời, thơ đăng báo.

15 bài thơ được phổ nhạc, trong đó có nhiều bài của vài nhạc sĩ tên tuổi như Phạm Duy, Nguyễn Đức Quang, Anh Bằng..Thơ bước ra ánh sáng, được nhạc chấp cánh, Nguyễn Tất Nhiên đã tạo nên một hiện tượng văn học đình đám ở miền Nam đầu thập niên 1970.

   Bước vào thơ Nguyễn Tất Nhiên là ba bóng hồng Bắc 54. Cả ba cô không hề là giai nhân. Ông mê họ theo cách của mình, bởi vì "Vẻ đẹp của người con gái không ở đôi má hồng mà nằm nơi ánh mắt của kẻ tình si," (Emmanuel Kant). Nhà thơ vương vào đời họ như một nỗi ám thị có từ muôn kiếp:

"Người từ trăm năm về qua sông rộng

Người từ trăm năm về khơi tình động."  

Hình như trong tiền kiếp họ đã vướng vào ông cái duyên của một cọng buồn cỏ khô (chữ TCS ) nên về qua sông rộng rồi về khơi tình động ở kiếp này làm cho ông phải chịu một nghiệp tình sầu: "Ta ngoắc mòn tay, ta chạy vòng vòng, ta chạy mòn chân"  để rồi cuối đường chỉ thấy một trùng trùng gió lộng.

    Ba nàng thơ cô nào cũng ỡm ờ, mắt nhắm mắt mở kiểu câu like. Xem ra nhà thơ đã tự đuổi bắt lấy cái bóng của chính mình trên xa lộ tình yêu: "Tình cứ đuổi theo người như chiếc bóng /  Người thì không bắt bóng được bao giờ / Anh muốn khóc trong buổi đầu niên học / Bởi yêu em nên sầu khổ dịu dàng." Đây là nỗi lòng viết cho Duyên, là tình mối đầu nên lời hồn nhiên, sầu khổ nhưng dịu dàng.

  Năm năm một chuyến tình vô vọng, ông làm bài thơ cuối nói với nàng để tự trách và khép lại trái tim:

"Năm năm trời ta làm tên quái đản

  Cầu danh trên nước mắt người tình

  Năm năm trời có nhục có vinh

  Có chua chát ngọt bùi cay đắng

  Có hai mái đầu chia nhau thù oán

   ......

  Tình ta đẹp nhưng tình con nít nhỏ

  Nên lỗi lầm đã đục màu sông

  Nếu em còn thương mến tuổi mười lăm 

  Xin nuốt hận mỉm môi cười xí xoá

  Hồn ta đẹp nhưng đời ta thảm quá." 

Ý thơ hồn nhiên, có yêu thương, có dỗi hờn, có cam chịu, đó chính là đặc trưng của tình yêu tuổi học trò trong thơ Nguyễn Tất Nhiên.

  Sau Duyên là Minh Thủy, cô bạn học cùng trường, sau hai lớp. Thơ viết cho Thủy thì tình tứ hơn: "Chiều em đi học về thơm tóc thả / Áo eo suông trinh bạch cả giáo đường / Ta ngọt ngào gọi khẽ, người đi luôn." (Kẻ tự đóng đinh tim). 

Tín hiệu tình yêu gởi đến nơi không địa chỉ, vì tình một chiều khiến nhà thơ cũng chịu nhiều đau khổ: "Ba năm vuốt ngọn tình dài / Ừ tôi còn vụng ngón tay dậy thì / Thuở nào sầu đã lâm ly / Giờ thêm già héo nhiều khi hận thù." (Nên thời gian ấy ngùi trông).

Đến đây thì sự hồn nhiên đã đi vắng, thủ pháp tạo hình ảnh "Vụng ngón tay dậy thì" trong "ba năm vuốt ngọn tình dài" rất gợi tả, biểu cảm lời tự trách, tự xót xa.     

