Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Trương Nguyễn. Show all posts
Showing posts with label Trương Nguyễn. Show all posts

Monday, April 8, 2024

ĐÊM MƯA SÀI GÒN - Thơ Trương Nguyễn

 

Nhà thơ Trương Nguyễn

ĐÊM MƯA SÀI GÒN

 

Bóng ai về

Tất tả giữa đêm mưa

Nơi phố thị

Trời hồng xanh đỏ tím

Thế nhân buồn nụ cười nào tắt lịm

Đêm độc hành từng nhịp gõ bâng khuâng?

Cúi mặt

Đối diện

Mưa trầm

Loang loáng đèn đêm

Bóng người loạn xạ

Thế giới người chỉ mình ta xa lạ

Mong manh heo hút một kiếp người

Mưa Sài Gòn

Đêm bổng chơi vơi

Từng điếu thuốc

Thắp lên

Không cháy được

Tiếng động cơ rập rình xuôi ngược

Ta đứng trên hố thẳm chân mình

Biết về đâu

Trái đất rộng thênh

Chân rón rén

Người lữ hành đơn lẻ

Trong thinh không từng tiếng rên rất khẽ

Nghe xôn xao sỏi đá gọi tên mình. 

 

Trương Nguyễn

Kim Giao, Ngãi Giao, Châu Đức, BRVT

READ MORE - ĐÊM MƯA SÀI GÒN - Thơ Trương Nguyễn

Monday, May 1, 2017

VỀ ĐÂU? - Thơ Trương Nguyễn


Tác giả Trương Nguyễn


VỀ ĐÂU?

Ta đi đâu – về đâu ?
Gần thế kỷ rồi hồn tôi vẫn trẻ
Rạo rực băn khoăn lòng mình vẫn thế
Không thể sớm lụn tàn như những đóa hoa kia

Lầm lũi giữa đời chân vẫn bước đi
Hành trang tôi mang đống sách vở vô tri bội bạc
Ngôn từ văn chương nằm vắt vẽo giữa trang thơ vô hồn ngơ ngác
Viết những điều đau nhói trái tim ơi!

Nhìn quanh đây bạn bè tôi già cỗi lõi đời
Cười nói hồn nhiên mà lòng đau quặn
Chỉ nhếch mép thôi với đống ve chai nuốt vào sâu thẳm
Tai biến vật vờ chỏng gọng ngổn ngang

Thiên lý xa kía ngán ngẫm ngáp thiên đàng
Con cá vẩy vùng là cầm “nơm” chụp lấy
Đám trẻ con ngây thơ uống nhầm chất thải
Vạch bung phơi lưng sau những cơn say

Người Việt ơi! sao mãi trắng tay
Kẻ moi ruột gan - Ông trời đày lên đầu dân “cộng nghiệp”
Vũng sình lầy rửa làm sao cho hết
Cứ mãi trượt-trơn dưới chân đám dân nghèo

Làm người như ta không thể tỉnh queo
Muốn ngóng cổ lên coi chừng thua thiệt
Thôi ta cứ hát đi cung nhạc Trầm da diết

Ta đứng ở đâu-và sẽ về đâu?

Trương Nguyễn
READ MORE - VỀ ĐÂU? - Thơ Trương Nguyễn

Wednesday, January 15, 2014

LẰN ROI SỐ PHẬN - thơ Trương Nguyễn

 


Có lẽ !
Không bao giờ tôi được đứng lên
Những lằn roi hằn sâu trên da thịt
Nhức nhối đau như cung trầm da diết
Réo rắt
            Rỉ rên
                         giai điệu u buồn

Bát cơm chiều lạnh toát hoàng hôn
Bài thơ hay không mua đầy lon gạo
Còn mong gì rau cháo ?
Để lại đời sau…

Con ngựa già…
                        Lặng lẽ bước đi
Cánh rừng xưa tàn lụi
Giữa cuộc đời …
Toàn thác ghềnh lỡm chỡm gai chông

