Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, July 17, 2011

PHẠM MINH QUỐC - MIỀN CÁT

PHẠM MINH QUỐC

Sinh ngày: 15-10

Quê quán: Triệu Phong- Quảng Trị

Tốt nghiệp: Đại học khoa học Huế, ngành Ngữ văn.

Học viện Báo chí- Tuyên truyền Hà Nội.

Nơi công tác: Tỉnh ủy Quảng Trị.

Tác phẩm

Cầu Giải yếm ( Tập truyện ngắn) - Nhà xuất bản Hà Nội 2008.

Truyện ngắn hay báo Tiền Phong (in chung) - Nhà xuất bản Thanh niên 2007.

Những nẻo đường khó đi (in chung )- Nhà xuất bản Thanh niên 1998.

Giải thưởng

Truyện ngắn Tác phẩm tuổi xanh- Báo Tiền phong 1998.



MIỀN CÁT

Truyện ngắn

(Hạnh phúc như một tấm chăn hẹp...)


Ngôi nhà tranh nhỏ bé như một chiếc nấm mốc thếch nằm chơ vơ, trơ trọi đầu làng Cát. Xung quanh là những động cát lớn, trắng xoá, mênh mông.

Mùa hè, những cơn nắng chang chang hắt xuống, biến các động cát thành một cái chảo rang khổng lồ, hầm hập nóng. Gió Lào cuồng nộ, gào rú điên dại đẩy cát trắng bay tung theo một vũ điệu quái đản. Mùa đông, gió ràn rạt thổi qua những động cát đìu hiu, lạnh lẽo. Hàng dương liễu ủ rũ, phật phờ. Những cây xương rồng khô khốc, tua tủa gai đâm chỉa lên nền trời u ám, xám xịt.

Chị đã sống với Thỉ trong ngôi nhà mốc thếch, bé nhỏ đầu làng cát mười lăm năm. Mười lăm năm dài dằng dẳng, cuộc sống ngưng đọng, đơn điệu và buồn tẻ. Hai người đàn bà đã ngoài ba mươi tuổi, không chồng, không con và có lúc tưởng chừng không có cả những giấc mơ.

Sau những giờ vui vẻ, ngắn ngủi bên học trò, chị và Thỉ lại lần về ngôi nhà nhỏ, bên ánh đèn dầu leo lét chỉ đủ toả một đốm sáng nhỏ nhoi, lạc lõng giữa bốn bề gió cát. Thời gian và nỗi buồn cô đơn xồng xộc kéo đến biến chị và Thỉ thành những người đàn bà cằn cỗi, già nua trước tuổi. Nhiều đêm, một mình đối diện với chiếc gương soi, chị lặng lẽ thở dài. Trong chiếc gương đã ngã màu vàng ố là một khuôn mặt héo quắt như quả trám khô, với đôi má gồ ghề nhô cao lấm tấm tàn nhang, bờ môi nhợt nhạt tím tái và đôi mắt quầng sâu. Càng ngày, người chị càng quắt queo như con cá rô đực. Ngay cả đôi vú thây lẩy thời thiếu nữ, lúc nào cũng rạo rực dưới làn áo phin mỏng giờ cũng đã dúm dó, héo khô...

Những đêm dài hun hút, chị và Thỉ ôm nhau ngủ, căng cứng trong nỗi cô đơn. Trong giấc ngủ chập chờn, chị lại mơ thấy anh- người đàn ông vẫn thường về với chị trong những cơn mộng mị. Từ chiếc thuyền cong cong như vầng trăng lưỡi liềm, anh bước xuống bằng đôi chân trần rắn chắc. Xung quanh anh là những đám mây ngũ sắc mang hình hoa mống rồng, những bông hoa rực rỡ, hiếm hoi khoe sắc giữa các động cát đìu hiu, mênh mông...Chị chạy như bay về phía anh. Anh giang đôi tay lực lưỡng ra đón chị vào lòng. Chị ngây ngất úp mặt vào bờ ngực trần vạm vỡ, đỏ hồng dưới ánh bình minh của anh. Anh vuốt ve chị, đặt lên môi chị những nụ hôn ngây ngất có mùi thơm huyền diệu, thoang thoảng lúc gần, lúc xa. Bổng nhiên, trời trở nên xám xịt. Một cơn lốc khủng khiếp kéo tới đẩy anh ra khỏi chị. Chiếc thuyền cong cong như vầng trăng lưỡi liềm bị xé làm nhiều mảnh, tan tác trước sức mạnh củagió. Chị ú ớ, la hét rồi vùng dậy. Cứ thế, chị ngồi bó gối, đôi mắt chong chong nhìn lên đỉnh màn.

