Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, March 3, 2026

CHU VƯƠNG MIỆN VỚI NIỀM KHẮC KHOẢI TÂM LINH - Tạp văn Nguyễn Nguyên An


Nhà thơ Chu Vương Miện
 


Nhà thơ Nguyễn Đức Tùng – Vancouver – Canada vừa viết trên Tạp chí Sông Hương số 246 (2009) Mục Tác giả tác phẩm và dư luận: “Khoảng từ năm 1970, xuất hiện nhiều tác giả trẻ, một số mặc áo lính, trên các báo, nhất là ở các địa phương. Một số chưa có thời gian để in tác phẩm của mình. Tôi nhớ những tên tuổi như Y Uyên, Ngô Kha, Luân Hoán, Trần Hoài Thư, Trần Dzạ Lữ, Chu Vương Miện… Bắt  đầu thành một dòng chảy khác, mà người chinh phục tôi nhất là Phan Nhật Nam.” Với riêng tôi, tôi yêu Ngô Kha & Chu Vương Miện (CVM).
 
CVM tên thật là Nguyễn Văn Thưởng, sinh năm 1941 tại Kiến An (miền Bắc), anh cầm bút từ những năm 1960, thơ anh đã đăng trên nhiều Tạp chí tại Sài Gòn: Thời Nay, Bách Khoa, Văn Học, Tiền Phong. Trước 1975, đã có 5 tác phẩm được ấn hành:
 
Đêm đen 20 tuổi (thơ) 1964
Tiếng hát Việt Nam (thơ) 1965
Trường Ca Việt Nam (thơ) 1967
Lời Phản Kháng (thơ) 1967
Phía Mặt Trời Mọc (tập truyện) 1969
 
Được ghi tên trong từ điển văn học của Thanh Tùng, Khai Trí xuất bản năm 1973 tại Sài Gòn. Ra hải ngoại, anh tiếp tục viết thêm những tác phẩm:
 
Đất Nước (thơ) 1985
Bằng Hữu (thơ) 1987
Văn Học Dân Gian (truyện) 1988
Tác Phẩm, Tác Giả (biên khảo) 1988
Đất Nước (thơ, tái bản) 1997
Văn Học Dân Gian (thơ, tái bản) 1999
 
Những tác phẩm của anh trước 1975 tôi chưa được đọc nhiều nhưng khi đọc tác phẩm gần đây, tôi xin ngả mủ chào CVM bởi sức sáng tạo bền bỉ, văn chương láp lánh mùi thiền và sự thông thái lịch sử, giỏi Hán Nôm của anh, mặc dù tạm trú hải ngoại, trái tim thường trú Việt Nam, anh luôn chất ngất nỗi buồn xa xứ và sắp bước vào tuổi “Thất thập cổ lai hy” anh vẫn nặng nợ văn chương, vẫn vắt óc cày trên cánh đồng chữ nghĩa phù du như một lực điền làm nên một dòng thơ văn tư tưởng khắc khoải phương Tây. Anh viết nhiều, post trên các trang web uy tín trong ngoài nước. Tôi xao lòng trước: “… đại hào kiệt cũng chết/ đại thiên tài theo sau/ nhìn tượng Trần Hưng Đạo/ Trần Thủ Độ nơi nào?/ …ngàn năm mây vẫn trắng/  thênh thang cõi đi về…/ còn mỗi ta sống sót/ bồng bênh bèo trên ao…/ vũng đời trò vân cẩu/ hết hợp rồi lại tan/ nghênh ngang uy quyền đó/ chết chả nấm mồ chôn?/  công hầu phù danh cả/ chuyện ngàn năm mây bay/ đó là chuyện thường ngày… ” (Văn Tế Bà Chúa Nôm).
 
