Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Trần Mạnh Hảo. Show all posts
Showing posts with label Trần Mạnh Hảo. Show all posts

Wednesday, April 17, 2024

ĐỌC “ĐẤT NƯỚC HÌNH TIA CHỚP” TRƯỜNG THI CỦA TRẦN MẠNH HẢO - Châu Thạch



1- Vì sao nhà thơ Trần Mạnh Hảo dùng tia chớp đề làm hình ảnh đại diện cho đất nước? Theo tôi có lẽ bởi vì tia chớp có vẻ đẹp hùng vĩ nhất, bởi vì tia chớp có năng lượng rất lớn, và bởi vì tia chớp có đường đi sáng rực và ngoằn ngoèo. Dùng hình ảnh tia chớp làm đại diện cho đất nước, Trần Manh Hảo muốn tôn vinh đất nước, muốn hóa hình đất nước vào hiện tượng thiên nhiên kỳ vỹ, để người đọc thấy đất nước qua 5 giác quan và qua tâm linh của mình.
 
2- Tập trường thi của Trần Mạnh Hảo có chủ đề chung là “Đất Nước Hình Tia Chớp”, trong đó có 9 tiêu đề riêng, mỗi tiêu đề dùng một cụm từ khác nhau. Trong 9 cụm từ đó thì 5 cụm từ có chữ mẹ và 4 cụm từ không có chữ mẹ. Thế nhưng mở đầu các đoạn thơ có tiêu đề không có chữ mẹ đó, nhà thơ đều có nhắc đến mẹ. Như thế ta có thể hiểu được, với trường thi “Đất Nước Hình Tia Chớp”, nhà thơ Trần Mạnh Hảo viết về mẹ mình hay mẹ mối người trong chúng ta là việc nhỏ, việc lớn trong trường thi nầy là nhà thơ viết về người mẹ lớn hơn, đó là Mẹ của quê hương, hay nói chính xác hơn là Mẹ Việt Nam.
 
3- Bây giờ mời đi vào chương một có tiêu đề: “Trong Nhà Có Mẹ”
 
Đoạn thơ nầy Trần Mạnh Hảo viết về sự gian nan của mẹ khi sinh ra và nuôi mình lớn khôn. Tất nhiên để nuôi con lớn khôn, mẹ phải chịu nhọc nhằn, mẹ phải mò cua bắt ốc thì mẹ mới được đưa vào thơ là lẽ tự nhiên. Không mấy thi sĩ nào đưa người mẹ giàu sang phú quý vào thơ cả. Thế nhưng khác với nhiều tác giả, nhà thơ Trần Mạnh Hảo hóa hình đất nước như tia chớp vào dáng dấp tiều tụy. gầy còm của mẹ mình một cách quá ư là tự nhiên:
 
Khi mẹ nuôi con đất nước cong hình cái cày
Đất nước mãi là hình chữ S
Đất nước kẽo kà kẽo kẹt
Đất nước là mẹ đây
 
Vậy theo thơ thì mẹ, nhỏ là cái cày, là sợi dây coi nôi, nhưng mẹ lớn lao, chính là đất nước Việt Nạm. Từ đó ta suy ra mẹ đối với Trần Mạnh Hảo cũng mang hình tia chớp trên bầu trời quê hương yêu dấu.
 
4- Bây giờ mời đi vào chương hai có tiêu đề “Khúc Đàn Bầu”:
 
Biển sinh ra đã bạc đầu
Mẹ ru một khúc đàn bầu cho con
Một dây một trái đất tròn
Mỗi hồn núi ngỡ một hòn vọng phu
 
Bây giờ nhà thơ Trần Mạnh Hảo lại biến hóa tiếng hát ru con của mẹ thành tiếng đàn bầu, lồng chiếc đàn bầu trong sự vĩ đại của sông núi và trong hình tượng hòn vọng phu chơ vơ trên vách đá. Bằng 4 câu thơ, Trần Mạnh Hảo đã đưa mẹ trong nhạc, mẹ trong ca dao, mẹ trong văn hóa dân gian và mẹ trong huyền thoại vào thơ, khiến cho không mấy ai đọc thơ mà không nhớ đến tình mẹ bao la, không se lòng với “Biển sinh ra đã bạc đầu” như tóc mẹ.
 
5- Bây giờ xin đi vào chương ba với tiêu đề “Mẹ Cho Con Trái Thị”:
 
“Trái thị rớt bị bà già” trong chuyện dân gian Tấm Cám ngày xưa. Nay nhà thơ Trần Mạnh Hảo đưa vào trường thi của mình dể làm hình ảnh của mẹ “Từ trong giọt lệ đi ra/Gánh đau thương tưởng chẳng là đau thương”. Trái thị ngày xưa rơi vào tay bà già, bà cất chớ bà không ăn. Trái thị ngày nay rơi vào tay Trần Mạnh Hảo, và nhà thơ đã ăn trái thị, ăn để nhả ra những câu thơ tuyệt vời cho mẹ mình và cho mẹ Việt Nam:
 
Trái thị vàng mặt trăng con ăn
Cô Tấm đó hay là mẹ đó
Trái đất này hay trái đất ngày xưa?
… Lịch sử trong trái thị
Lịch sử chín mỗi ngày
Trái thị con cầm trên tay
Có giống trái đất nầy dài rộng?
Mẹ ơi qua nghìn biến động
Mẹ lại về trồng lúa trồng dâu
Đất nước cúa con mang hồn dây bí dây bầu.
 
6- Xin mời đi vào chương bốn có tiêu đề “Ngọn Lửa”:
 
Không phải lên trời ăn cắp lửa
Không phải xin hàng xóm xa gần
Bếp tro trấu như tấm lòng lịch sử
Mẹ truyền lịch sử mấy ngàn năm
 
Tiêu đề là “Ngọn Lửa” không có chữ mẹ, nhưng đoạn trường thi nầy tác giả viết về mẹ đẹp không khác gì tia chớp ngoằn ngoèo rực sáng chứa đầy năng lượng. Nhà thơ viết “Mẹ mặc áo xanh mẹ mặc áo chàm/Đất nước bỗng mang dáng hình tia chớp”, hay nhà thơ viết: “Mẹ ơi, mẹ hãy ngắm nhìn đất nước/ Sao giống vô cùng ngọn lửa con soi?”. Ngọn lửa con soi là ai? Đó chính là mẹ. Với hai câu thơ nầy nhà thơ Trần Mạnh Hảo đã đồng hóa đất nước và mẹ mình là một.
 