Thấy tử - sinh mà sám hối
Cõi tạm – cõi người …
Sớm nở tối tàn như kiếp phù dung

Những trang kinh cầu nguyện
Chuỗi đèn nhang nhập nhòe đom đóm
Tôi đứng ngồi thấp thỏm
Hãy vượt lên số phận
Giữa làn roi …

                                   Trương Nguyễn


READ MORE - LẰN ROI SỐ PHẬN - thơ Trương Nguyễn

Saturday, December 21, 2013

CHÙA QUÊ - thơ Trương Nguyễn

            (Kính tặng HT Thiện Tấn)



Ngày tôi đi mái chùa xưa loang lổ
Dấu rêu phong khắc họa nét thời gian
Tiếng chuông ngân buông lơi thềm cũ
Như gọi ai về giữa phai tàn ?

Kể từ khi khói lửa tan hoang
Vùng khói đạn phủ lên đàn con việt
Ngọn núi khúc sông cùng nỗi đau da diết
Nghĩa trang buồn đầy dẫy những hồn ma

Ngày thanh bình hát khúc hoan ca
Cuộc áo cơm đẩy mọi người ly tán
Mỗi thân phận hai ba giai đoạn
Chuyện thăng trầm dâu bể nhục vinh

Bao mảnh đời trắc ẩn điêu linh
Nhiều kỷ niệm  đau nỗi đau ký ức
Ngồi quây quần bên nhau thao thức
Tay cầm tay thân ái dịu dàng

Rồi lớn lên kết cấu bởi nhà lam
Dù cuộc sống vốn chia lìa tan hợp
Dòng sinh mệnh vụt nhanh như tia chớp
Tháng ngày qua như bọt biển phù du 

Hôm nay về quỳ trước sân chùa
Lòng tĩnh lặng muốn thành ngọn cỏ
Để sám hối bao điều lầm lỡ
Nhức nhối tâm hồn quá khứ đau thương

Từ bấy lâu mê mãi dặm trường
Mang quê hương còng lưng lữ khách
Quay mặt đi ngàn lời oán trách
Đàn em thơ bé bỏng hiền hòa

Bóng của thầy bỗng vụt thăng hoa
Xây dựng lại những gì đã vỡ
Công đức mười phương chư thiên tế độ

Pháp nhiệm mầu xanh mãi tận ngày sau.

                        Trương Nguyễn
READ MORE - CHÙA QUÊ - thơ Trương Nguyễn

Sunday, December 15, 2013

CHÙM THƠ TỨ TUYỆT - Trương Nguyễn




DẤU LẶNG

Một tiếng thôi ngàn lần khó nói
Vu vơ mây cuống quýt chân trời
Lòng muối xát rộn ràng mấy nỗi
Ngàn đời sau sông mãi ngăn đôi


ĐỢI

Ta cứ đợi – em cố quên
Cánh hoa rũ nắng dựng lên nỗi buồn
Khát thèm khắc khoải nụ hôn
Bờ môi run rẫy-hoàng hôn tím dần


HUYỄN

Ta ngắm chưa tròn trăng đã khuyết
Dầu hao – đĩa cạn tối dày thêm
Một lần em đến như sương tuyết
Nắng đã lên đâu bóng cuối thềm . 



MONG MANH

Đưa tay ngắt đóa hồng tươi
Giật mình nhìn lại kiếp người mong manh
Giọt sương khuya - đọng trên cành
Sớm mai tỉnh giấc
                       tan thành phù du.


QUAY VỀ

Trăm năm là cuộc đùa chơi
Tử sinh lẫn lộn – khóc cười hòa chung
Tuổi tên để mặc danh xưng
Rủ buông xả hết “Tâm Không” quay về .