Dù là tạp văn cũng thấm đầy huyền sử, với giọng thủng thẳng, CVM viết:
 
“Hai ngừơì trung niên, không phân rõ là nhà quê hay quan võ, đi thuyền từ bến đò Rừng phiá Quảng Yên, qua Thuỷ Nguyên, lên bộ  rồi ngươì trước kẻ sau, không đi thẳng lên huyện núi Đèo [Dẹo] cách khoảng mươi cây số, mà rẽ về lối tắt bên phải đi vào làng Trúc động và Mai Động, cách sông Bạch Đằng chừng non cây số, cách làng Phục Lễ, Phả lễ ba cây số, hai người nhìn ngắm, hai bên đuờng quê, một bên đuờng trồng toàn là trúc tầm vồng, cây thẳng đuột, ruột đặc, gọi là làng Trúc động, còn bên cạnh trồng toàn là cây bương lồ ồ nên gọi là làng Mai động, trúc bương mọc khít khao làm hàng rào vườn nhà, rất kín đáo muốn vào nhà là phải đi qua ngõ, ngừơi cao hơn móc trong tuí áo ra một tờ giấy nhỏ, đọc qua loa rồi như tình cờ rẽ vào một nhà bên làng Trúc động, trước sân thấy có hai cha con , đang ngồi đan lưới cá, ngươì cha vào khoảng bốn chục, ngươì con vào khoảng hai chục, thấy có nguời lạ vào nhà, nguời cha dừng tay đứng lên hỏi khách:
 
-Thưa hai tôn ông, ghé làng chài thăm? có điều chi? cần dậy bảo?
Người cao nóí:
 
- Chả dấu gì Bác, chúng tôi nhàn rỗi không có việc chi? nghe đâu làng này ngày xưa sứ quân Đỗ Cảnh Thạc có lập một cơ ngơi, để về hưu dưỡng, và nghe đâu hậu duệ cuả ngài còn truyền cho tới bây giờ? Nên nhân tiện có công chuyện đi ngang qua đây ghé  kính viếng thăm và thắp nén vài nén nhang để hiếu kính sứ quân, để tỏ rõ tấm lòng cuả kẻ hậu bối?
 
Ngừơì chủ nhà bèn chắp tay xá hai ngừơi:
 
-Đa tạ, hai tôn ông có lòng ghé thăm, vậy xin hai tôn ông theo kẻ dân giã này vào viếng miếu tổ tiên cuả chúng tôi?
 
Nguời con trai làng chài đi trước, quét trước sơ sài phiá trong và ngoài miếu, còn nguời cha thì thắp nhang  đưa cho hai nguời trung niên,  chỉ có nguời cao là đứng vái bốn vái, còn ngừơi đứng sau chỉ chắp hai tay mà thôi, nguời cao khấn:
 
- Bổn tướng là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, vì công vụ nên ghé kính thăm sứ quân, nếu anh linh còn đây, khí thiêng sông nuí còn đó, mong sứ quân hiển linh chỉ bảo cho bổn vương  đôi điều, giữ nuớc và cưú nước?...”
 
Đọc Địa Cọc Bạch Đằng, ta càng tôn kính lòng yêu nước của Hưng Đạo Vương và hiểu ngọn nguồn trận Bạch Đằng manh nha thế nào. Lại càng quý sự rốt ráo sử Việt cùng tài tái hiện cốt cách nhân vật của CVM. Không chỉ thế, CVM còn thông thuộc truyện kiếm hiệp Kim Dung, dã sử tiểu thuyết Trung Quốc. Chẳng hạn:
 
“Quách Tĩnh đọc xong mật hàm cuả Mông Kha gưỉ cho mình, có điều hiểu ngay, có điều hiểu lờ mờ, và có điều không hiểu hẳn, bèn đưa ngay tấm mật hàm cho  Hoàng Dung, đọc lại cho rõ, để hai nguơì cùng bàn luận, để tìm cách đối phó nếu có chuyện bất thưòng xẩy ra? Hoàng Dung đọc thì hiểu ngay, tóm tắt lại như sau:
 
- Hãn ông Nội tức Thành Cát Tư Hãn làm Hãn đuợc mươì năm, thì truyền ngôi lại Hãn cho Bác Oa Loa Đài, Hãn Bác làm đuợc mươì năm thì truyền lại cho Hãn Cháu  Mông Kha, Cháu làm Hãn được muơì sáu năm, bây giờ bưóc sang năm thứ mười bẩy, cháu vẫn duy trì tình trạng đất nước Mông Tống  y như cũ, nhưng đa số tướng lãnh duới quyền có đưa kiến nghị lên cho cháu, một là đánh tới nơi tới chốn, thắng hay là bại cho oanh oanh liêt liệt, hai là rút quân về đại mạc, cho giải giới ,giải ngũ,  chăn dê cưù như cũ, chứ cứ cù cưa cù nhầy kéo daì cuộc chiến gần 40 năm rồi, nhân sự mệt mỏi và chán nản lắm lắm, vậy cháu kính gửi mật hàm này đến Kim Đao phò mã và Hoàng Dung bang chủ, báo trưóc sáu tháng để chuẩn bị, đầu tháng bẩy năm sau, cuộc chiến thư hùng giữa Mông Cổ và Đại Tống sẽ xẩy ra, tấm lòng thì dài, nhưng chữ nghiã có giớí hạn, kính mong Kim Đao Phò mã và Hoàng Bang chủ liệu định…”. (Mông Kha).
 