7- Xin mời đi vào chương 5 có tiêu đề “Thương Nhau Cởi Áo Cho Nhau”.
 
Đọc cái tiêu đề, tất nhiên ta biết ngay đoạn trường thi nầy nhà thơ viết cho tình yêu. Em trong “Thương Nhau Cởi áo cho Nhau” thật đẹp, vừa nhu mì vừa dịu hiền, mang hình ảnh của những mỹ nhân trong cổ tích Việt Nam: “Là khi chàng Tú Uyên mơ/Dáng Kiều người đẹp bao giờ hiện ra”“Là khi Từ Thức đi qua/Suốt hang động biết có là yêu thượng”“Là em con gái Hùng Vương/Sơn tình lường trước đoạn đường phải qua”. Nhà thơ tả  em đẹp với dáng hình của người trong cổ tích, và rồi cái nết đánh chết không chừa, Trần Mạnh Hảo lồng em trong khung kính của mẹ, nghĩa là cũng hóa thân em trong tia chớp hình đất nước quê hương:
 
Biết em từ thuở Hùng Vương
Lưng ong thắt đáy như lưng nước mình
Dẫu từng đi suốt chiến chinh
Mà sao đất nước vẫn hình dáng em
…Chiếc khăn hoa lý bay lên
Theo hình đất nước nằm bên biển đầy
…Đất nước mang hình vành khuyên
Khi em mười tám cái duyên đậm đà
…Thương nhau thì nhớ đừng quên
Về xin phép mẹ mà lên qua cầu
Nước mình cởi áo cho nhau
Thương nhau thì đến bạc đầu còn thương.
 
Nhà thơ Trần Mạnh Hảo đã ví tình anh và em, tình em và anh không khác chi tình chúng ta với đất nước, cởi áo cho nhau và bạc đầu còn thương.
 
8- Bây giờ xin mời đi vào chương 6 có tiêu đề “Những Lời Ru Mẹ”
 
Tất nhiên trong đoạn trưởng thi nầy nhà thơ Trần Mạnh Hảo ẩn dụ lời ru của đất nước trong lời ru của mẹ. Mẹ chỉ sống trăm năm nhưng trong thơ lời ru của mẹ sống đến ngàn năm:
 
Mẹ ru một tiếng ầu ơ
Mà nghìn năm đến bây giờ còn ngân
Trở mình trên võng con lăn
Nghe như trái đất nghiêng dần một bên
…Người hy sinh tự ngàn xưa
Khi nằm xuống đất vẫn mơ chuyện đời
Mẹ ru người đã khuất rồi
Ngủ say trong đất những lời tái sinh
 
9- Mời xem chương 7 có tiêu đề “Ngọn Gió Của Mẹ”:
 
Trong đoạn trường thi nầy, mẹ chính là nguồn cội của gió. Con “là gió tìm về vòm cây mẹ/ Mẹ chính là nguồn cội gió khai sinh”“Trong chiêm bao con biến thành ngọn gió”“Hơi thở cúa đôi ta nối nhau thành ngọn gió/ Trái tim ta gõ mãi của mong chờ”. Như vậy ta thấy qua thơ, tác giả là ngọn gió đi phiêu lưu, ngọn gió của cơn mơ, của ước vọng, ngọn gió của tình yêu, tất cả phát xuất từ mẹ và sẽ tìm quay về với mẹ. Như vậy mẹ khác chi là quê hương, là đất nước, là tổ quốc, là giống nòi tiềm tàng, di truyền trong dòng máu của ta, mà dầu ta đi bốn phương trời, cũng không quên được một lời Mẹ Việt Nam.
 
10- Mời xem chương 8 có tiêu đề là “Thời Chúng Con Yêu Nhau”
 
Thời chúng con yêu nhau trong trường thi nầy là thời chiến tranh ly loạn, khói lửa và đạn bon tàn khốc. Thế nhưng tình yêu của họ là thứ tình yêu “cao hơn sự chết/Hơn cả sự sông hai ta là sự sống giống nòi”. Nhà thơ ước vọng ngàn sau không có lại cái thời yêu nhau trong gian khổ nữa:
 
Thời anh yêu em ngàn sau rồi chẳng có
Hơn chuyện cô Tấm kia, hơn cách trở Kim Kiều
Hàng vạn người đi không trở về thành phố
Dãy Trường Sơn sừng sững tạc phù điêu
 
Đoạn trường thi nầy không thấy nói về mẹ nhưng đọc thơ, trong chúng ta ai cũng biết lòng mẹ lúc nầy đau đớn biết bao.
 
11- Mời xem chương thứ 9 có tiêu đề “Mẹ Sinh Nhiều Con Trai”;
 
Đây là chương cuối của trường thi, như là kết luận làm sáng tỏ chủ ý của người cầm bút, nhà thơ viết về mẹ Âu Cơ, viết về con cháu Lạc Hồng và khẳng định, và hứa hẹn trung thành, hãnh diện về VIệt Nam, tổ quốc mà “Mẹ đã tìm ra dãi đất mang hình  tia chớp/Chọn vùng tâm bão để sinh con”:
 
Mẹ ơi, bất kỳ từ điểm nào trên trái đất
Ai cũng thấy mẹ sinh nhiều con trai
Khi đất nước VIệt Nam dáng hình tia chớp
Rạch chân trời một lối đến tương lai
 

12- Kết Luận: 
 
Trường thi “Đất Nước Hình Tin Chớp” in trên gần 100 trang giấy, có đến ngàn câu thơ, người viết bài nầy chỉ trích ra vài chục câu và viêt trên vài trang giấy thì chỉ như phi ngựa xem hoa cũng chưa thật là đúng. Nhà thơ Trần Mạnh Hảo là bóng núi trong nền văn học hiện nay, Châu Thạch viết về ông chỉ như là tên hầu trà đứng vòng tay nói leo vào bàn nghị luận. Vậy sự sai trật chắc chắn là có, mong được mọi người thứ lỗi.
 