Những lúc đó, Thỉ lại ôm lấy chị, chăm chú nghe chị kể về giấc mơ cổ tích. Câu chuyện không đầu, không cuối chị đã kể đi, kể lại hàng chục lần vẫn khiến Thỉ say mê. Có lần, Thỉ còn bịa thêm các chi tiết buồn cười khác rồi hai chị em đấm lưng nhau thùm thụp, cười khúc khích. Cười chán, lại ôm nhau khóc. Một lần, Thỉ gục đầu vào lưng chị, cất giọng thoang thoảng như vọng về từ một cõi xa xăm: Rồi có ngày, anh ấy sẽ đến...em tin như vậy...

* * *

Người đàn ông trạc bốn mươi lăm tuổi, bận chiếc áo bộ đội bạc màu, gồng lưng đẩy chiếc xe đạp cọc cạch lên triền cát. Nắng hầm hập làm lưng người đàn ông ướt đẫm mồ hôi. Cát nóng bỏng làm đôi chân người đàn ông bỏng rát. Đã quá mệt mỏi, người đàn ông đưa tay lên má quệt mồ hôi, thở dài. Chợt đôi mắt sáng lên khi thấy ngôi nhà nhỏ. Người đàn ông khẽ mĩm cười, xăm xăm bước đến.

Quá ngọ, ngôi nhà yên lặng như tờ. Các cánh cửa bật tung, đánh ầm ầm trước gió. Hít sâu một hơi dài, người đàn ông mạnh dạn bước vào. Đang lớ ngớ, chợt một giọng nữ cao choi chói cất lên làm ông giật mình.

Anh kia, giữa trưa nắng nôi, nhà lại toàn đàn bà, con gái, sao lại xồng xộc vào như vậy?

Người đàn ông sững người, khuôn mặt phừng phừng đỏ, chiếc sẹo dài trên thái dương dần dật. Xin lỗi, tôi là khách qua đường, muốn vào nhà xin bát nước.

Có tiếng cười khúc khích, một người phụ nữ bận chiếc áo màu xanh nõn chuối bước ra khỏi màn. Người phụ nữ đưa tay vuốt mái tóc rối bù, sửa lại chiếc áo hơi trễ ngực, lẳng lặng bước đến chiếc bàn gỗ nhỏ. Chị loay hoay pha nước rồi đưa đến trước mặt người đàn ông.

Bạn em đùa một tí, anh đừng giận. Trời nắng nực thế này, anh đến làng Cát có chuyện gì?

Người đàn ông ngữa cổ uống ừng ực, đoạn đưa tay chỉ vào chiếc xe đạp cọc cạch dựng trước hiên. Tôi đi mua đồng nát. Từ sáng đến giờ vẫn chẳng ăn thua gì, làm ăn càng ngày càng khó.

Sao anh không kiếm việc gì làm cho đỡ vất vả. Chị ở đâu mà để anh khổ sở “ thế lày” ?

Giọng nữ choi chói lúc đầu lại cất lên rồi một khuôn mặt phụ nữ khác ló ra khỏi màn.

Người đàn ông bật cười: Vẫn mồ côi vợ chị ơi. Chiến tranh xong, thương tích đầy mình, nghèo xác nghèo xơ, ai mà thèm lấy...

Nói xong, người đàn ông đứng dậy, đội chiếc mũ bộ đội lên đầu: Cám ơn hai chị, bay giờ tôi phải đi...

Người phụ nữ bận chiếc áo xanh nõn chuối tiễn người đàn ông ra tận cổng, nói với theo: Lúc nào khát nước hay cần việc gì anh cứ ghé vào, nhà tuy nghèo tiền nghèo gạo nhưng không hẹp bụng đâu.

Người đàn ông khẽ gật đầu. Khuôn mặt cương nghị bừng sáng, thân thiện...

* * *

Thi thoảng, người đàn ông mua đồng nát lại ghé đến ngôi nhà nhỏ đầu làng Cát. Những khi đó căn nhà nhỏ rộn tiếng cười đùa. Người đàn ông tên Bài, rất vui tính. Anh có lối nói chuyện dí dỏm, cách chọc hài tưng tửng rất có duyên. Mỗi lúc kể chuyện, Bài như trở thành một con người khác. Khuôn mặt Bài bừng sáng, rạng rỡ. Ánh mắt lấp lánh như có những tia nắng nhỏ đang nhảy nhót, reo vui. Nụ cười rộng mở để lộ hàm răng trắng bóng...

