Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, October 6, 2026

ĐẾN VỚI TẬP THƠ THỨ BA “MẬT KHẨU EM” CỦA HOÀNG UYỂN VĂN - Hoàng Thị Bích Hà

 

(Mật Khẩu Em, Nxb Thuận Hóa, tháng 7/2026)


ĐẾN VỚI TẬP THƠ THỨ BA 

“MẬT KHẨU EM” 

CỦA HOÀNG UYỂN VĂN

Hoàng Thị Bích Hà


Hoàng Uyển Văn tên thật là Nguyễn Văn Hòa. Ông sinh ra tại Thành Nội Huế, lớn lên ở Phú Yên và hiện đang làm việc tại Bình Chánh, Sài Gòn.

Nếu tập thơ đầu tay "Qua mùa khói chênh vênh" là những bước chân đầu tiên của một người làm thơ âm thầm đi qua nhiều năm tháng, tập thơ thứ hai "Phía nào ta ngắm vĩnh hằng trong em" là tiếng lòng của một thi nhân luôn thao thức giữa những miền thương nhớ, thì đến tập thơ thứ ba "Mật khẩu em" bạn đọc lại bắt gặp một Hoàng Uyển Văn vẫn da diết ấy, vẫn thủy chung với những ám ảnh của tình yêu, của thời gian, của ký ức, nhưng giọng thơ đã có thêm chiều sâu chiêm nghiệm của một người từng đi qua rất nhiều được mất ở đời.

Tôi vẫn nghĩ, với Hoàng Uyển Văn, thơ không phải là một cuộc rong chơi chữ nghĩa. Thơ là nơi ông gửi lại những điều không thể nói hết bằng lời thường. Bởi vậy, đọc thơ ông, người ta luôn thấy một nỗi buồn nhẹ như sương khói nhưng dai dẳng, một sự cô đơn hiền lành mà ám ảnh, một trái tim đã đi qua nhiều mùa giông gió nhưng vẫn giữ nguyên khả năng rung động.

Ngay từ nhan đề "Mật khẩu em", người đọc đã cảm nhận được một thế giới nội tâm đầy bí ẩn. “Em” ở đây không chỉ là một người phụ nữ cụ thể. Em còn là ký ức, là nỗi nhớ, là hạnh phúc đã xa, là miền mộng tưởng mà thi nhân dành cả đời để kiếm tìm và gìn giữ. Có những cánh cửa chỉ trái tim mới mở được, và có lẽ "em" chính là mật khẩu cuối cùng của tâm hồn người thơ.

Trong tập thơ này, tình yêu vẫn là mạch nguồn chủ đạo. Nhưng đó không còn là tình yêu của những ngày tuổi trẻ chỉ biết say mê và chờ đợi. Đó là tình yêu đã đi qua những ngả rẽ của số phận, đã hiểu sự mong manh của duyên phận và biết chấp nhận những điều không thể giữ:

“Người đi ngang đời nhau/ Anh chẳng là mái nhà/ Anh đâu là bóng cả/ Lấy chi em tựa đầu...”

(Người đi ngang đời nhau)

Chỉ bốn câu thơ ngắn nhưng gợi lên cả một cuộc tình dang dở. Thi nhân không trách cứ, không níu kéo. Ông nhìn nhận sự hiện diện của mình trong đời người khác bằng một sự khiêm nhường đến xót xa. Có những người đi qua đời nhau, thương nhau thật nhiều nhưng không đủ điều kiện để trở thành nơi nương tựa của nhau. Bởi vậy mà cuối cùng chỉ còn lại khoảng trống.

Trong thơ Hoàng Uyển Văn, nỗi buồn luôn đi cùng sự dịu dàng. Ngay cả khi nói về chia xa, ông vẫn giữ được sự bao dung hiếm thấy:

"Em chẳng là người có lỗi đâu/ Chỉ vì duyên phận mãi không nhau/ Nên người không đến... Người không đợi/ Như những vì sao ngoảnh mặt sầu..."