Với tôi, trường thi “Đất Nước Hình Tia Chớp” của Trần Mạnh Hảo là một anh hùng ca. Anh hùng ca bởi vì đó là một bản trường thi có đủ tính chất là một tác phẩm tự sự có dung lượng lớn, bộc lô tính tịch cực, có chủ đề mang tính chất toàn dân tộc Việt Nam.
Đọc trường thi của Trần Mạnh Hảo, từng câu thơ hùng hồn, lời thơ gói trọn hình ảnh bình dị của con người, của cuộc sống, nhưng lại chứa trong đó ý nghĩa cao vời của non sông, của đất nước, của niềm kiêu hảnh  dân tộc. Tiếng thơ như tiếng gió bay qua trùng dương, bay qua đại ngàn, bay trên sa mạc, trên sự thăng trầm của lịch sử, sáng như tia chớp trên bầu trời. Mỗi câu thơ trong “Đất Nước Hình Tia Chớp” như một xúc tu của hình tia chớp ấy tỏa sắc màu trên không gian.
 
Thật tình tôi viết về thơ Trần Mạnh Hảo, cố lắm thì cũng chỉ như thằng mù tả voi mà thôi. Thế nhưng tôi vẫn viết, vì đọc thơ Trần Mạnh Hảo, tôi thấy mình trẻ lại như thời xa xưa còn cầm sung./.
                                           
Châu Thạch   
                                                   
READ MORE - ĐỌC “ĐẤT NƯỚC HÌNH TIA CHỚP” TRƯỜNG THI CỦA TRẦN MẠNH HẢO - Châu Thạch

Thursday, August 31, 2023

ĐỌC “NGUYỄN TRÃI TRƯỚC GIỜ TRU DI” THƠ TRẦN MẠNH HẢO - Châu Thạch.



Đối với tôi, nhà thơ Trần Mạnh Hảo là con voi trắng trong rừng văn chương, còn tôi chỉ là tên mù lang thang trong khu rừng ấy. Theo như chuyện ngụ ngôn nước ta, tên mù làm sao tả voi cho đúng, có tả chăng thì chỉ tả chưa chắc đúng cái đuôi, cái vòi, cái tai hay cái chân con voi mà thôi. Thế nhưng câu chuyện ngụ ngôn cho biết 4 tên mù có tả voi thật, rồi chúng cải nhau vì tên nào cũng cho rằng mình tả đúng con voi. Với tôi, nói chi đến sự nghiệp văn chương của Trần Mạnh Hảo, chỉ bài thơ “Nguyễn Trãi trước giờ tru di” của ông đã là con voi đối với tôi rồi. Thế nhưng, bởi yêu mến tiếng voi rống trong rừng khuya, bởi linh tính thấy voi trong tâm tưởng, tôi thử rờ và tả con voi, hay nói trắng ra, viết về bài thơ “Nguyễn Trãi trước giờ tru di” bằng suy tư hạn hẹp, bằng lời văn thô thiển của mình, bởi vì nếu tôn trọng quyền tự do thì không ai cấm tên mù tôn vinh điều mình ưa thích.
 
 Tôi xin vào đề ngay với khổ thơ đầu tiên của bài thơ:
 
Trên đường pháp trường con dâu ta trở dạ
Tiếng cháu thét chào đời như tiếng ngàn chim lợn báo tang
Đội ơn vua ban tã lót
Để cháu khỏi bị chém trần truồng trên thớt
 
Khổ thơ hay chỗ nào? Hay ở chỗ “chim lợn báo tang”. Theo quan niệm dân gian, chim lợn là loài chim báo điềm xấu. Khi chim lợn kêu liên tục là điềm báo có người sẽ chết. Đứa bé chào đời và tiếng khóc của nó lúc ấy là niềm vui cho gia đình và nói rộng ra là niềm vui cho cả thế gian. Thế nhưng ở đây tiếng khóc chào đời của một đứa bé lại là tiếng thét, và tiếng thét ấy ghê rợn như tiếng ngàn chim báo tang. Thật ra, tiếng khóc chào đời của đứa bé không phải là tiếng thét vì nó không biết gì. Tiếng khóc chào đời của đứa bé trở thành tiếng thét trong lòng Nguyễn Trãi, trong lòng ba họ Nguyễn Trãi và tồn tại trong lòng lịch sử người Việt phản đối nỗi hàm oan mãi mãi khi nước ta còn. Nhà thơ Trần Mạnh Hảo đã chiếu lên màn hình đoạn đầu cuốn phim những hình ảnh lạ lùng, độc đáo mà xưa nay chưa có đạo diễn nào nghĩ ra. Đúng lý hình ảnh ban đầu phải là một đoàn người bị cùm tay, lê thê kéo chân ra pháp trường dưới những làn roi vọt. Thế nhưng, nhà thơ Trần Mạnh Hảo đã làm ngược lại, cho sự sinh trước sự tử, khiến hình ảnh được phơi bày ảm đạm hơn, đau thương hơn và làm cho nghịch lý của đời đối xứng trước mắt ta.
 
 Khổ thơ còn hay chỗ nào nữa? Vâng, hay ở chỗ “Đội ơn vua cho tả lót/ Để cháu khỏi bị chém trần truồng trên thớt”. Đứa trẻ mới sinh ra đã bị chém, vậy chém trần truồng hay chém có tả lót khác gì nhau đâu. Chẳng qua hai chữ “Đội ơn” chỉ là tiếng cười khảy hay lời châm biếm để nói lên cái lương tâm cặn bã của bậc đế vương. Ai đọc hai câu thơ nầy có khi nghĩ đó là hồng ân của thiên tử, nhưng tôi đoán chắc khi viết hai câu thơ nầy Trần Mạnh Hảo không nghĩ đó là hồng ân. Nhà thơ muốn dùng ẩn dụ sâu xa để ám chỉ một điều chua cay xảy ra trong thời đó. “Đội ơn vua ban tả lót” không phải là một lời tạ ơn. Đây là tiếng thét đau thương, tiếng kêu oan ức vì sự bất công và tiếng rên bi thiết mà lòng ta khi đọc thơ, thấy rõ tính chất dã man, cặn bã, xấu xa và lương tâm bị chết của vua quan thời đó.
 