Trương Nguyễn


READ MORE - CHÙM THƠ TỨ TUYỆT - Trương Nguyễn

Tuesday, December 10, 2013

NÓI VỚI CỎ HOA - thơ Trương Nguyễn




Cứ như hoa vẫn lặng thầm xanh tốt
Sống làm người vấp ngã đứng lên đi
Ta có thể dẫm bừa lên cỏ
Chẳng nghe than – oán trách điều gì?
Mình tâm sự với nhau thật nhẹ
Rất dịu dàng đằm thắm bao nhiêu
Sao người lại quay lưng che ngấn lệ
Khóc cho ngày tắt ngấm giữa cô liêu
Mai mở mắt nhìn màu hồng buổi sớm
Hoa vui cười nhìn cỏ mượt mà xinh
Sao ta lại băn khoăn điều chưa tới
Để lo toan sợ hãi với chính mình
Hãy vô tư và hồn nhiên như lá
Dù đất trời thay đổi đến bao lâu
Cứ nô đùa lắt lay với gió
Cuối đau thương – giây phút nhiệm mầu
Nơi ấy vầng trăng tròn yên tịnh
Lẳng lặng ngồi thanh thản giữa nhân gian
Không tiếng mõ lời kinh chiều ngân vọng
Mà hương thơm lan tỏa khắp mọi miền .

Trương Nguyễn
READ MORE - NÓI VỚI CỎ HOA - thơ Trương Nguyễn

Thursday, November 21, 2013

DẤU XƯA - thơ Trương Nguyễn





Tay đưa chổi
Quét ngày vời vợi
Ngổn ngang quá khứ phôi phai
Rêu phong in dấu chân người
Tái hiện nỗi buồn xưa cũ

Nỗi buồn òa vỡ
Xót xa cuồn cuộn lòng sông
Tay vụn về thắp lửa
Mây trời tối ám hư không

Hú gọi nhau…!
Thảng thốt rừng
Giữa bạt ngàn chỉ mình cô độc
Ngày qua
                        Giọt chiều còn đọng
Đã trót yêu người

Sương ướt đầu môi
Mặn đắng khát vọng
                        Sâu thẳm và cháy bỏng
Vút lên sắc màu

Gửi nụ hôn gió
Vào nước mắt
Vào dòng sông
Vào thăm thẳm lòng
Câu thơ nói hộ

Trương Nguyễn


READ MORE - DẤU XƯA - thơ Trương Nguyễn

Tuesday, November 19, 2013

TƯƠNG DUYÊN - thơ Trương Nguyễn


Tranh của họa sĩ Lê Sâm


Bài thơ nào dung chứa yêu thương ?
Cho những người cày sâu cuốc bẫm
Hằng tỷ tế bào chảy ra muối mặn
Chiếc áo nâu thâm tím nỗi buồn

Hỡi chị ! Hỡi em lấp loáng trên đường
Tiếng xào xạc quét đêm vời vợi
Xe cút kít réo lên chới với
Vọng âm thanh lạnh lẽo kiếp người

Đám công nhân ngất ngưỡng lưng trời
Kết dính mồ hôi bê tông cốt sắt
Tay quệt vội cơm chan nước mắt
Khuôn mặt gầy gò nắng rám da thơm

Nụ cười ngây thơ váy-áo tinh tươm
Màu đỏ màu xanh lượn qua lòng phố
Cuộc săn đuổi dưới thời công nghệ
Vẹt gót bàn chân hiển lộ gian nan

Mỗi khi bưng bát cơm trắng nồng nàn
Mỗi hạt lúa ẩn ngàn tinh tú
Mỗi hạt lúa tóm thâu vũ trụ
Mặt trời…
            Mặt trăng …
                        Phân rác tương duyên.

                       Trương Nguyễn
READ MORE - TƯƠNG DUYÊN - thơ Trương Nguyễn

Thursday, November 14, 2013

LÒNG TỬ BI VÀ TÍNH BÌNH ĐẲNG CỦA PHẬT GIÁO - Trương Nguyễn




Lòng từ bi của Phật Giáo:
          
Từ bi là sắc thái của giáo lý Phật giáo, phổ biến sâu rộng đến độ quần chúng bình dân Việt Nam qua nhiều thế kỷ đã gọi rất thân mật cửa chùa là “cửa từ bi”.  Bản kinh nhỏ “Kinh từ bi” thuộc kinh tập (Sutta – Nipata) tiểu bộ kinh ghi lời dạy của đức Phật là: “Mong rằng tất cả chúng sanh yếu hay mạnh, cao, vừa hay thấp, lớn hay bé, hữu hình hay vô hình, đã sanh hay sẽ sanh đều được hạnh phúc”.  Để trải nghiệm lòng từ bi chân thực, phải có sự phát huy cảm giác thân mật với người khác, kết hợp với ý thức trách nhiệm đối với lợi lộc của họ. Lòng từ bi chân chính phát triển khi chính chúng ta có ước nguyện đem sự an lạc đến và giải trừ khổ đau cho người khác và nhận thức rằng mọi người đều có quyền theo đuổi mục tiêu này.
            