(Em xin lỗi)

Nếu nhiều người khi mất tình yêu thường đi tìm nguyên nhân để trách móc thì Hoàng Uyển Văn lại quy tất cả về hai chữ "duyên phận". Cách nhìn ấy khiến câu thơ mang màu sắc của sự cảm thông hơn là oán trách. Người không có lỗi. Ta cũng không có lỗi. Chỉ là số phận đã không cho hai người cùng đi hết một con đường.

Đọc "Mật khẩu em", tôi đặc biệt ấn tượng với hình tượng "gã du tử" xuất hiện nhiều lần trong thơ. Đó dường như cũng là chân dung tinh thần của chính tác giả- người đàn ông đã đi qua nhiều miền đất, nhiều năm tháng mưu sinh, mang theo hành trang là những ký ức không nguôi:

"Phố vẫn thế... Em nghìn đời vẫn thế/ Hun hút ngõ sầu trong những giấc chiêm bao

Gã du tử vẫn một mình trên phố/ Lang thang hoài một nửa kiếp không nhau..."

(Rồi sẽ một ngày)

Cái cô đơn trong thơ ông không ồn ào. Nó giống như cơn mưa thấm dần vào đất. Người đọc không thấy đau ngay, nhưng càng đọc càng thấy lòng mình chùng xuống.

Sài Gòn trong thơ Hoàng Uyển Văn cũng là một không gian rất riêng. Đó không phải là thành phố của những tòa nhà cao tầng hay những con đường đông đúc. Sài Gòn hiện lên qua những cơn mưa bất chợt, qua những khoảnh khắc tình yêu làm sáng bừng cả không gian:

"Giữa mưa Sài Gòn ta tan giữa môi em

Giữa nụ cười em

Mặc trời đang mưa

Ta tỏa nắng."

(Sài Gòn - Ta tan giữa môi em)

Đây là một trong những đoạn thơ đẹp của tập sách. Trong khoảnh khắc ấy, tình yêu trở thành nguồn sáng. Mưa vẫn rơi nhưng lòng người đầy nắng. Chất lãng mạn vốn là nét đặc trưng trong thơ Hoàng Uyển Văn lại được thể hiện tự nhiên và tinh tế.

Một trong những nét nổi bật của tập thơ là cảm thức về thời gian. Tuổi trẻ đã đi qua. Mái tóc đã bạc. Những cuộc tình năm cũ chỉ còn trong ký ức. Nhưng điều còn lại chính là những rung động không già đi theo năm tháng:

"Rồi chợt thấy bàng hoàng, hụt hẫng/ Một ngày kia tóc đã bạc phai màu/ Em vẫn cuối quãng đường hoang vắng quá/ Ta cuối cùng cũng chung thuộc về nhau"

(Hoang dột đời nhau)

Câu thơ mang màu sắc chiêm nghiệm của người đứng ở bên kia con dốc cuộc đời. Sau tất cả những xa cách, những lỡ làng, con người rồi cũng tìm thấy điểm gặp gỡ cuối cùng trong miền ký ức và tình thương.

Bên cạnh thơ tình, những bài thơ viết về Mạ cũng là những bài thơ để lại nhiều xúc động. Là người con của xứ Huế, tiếng gọi "Mạ" trong thơ ông vừa thân thương vừa thiêng liêng:

"Mạ vẫn nằm yên như ngủ say/ Chờ bàn tay nhỏ của con lay.../ Nhưng rồi... Chẳng thể khi nào nữa!/ Mạ ngủ muôn đời với gió mây..."

(Không đề cho Mạ)

Không cần những lời lẽ cầu kỳ, chỉ vài câu thơ ngắn cũng đủ khiến người đọc nghẹn lại. Nỗi đau mất mẹ được diễn tả bằng hình ảnh bình dị nhưng ám ảnh. Đó là tiếng lòng của một người con khi nhận ra từ nay sẽ không còn cơ hội được gọi tiếng "Mạ" như ngày nào nữa.

Về nghệ thuật, Hoàng Uyển Văn tiếp tục phát huy sở trường ở các thể thơ năm chữ, bảy chữ, lục bát và thơ tự do. Ngôn ngữ thơ giản dị, giàu nhạc tính. Ông không tìm kiếm những cách tân cực đoan mà trung thành với cảm xúc chân thật. Chính sự chân thật ấy đã tạo nên sức thuyết phục cho thơ ông.