Bài đã từng là một chiến sỹ Trường Sơn, đã từng đặt chân đến Sài Gòn trong chiến dịch mùa xuân 1975 lịch sử. Trước khi vào bộ đội, Bài đã có người yêu tên là Bưởi- một thiếu nữ xinh đẹp nhất làng. Ngày chiến thắng, Bài trở về. Đám cưới của Bài và Bưởi tràn đầy hoa và lời chúc mừng. Pháo nổ vang lừng khắp ngõ xóm. Sau hơn một năm đám cưới diễn ra, Bưởi có thai, sinh cho Bài một cu cậu đẹp như tiên đồng. Bài ngập tràn trong hạnh phúc, trong niềmvui sướng tột đỉnh. Song không ai đọc được chữ ngờ. Chiến tranh lùi xa nhưng những di chứng chiến tranh thì vẫn ở lại. Từng đêm, những vết thương thời chiến lại dai dẳng trổi dậy hành hạ Bài. Một mình Bài vật vã, quằn quại với những cơn đau nhức nhối . Bài cắn chặt răng, đôi môi rướm máu, chỉ lo Bưởi biết rồi lo lắng. Nhưng mọi chuyện không thể dấu được mãi, Bài kiệt sức thực sự. Những trận ốm liên miên, những đợt điều trị hết bệnh viện này đến bệnh viện khác làm kinh tế gia đình Bài suy sụp. Bưởi phải chạy đôn chạy đáo vay mượn tiền thuốc thang nhưng bệnh của Bài vẫn không có hy vọng thuyên giảm. Một đêm cuối đông, Bưởi đã bỏ Bài mà đi, đem theo đứa con trai bé bỏng. Bài đau đớn tưởng chừng không gượng dậy nỗi. Nhưng phàm đã sống trên đời thì phải cần đến cái ăn, cái mặc. Bài phải đứng dậy, phải lần hồi kiếm sống. Trừ những lúc ốm đau, Bài là một người đàn ông lạc quan. Nơi nào Bài đến, nơi ấy có tiếng cười đùa. Thỉ và chị rất mến Bài. Từ một người xa lạ, Bài đã trở thành một người thân. Lâu lâu Bài không đến, chị và Thỉ lại thấy nhớ. Bài như là một tia nắng, mong manh nhưng ấm áp chiếu vào cuộc sống đơn điệu và lạnh lẽo của Thỉ và chị...

* * *

Đã lâu lắm, Bài không trở lại. Chị cảm thấy bồn chồn. Nhiều lúc chị không cắt nghĩa được thứ tình cảm mà chị đang dành cho Bài. Nó chưa phải là tình yêu nhưng lại thiêng liêng hơn tình bạn, tình anh em. Là một người đàn bà kém nhan sắc, không giàu có lại quá lứa, lỡ thì, chị không dám mơ ước cao xa. Song không ít lần chị đã thầm ước, rồi có một ngày chị sẽ có một gia đình riêng, một đứa con trai bụ bẫm, xinh đẹp và một người chồng như Bài...

Thỉ cũng như chị. Thấy Bài đã lâu không đến, Thỉ đứng ngồi không yên, khuôn mặt căng thẳng, đôi mắt buồn tênh. Có hôm, chị bắt gặp Thỉ ngồi hàng tiếng đồng hồ, ánh mắt mông lung dõi nhìn vào những triền cát trắng mênh mang nối nhau bất tận về phía chân trời...

Chủ nhật, chị và Thỉ tranh thủ cuốc đám đất sau nhà trồng rau cải thiện. Sau một ngày lao động, người chị mệt mỏi, rã rời. Vừa ăn cơm xong, chị đã lên giường, ngủ thiếp đi. Quá nửa đêm, chị giật mình tỉnh giấc. Qùơ tay sang bên cạnh, không thấy Thỉ đâu. Chị lẩm bẩm, tung chăn ngồi dậy, bật đèn, chạy ra trước cửa. Ánh mắt chị sáng lên khi nhìn thấy chiếc xe đạp cọc cạch của Bài dựng sát bức tường đất quét vôi trắng nham nhở. Họ đi đâu, làm gì vào giờ này? Tại sao Bài đến mà Thỉ không đánh thức chị dậy? Hay là... giữa Bài với Thỉ...đã có gì với nhau? Những câu hỏi xoáy vào đầu làm chị rối bời, linh tính của người phụ nữ mách bảo làm tim chị co thắt.

Như người mộng du, với quần áo phong phanh, chị vùng chạy ra khỏi nhà, lần theo con đường nhỏ dẫn ra trảng cát. Trời đã về khuya, ánh trăng lành lạnh toả những tia sáng nhờn nhợt, lờ mờ xuống trảng cát mênh mông. Trăng luênh loang lên những tàu lá, trên những bụi xương rồng khô khốc, tua tủa gai. Xa xa tiếng chim lẻ bạn kêu thao thiết, buồn bả. Tiếng gió xào xạc trong các búi lá nghe như có tiếng ai trở mình.

Đang miên man, bất chợt chị sững người. Sau bụi cây lúp xúp, có tiếng người thở hổn hển. Chị căng mắt nhìn. Trước mặt chị, một người đàn ông và một người đàn bà trên người không mảnh vải đang quấn riết nhau trong cơn hoan lạc. Thân thể họ rung lên như từng đợt sóng. Đôi tay người đàn bà xiết chặt vào tấm lưng trần của người đàn ông, đam mê, cuồng nhiệt... Nghe tiếng động, người đàn ông quay mặt lại.... Bài! Tim chị đập thình thịch, cổ họng chị khô khốc, bỏng rát. Chị hét lớn một tiếng rồi vùng chạy điên dại qua những mô cát lô nhô. Mặc cho cát trắng níu chân làm cho chị ngã lên ngã xuống nhiều lần, mặc cho gai xương rồng đâm vào chân đau nhói, mặc cho tiếng kêu hốt hoảng của Bài và Thỉ... chị cứ nhằm vào về phia có ánh đèn dầu le lói mà chạy.