Lòng từ bi thúc giục chúng ta tiếp xúc với tất cả các loài hữu tình, gồm cả giới được gọi là kẻ thù, những người gây rối và não hại chúng ta, tất cả những gì họ gây ra cho mình, nếu chúng ta nghĩ rằng mọi chúng sinh đều mong muốn mình được an vui và giải thoát, thì nên phát triển lòng từ bi đến phía họ. Ý thức về lòng từ bi thường bị hạn cuộc và thiên vị. Chúng ta chỉ ban rãi tình thương đến gia đình, bạn bè, hoặc chỉ thương yêu những người thương yêu mình mà thôi. Đó không phải là lòng từ bi chân chính, lòng từ bi chân thực là phổ quát cùng khắp mà không hề phân biệt. Nó được đồng hành bởi cảm giác trách nhiệm .
              
Đối với người Phật tử, muốn trưởng dưỡng lòng từ bi, ngoài những lúc công phu thiền quán, phải nỗ lực nghĩ đến tha nhân nhiều hơn, luôn luôn chia sẻ những nỗi khổ đau bất hạnh của kiếp người và cho họ biết rằng cuộc sống vốn khổ đau và mọi sự vật đều vô thường, giúp cho họ biết được nguồn gốc của khổ đau mà đoạn diệt. Như bài dạy đầu tiên mà đức Phật đã thuyết giảng cho 5 anh em Kiều Trần Như trong vườn Nai Lộc Uyển là “Tứ Diệu Đế”.
          
Lòng từ bi là tình thương vượt lên trên tất cả mọi tình thương hẹp hòi của thế gian, không bến bờ, không giới hạn; vượt lên trên mọi sự ràng buộc của ý niệm.
          
Đối với Phật giáo, tất cả chúng sanh đều là bạn hữu và mọi nơi mọi chốn của thế gian đều là thân bằng quyến thuộc. Tình thương ấy tựa như ánh sáng mặt trời bao trùm cả thế gian vậy. Chúng ta đang sống giữa một thời đại mà quyền lực và danh vọng đang khống chế con người, mọi tham vọng của nhân loại đang bùng vỡ đến cùng cực. Chúng ta hãy nhìn lại quá khứ và hiện tại. Những cuộc chiến tranh tương tàn, bi thảm đang hủy hoại dần dần xương thịt của anh em chúng ta, bởi vậy, từ bi là chất liệu cần thiết cho cuộc đời. Chỉ có vận dụng lòng từ bi mới dập tắt được những hận thù đang ngùn ngụt cháy giữa chúng ta. Lời đức Phật dạy: “Hận thù không dập tắt được hận thù, chỉ có tình thương mới dập tắt được hận thù đó là định luật”.
            
Nói như vậy nhưng không cho rằng loài người có bản tính hung hãn, cho dù sự biểu lộ khá phổ biến của tình trạng chống đối và thù hận nhau trên thế giới.

Bản chất con người vốn yêu thương và hòa dịu. Ngay từ thuở mới sinh ra, chúng ta đã cần sự yêu thương và trìu mến. Đây là một sự thật mà không ai có thể cưỡng cãi. Cho đến lúc từ giả cõi đời, không có tình thương thì chúng ta không thể sống còn. Loài người là một sinh vật có tính xã hội cao và mối tương quan lẫn nhau là tính chất cơ bản của đời sống hợp quần. Nếu chúng ta dừng lại suy nghĩ và so sánh vô số hành xử từ ái mà mọi người khắp nơi trên trái đất đang nhắm đến đời sống thiêng liêng cao thượng thì hận thù, đố kỵ, ganh ghét quả là rất ít, vậy lòng từ bi thì bất cứ ở quốc gia nào cũng phát huy được.
           