   Lúc này, sầu khổ không còn dịu dàng nữa vì thân già héo nhiều khi hận thù. Nỗi đau đã được tôi luyện nên chai cứng hơn rồi. Hai chữ "hận thù" chỉ là cách nói cường điệu mang tính thù vặt của một ẩn ức tình yêu mà ông phải nói ra thơ cho bỏ ghét,  thực ra ông vẫn yêu nàng say đắm. Bài "Hai năm tình lận đận" sau đây là một minh chứng: "Em không còn thắt bím / Nuôi dưỡng thời ngây thơ  / Anh không còn luýnh quýnh / Trước sân trường trao thư / Em vẫn còn mắt liếc/   Anh vẫn còn nôn nao /  Ngoài đường em bước chậm/ Quán chiều ngóng cổ cao / Hai năm tình lận đận/ Hai đứa cùng xanh xao / Hai năm trời mùa lạnh / Hai đứa cùng hư hao".

   Nhà thơ đã thành công trong nghệ thuật đối ý từng cặp câu thơ nhằm biểu đạt tâm hồn đôi lứa, giúp ta cảm nhận được cung bậc cảm xúc của một tình yêu lận đận dần trôi theo năm tháng. Bài này được Phạm Duy chọn để phổ nhạc cùng tên.

   Một nàng thơ nữa là Kim Oanh, bạn học cùng trường kém ông hai lớp, nhà có quán cà phê Ca Dao nổi tiếng ở Biên Hòa: "Đôi mắt tròn, đen, như búp bê / Cô đã nhìn anh rất Bắc Kỳ / / Anh vái trời cho cô dễ dạy / Để anh đừng uổng mớ tình si." (Cô Bắc Kỳ nho nhỏ).  Cô gái có mái tóc thời thượng này thoáng qua hồn ông với những vần thơ nhí nhảnh: "Cô Bắc Kỳ nho nhỏ/ Tóc demi garcon / Chiều vui thương đón gió / Có thương thầm anh không? Cô Bắc Kỳ nho nhỏ / Tóc demi garcon / Cười ngây thơ hết nụ / Tình cờ thấy anh trông / Cô Bắc Kỳ nho nhỏ / Mắt như trời bao dung / Hãy nhìn anh cho rõ / Trước khi nhìn đám đông / Hãy nhìn anh chút nữa  / Trước khi vào đám đông."        (Đám đông)

       Nguyễn Tất Nhiên đi theo em nhưng không lãng mạn bằng Phạm Thiên Thư khi theo Ngọ về, tóc dài tà áo vờn bay mà hình như dạn dĩ, tinh quái và lì hơn: "Hãy nhìn anh cho rõ / trước khi nhìn đám đông / hãy nhìn anh chút nữa  / trước khi vào đám đông." Đúng là một bên bu, một bên né.  Bài nầy đã được Phạm Duy phổ nhạc dưới tên Cô Bắc Kỳ nho nhỏ.

  Tình yêu vốn khởi tự tâm sinh, mỗi người đều có những cách yêu khác nhau tuỳ theo tâm lý, hoàn cảnh và dung lượng tâm hồn, Tất Nhiên gây nhiều ấn tượng cho người đọc bởi vì thơ ông có nhiều tính cách trong một:  hồn nhiên trong chua cay, hạnh phúc trong đau thương và lãng mạn trong sầu thảm: "Người tóc thả vai ngang / Bước qua chiều mưa nhỏ / Cùng tận chốn tang thương /  Ta nghe ngàn phiến gió / Đè nặng bóng thê lương / Xuống từng hơi thở khó.....Đôi mắt người ngây thơ /Không hề vương vấn tội / Có chở tình ta theo / Tới cõi nào diệu vợi?" Những điều đó phát xuất từ tâm trạng, hoàn cảnh và tâm lý bản thân. Việc yêu và làm thơ là vận nghiệp của nhà thơ, chưa kể Nguyễn Tất Nhiên còn mắc bệnh tâm thần phân liệt.

    Ở Trường Sĩ quan Thủ Đức, ông bị từ chối vì tâm thần bất ổn. Và theo Phạm Duy,  nhạc sỹ đã ba lần vào dưỡng trí viện Biên Hoà để thăm Bùi Giáng, Nguyễn Ngu Ý và Nguyễn Tất Nhiên.