Vừa đến nhà, chị đã chạy vội lên giường lấy chăn trùm kín mặt. Rồi chị khóc, khóc nức nở. Những giọt nước mắt chắt ra từ nỗi đau đớn và thất vọng ê chề tuôn trào lên má, lên môi đắng đót, mặn chát, cứa xát vào lòng chị nhức nhối.

Một bàn tay ấm nóng đặt lên trán chị. Chị co người vùng đậy. Trước mặt chị là Thỉ. Tóc Thỉ rối bù, khuôn mặt nhợt nhạt, đôi môi run run như sắp khóc: Em... em xin lỗi...

Các người yêu nhau, bận gì đến tôi mà xin lỗi. Cút ra ngoài đi cho tôi nhờ...Giọng chị lạnh lẽo , vô cảm.

Bài bước đến bên giường chị lắp bắp: Chị...đừng hiểu lầm...đừng cho Thỉ là cô gái hư đốn. Tôi sẽ cưới Thỉ. Đáng lẽ... tôi và Thỉ phải nói cho chị biết ngay từ đầu, nhưng Thỉ cứ lần lửa, e ngại...

Chị cúi mặt xuống đất, hai tay ôm lấy ngực. Rồi như một người điên, chị nhảy xổ vào Bài. Chị nhảy choi choi, chị xỉa xói, chị la hét, chị thở hào hển...chị kéo sườn sượt những bao tải đồng nát của Bài vứt ra sân tung toé. Mắt chị trợn trừng, nảy lửa, giọng chị lanh lảnh, xoe xoé rồi chùng xuống hằn học, rin rít: Cút đi... nếu như không muốn thấy tôi cắn lưỡi chết ngay bây giờ...

Bài trố mắt nhìn chị, hốt hoảng thu dọn, cột hành lý lên xe, nói thầm với Thỉ vài câu và lẳng lặng ra ngoài. Thỉ khóc như mưa như gió, chạy theo Bài, chới với...

Bên ngoài khung cửa, gió đã thổi mạnh, tiếng gà gáy đầu canh xao xác, xa xa...

* * *

Ngôi nhà vốn lạnh lẽo nay càng lạnh lẽo thêm. Suốt cả tuần, chị và Thỉ không nói với nhau một lời. Đêm đêm, Thỉ quay mặt vào tường khóc rấm rứt. Nhìn đôi vai gầy guộc của Thỉ rung lên trong từng cơn nấc, tim chị đau buốt như có hàng ngàn mũi kim châm vào. Thỉ đã quá bất hạnh, đã chịu khổ nhiều, sao chị lại không thương Thỉ, không mừng cho Thỉ khi Thỉ sắp có một mái ấm gia đình... Sao chị lại hẹp hòi, nhỏ nhen như vậy... Nghĩ đến đó, chị mềm lòng. Nhưng nghĩ đến cảnh rồi một ngày Bài cưới Thỉ, họ sẽ ra ở riêng hay chuyển đến một vùng đất nào đó sinh sống, bỏ chị lại thui thủi một mình, bơ vơ trong căn nhà hoang vắng, chị rùng mình ớn lạnh, gai ốc nổi đầy người. Chị trăn qua trở lại, người hâm hấp nóng. Một ý nghĩ thoáng vụt qua đầu chị, chị vùng dậy ngồi vào bàn viết lia lịa. Lặng lẽ thu xếp hành lý xong, chị quầy quả ra đi, để lại trên bàn lá đơn xin thôi việc và lá thư gởi cho Thỉ...

* * *

Một tháng, hai tháng... Một năm, hai năm...chị không về thăm làng Cát. Chị vào Nam xin dạy học ở một trường mầm non. Theo lời khuyên của bạn bè, chị chủ động xin người đàn ông ở nông trường cà phê cạnh trường một đứa con. Đứa con trai kháu khỉnh, bụ bẫm do chị dứt ruột đẻ ra ngày càng khôn lớn. Cuộc đời chị bắt đầu có những tiếng cười...

Suốt cả tuần, truyền hình liên tiếp trường thuật về những trận lũ quét khủng khiếp xảy ra ở miền Trung, mắt chị như nhoà đi. Làng Cát mà chị từng sống nằm trong tầm xoáy của lũ lụt. Ruột gan chị nóng bừng bừng như có lửa đốt. Thu xếp công việc, chị hối hả bồng con xuống phố, đón xe về làng Cát.