Vậy bây giờ xin mời đọc khổ thứ 2 của bài thơ:
 
Ôi con đường ba họ ta đến nơi thọ hình
Sao dài hơn đường mười năm Lam Sơn phò Thái Tổ
Ông Cao Xanh bỏ kinh thành về rừng xưa ở
Nơi vua lấy đất làm ngai, tình huynh đệ làm long bào
Nơi ta mót dần xã tắc cho vua như mót lúa
 
Khổ thơ thứ 2 hay ở chỗ nào? Hay ở chỗ con đường ra pháp trường dài hơn con đường ở núi Lam Sơn. Hay ở chỗ ông Cao Xanh tức ông Trời đã “bỏ kinh thành về rừng xưa ở”. Đây có lẽ không phải là suy tư của Nguyễn Trãi trên đường ra pháp trường, vì trước cái chết không mấy ai có tâm trí ổn định để suy nghĩ xa vời. Đây là lời nói thay của Trần Mạnh Hảo, nhà thơ đồng cảm với người xưa, thổn thức với tâm trạng của nhân tài khi bị sa cơ thất thế. Nhà thơ dùng thời gian tâm ly, lấy cái ngắn để so với cái dài, lấy thời gian khi gian truân để so với thời gian khi thành cuộc, mỗi câu thơ như tiếng thở dài, như lời kể lể, làm cho con đường ra pháp trường dường như dài hơn con đường 10 năm ở núi Lam Sơn thật.
 
Qua khổ thơ thứ 3, thứ 4 và thứ 5, nhà thơ Trần Mạnh Hảo để cho Nguyễn Trải thấm thía với con đường dài của đời minh, chua chát với xã tắc mà mình phụng hiến một đời:
 
Chừng như ta đã đi con đường này từ ải Bắc
Tiễn cha già hay đưa tiễn đời ta ?
Đêm mưa đá, mưa tròng ngươi, mưa xuống nghìn con mắt
Ôi xã tắc
Con đường nào cũng dẫn đến pháp trường
 
Bàn tay chỉ đường nào cũng bàn tay đao phủ
Thân tùng bách há phải thân mùng tơi
Mây trắng xưa ơi
Sao giờ toàn những đám mây mưng mủ
 
Ta thương xã tắc không mất về tay giặc
Lại mất về tay bọn gian thần
Triều đình ai cũng là Lê Sát
Mắt thiên tử như Nam hải, đố ai lấp đầy giai nhân
Luân thường đem gác gác bếp
Chỉ ba ông đầu rau nhìn thấy dân
 
Ba khổ thơ nầy hay ở chỗ nào? Hay ở chỗ “Đêm mưa đá, mưa tròng người, mưa xuống nghìn con mắt”. Theo niềm tin dân gian, nằm mơ thấy mưa đá trên đầu là điềm tai nạn sắp đến. Nguyễn Trãi là bậc khai quốc công thần mà 3 họ phải ra pháp trường vì bị vu oan, cho nên mưa đá trong đêm là nước mắt của trời, của thiên nhiên đồng cảm. Nước mắt ấy đọng thành đá là biểu hiện nỗi hàm oan động đến đất trời. Nước mắt ấy cũng như tròng người, như nghìn con mắt tái tê hóa đá vì bất lực khi nhìn thấy xã tắc mà người ngay như Nguyễn Trãi đi con đường nào cũng dẫn đến pháp trường, bất lực khi nhìn thấy nhân tài cạn kiệt ở giai cấp lảnh đạo: “Luân thường đem gác gác bếp/ Chỉ ba ông đầu rau nhìn thấy dân”.
 
 Khổ thơ thứ 6 nhắc đến nhưng trung thần bị giết oan thời xưa bên Trung Quốc. Nguyễn Trãi cất tiếng gọi Thị Lộ, tiếng than của ông như tiếng kêu tuyệt vọng vì trong giờ phút sắp lâm chung, Nguyễn Trãi thấy quyền lực đen còn vững chắc:
 
Ôi Hàn Tín, Phạm Tăng, Phàn Khoái
Gió trung thần đang hú gọi hồn đi
Dưới vòm trời Lã Hậu
Mưa tru di đỏ rực gió lăng trì
Lẽ nào gươm Hán Cao Tổ cùn đến vậy ?
Thị Lộ ơi, dưới lòng sông hẳn nàng nóng ruột đợi ta
Rắn quyền lực muôn đời còn phục đấy
Đôi ta bị trói chặt vào nhau bằng dây trói mãng xà
 
Khổ thơ thứ 6 hay ở chỗ nào? Hay ở chỗ “Rắn quyền lực muôn đời còn phục đấy/Đôi ta bị trói chặt vào nhau bằng dây trói mãng xà”. Hai câu thơ nầy nói đến rắn, tưởng như là nhà thơ nhắc lại tiếng đồn trong dân gian rằng bà Thị Lộ (vợ lẽ của Nguyễn Trải) nguyên là con rắn ở trong vườn nhà tại làng Nhị Khê mà Nguyễn Trãi đã giết 3 con của nó trước đây. Sau nầy Thị Lộ hoá thành giai nhân tài sắc vẹn toàn, lấy Nguyễn Trãi và gây ra vụ thảm án Lệ Chi Viên tru di tam tộc để trả thù. Thật ra chữ “rắn” ở đây, nhà thơ nói rõ là “rắn quyền lực”, tức là để chỉ bọn cầm quyền gian ác, ngày xưa là vua quan, ngày nay là bọn cầm quyền bính trên tay. Thứ rắn đó chính là SaTan, là ma quỷ, có từ thời sáng thế kỷ đến nay, chúng gian manh độc ác, quấn chặt nhân tài, trói chặt xã hội, làm cho không phát triển được vì lợi ích cá nhân của nó.
 