  Theo kinh Pháp Cú thì Tâm là chủ tạo tác, khi tâm động thì Ý phát sinh.Thi sĩ là người nhạy cảm và đang yêu thì tâm luôn vọng động, vì thế, ý tưởng trong thơ Nguyễn Tất Nhiên phong phú, ngôn từ mãnh liệt, hình ảnh táo bạo có khi chạm đến ngưỡng siêu thực: "Chiều em đi học về chim trắng bước / Ngang giáo đường nhoè nhoẹt màu vôi phai / Có động lòng xin hãy rút khăn tay / Lau giùm mắt kẻ xương bày trên thán giá / Là ta đó, em ơi đang tầm tã / Mưa đầy hồn đau đớn thương thân / Lỡ yêu tín đồ phải chấp nhận gian truân / Phải muối mặt giao du cùng quỷ sứ / Tính nhân hậu đã hồi nào hoá dữ / Bởi vì em gõ nhẹ cửa Thiên Đàng".

  Khi cao hứng thì thính giác và thị giác được ông cảm nhận qua lăng kính phân liệt tâm thần, tạo nên một hiệu ứng nghệ thuật về hình ảnh đầy ấn tượng:  "Chuông nhà thờ đổ mệt / Tượng Chúa gầy hơn xưa / Chúa bây giờ có lẻ / Xuống trần gian trong mưa." (Hai năm tình lận đận)

   Nhiều khi lên cơn hoang tưởng, ông tự hóa thân làm linh mục:   "Vì tôi là linh mục / Phổ lời tình nhân gian / Thành câu thơ buồn bã  / Nên hạnh phúc đâu còn /  Nên người tình duy nhất  / Vừa thiêu hủy lầu chuông." (Vì tôi là linh mục). 

     Và khi mà ẩn ức về một khát vọng tình chưa thỏa đáng thì phản ứng đột nhiên táo bạo: "Nếu vì em mà ta phải điên tình / Cơn giận dữ đã tận cùng mê muội / Thì đừng sợ, Duyên ơi thiên tài yếu đuối / Tay tre khô mối mọt ăn luồn / Dễ gãy đòn, miếng vụn tả tơi xương / Khi tàn bạo xiết cổ người yêu dấu! (Tình em cô gái Bắc).

    Xét kỹ, ta thấy Nguyễn Tất Nhiên không phải là kẻ thất tình, vì ông không có mối tình nào cả mà chỉ là yêu đơn phương với những chuyến tình thua thiệt. Ông là kẻ lụy tình.

  Có điều là, 8 năm sau, ông gặp lại Minh Thủy. Do những đổi thay của thời cuộc, năm 1978, Thủy không còn sự lựa chọn nào khác nữa. Nàng đã đáp lại tình ông.  Họ cưới nhau, đến năm 1980 thì sang Pháp, năm sau lại sang Mỹ.

    Hôn nhân là quà tặng của tình yêu, đồng thời cũng là định mệnh, bởi sự khác biệt nhau về tính cách, khó chịu đựng được đời nhau:  "Em mang hồn vô tội / Đeo thánh giá huy hoàng / Còn tôi nhiều sám hối / Mà sao vẫn hoang đàng." (Em hiền như Ma soeur). 

Hãy nghe ông dự cảm trước hôn nhân:

"Phu thê nếu đã nợ rồi  / Thì tôi đâu ngại ngỏ lời yêu em / Như con chim mới tập chuyền / Bâng khuâng gánh lụa thánh hiền em ra /  Mặt trời rực rỡ phương xa / Ở đây hạnh phúc  chỉ là đau thương / Phu thê nếu đã buộc ràng / Thì xin nhẫn nhục cưu mang vợ chồng  / Tôi quanh năm sống hoang đàng  /  Cũng xin nhỏ lệ hoàn lương khóc tình." 