Làng vẫn còn đó, vẫn những trảng cát trắng xoá, mênh mông, miên man nối nhau đến tận chân trời. Gió vẫn gào thét đẩy cát trắng bay tung theo những vũ điệu quái đản. Từng cơn nắng hầm hập vẫn trút xuống đốt trảng cát thành một chảo lửa hừng hực nóng. Chị quầy quả bước trên cát nóng. Đã đến làng Cát, chị rướn mắt nhìn chung quanh nhưng không nhìn thấy ngôi nhà nhỏ thân thuộc. Như bị ma đuổi, chị chạy nhào đến ngôi trường Tiểu học. Bà hiệu trưởng ốm yếu, mong manh ôm chầm lấy chị, nói trong tiếng nấc:

Thỉ đã...đi rồi.... Cơn lũ quét quái ác đã cuốn Thỉ ra đi cùng hai em học sinh của trường...

Chị không còn tin vào tai của mình. Chị đứng sững, nấc lên một tiếng rồi ngã quỵ xuống, ngất lịm. Trong cơn chập chờn nửa tỉnh nửa mê, giấc mơ ngày xưa lại quay về. Chị nhìn thấy chiếc thuyền cong cong như hình trăng lưỡi liềm, bồng bềnh trôi trên những đám mây hình hoa mống rồng. Trên chiếc thuyền, Thỉ đang nép đầu vào anh, vòm ngực trần vạm vỡ của anh đang hồng lên dưới ánh bình minh. Rồi Thỉ và anh dịu dàng nhìn chị, ánh mắt nhìn thật ấm áp bao dung...Bất giác, chị cảm thấy khuôn mặt anh hao hao giống Bài. Cũng đôi mắt long lanh, bừng sáng, cũng nụ cười tinh nghịch sảng khoái, để lộ hàm răng trắng bóng, lấp loá dưới ánh mặt trời chói lọi...

Hồ Xá, 02- 2000

Nguồn: PhongDiep.Net

READ MORE - PHẠM MINH QUỐC - MIỀN CÁT

TUỆ THIỀN Lê Bá Bôn - Chùm LỜI DÂNG



Không có sự liêm khiết trí thức thì không có năng lực tư duy minh triết về những vấn đề trọng đại của cuộc sống, dù có học vị tiến sĩ triết học hay bất cứ gì.

Nếu giàu tri thức, giàu tài năng nhưng yếu kém lương tâm, lương tri thì chỉ là công cụ; chưa có nhân cách; còn nghèo trí tuệ; chưa trưởng thành toàn diện.

Không biết phục thiện thì không thể học được những bài học vĩ đại trong trường đời; dù có bằng cấp cao cũng chi là kẻ ấu trĩ về trí tuệ .

Tham cứu Thiền là tham cứu sự sống và ý nghĩa cuộc sống.

Theo cách nói của nhiều nhà vật lý thì vũ trụ trụ một mạng lưới chằng chịt vật chất và tâm linh tương quan với nhau. Hiểu như vậy, sẽ thấy toàn vũ trụ là một cơ thể bất khả phân.

Theo nhiều nhà khoa học tự nhiên, năng lượng tâm thức là dạng năng lượng cơ bản, có ảnh hưởng tốt hoặc xấu cho toàn vũ trụ (tuỳ tính chất tâm thức) và cho bản thân .

Có đức mà không có tài, không phải là vô dụng, vì vẫn có tác dụng giáo dục lớn lao đối với xã hội (qua lối sống), vì vẫn mang năng lượng tinh thần (thiện ích) ảnh hưởng tốt đến môi trường sống của cộng đồng (có cả giá trị giáo dục). Có tài mà không có đức, không chỉ có hại cho xã hội về hành vi xấu, mà còn mang năng lượng tâm thức độc hại cho môi trường (và cho bản thân mình). (Vấn đề này Phật giáo gọi là tạo nghiệp tốt xấu; nghiệp cũng mang năng lượng; toàn vũ trụ là những dòng chảy năng lượng).

Tâm ý xấu ác không chỉ có hại cho thế giới, mà còn rất hại cho môi trường năng lượng của mình.

Sự xấu ác là biểu hiện của cái “tôi” (bản ngã) đen tối.

Cái “tôi” càng lớn thì tình thương càng nhỏ. Càng chấp thủ cái “tôi, bệnh tinh thần càng nặng; càng ảnh hưởng có hại cho tha nhân, môi trường bằng hành vi, bằng thái độ, bằng năng lượng tâm ý.

Con người cần có sự định tâm tỉnh trí để thấy biết trọn vẹn tâm hồn mình. Không tự tri thì không tự chủ, không có sự liêm khiết và tự do tinh thần, không có Thiền.

Tinh thần càng tự do thì trí tuệ - lương tri càng sáng.

Tâm hồn đen tối tạo ra xã hội đầy tệ nạn. Muốn xây dựng xã hội tốt đẹp, phải có nền giáo dục có khả năng giáo dục tất cả mọi người (không trừ một ai) nhận thức sâu sắc các bệnh tâm hồn, phải làm cuộc cách mạng nội tâm tận đáy cái “tôi”.