Nói về thơ, tôi cảm nhận vài bài anh post trên vanchuongviet.org bởi lẽ CVM viết nhiều thể tài và bài viết của tôi trong phạm vi giới hạn, không thể ôm đồm nhận định xuyên thấu văn chương CVM. Nhưng dù văn hay thơ, nhà thơ CVM cũng bật lộ cốt cách ngang tàng Bắc Hà, với cái cay đắng mùi đời lên câu chữ một cách triết lý. Cứ hãy trải lòng mình vào (Chuyện Thơ) sẽ rõ “ý tại ngôn ngoại” của CVM tiềm ẩn trong câu chữ gập gềnh: “Bàn chuyện thơ nó y như vầy/  anh đến trước ở quán cóc/ là nhà thơ cổ điển/ kêu 1 ly cà phê sữa đá/ chờ lâu quá đành uống tạm /1 ly cà phê đen nóng/ tất tả đi ngay?/ để lại trên bàn ly cà phê  sữa đá/ cho anh làm thơ tân cổ điển/ anh đương đại đến thì uống cà phê đá/ anh hậu hiện đại uống trà đá/ anh sau hậu hiện đại uống trà nóng/và anh sau chót múc nước lạnh uống/ ngoài bờ sông?/ Con trâu nằm nhai cỏ/ Bá Nha đi người không?/ vừa đập xong cổ cầm/ tử ký không còn nữa?/ đàn toàn dang với dở/ con chim bay trên trời/ con chim đậu dưới đất/ còn ta ngồi nơi đây?/ muốn khóc/ không khóc được ?/ toàn cười?/ còn duyên kẻ đón người đưa/ hết duyên ngồi gốc cây dừa chờ rơi?/ trúng đầu thời kể như toi?/ ra ngoài thời miệng còn cười mí nhau?/ còn duyên noí chuyện đẩu đâu?/ hết duyên toàn những bã trầu nhả ra/ nhìn mình mà ngỡ người ta ?/ nhìn người ta ngỡ là hoa móng bò?/ thì thôi nhá miếng chả giò?”
 
Và,  thơ mới của CVM “Ngạc Nhiên”
 
Con quạ nói tiếng người rất sõi/ làm con cú mèo? ngạc nhiên/ bầy/ bồ câu đang mổ thóc ngoài hiên/ không thấy người chỉ nghe con quạ nói?/ đang nhìn trời định bay chơi?/ bỗng dưng con quạ gọi ?/ vườn vui thế này? mà muốn bay đâu?/ quạ trong lồng tre đen thẫm 1 mầu/ từ mắt mỏ đuôi giống cục than hầm chín ?/ cũng là chim ăn thóc người véo von cái miệng/ lúc tiếng người lúc tiếng quạ chen nhau/ trên nóc đống rơm 1 lũ sáo trâu/ đang lầm lũi kiếm ăn từng hạt thóc/ ánh mặt  trời vừa nhô lên/ trên cánh đồng mùa gặt
 