      Khi đã chung thuyền, rồi thì hạnh phúc với ông là một sự hoài nghi: "Có những chiều muốn hôn em rồi khóc / Mùa bình an nào chờ đợi uyên ương? (Uyên ương) 

Đúng như Hồ Zếnh đã nói: "Tình mất vui khi đã vẹn câu thề / Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở."

Thay vì là vương miện tình yêu, ông đã đội phải chiếc vòng Kim Cô. Ở khúc quanh số phận này, nhà thơ bắt đầu đối mặt với bi kịch của cuộc đời mình:

   "Tình cũng khó theo thời cơm áo khó 

    Ta dìu nhau đi dưới bóng nợ nần"

    (Hai hàng me đường GIa Long)

   Cùng vợ và hai con sống ở Mỹ, nhà thơ không thể nào hội nhập được với một xã hội thực dụng, hiện đại. Bằng những bước chân lơ đãng của kẻ mang tâm hồn mộng du trên đất Mỹ,  ông như đi giữa đôi bờ hư thực của cuộc đời .

    Vợ dẫn con đi biệt, ông trở về nguyên bản của chính mình: "Tôi đứng một mình trong im lặng / Như những cánh buồm kiệt sức lang thang." (Thiên Thu).  Sống lang thang bờ bụi khi không thể ở nhờ lâu ngày nơi nhà bè bạn.

   Theo Nguyễn Khánh Trương thì bài Tình ơi hỡi tình là bài thơ cuối cùng nhà thơ làm trên đất Mỹ, xin trích hai khổ đầu và cuối: "Lâu rồi, không nhớ bao lâu / Tìm nhau trong cõi bạc đầu nhân gian / Em về dưới gót trăng tan / Có nghe thiên cổ tiếng ngàn thông đau?...Lâu rồi không biết bao nhiêu / Nắng mưa trên những tàn xiêu đổ đời / Hôm em êm ả điệu ngồi / Sau lưng là những tình ơi hỡi tình!".  Ý thơ là nỗi chán chường, ngán ngẩm, là lời cuối cùng cho những chuyến tình sầu đã đi qua đời ông.

    Là một người sống nội tâm, đầy suy tư, không biết nhà thơ có mặc khải được chốn bất khả tư nghì trong tư tưởng hay không, mà thơ ông từ rất sớm đã lảng vảng hình bóng của sự chết: "Ta mời ta viếng mộ / Rời thảm cảnh dương gian...Lửa đời ta đã lụn / Đang hấp hối tro tàn,". (Thơ Mưa).

Và ông xem cái chết như một nghiệp định: Ta phải khổ cho đời ta chết trẻ / Phải ê chề cho tóc bạc với thời gian / Phải đau theo từng hớp rượu tàn / Phải khép mắt sớm hơn giờ thiên định."  (Giữa Trần gian tuyệt vọng).         

          

   Việc gì đến sẽ đến, ngày 8 tháng 3 năm 1992, người ta tìm thấy nhà thơ gục đầu trong một chiếc xe cà tàng đậu dưới tán cây, trong sân một góc chùa ở California, chung quanh ông có nhiều vỏ ống thuốc ngủ rơi vãi.

  Bút danh Nguyễn Tất Nhiên đã lận vào đời để vinh danh ông là một thi sĩ tài hoa, cuối cùng rồi cũng theo lẽ "Tất Nhiên". Ông lặng lẽ trả lại tên cho người bằng một phận đời bế tắc:

  "Đường không gian đã cách ly

   Đường thời gian đã một đi không về 

   Con đường mờ mịt sương che

   Tôi vô định lái chuyến xe mù đời "          

                          (Minh Khúc 90)

   Trái tim tình thua đã tự ngừng đập ở tuổi 40.  Đối với ông, ra đi là một cách giải thoát và ở một phương xa nào đó nơi cõi Vĩnh Hằng. Có lẽ nhà thơ sẽ thanh thản mỉm cười, vì ông đã trải qua được kiếp trần gian ô trọc đầy hỷ nộ ái ố nầy bằng những bước chân hồn nhiên, vô tư của một lãng tử mộng du đời, mà không hề vương mang một chút mùi tục lụy.