Ảnh hưởng của thơ cổ điển, của thi ca lãng mạn tiền chiến và cả hơi thở ca dao vẫn thấp thoáng trong nhiều câu thơ. Tuy nhiên, Hoàng Uyển Văn không lặp lại người khác. Ông đã tạo được giọng điệu riêng của mình: trầm lắng, thiết tha, phong trần mà nhân hậu.

Đọc Mật khẩu em, tôi hình dung người thi sĩ ấy vẫn đang trên hành trình của mình. Từ Thành Nội Huế đến Phú Yên rồi Sài Gòn, từ tuổi trẻ đến tuổi xế chiều, từ những cuộc gặp gỡ đến những cuộc chia xa. Cuộc đời có thể đổi thay rất nhiều, nhưng trái tim thi sĩ vẫn giữ nguyên hồn thơ yêu thương, nhớ nhung và rung động trước vẻ đẹp của con người.

Có lẽ vì thế mà tập thơ thứ ba này không chỉ là câu chuyện của riêng Hoàng Uyển Văn. Trong những câu thơ về tình yêu, về mẹ, về thời gian và thân phận, người đọc dễ dàng bắt gặp chính mình. Bởi ai trong chúng ta rồi cũng từng có một "mật khẩu" được cất giữ trong sâu thẳm trái tim một người, một miền ký ức hay một nỗi nhớ không bao giờ mất.

"Mật khẩu em" vì thế không chỉ là tên một tập thơ. Đó còn là chiếc chìa khóa mở ra thế giới tâm hồn của Hoàng Uyển Văn- một tâm hồn giàu yêu thương, giàu hoài niệm và luôn tha thiết với cuộc đời.

Sài Gòn, ngày 17 tháng 6 năm 2026

Hoàng Thị Bích Hà

       habich1963@gmail.com

 

READ MORE - ĐẾN VỚI TẬP THƠ THỨ BA “MẬT KHẨU EM” CỦA HOÀNG UYỂN VĂN - Hoàng Thị Bích Hà

KÝ ỨC MÙA BẦN -Tản văn của Nguyễn Đại Duẫn



Ký ức mùa bần

Tản văn của Nguyễn Đại Duẫn


Tôi về quê trong một buổi sớm cuối thu, khi những ngọn gió heo may khẽ lướt qua. Bến sông quê vẫn đó, hiền hòa gợn sóng như đang chờ đợi tôi. Và ngay bên bến sông ấy, tôi gặp lại mấy người bạn cũ. Bên cây cừa cổ thụ, họ đang thả hồn vào ly cà phê sáng trong không khí thanh bình nơi góc quán quê nhà. Tay nâng ly cà phê bạn mời mà lòng cứ xốn xang nhìn về rặng bần cuối làng. Sau những giọt cà phê đăng đắng như ghi vào ký ức một dấu lặng, chúng tôi cùng nhau lên chiếc xuồng máy của bạn đi về phía bãi bần sau xóm Sáo. Càng đến gần bãi bần,  mùi thơm chua ngọt của bần chín, mùi thơm thanh khiết của hoa bần đang nở, tất cả quyện vào trong làn gió thoảng nhẹ, phảng phất đầu sóng mũi như hương quê nhà. Con sông Long Đại vẫn êm trôi; rặng bần vẫn rậm rì bên sông. Nhưng gương mặt mấy đứa bạn bây giờ đã in hằn những vết chai sạn sương gió của thời gian.

Dòng sông Long Đại quê tôi vào mùa này sau những cơn mưa không còn xanh ngắt như mùa hè. Nước sông đục một màu phù sa trên nguồn Côộc đổ về mang theo những đám lục bình rung rinh chùm hoa tím. Dọc theo bờ sông phía cuối đuồi làng là những rặng bần mọc ken dày, gốc cắm sâu xuống lớp bùn non, cành lá rậm rì tỏa bóng mát như cất dấu những ký ức tuổi thơ.

Bao nhiêu năm xa quê, đi qua biết bao miền đất, tôi vẫn không quên được mùi hương ngai ngái của mùa bần chín bên sông. Cái mùi vừa ngọt vừa chua, lẫn trong gió sông và mùi bùn đất quê nghèo, cứ âm thầm bám riết lấy ký ức như một phần máu thịt.