Qua hai khổ thơ sau, lại đội ơn vua không trói bọn trẻ, lại đội ơn vua cho cõng bọn trẻ ra pháp trường:
 
Vẫn biết vân cẩu bày trò sinh diệt chơi
Lịch sử cợt đùa sai đúng
Sao cứ quặn lòng nhìn đám trẻ lôi thôi
Đội ơn vua không trói chúng
Tội chết chém còn được ơn vua ban đao phủ cõng
 
Giá chỉ mình ta chui qua lỗ nẻ giữa đất dày trời cao
Ừ, mây mù vừa làm cỏ sạch trăng sao
Chợt gió dữ tru di mây trời từng đám
Mặt trời văng ra như đầu thánh hiền bị trảm
 
Tôi không dám chắc sử sách có ghi lại ân huệ của vua thời đó cho việc tru di tam tộc Nguyễn Trãi hay không. Tôi nghĩ ân huệ vua ban để Nguyễn Trãi tạ ơn chỉ là hư cấu của nhà thơ Trần Mạnh Hảo. Nhà thơ cố ý nhắc đi nhắc lại những đặc ân rất nhỏ của vua cho một khai quốc công thần mà Nguyễn Trãi đội ơn, mục đích chỉ để trình bày tấm lòng tận trung của Nguyễn Trãi, để khẳng định Nguyễn Trãi là một trung thần không thể giết vua. Trong 2 khổ thơ nầy, các câu thơ “Ừ, mây mù vừa làm cỏ sạch trăng sao/chợt gió dữ tru di mây trời từng đám/Mặt trời văng ra như đầu thánh hiền bị trảm” thật khó hiểu. Tôi nghĩ đây là giờ hành quyết bắt đầu. Đêm đã qua và mặt trời ló dạng. Ban đêm trời mưa đá và mây mù đã che hết trăng sao. Bình minh đến, gió tru di hay thổi nhưng đám mây bay đi hết để cho mặt trời ló dạng. Mặt trời trong giờ hành quyết đỏ như máu của chiếc đầu bị trảm, thảm thương như chiếc đầu của bậc thánh hiền bị rơi ra, chớ không bình thường như đầu của tên tội phạm. Chỉ 3 câu thơ thôi, nó khó hiểu nhưng hiểu ra thì ta thấy một cảnh tượng bi thương cùng cực mà lời thơ mô tả.
 
Khổ thơ chót chỉ là những câu hỏi “ngu ngơ”, sự ngu ngơ biểu hiện một con người đơn sơ, chơn chất, thiệt thà, vì vậy mới thua thiệt trên đường hoạn lộ:
 
Sao phép nước dùng dao chém đại thần
Để chém trẻ sơ sinh ?
Mai sau lấy gì chém sông núi ?
Đầu người đang rụng quanh ta
Máu là nước lũ Hồng Hà dời non
Hồn ta là đứa trẻ con
Đi vào cõi chết vẫn còn ngu ngơ
Nỗi oan không chết bao giờ
Ta còn bị chém dọc bờ thế nhân.
 
Trần Mạnh Hảo đã cho Nguyễn Trãi nhận ra “Hồn ta là đứa trẻ con” trước khi bị trảm. Thật dễ nực cười cho những ai có tâm hồn thực tế, vì họ sẽ chê thơ Trần Mạnh Hảo, bởi họ cho rằng Nguyên Trãi làm đến chức Học Sĩ mà là trẻ con sao được. Thật ra Trần Mạnh Hảo tuyệt vời khi đặt tâm hồn ngu ngơ của Nguyễn Trãi vào đây để làm một kết luận của bài thơ. Bởi vì từ cổ chí kim, những anh hùng lấp biển vá trời đều là người thật thà ngu ngơ không khác gì Nguyễn Trãi, do đó họ dầu bị đời vùi dập nhưng tên tuổi họ trường tồn cũng sông núi, hình tượng họ được dựng lên trên đất và trong lòng loài người để tôn vinh họ ngàn năm. Những bậc vĩ nhân như Nguyễn Trãi, họ thật ngu ngơ về tranh dành danh lợi, ngu ngơ về hiếp đáp dân lành, ngu ngơ về tham nhũng tài lộc, nhưng ngược lại, họ là những thánh nhân, rất khôn ngoan về đối nhân xử thế, thương yêu tha nhân, anh hùng cứu nước…v.v. Tôi nghĩ, với một tâm hồn thánh, Nguyễn Trãi chưa chắc nhận ra mình ngu ngơ ở phút chót, chẳng qua khổ thơ là của Trần Mạnh Hảo, nhà thơ muốn thổ lộ cho người đời biết sự quý trọng tinh trong của một tâm hồn vỹ nhân hiền sĩ thời xa xưa, và cũng gởi vào đó một tâm sự của chính mình về thời đại ngày nay. Đọc mỗi bài thơ của Trần Mạnh Hảo, như đi vào một kho văn chương. Hãy nhìn và hãy ngắm tuỳ theo mắt thẩm mỹ của mỗi người, ta sẽ thấy trong thơ Trần Mạnh Hảo, có sự trong sáng vô biên của thơ còn ẩn chứa những lung linh nhiều điều suy nghiệm sâu xa dành cho mắt ai tinh tế.
 
Kính thưa nhà thơ Trần Mạnh Hảo và bạn đọc. Tôi tự nhận mình là con Dế Già gáy dưới cỏ, nay con Dế Già lại muốn làm tên người mù sờ voi. Vậy cho nên xin tác giả bài thơ và quý vị cứ đọc như tường thuật của tên người mù sờ voi. Hãy cười vui và tha thứ những ý tứ bá vơ, những suy tư sai trật. Thành thật cảm ợn.
                                                