 "Hỡi Thượng Đế xin cúi đầu trả lại             

  Linh hồn tôi là một kiếp đi hoang

  Sầu đã chín, xin người thôi hãy hái

  Nhận tôi đi dầu địa ngục, thiên đàng"

                                       (Trình bày, thơ Huy Cận)

                          Trương Công Hải,

                           9/2026.

READ MORE - TÌNH THƠ NGUYỄN TẤT NHIÊN VÀ NỖI NGHIỆT NGÃ CỦA TÂM HỒN MỘNG DU - Trương Công Hải

MƯỜI NĂM – Thơ Lê Kim Thượng


 

Mười  Năm
 
1.
Mười năm tình cũ còn không?
Ai thương, ai nhớ… ai mong, ai chờ…
Chuyện tình chết lịm trong thơ
Còn gì đâu nữa mà chờ, mà mong
Con đò bến cũ long đong
Có người đứng đợi, ngóng trông ngày ngày
Chữ tình còn một chút này
Rưng rưng nghèn nghẹn dâng đầy lòng ta
Biệt ly, ly biệt chia xa
Em giờ là của người ta mất rồi…
Tiễn em về phía xa xôi
Quay lưng ôm nặng đơn côi một mình
Nhắc làm chi một chuyện tình
Một mình mình nhớ, một mình mình thương
Một mình, một gánh tơ vương
Tôi đi về phía con đường không em…
 
2.
Còn đâu một cánh môi mềm
Ngọt ngào, thắm thiết, ấm êm ngập lòng
Hẹn thề vượt cả bão giông
Giữ lòng chung thủy, một lòng yêu thương…
Bây giờ chưa hết dặm trường
Nửa đường gãy gánh, nửa đường thương đau
Em xa tình lỡ phai màu
Làm sao quên được tình đầu mới yêu…
Buồn vui nếm trải đã nhiều
Bao nhiêu năm nhớ, bấy nhiêu năm sầu
Ngồi ôm kỷ niệm mà đau
Nhớ ngày xưa cũ bên nhau ngọt bùi
Tình xa lòng luống ngậm ngùi
Thương đau rơi xuống chôn vùi tình yêu
Mười năm còn nhớ ít nhiều
Lòng như quán vắng… chợ chiều đã tan…
 
                    Nha Trang, tháng  09. 2026
                          LÊ KIM THƯỢNG

READ MORE - MƯỜI NĂM – Thơ Lê Kim Thượng

BÀI CA MƯA THU, TRĂNG SÁNG HIÊN NHÀ, SÔNG MƯA – Thơ Tịnh Bình


   


BÀI CA MƯA THU
 
Êm êm như rất mỏng
Lướt trôi trên phím đàn
Giọt mưa thu khe khẽ
Hát bài ca miên man
 
Vườn khuya cơn gió rụng
Rơi chớm hương khẽ khàng
Ngủ quên rồi khúc dế
Dưới trăng xưa trầm khàn
 
Dòng dòng hoài niệm cũ
Theo mưa tí tách về
Nhòa mặt người hư ảnh
Một thời ta đam mê
 
Chờ mưa khô dòng lệ
Hong lên giọt nắng trời
Những niềm thương vừa chớm
Nụ cười ai buông rơi...
 

TRĂNG SÁNG HIÊN NHÀ
 
Còn không sợi nắng chiều thơm
Mái tranh làn khói tỏa vờn xiên khoai
Cánh diều trăng khuyết chờ ai
Tuổi thơ lạc mất tìm hoài đồng xa
 
Đèn trăng còn sáng hiên nhà
Dáng cha bóng mẹ vào ra ấm lòng
Còn không giàn mướp vàng bông
Vấn vương hoa lựu lửa hồng reo vui
 
Mân mê năm tháng ngậm ngùi
Tường rêu ngói cũ vương mùi hương xưa
Nhớ người đan gió bện mưa
Gian lao dầu dãi sớm trưa chẳng sờn
 
Chợ đời bao nỗi thua hơn
Bỏ quên cánh bướm chập chờn triền đê
Quanh co lối cũ đường quê
Nỉ non tiếng dế gọi về ấu thơ
 
Còn không khoảng mộng trời mơ
Hiên nhà trăng sáng vẫn chờ... mà thương...
 