Đọc thơ CVM tôi cứ thấy đau đau làm sao ấy. Thơ của anh chất ngất một buồn xa xứ, như có ngọn lửa âm ỉ ngún cháy, nỗi hoài cố hương ấy cứ dằn vặt tâm can thi sĩ. Niềm khắc khoải tâm linh bật lên trong anh như căn bệnh trầm kha, chữ nghĩa chán chường mọi thứ và mọi thứ đều vô nghĩa. Ở Mỹ hay ở hải ngoại người ta thờ ơ hết thẩy, họ sống thực dụng thì sá gì thơ văn Việt bọt bèo xa xôi, các thế hệ sau chả quan tâm gì tiếng Việt, thậm chí có người mù tiếng Việt, trong khi đó họ thông thạo tiếng người, vì nhu cầu cuộc sống họ đành lòng quên lãng cội nguồn. Anh là một trong những người còn làm thơ văn trên đất khách, còn làm kiếp tằm ép xác nhả tơ vì con chữ quê nhà; anh là người giữ lửa đáng trân trọng. Có nhiều thi sĩ nổi tiếng thời trẻ, lớn lên họ im tiếng? Có lẽ họ đã thỏa nguyện, CVM ở tuổi 68 vẫn lặng lẽ chống chỏi với cơn đau trần thế một cách dũng cảm để viết và viết… Viết đến đây tôi ứa nước mắt vì sức chịu đựng và làm việc của anh. Tôi xin khép lại trang viết này để khởi một lời nguyện chân thành lên không trung: “Cầu anh mạnh khỏe để gom sức viết tặng đời” và mời bạn đọc cùng tôi chia sẻ niềm khắc khoải tâm linh cùng nhà thơ Chu Vương Miện – google.com/“chuvương miện”/Enter
                                                     

Huế, ngày 21 tháng 8 năm 2009                                                             Nguyễn Nguyên An

*
NGUYỄN VĂN VINH (N.N.A) - Hộp thư 042 Bưu điện, Huế
- E.mail: nguyenan009@gmail.com  Tel: 0914457805

 


READ MORE - CHU VƯƠNG MIỆN VỚI NIỀM KHẮC KHOẢI TÂM LINH - Tạp văn Nguyễn Nguyên An

MÂY KHÔNG CẦN HỘ CHIẾU - (Một bài thơ song ca – Duet) By Musharraf Hussain, Goalpara, Assam, India, & Thi Lan Anh Tran, Germany



MÂY KHÔNG CẦN HỘ CHIẾU       

(Một bài thơ song ca – Duet)
By Musharraf Hussain, Goalpara, Assam, India & Thi Lan Anh Tran, Germany


© 2026 Dr. Musharraf Hussain & Thi Lan Anh Tran. All Rights Reserved

 

(1) Musharraf    

Sáng nay, sông Brahmaputra hỏi anh:
“Sao lại yêu qua đại dương?”
Anh đáp:
“Dòng sông chẳng cần visa.
Tại sao trái tim lại phải xếp hàng?”

 

The Brahmaputra asked me this morning,
“Why fall in love across oceans?”
I replied,
“Rivers travel without visas.
Why must hearts stand in line?”

 

(2) Lan Anh     

Sông Main cũng trêu em:
“Hãy lý trí. Tình yêu nên gần thôi,
Như bánh mì mới nướng từ cửa hàng bên đường.”
Nhưng em thích thời tiết nổi loạn—
Mây trôi tự do,
Khói chẳng chịu nghe lời.

 

The Main River teased me too—
“Be reasonable. Love should be local,
Like fresh bread from a nearby shop.”
But I prefer unruly weather—
Clouds that wander,
Smoke that refuses instruction.

 

(3) Musharraf  

Hiện thực thanh toán hóa đơn đúng hạn.
Nó khịt mũi.
Nó khuyên ta trưởng thành.
Nhưng mỗi lần anh nghe theo,
Lời thì thầm của em sửa sự nghiêm túc của anh
Như gió sắp xếp lại giấy tờ hành chính.

 

Reality pays bills on time.
It clears its throat.
It advises maturity.
Yet every time I obey it,
Your whisper edits my seriousness
Like wind rearranging official documents.

 

(4) Lan Anh       

Em từng cố lưu trữ anh cẩn thận—
“Xa xôi. Tế nhị. Xử lý nhẹ nhàng.”
Nhưng khói chống lại hệ thống lưu trữ.
Nó thoát khỏi ngăn kéo,
Tìm chân trời của anh,
Và chiếm lấy một cách dịu dàng.

 

I once tried to archive you properly—
“Long Distance. Delicate. Handle with Care.”
But smoke resists filing systems.
It escapes drawers,
Finds your horizon,
And claims it gently.

 

(5) Musharraf

Người ta gọi chuyện này bất khả.
Hai nhà thơ thương lượng địa lý—
Một cuốn theo hơi thở mùa mưa,
Một bị quy củ bởi mùa đông châu Âu.
Nhưng mặt trăng vẫn dõi chúng ta cả hai
Mà không chọn phe nào.