Châu Thạch


NGUYỄN TRÃI TRƯỚC GIỜ TRU DI
 
Trên đường pháp trường con dâu ta trở dạ
Tiếng cháu thét chào đời như tiếng ngàn chim lợn báo tang
Đội ơn vua ban tã lót
Để cháu khỏi bị chém trần truồng trên thớt
Ôi con đường ba họ ta đến nơi thọ hình
Sao dài hơn đường mười năm Lam Sơn phò Thái Tổ
Ông Cao Xanh bỏ kinh thành về rừng xưa ở
Nơi vua lấy đất làm ngai, tình huynh đệ làm long bào
Nơi ta mót dần xã tắc cho vua như mót lúa
Chừng như ta đã đi con đường này từ ải Bắc
Tiễn cha già hay đưa tiễn đời ta ?
Đêm mưa đá, mưa tròng ngươi, mưa xuống nghìn con mắt
Ôi xã tắc
Con đường nào cũng dẫn đến pháp trường
Bàn tay chỉ đường nào cũng bàn tay đao phủ
Thân tùng bách há phải thân mùng tơi
Mây trắng xưa ơi
Sao giờ toàn những đám mây mưng mủ
Ta thương xã tắc không mất về tay giặc
Lại mất về tay bọn gian thần
Triều đình ai cũng là Lê Sát
Mắt thiên tử như Nam hải, đố ai lấp đầy giai nhân
Luân thường đem gác gác bếp
Chỉ ba ông đầu rau nhìn thấy dân
Ôi Hàn Tín, Phạm Tăng, Phàn Khoái
Gió trung thần đang hú gọi hồn đi
Dưới vòm trời Lã Hậu
Mưa tru di đỏ rực gió lăng trì
Lẽ nào gươm Hán Cao Tổ cùn đến vậy ?
Thị Lộ ơi, dưới lòng sông hẳn nàng nóng ruột đợi ta
Rắn quyền lực muôn đời còn phục đấy
Đôi ta bị trói chặt vào nhau bằng dây trói mãng xà
Vẫn biết vân cẩu bày trò sinh diệt chơi
Lịch sử cợt đùa sai đúng
Sao cứ quặn lòng nhìn đám trẻ lôi thôi
Đội ơn vua không trói chúng
Tội chết chém còn được ơn vua ban đao phủ cõng
Giá chỉ mình ta chui qua lỗ nẻ giữa đất dày trời cao
Ừ, mây mù vừa làm cỏ sạch trăng sao
Chợt gió dữ tru di mây trời từng đám
Mặt trời văng ra như đầu thánh hiền bị trảm
Sao phép nước dùng dao chém đại thần
Để chém trẻ sơ sinh ?
Mai sau lấy gì chém sông núi ?
Đầu người đang rụng quanh ta
Máu là nước lũ Hồng Hà dời non
 
Hồn ta là đứa trẻ con
Đi vào cõi chết vẫn còn ngu ngơ
Nỗi oan không chết bao giờ
Ta còn bị chém dọc bờ thế nhân.
                       
                            Sài gòn 9-93                            
                         Trần Mạnh Hảo

READ MORE - ĐỌC “NGUYỄN TRÃI TRƯỚC GIỜ TRU DI” THƠ TRẦN MẠNH HẢO - Châu Thạch.

Wednesday, December 21, 2022

TÌNH CA HAIKU – Thơ Trần Mai Ngân

 
 
                     Nhà thơ Trần Mai Ngân

 
TÌNH CA HAIKU
 
** Chạy theo giấc mơ
Quỵ ngã
Đường chân trời…
 
** Nhánh sông thân yêu
Hoa Lục Bình chỉ biết tím
Phận rong rêu!
 
** Vọng tiếng chuông chiều
Hoa Sa La, trầm hương
Lạc đường.
 
** Trong bể bơi
Con cá khóc
Lẫn lộn đời.
 
** Mùa Én tìm về
Mùi kiệu Huế
Nụ cười mẹ xa!
 
Trần Mai Ngân

READ MORE - TÌNH CA HAIKU – Thơ Trần Mai Ngân

Thursday, August 12, 2021

ĐẠO THƠ HAY KHÔNG ĐẠO THƠ - Châu Thạch

 


Vừa qua đọc trên trang https://tranmygiong.blogspot.com tôi thấy có bài viết của nhà thơ Trần Mạnh Hảo phản biện về việc ông bị tác giả Văn Chính vu oan cho mình là đã đạo thơ 6 lần.  Nói chung tất cả mấy vị nầy đều quá xa lạ đối với Châu Thạch tôi. Thế nhưng,vì sự tò mò nên tôi tìm hiểu thử sự thật có đạo thơ hay không có đạo thơ, hay là chỉ vì thù ghét nên vu oan cho nhau. 
 
Để không mất thì giờ bạn đọc, tôi xin vào đề ngay những gì tôi đã đọc, tìm hiểu, đồng thời xin góp thêm vài  ý chủ quan của tôi:
 
1-TÁC GIẢ VĂN CHÍNH TỐ TRẦN MẠNH HẢO ĐẠO THƠ CỦA NGUYỄN DU LẦN THỨ NHẤT
 
Tác giả Văn Chính viết: Ở bài “Con cò tập viết”:
 
Trời in đáy nước 
Cò ngỡ mực xanh
Dùng mỏ chấm mực
Viết mãi không thành 
 
Thực ra, tứ của bài thơ là thuổng từ bức tranh dân gian Lý ngư vọng nguyệt cơ, chỉ có “Trời in đáy nước” là thuổng từ câu “Long lanh đáy nước in trời” của cụ Nguyễn Du.”
 
CHÂU THẠCH TÌM HIỂU NHƯ SAU: 
 
“Lý ngư vọng nguyệt” hay “cá chép trông trăng” là một trong những bức tranh đẹp nhất cả nghệ thuật tranh dân gian Việt Nam. Những con cá chép trong tranh không tìm về giá trị đích thực, mà lại chỉ nhìn vào những hư ảo của cuộc đời.  Hàm nghĩa của bức tranh muốn nhắn gửi thế nhân: Đừng nhìn vào những hư ảo trong cuộc đời mà hãy tìm về những giá trị đích thực, tìm về sự hoàn thiện, viên mãn thật sự của con người.  
 
Ý KIẾN CHỦ QUAN CỦA CHÂU THẠCH: 
 
Hai câu thơ đầu trong bài Con Cò Tập Viết “Trời in đáy nước/Cò ngỡ mực xanh” của Trần Mạnh Hảo tả bầu trời xanh soi mình xuống đáy nước là “hình ảnh phổ biến một cách rộng khắp, dùng thường trong ngôn ngữ”.  Hàng vạn nhà thơ từ cổ chí kim, từ em học sinh cấp 1 tập làm văn trong lớp đến cụ Nguyễn Du đều có thể viết vậy.  Do đó bất kỳ ai cũng có thể dùng hình ảnh trên cho thơ văn của mình mà không thể gọi là ai bắt chước ai cả. 
 