Nhà giáo yếu kém nhân cách thì chỉ là công cụ tồi, có hại cho xã hội rất lớn (vì nhiều người ngây thơ tin tưởng vào họ). Tu sĩ yếu kém nhân cách cũng thế.

Một tinh thần thật sự trẻ trung và đầy sinh lực là một tinh thần trong sạch. Tinh thần đó ít lệ thuộc vào thể trạng và hoàn cảnh.

Tâm hồn không thanh bình thì cuộc sống kém chất lượng, hiệu quả công tác không cao, không có kinh nghiệm về niềm an vui tự phát, không thể ngộ nhập Tánh Viên Giác vốn có ở chúng sinh và trùm khắp mười phương.

Từ năng lượng quán tâm (tự tri) xuất sinh tình thương, niềm vui, năng lực sáng tạo có chất lượng cao, xuất sinh nhãn quan minh triết, tác dụng giáo dục.

Tâm thái vô ngã là tâm thái hòa bình, bao dung, minh triết, thông minh.

Tâm trí không tĩnh lặng thì không thể giáp mặt thực - tại - đúng - như - thực, không thể giáp mặt chân lý cuộc sống.

Thượng Đế (hay Chân Thiện Mĩ) không thuộc về phe này hay nhóm kia, không thuộc về hình tướng nào; mà thuộc về những tâm hồn trong sạch, bình đẳng, bác ái, từ bi. Đó là Tánh Viên Giác.

Sự tĩnh tâm tự tri có công năng giữ gìn lương tri, sự tự chủ, sức khoẻ tinh thần, giá trị làm người.

Người biết yêu nét đẹp của tâm hồn là người trưởng thành tâm trí, là người có tinh thần dũng cảm, biết sống với hạnh phúc chân chính.

Càng hướng đến lý tưởng vô ngã thì cái “tôi” càng giàu thiện ích mỹ.

“Vô ngã” là bản ngã (cái “tôi”) chuyển thành trạng thái tâm trí hòa bình, tỉnh sáng, “vô ngôn giữa muôn lời”.

Tâm hồn không tự do thì không có năng lực tư duy độc lập, không cảm thụ được trọn vẹn vẻ đẹp cuộc sống, nghèo nàn tinh thần sáng tạo, kém nhân cách.

Tự tri là, bằng trí tuệ nội quán, nhận biết trọn vẹn mọi cảm giác, tư tưởng, ý muốn, nhận thức phân biệt v. v…đang xảy ra trong tâm trí. Đây là sự nhận biết (kiến chiếu) một cách tự nhiên, không phê phán, không lấy - bỏ (thủ - xả), không dụng công. Có năng lực kiến chiếu này thì tâm trí sẽ tĩnh lặng (tỉnh thức) và thấy rõ bản chất của bản ngã (cái “tôi”). Bản ngã sẽ được chuyển hoá thành trạng thái tâm vô ngã - tức là tâm thái hoà bình, từ bi đích thực, mang năng lượng tích cực có lợi cho toàn “mạng lưới vật chất và tâm linh” của vũ trụ.

Khi ngồi định tâm mà vẫn nhớ nghĩ đủ chuyện (tức nói năng bên trong) thì giống như khi ngồi một mình mà nói đủ điều. Đó là tình trạng bất bình thường của tâm trí, của bộ não và hệ thần kinh.

“Tỉnh thức” là “có mặt” trong giây phút hiện tại với những gì đang xảy ra. “Có mặt” tức là tâm trí không còn vọng tưởng lang thang.

Không ai là không có tâm xấu ác, điều quan trọng là phải nỗ lực cải tạo. Thực hành “tự tri - tỉnh thức - vô ngã” là trách nhiệm của mọi người.

Khi cái “tôi” xâm lấn, bóc lột người khác, nó luôn ẩn núp sau những lời hoa mỹ.

“Vô ngã” là Sự Sống bất sinh bất diệt. “Vô ngã” là chân ngã, là giải thoát.

Không xiển dương sự thanh tẩy tâm thức thì tôn giáo, tín ngưỡng chứa đầy mê tín có hại .

Cái nhìn khách quan không thể đánh giá được nhân cách minh triết; chỉ họ tự biết. Nhân cách minh triết tối cao chính là nhân cách tự - do - tinh - thần. Đó là giá trị cao nhất.

Tâm bất bình thường thì não bất bình thường. Tâm não bất bình thường tác động bất bình thường đến sự vật và ảnh hưởng xấu đến nhận thức của ta, đến cuộc sống của ta (kể cả hoàn cảnh) . Nghề nghiệp, công việc chỉ có tính chất quan trọng (nhiều hay ít), chứ không có tính chất cao quý. Sự cao quý thuộc về nhân cách, lương tâm.