Ngày ấy, lũ trẻ chúng tôi coi rặng bần ven sông như cả một thế giới riêng. Mỗi mùa nước lên, những gốc bần già lại đâm bộ rễ khí tua tủa như chông. Mùa nước ròng, dưới gốc bần là vô số hang hốc cho cua, cá, tôm trú ngụ. Thường vào độ giữa thu là bần chín rộ. Những buổi trưa sau khi trốn ngủ, chúng tôi rủ nhau ra sông hái bần. Trái bần chín vàng lẫn trong màu lá xanh, chen lẫn bông hoa màu trắng ngà đang nở. Chỉ cần rung mạnh cành là quả rơi lộp bộp xuống nước.

Thân bần sần sùi, như chính cuộc đời người quê. Nhưng cái vị chua thanh pha chút ngọt dịu của trái bần lại khiến đứa nào cũng mê. Có hôm tôi hái nhiều quả đã già, mẹ đem nấu canh cá lóc, cá ngạnh…mùi thơm lan khắp bếp quyện với mùi khói rơm cay xè. Có những món ăn dân dã mà người dân quê tôi thường hay dùng là: bần xắt lát hoặc xẻ tư kho chung với cá, vị chua ngọt của bần thấm vào thịt cá giúp thịt săn chắc và bớt tanh; bần sống xắt lát chấm ruốc biển hay mắm cáy ăn kèm cơm nóng; thịt heo luộc bóp bần non và rau thơm. Những món ăn xưa ấy chừng như ngon hơn cả sơn hào hải vị bây giờ.

Dưới những gốc bần um tùm còn là thiên đường của lũ cua dèm nhỏ như quả trứng ngỗng bò lổm ngổm. Mỗi lần nước ròng, bọn trẻ chúng tôi lại lom khom mò ngao, bắt ốc… Có đứa lấm cát bùn tới tận đầu gối vẫn cười toe toét vì vừa thò tay vào hang đã túm được con cá bống to như cán dao. Tuổi thơ quê nghèo, chiến tranh thiếu thốn đủ điều, nhưng niềm vui cứ theo chúng tôi bằng những ngày bình yên như thế.

Ký ức về rặng bần không những là nơi lưu giữ tiếng cười trẻ nhỏ, mà còn là nơi cất giấu cả một thời bom đạn đau thương mà hào hùng. Những năm chiến tranh, dòng sông Long Đại là mạch máu giao thông quan trọng. Máy bay Mỹ thường quần thảo suốt ngày đêm. Mỗi khi nghe tiếng động cơ gầm rú từ phía xa, cả xóm lại hốt hoảng chạy vào hầm trú ẩn. Lũ trẻ chúng tôi khi ấy còn nhỏ, chưa hiểu hết chiến tranh là gì, chỉ nghe tiếng bom máy bay Mỹ dội xuống, tiếng đạn pháo cao xạ của bộ đội bủa vây quạ sắt; chỉ biết lao xuống những chiếc hầm chữ A để ẩn nấp. Rồi tiếp đó là tiếng hét nhà cháy, tiếng rên la của người bị thương, tiếng khóc thảm thiết của ai đó khi có người thân vừa mất… thật tàn khốc và ác liệt.

Những tán bần rậm rì che kín mặt sông, từ trên cao nhìn xuống chỉ thấy một màu xanh um tùm. Nhờ vậy mà máy bay địch không phát hiện thuyền bè vận tải, ca nô chở lương thực, đạn dược của bộ đội đang ẩn náu dưới bãi bần bên sông, âm thầm chờ đợi đêm về xuất bến...

Lũ trẻ chúng tôi nhiều khi đi hái bần, lượm củi bần xong lại tò mò, mon men lại gần xem những chiếc ca nô trên sông được phủ một lớp vải dù hoa. Gặp các chú bộ đội, ai cũng gầy nhưng ánh mắt sáng và nụ cười hiền lắm. Có chú còn chia cho bọn tôi vài chiếc kẹo Hải Châu ngon không tưởng.