Hai câu thơ  sau “Dùng mỏ chấm mực/Viết mãi không thành” có  ý thơ siêu hơn tranh “Lý Ngư Vọng Nguyệt”. Tranh Lý Ngư Vọng Nguyệt là cá chép ngắm trăng chỉ diễn đạt cái nhìn hư ảo, còn bài thơ Con Cò Tập Viết diễn tả một hành động vô ích của những kẻ ngu muội. Tôi nghĩ cả hai ý thơ và hình ảnh giữa Lý Ngư Vọng Nguyệt  và Con Cò  Tập Viết khác nhau hoàn toàn. Cho dầu nhà thơ Trần Mạnh Hảo có nhìn bức tranh kia mà nẩy sinh ra ý thơ nầy cũng là một sự sáng tạo đáng khâm phục, không thể quy chụp là đạo ý của tranh được.
 
2-TÁC GIẢ VĂN CHÍNH TỐ TRẦN MẠNH HẢO ĐẠO THƠ CỦA NGUYỄN DU LẦN THỨ HAI:
 
Tác giả Văn Chính viết: “Trần Mạnh Hảo lấy câu của cụ Nguyễn Du viết trong bài ‘Phản chiêu hồn’ ” 
 
Hậu thế nhân gian giai Thượng Quan
Đại địa xứ xứ giai Mịch La,
 
[Ðời sau đều là Thượng Quan
Khắp mặt đất đều là sông Mịch La]
 
để chế thành một câu trong bài “Nguyễn Trãi trước giờ tru di”:
 
 
 
“Ta thương xã tắc không mất về tay giặc
Lại mất về tay bọn nịnh thần
Triều đình ai cũng là Lê Sát”
 
CHÂU THẠCH TÌM HIỂU NHƯ SAU:
 
Phản Chiêu Hồn là bài thơ chữ Hán thể cổ thi của Nguyễn Du trong tập Bắc Hành Tạp Lục, sáng tác trong thời kỳ đi sứ sang Trung Quốc. Trong bài Phản Chiêu Hồn có mấy câu thơ:
 
“Hậu thế nhân gian giai Thượng Quan
Đại địa xứ xứ giai Mịch La
Ngư long bất thực, sài hổ thực
Hồn hề! Hồn hề! Nại hồn hà?”
 
 Dịch là :
 
“Thượng Quan thời buổi ai ai,
Khắp trên đất rộng sông dài Mịch La!
Cá rồng nuốt, sói hùm tha,
Hồn ơi! Hồn hỡi! Hồn mà làm sao?”
 
Trong khổ thơ trên có có các chữ Thượng Quan và Mịch La? Tương truyền Khuất Nguyên (khoảng 340 - 278 trước công nguyên) làm quan đại phu nước Sở bị Thượng Quan Ngân Thượng gièm pha khiến cho Sở Hoài Vương ruồng bỏ, phải lưu đày xuống Giang Nam. Uất ức, tủi nhục, Khuất Nguyên làm bài phú Ly Tao rồi gieo mình xuống sông Mịch La tự vẫn. Tống Ngọc là nhà thơ cùng thời với Khuất Nguyên đã làm bài Chiêu hồn để gọi hồn Khuất Nguyên về dương gian. Nguyễn Du chống lại quan điểm đó, nên đã làm bài Phản chiêu hồn (Chống lại bài chiêu hồn). Ông cho rằng: nếu hồn Khuất Nguyên có về dương gian thì cũng chẳng có gì tốt đẹp.
 
Bây giờ đề cập đến bài thơ “Nguyễn Trải Trước Giờ Tru Di” của Trần Mạnh Hảo. Tựa đề đã nói ý chính của bài thơ rồi. Bài thơ nầy được nhà phê bình thơ Vũ Bình Lục nhận xét như sau:  “Một bài thơ viết theo lối trực cảm, nhưng lại khéo mượn lời nhân vật trữ tình. Mà có lẽ cũng chỉ bằng cách ấy, mới có thể chuyển tải mạch tâm tư tình cảm của người viết một cách hữu hiệu”. Hai câu thơ mà tác giả Văn Chính tố họ Trần đạo thơ Nguyễn Du nằm trong khổ thơ nầy:
                     
“Ta thương xã tắc không mất về tay giặc                       
Lại mất về tay bọn nịnh thần                       
Triều đình ai cũng là Lê Sát *                       
Mắt thiên tử như Nam Hải đố ai lấp đầy giai nhân?                       
Luân thường đem gác gác bếp                       
Chỉ ba ông đầu rau nhìn thấy dân”
 
* Lê Sát là một trong những công thần khai quốc của hoàng triều Lê. Đến đời vua Lê Thái Tông bị ghét bỏ. Năm 1437, Lê Sát bị bãi chức, sau bắt tự tử tại nhà, vợ con gia sản đều bị tịch thu.
 
Ý KIẾN CHỦ QUAN CỦA CHÂU THẠCH:
 
Đoc mấy câu thơ trong Phản Chiêu Hồn của Nguyễn Du ta thấy nhà thơ khóc một triều đại mà quan quyền thoái hoa, xấu xa, xu ninh đã làm hại nhân tài. Nhà thơ đã lấy hình ảnh cá rồng là thứ hiền hòa thì lại nuốt mà sói hùm là thứ thú dữ thì lại tha, vậy thì “Hồn ơi! hồn ơi! hồn mà làm sao?” có nghĩa là gọi hồn Khuất Nguyên về cũng vô ích thôi, đâu giúp được gì cho xã tắc. 
 
Đọc mấy câu thơ trong bài “Nguyễn Trải Trước Giờ Tru Di” ta thấy Trần Mạnh Hảo viết về tâm trạng và nỗi đau của Nguyễn Trải, ông lo sợ VUA sẽ mù trước lẽ phải, quan quyền sẽ là bọn đầu rau, nịnh thần, đạo lý sẽ lu mờ như nơi xó bếp.  
 
Đem so hai đoạn thơ của Nguyễn Du và Trần Mạnh Hảo, ta thấy cái chủ đề na ná nhau vì  cả hai đều nói đến sự suy thoái của triều đình, đó chỉ là sự ngẫu nhiên mà hai tác giả đã khóc cho hai triều đại khác thời nhau mà thôi. Thế nhưng từ ngữ và tứ thơ trong hai đoạn thơ không có gì giống nhau cả. Vậy cho nên nói tác giả nầy lấy thơ của tác giả khác để “chế” lại thì không có chút gì hợp lý cả.
 