Tư tưởng xuất thế góp phần làm trong sạch sự nhập thế.

Mọi tài năng đều có giá trị về mặt công cụ, đều có thể góp phần làm cho cuộc đời tốt đẹp hơn. Nhưng cái năng lực quý giá nhất làm cho con người giữ vững giá trị làm người, đó là sự tự tri tự chủ. Thiếu cái năng lực này, các tài năng khác có thể biến con người thành ác quỷ, dã thú, kẻ đê tiện.

Vắng mặt năng lực tự tri tự chủ, vắng mặt trí - lương - tri thì trí - công - cụ sẽ trở thành tôi tớ cho trí - chó - sói.

Cái “tôi" càng lớn, càng bền chắc, càng xảo quyệt, càng tự tôn, càng bè phái thì sự liêm khiết trí thức càng suy yếu, tư tưởng và hành vi “người bóc lột người” càng đa dạng .

Tâm Đại thừa là tâm khiêm hạ, hiểu rằng tội lỗi của mình từ vô lượng kiếp đã ảnh hưởng xấu đến tất cả chúng sinh.

Tâm Đại thừa khởi phát từ sự nhận thức sâu sắc rằng, tội lỗi của cá thể ảnh hưởng đến toàn thể, qua thân khẩu ý.

Giá trị làm người thể hiện ở hiệu quả thiện ích , ít tác hại (nhất là ớ mặt “tiềm ẩn” là năng lượng tâm thần) đối với xã hội , đối với vận hành của vũ trụ.

Thấu triệt lý duyên sinh - vô ngã thì tâm dễ tĩnh lặng, não dễ chuyển hóa, dễ ngộ nhập chân lý tuyệt đối.

Tâm giải thoát phiền não mang ý nghĩa hiếu nghĩa lớn nhất, mang ý nghĩa nghĩa vụ và trách nhiệm cao quý nhất, vì đó là hành động thuận đạo lý, thuận hợp đại luật vận hành của vũ trụ.

Khi ta suy nghĩ, ta chỉ tiếp xúc với một vài khía cạnh cuộc sống. Nhưng nếu muốn giáp mặt thực tại toàn diện của cuộc sống thì phải im lặng tâm trí .

Giá trị giác ngộ, giá trị Đại Thừa không nằm ở hành vi, hình tướng bên ngoài, mà ở thực chất của tâm. Nếu thật sự có giác ngộ, có tâm Đại thừa thì dù sống ẩn dật vô danh vẫn có thiện ích lớn cho chúng sinh, cho sự nghiệp giác ngộ chung.

Trái đất đang nóng dần lên; tâm hồn nhân loại đang nóng bỏng. Nhà khoa học nỗ lực vá tầng ô-dôn; thiền gia nỗ lực thiền định để góp phần chuyển hoá tâm trí nhân loại bằng năng lượng tỉnh thức, an lạc, thanh thoát, từ bi . (Nên thấu hiểu rằng, lòng tự hào tôn giáo cũng là cái “tôi” hiếu chiến vô minh ).

Chưa nghiên cứu nghiêm túc về bản ngã (cái “tôi") thì chưa thể có đường lối giáo dục đúng đắn.

Nhà tâm lý học không thể hiểu biết sâu sắc cơ cấu tâm lý nếu không thiền định tự tri. Nhà giáo dục học, nhà chính trị học sẽ không có tầm nhìn minh triết về giáo dục, về chính trị nếu không hiểu biết sâu sắc cơ cấu tâm lý con người. Nhà truyền bá tôn giáo sẽ hạ thấp giá trị tôn giáo nếu thiếu quan tâm vấn đề này.

“Tự tri - tỉnh thức - vô ngã” là đạo lý của vũ trụ, là mẫu số chung của ý nghĩa cuộc sống, là Thiền; mang năng lượng tích cực có lợi cho toàn vũ trụ, cho sự thăng hoa trí tuệ - tâm linh chung của tất cả.

“Tự tri” là quán chiếu tâm thức, là biết rõ tâm trí. “Tỉnh thức” là tâm không vọng tưởng. “Vô ngã” là tâm thái hoà bình, an lạc, yêu thương, thiện ích, tự do tự tại, diệu dụng, bất sinh bất diệt, tịch tri, tịch chiếu.

Truyền bá minh triết Thiền Định Tự Tri là góp phần cải tạo xã hội .

“Tự tri - tỉnh thức - vô ngã” là minh sư vĩ đại nhất của chính mình.

Viên mãn “tự tri - tỉnh thức - vô ngã” rất khó, nhưng chỉ có hướng đến đó mới xây dựng được mẫu số chung cho nhân cách, cho ý nghĩa cuộc sống. Chỉ có hướng đến đó mới tạo nên tiếng nói chung cho hoà bình, công bằng, nhân ái - thật sự biết tôn trọng nhau giữa người với người.