 
SÔNG MƯA
 
Trắng khúc sông mưa
Tiếng lũ trẻ hò reo tắm giọt nước trời
Dăm ba chiếc thuyền giấy xếp vội thả quanh sân
Chúng hồn nhiên bày biện mâm cỗ ấu thơ
Mặc phía sau lưng
Có kẻ đói lòng...
 
Vẹt mái tranh mưa
Ấp úng làn khói mỏng
Mẹ xới mùa cổ tích
Nghi ngút mùi cơm sôi
 
Tôi mót từng mảnh nhớ
Từng đợt mưa giăng trắng khúc sông quê
Chuỗi cười giòn tan không ngừng lấp lánh
Mâm cỗ ấu thơ vỡ toang thuyền giấy
Đâu hay phía sau lưng
Có kẻ nhói lòng...
 
                                                     Tịnh Bình
 
READ MORE - BÀI CA MƯA THU, TRĂNG SÁNG HIÊN NHÀ, SÔNG MƯA – Thơ Tịnh Bình

Thursday, October 1, 2026

THE TWO CHOKE POINTS OF THE SEA / HAI YẾT HẦU CỦA BIỂN - Đồng tác giả: Thi Lan Anh Tran — Aschaffenburg, Germany & Musharraf Hussain — Assam, India

 


THE TWO CHOKE POINTS OF THE SEA

Co-Authors

Thi Lan Anh Tran — Aschaffenburg, Germany
Musharraf Hussain — Assam, India


Copyright © Thi Lan Anh Tran & Musharraf Hussain. All Rights Reserved.

 

I

You are
on the other side of the continent.

I am here.

Between us
there is more than an ocean.

There are two narrow throats
struggling to breathe—

Hormuz.

Bab el-Mandeb.

Ships wait offshore
like lovers
who have come close enough
to see each other,

but not close enough
to touch.

Tonight
I look at the map.

A blue line
crosses the screen.

It looks
like a vein.

And somewhere
you are looking at the sea too.

I wonder—

if the world can hold its breath
because of two narrow straits,

how does a heart survive
when the one it loves
is so far away?


II

I miss you
through empty spaces.

A message
never sent.

A flight
never taken.

A ship
waiting offshore
longer than it should.

Even time
knows how to anchor.

It ties itself
to the darkness

and whispers—

wait.

 

III

You once said
distance is only a number.

I did not believe you.

Distance
is a strait.

A flight
across the sky.

A difference
between time zones.

When you sleep,
I am still awake.

When I call,
rain is falling
where you are.

 

IV

Out there
they speak of oil.

Pipelines.

Shipping lanes.

Currents
that keep the world alive.

But I think
of you.

Because love, too,
has hidden routes.

A glance.

A voice.

A single sentence—

I miss you.

Only one sentence,

yet it can cross
an entire ocean.

 

V

If Bab el-Mandeb
is the gateway of the sea,

then you
are the gateway of my heart.

If Hormuz
is where the world
holds its breath,

then every day without you
is where I forget
how to breathe.

 

VI

Night falls.

On the screen
small lights
move slowly.

Oil tankers.

Cargo ships.

Cities
that never sleep.

I enlarge the map
until no country
can be seen anymore.

Only the sea.

Deep blue.

Almost black.

And one small light
somewhere near you.

I place my finger there.

Not to find a way.

Only to know—

you are still there.

 

VII

One day
the straits will open.

Ships
will pass again.

Pipelines
will fill with sound.

The world
will begin to move again.

But I want
one current
to remain forever unblocked—

the current
from me
to you.

Through Hormuz.

Through Bab el-Mandeb.

Through every border
human hands
have ever drawn.

Until, at last—

you open the door.

I step inside.

And the two of us
are no longer
two shores
of the same ocean.