Tính bình đẳng của đạo Phật:
               
Ở đây chúng tôi không chép lại toàn văn của kinh “ASSA LAY ANA” trung bộ 2 ghi lại cuộc đối thoại giữa vị giáo chủ Bà La Môn với đức Cổ Đàm. Về các giai cấp xã hội và tính bình đẳng.
               
Muốn nói đến tính bình đẳng, điều đầu tiên phải đề cập đến cuộc đời Đức Phật. Ngay trong buổi hoàng hôn- tăm tối của nhân loại, Ngài sinh ra trong một dòng dõi vua chúa của xứ CA TỲ LA VỆ phía nam nước NÊ PAL. Như một tiếng chuông tiên phong xóa tan bóng tối trầm luân- khổ ải của chúng sanh bằng một câu châm ngôn vĩ đại “không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ và dòng nước mắt cùng mặn”.  Sự kiện ra đời của ngài là vô tiền khoáng hậu và lời tuyên bố hùng hồn mở đầu cho một trang sử mới để hình thành một nền tảng của hệ thống giáo lý mà trong đó tính bình đẳng được thể hiện trọn vẹn về cả hai phương diện: Lý thuyết và thực tiễn.
            
Ngài Thái tử Tất Đạt Đa từ bỏ ngôi vị đế vương, đoạn diệt tất cả sự vinh hoa, phú quý, vương quyền- quý tộc, vợ đẹp, con ngoan, khước từ mọi đặc ân cao tột dành cho giai cấp vua chúa, túi không, tâm không với lớp áo hoại sắc một thân, một mình, đi tìm sự giác ngộ để cứu vớt chúng sanh. Cũng chính Đức Phật, một con người đơn sơ, giản dị đã chiến thắng ngoại ma, nội ma, vượt lên trên tất cả để thành đạo. Sự kiện chung quanh ngài đã thể hiện tính bình đẳng tuyệt vời trong suốt 49 năm du thuyết. Ngài đã hóa độ cho biết bao nhiêu chúng sanh, từ hàng cùng đinh mạt hạng cho đến các vương tôn quý tộc bằng câu châm ngôn “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”.
               
Ngài đã soi xét và quán chiếu trong mỗi một chúng sanh dù khác nhau về hình thức, sự hiểu biết, nhưng Phật tánh thì ngang nhau, bởi vậy tính bình đẳng được thể hiện.
               
Đức Phật luôn luôn thương yêu, khuyến giáo mọi người hãy nhận thức được chân giá trị cuộc sống. Tính bình đẳng không những đối với con người, ngay cả các loài vật, tất cả các sinh vật hiện diện trong cuộc đời này đều mang một tâm lý rất chung là tham sống và sợ chết. Vậy sao chúng ta cướp đi mạng sống của kẻ khác ?.
               
Trong bước đường du hóa của Ngài “Ngài từng bế một chú cừu non lạc bầy tìm về với mẹ” và “Ngài cũng đã từng dạy cho một số người cuồng sát, mê tính đã hiến dâng những con thú sống cho các đấng thần linh huyễn hoặc. Cứu vớt những mạng sống khỏi cái chết hỏa thiêu, chôn sống, chỉ vì một niềm tin mù quáng”,
              

Theo Phật giáo mọi sai biệt trên trái đất này đều tùy thuộc vào nhân duyên mà sinh khởi, vậy sự khác nhau về địa vị, hoàn cảnh giàu sang hay nghèo hèn, ngu dốt hay thông minh đều do hành vi tạo tác thành nghiệp lực để rồi mãi mãi quay trong luân hồi sinh tử nhưng quyền sống thì ngang nhau, Phật tính ngang nhau.
READ MORE - LÒNG TỬ BI VÀ TÍNH BÌNH ĐẲNG CỦA PHẬT GIÁO - Trương Nguyễn