Tôi vẫn nhớ như in một lần khi cả mấy đứa bạn đang trèo hái bần thì máy bay nhào xuống thả bom. Chúng tôi không tuột xuống kịp, chỉ biết ôm chặt thân bần, miệng lẩm bẩm: “Lạy trời”. Một đứa trong bọn khi tuột xuống khóc nức nở. Mấy đứa xúm lại tưởng nó bị thương. Nhưng không phải, là vì sợ quá mà nó tè dầm ướt cả chiếc quần đùi đang mặc. Mấy đứa nhìn bạn, ôm bụng cười ngặt nghẽo. Lúc ấy, mặt đứa nào đứa nấy lem luốc bùn và vỏ bần chín. Bây giờ nhắc lại không đứa nào còn cười mà nét mặt hằn lên bao ký ức năm tháng của một thời con nít.

Chiến tranh đi qua đã lâu. Dòng sông Long Đại hôm nay đã yên bình trong không khí vui tươi. Những chiếc ca nô quân sự năm nào không còn nữa. Tiếng bom đạn cũng chỉ còn trong ký ức. Nhưng rặng bần ven sông vẫn còn đó, âm thầm soi bóng xuống mặt nước như đang giữ nét đẹp cho hồn quê.

Tôi cùng đám bạn già đi dọc bờ sông. Đứa tóc đã bạc, đứa lưng đã còng, vậy mà vừa nhìn thấy trái bần chín là lại chỉ trỏ, xuýt xoa như đánh thức những kỷ niệm thời trẻ nhỏ. Chúng tôi không còn trèo bần như ngày xưa, vì không dám. Đã U70 cả rồi lỡ rời tay ngã xuống thì chỉ khổ thân, khổ con cháu. Chúng tôi chỉ nhặt mấy quả chín rụng, đưa lên mũi hít hà như đánh thức những hoài niệm.

Tôi đứng lặng dưới rặng bần già, nhìn bóng nắng trưa loang xuống mặt sông. Gió nhẹ thổi lên mang theo mùi quen thuộc của  hương bần và mùi bùn đất. Với tôi, mùa bần quê Long Đại chính là một phần ký ức như thế. Một mùa của tuổi thơ, của tình bạn, của quê hương và của những năm tháng không bao giờ có thể quên.

Hôm nay, những rặng bần bên dòng Long Đại không chỉ còn là ký ức của tuổi thơ hay dấu tích của chiến tranh năm xưa. Chúng đang ngày ngày âm thầm giữ đất, giữ làng cho quê hương. Sau bao mùa mưa lũ dữ dội của miền Trung, tôi càng hiểu giá trị của những gốc bần già ven sông. Bộ rễ của chúng cắm sâu và tỏa rộng dưới lòng bùn như những cánh tay bền bỉ níu giữ bờ đất cho quê nhà. Mỗi khi nước lũ dâng cao, sóng đánh ầm ào vào mép sông, chính những rặng bần ấy đã che chắn và làm dịu dòng nước dữ, ngăn cho bờ sông khỏi bị xói lở.

Trời đã trưa, mấy người bạn lại lên xuồng ngược dòng. Tôi quay đầu lặng nhìn hàng bần, bỗng thấy chúng giống như những người lính già lặng lẽ suốt bao năm tháng để che chở cho xóm làng. Có lẽ vì thế mà người quê tôi biết trồng thêm bần, và bảo vệ chúng.

Chiếc xuồng máy chạy chậm lại. Chúng tôi cùng ngồi  im lặng bên nhau, để mặc cho làn gió sông phả nhẹ vào mặt; đang âm thầm góp nhặt lại từng kỷ niệm tuổi thơ - nơi bến sông này đã từng chứng kiến biết bao ước mơ, bao kỷ niệm hồn nhiên của một thời tuổi trẻ. 

 

 

Nguyễn Đại Duẫn (Hội viên Hội VHNT Quảng Tri)

51, Nguyễn Hữu Cảnh

Thôn: Nam Quán Hàu, xã: Quảng Ninh, tỉnh: Quảng Trị

ĐT: 0977194533

 

READ MORE - KÝ ỨC MÙA BẦN -Tản văn của Nguyễn Đại Duẫn