 

 

HAI YẾT HẦU CỦA BIỂN

Đồng tác giả

Thi Lan Anh Tran — Aschaffenburg, Germany
Musharraf Hussain — Assam, India


Bản quyền © Thi Lan Anh Tran & Musharraf Hussain. Bảo lưu mọi quyền.

 

I

Em
ở bên kia lục địa.

Anh
ở bên này.

Giữa chúng ta
không chỉ có đại dương.

Có hai yết hầu
đang khó nhọc thở—

Hormuz.

Bab el-Mandeb.

Những con tàu nằm chờ ngoài khơi
như những người yêu nhau
đã đến đủ gần
để nhìn thấy nhau,

nhưng chưa đủ gần
để chạm vào nhau.

Đêm nay
anh nhìn bản đồ.

Một đường màu xanh
chạy ngang màn hình.

Nó giống
một mạch máu.

Và ở đâu đó
em cũng đang nhìn biển.

Anh tự hỏi—

nếu thế giới có thể nín thở
chỉ vì hai eo biển,

thì một trái tim sẽ sống thế nào
khi người mình yêu
ở quá xa?

 

II

Anh nhớ em
bằng những khoảng trống.

Một tin nhắn
không gửi.

Một chuyến bay
không cất cánh.

Một con tàu
nằm chờ ngoài khơi
lâu hơn nó nên chờ.

Ngay cả thời gian
cũng biết thả neo.

Nó buộc mình
vào bóng tối

và thì thầm—

đợi đi.

 

III

Em từng nói
khoảng cách chỉ là một con số.

Anh không tin.

Khoảng cách
là một eo biển.

Là một chuyến bay
xuyên qua bầu trời.

Là sự lệch nhau
giữa những múi giờ.

Khi em ngủ,
anh vẫn còn thức.

Khi anh gọi,
nơi em đang ở
mưa đang rơi.

 

IV

Ngoài kia
người ta nói về dầu.

Những đường ống.

Những tuyến hàng hải.

Những dòng chảy
nuôi sống thế giới.

Còn anh
nghĩ về em.

Bởi tình yêu cũng có
những tuyến đường bí mật.

Một ánh nhìn.

Một giọng nói.

Một câu duy nhất—

Em nhớ anh.

Chỉ một câu thôi,

mà có thể đi qua
cả một đại dương.

 

V

Nếu Bab el-Mandeb
là cánh cửa của biển,

thì em
là cánh cửa của trái tim anh.

Nếu Hormuz
là nơi thế giới
nín thở,

thì mỗi ngày không em
là nơi anh
quên cách thở.

 

VI

Đêm xuống.

Trên màn hình
những chấm sáng
trôi chậm.

Tàu chở dầu.

Tàu hàng.

Những thành phố
không bao giờ ngủ.

Anh phóng to bản đồ
cho đến khi
không còn thấy quốc gia nào nữa.

Chỉ còn biển.

Xanh thẳm.

Gần như đen.

Và một chấm sáng
ở đâu đó gần em.

Anh đặt ngón tay lên đó.

Không phải để tìm đường.

Chỉ để biết—

em vẫn ở đó.

 

VII

Một ngày nào đó
những eo biển sẽ mở.

Những con tàu
sẽ lại đi qua.

Những đường ống
sẽ lại đầy tiếng động.

Thế giới
sẽ lại chuyển động.

Nhưng anh muốn
có một dòng chảy
mãi mãi không bị phong tỏa—

dòng chảy
từ anh
đến em.

Xuyên qua Hormuz.

Qua Bab el-Mandeb.

Qua tất cả những đường biên
mà bàn tay con người
từng vẽ nên.

Cho đến một ngày—

em mở cửa.

Anh bước vào.

Và hai chúng ta
không còn là
hai bờ
của cùng một đại dương nữa.


***

From: Dipl.-Kauffrau Thi-Lan Anh Tran 

Email: Wirtschaftskanzlei@dipl-kauffrau-tran.de


 

 

READ MORE - THE TWO CHOKE POINTS OF THE SEA / HAI YẾT HẦU CỦA BIỂN - Đồng tác giả: Thi Lan Anh Tran — Aschaffenburg, Germany & Musharraf Hussain — Assam, India