3 -TÁC GIẢ VĂN CHÍNH TỐ TRẦN MẠNH HẢO ĐẠO THƠ LÝ BẠCH: 
 
Văn Chính viết: “Trong bài ‘Tương tiến tửu’, Lý Bạch viết:
 
Nước sông Hoàng Hà chảy từ trên trời xuống,
Chảy ra đến biển không quay trở lại nữa. 
 
Trần Mạnh Hảo thuổng một câu chế thành câu khác trong bài “Mao Trạch Đông” của mình:
 
Người cầm con hồng vệ binh như cầm một tách trà
Hoàng Hà đỏ đổ từ trời như cắt tiết”
 
CHÂU THẠCH TÌM HIỂU:
 
 
Bài thơ Tương Tiến Tửu của Lý Bạch có những câu thơ mở đầu hay như sau:
 
Quân bất kiến:
Hoàng Hà chi thuỷ thiên thượng lai,
Bôn lưu đáo hải bất phục hồi!
Hựu bất kiến:
Cao đường minh kính bi bạch phát,
Triêu như thanh ty, mộ thành tuyết.
Nhân sinh đắc ý tu tận hoan,
Mạc sử kim tôn không đối nguyệt!
 
Dịch:
 
Anh không thấy:
Nước sông Hoàng Hà chảy từ trên trời xuống,
Chảy ra đến biển không quay trở lại nữa.
Anh lại không thấy:
Cha mẹ soi gương buồn nhìn tóc bạc,
Sáng còn như tơ đen mượt, chiều tối đã trắng như tuyết.
Đời người khi nào đắc ý nên tận tình vui sướng,
Đừng để chén rượu vàng cạn queo nhìn vầng trăng.
 
Bài thơ Mao Trạch Đông của Trần Mạnh Hảo có một khổ thơ như sau:
 
Máu Trung Hoa trắng rợn da ngựa
Cho thuỳ dương xoã hết tóc Đường Thi
Người mắc bệnh nghi mình là tượng
Cả Trung Hoa lên cơn nghiền lý tưởng
Người cầm cơn hồng vệ binh như cầm một tách trà
Hoàng Hà đỏ đổ từ trời như bị cắt tiết
 
Ý KIẾN CHỦ QUAN CỦA CHÂU THẠCH:
 
Đem đoạn thơ Tương Tiến Tửu so sánh với đoạn thơ Mao Trạch Đông ta thấy khác ý nhau hoàn toàn. Tương Tiến Tửu nói về sự phôi pha cúa đời người, ngày tháng như nước sông Hoàng Hà trôi đi không quay lại, như tóc người già bạc đi trong ngày.  
 
Ngược lại bài thơ Mao Trạch Đông nói về nhân vật lịch sử Mao Trạch Đông, đã đưa một thế hệ Trung Hoa lao vào lý tưởng bệnh hoạn, thần tượng hóa họ Mao, kích động phong  trào hồng vệ binh dễ như cầm tách trà trên tay mà làm cho máu chảy như nước Hoàng Hà đỏ từ trời cao  đổ xuống. 
 
Về ý  câu thơ “Hoàng Hà đỏ đổ từ trời…” có đạo thơ Lý Bạch hay không thì nhà  thơ Trần Mạnh Hảo đã giải thích rằng: “Dân ca Hồ Nam thời Chiến quốc từng có câu: ‘Dương tử giang từ trời rót xuống’ trước câu thơ ‘Sông Hoàng hà từ trời chảy xuống’ 800 trăm năm”. 
 
Vậy theo Châu Thạch tôi, vì viết bài thơ về Mao Trạch Đông là nhân vật lịch sử của Trung Quốc nên nhà thơ Trần Mạnh Hảo đã dùng một điển tích, một huyền thoại trong dân gian Trung Quốc, đó là điều xưa nay ai cũng có thể dùng để nhân mạnh ý thơ mình , nhất là trong các cảo thơm của các thi hào mà ngay nay ta học như Kim Vân Kiều, Cung Oán Ngâm Khúc, Chinh Phụ Ngâm….Vậy việc nói nhà thơ Trần Mạnh Hảo đã “thuổng một câu thơ  của Lý Bạch chế thành câu thơ mình” thì chỉ là một sự vu oan thôi. 
 
Cho dầu nhà thơ Trần Mạnh Hảo cón mượn cái ý thơ “Hoàng Hà chảy từ trời xuống” của Lý Bạch để đem vào thơ mình thì cũng  chỉ dùng một  điển cố, điển tích trong lịch sử Trung Hoa để làm cho thơ mình trở  nên sinh động và hàm xúc. Điều đó được cho phép. Ta thấy tuyện Kiều của Nguyễn Du là cả một sự tái tạo điển cố, điển tích mà trở nên toàn bích hơn nhiều so với nguyên tác.
 
4- KẾT LUẬN: 
 
 Tác giả Văn Chính  còn tố Trần Mạnh Hào đạo thơ của Nguyễn Bính,  Trần Đăng Khoa và Truyện Ngụ Ngôn. Thế nhưng đọc những lời tố cáo nầy, Châu Thạch tôi thấy không thuyết phục  và không có gì hay, nếu mình viết thêm vào đây chỉ thêm dài,  làm đau mắt quý bạn đọc. Vì vậy tôi xin mạn phép ngưng lại sau sự tìm hiểu và ý kiến về 3 lời tố cáo trên.
 
  Công bình mà nhận xét, thi thấy rằng những lời tố cáo của tác giả Văn Chính về thơ của Trần Mạnh Hảo cũng giống như là sự bới lông cố tìm vết. Khi đã bới lông cố tìm vết thì dầu thấy cái bớt hồng hay cái nốt ruồi hồng vẫn cho là xấu. Điều đó cũng giống như một người muốn vu oan vợ mình ngoại tình thì nhìn bất cứ đứa trẻ nào cũng thấy có nét giống vợ mình  để đem làm bằng chứng là vợ mình lấy trai.
 
Tôi chỉ là một con dế già thích gáy, thấy điều gì trái ý mình thì gáy, gáy hay hoặc gáy dỡ thì cũng đã gáy rồi. Xin nhận lãnh những lời khen hay những lời chê trách, xem đó đều là niềm vui của mình được giao lưu về văn thơ. Trân trọng.
                                       
 Châu Thạch
 
READ MORE - ĐẠO THƠ HAY KHÔNG ĐẠO THƠ - Châu Thạch