 

People call this improbable.
Two poets negotiating geography—
One wrapped in monsoon breath,
One disciplined by European winter.
Yet the moon watches us both
Without choosing sides.

 

(6) Lan Anh

Mặt trăng thật thà mà cũng khôn khéo—
Ghé thăm mọi cửa sổ,
Giả vờ thủy chung một lòng.
Nhưng khi em ngước lên,
Nó mang hơi ấm
Vừa quen vừa lạ, giống như xứ Assam.

 

The moon is shamelessly diplomatic—
Visiting every window,
Pretending singular devotion.
Still, when I look up,
It carries a warmth
That feels suspiciously Assamese.

 

(7) Musharraf  

Thiên nhiên thật mỉa mai.
Nó dựng biên giới,
Rồi nối những dòng thủy triều bên dưới.
Có lẽ tình yêu chẳng huyền bí gì—
Chỉ là trọng lực
Hành xử thật thà.

 

Nature is ironic.
It invents borders,
Then connects tides beneath them.
Perhaps love is nothing mystical—
Only gravity
Behaving honestly.

 

(8) Lan Anh

Hoặc có lẽ chúng ta thật ngốc nghếch—
Hai người lớn tranh luận với mây.
Nhưng nếu sự ngốc nghếch thở như thế này,
Sao trí khôn phải chen vào?

 

Or perhaps we are gloriously foolish—
Two adults debating with clouds.
But if foolishness breathes like this,
Why must wisdom interrupt?

 

(9) Musharraf

Anh không hứa bằng cẩm thạch.
Chỉ là cuộc trò chuyện.
Chỉ là tiếng cười trước những điều nghiêm trang.
Chỉ là dũng khí
Để đổi tên khoảng cách
Thành “Tạm thời.”

 

I offer no marble promises.
Only conversation.
Only laughter at solemn things.
Only the courage
To rename distance
As “Temporary.”

 

(10) Lan Anh

Em cũng không hoàn hảo.
Chỉ có sự hiện diện—
Như khói tự chọn để linger,
Như sương kiên quyết vào buổi sáng.
Dù lý trí phản đối,
Em vẫn ở lại.

 

I offer no perfection either.
Only presence—
Like smoke that lingers by choice,
Like dew that insists on morning.
Even when logic objects,
I remain.

 

(11) Musharraf     

Hãy để thế giới tính km;
Chúng ta sẽ đo bằng ẩn dụ.
Hãy để xác suất nói;
Chúng ta sẽ trả lời bằng khả năng.
Ngay cả cây cũng yêu ánh sáng
Mà không cần chạm vật lý.

 

Let the world calculate kilometers;
We will measure metaphors.
Let probability speak;
We will answer with possibility.
Even trees adore sunlight
Without physical touch.

 

(12) Lan Anh

Vậy hãy để chúng ta là cây táo bạo và mặt trời xa xôi—
Mỉm cười với vật lý,
Trêu thời gian,
Làm lý trí hơi lo lắng.
Nếu tình yêu phi lý,
Hãy để nó phi lý thật đẹp.

 

Then let us be that audacious tree and distant sun—
Smiling at physics,
Teasing time,
Making practicality slightly nervous.
If love is absurd,
Let it be beautiful so.

 


(13) Cả hai

Mây không cần hộ chiếu.
Khói không ký hiệp ước.
Sông không nghe lệnh.
Và trái tim—
Khi chân thành—
Đầy phi lý một cách tuyệt vời.

Vậy chúng ta đứng đây:
Không thực tế.
Không đoán trước được.
Không hoàn toàn an toàn.

Nhưng thật.

Và có lẽ thực tại,
Khi được thiên nhiên chạm tới,
Trở thành tình yêu.

 

Clouds do not require passports.
Smoke signs no treaties.
Rivers ignore instructions.
And hearts—
When sincere—
Are magnificently unreasonable.

So here we stand:
Not practical.
Not predictable.
Not entirely safe.

But real.

And perhaps reality,
When touched by nature,
Becomes love.

 ***

From Email: Wirtschaftskanzlei@Dipl-Kauffrau-Tran.de

Dipl.- Kauffrau Thi Lan Anh Tran





READ MORE - MÂY KHÔNG CẦN HỘ CHIẾU - (Một bài thơ song ca – Duet) By Musharraf Hussain, Goalpara, Assam, India, & Thi Lan Anh Tran, Germany