Người biết yêu điều tốt ghét điều xấu là người biết phục thiện; người biết phục thiện thì dễ tiếp thu đạo lý giác ngộ; người biết tiếp thu đạo lý giác ngộ thì dễ thực hành tự tri; người biết thực hành tự tri thì dễ thực chứng chân lý tuyệt đối, siêu vượt khái niệm - tướng trạng.

Một vấn đề lớn của thời đại chúng ta, là làm thế nào để xây dựng vững chắc cảm hứng sống có đạo đức nhân văn ở con người .

Về tôn giáo cũng như về các lĩnh vực khác, rất nhiều người đạt đến đỉnh cao bằng con đường tự học, tự đào tạo, bằng cách sống thông thường. Khát vọng lớn thì thành công lớn.

Có thể có tinh thần tôn giáo mà không theo tôn giáo nào, tín ngưỡng nào.

Một người ngoại đạo có thể sống khế hợp giác ngộ nếu có khát vọng. Ngộ đạo không khó, cái khó là có khát vọng.

Một nguyên thủ quốc gia, một nhà thơ, một bộ trưởng, một sĩ quan, một giáo sư... nếu mang nặng thói tham ô, hối lộ, bè phái thì giá trị làm người không bằng một người ăn xin lương thiện.

Không phải “danh ngôn” nào, “lễ nghĩa” nào, “truyền thống” nào cũng giá trị, cũng đáng theo.

Nền văn học nào, nền giáo dục nào không giúp được con người nhận ra các bệnh tâm hồn, không giúp con người biết cách tự chữa trị có hiệu quả, thì đó là nền văn học, nền giáo dục còn nhiều yếu kém.

Ở giữa vườn hoa, xác chuột chết vẫn thối; ở giữa đầm bùn lầy, đoá sen vẫn thanh khiết.

Có những thứ “vinh quang” dính đầy sự bẩn thỉu. Ai mới thấy hào quang danh lợi đã trọng vọng, đó là người không minh mẫn, không biết chính tà.

Muốn giác ngộ chân lý tuyệt đối, phải biết “đạt lý, quên lời”, không chấp thủ ngôn từ, hình tướng - dù hình tướng thánh nhân.

Thiền định tự tri thì không thuộc riêng tôn giáo nào hay nền văn hoá giáo dục nào; đó là tài sản cực kỳ quý giá của nhân loại muôn đời, của vũ trụ.

Tu viện lớn, lễ lược nhiều không có ý nghĩa bằng chăm lo chu đáo và khoa học cho sự tu tập và đời sống vật chất của tu sĩ.

Thiền là tự tri, là siêu vượt tín ngưỡng, hình tướng, khái niệm…, là sống tỉnh thức toàn diện với trí vô sư, với trí tuệ siêu vượt quy định nhị nguyên (tức là sống với trí bát - nhã).

Tư tưởng “trọng thầy khinh thợ” là tư tưởng của hạng người yếu kém văn hoá (dù có bằng cấp cao, địa vị cao), là tư tưởng của hạng người vong ân bội nghĩa đối với nhân dân lao động, là tư tưởng phản giáo dục (dù đang làm nghề dạy học, lãnh đạo giáo dục).

Thiền chân chính, tôn giáo chân chính không thể không lấy “tự tri - tỉnh thức - vô ngã” làm lý tưởng, làm mục đích. Đó là cốt tuỷ của Thiền học chân truyền, của hành trạng Đại thừa.

Truyền bá minh triết thiền “tự tri - tỉnh thức - vô ngã” là góp phần xây dựng nền văn hoá hoà bình, nền văn hóa tiên tiến.

Tuyên truyền quá nhiều về giá trị của kinh tế, của văn minh vật chất sẽ làm cho giá trị của nhân cách, của đạo đức, của văn minh tinh thần bị coi thường.

Khi đã biết sống với tâm vô ngôn thì tuỳ duyên ứng xử, không bị quy định bởi bất cứ gì; đó là sự tự do tự tại đích thực của tâm trí. Tâm Thiền là Chân -Thiện - Mỹ. Minh triết tối thượng là biết dừng tâm và tịch chiếu.

Nặng óc cục bộ thì không yêu dân, không yêu nhân loại; chỉ yêu cái “tôi”, luôn bao che những xấu ác.

Óc địa vị là biểu hiện của bản năng quyền lực đậm nét thú tính; nó không biết quý trọng giá trị nhân cách.

Muốn chữa cơn bệnh nặng, không thể chỉ uống vài lần thuốc. Muốn rèn luyện cơ thể, không thể chỉ cần một vài buổi tập. Cũng vậy, muốn cải tạo những tính xấu thì phải có chương trình học tập, rèn luyện lâu bền. Đây là điều mà ngành giáo dục cần quan tâm đúng mức khi bàn đến chất lượng giáo dục, hiệu quả giáo dục, đào tạo cán bộ...(Giúp cho mọi người có cảm hứng tự hoàn thiện nhân cách, đó là vấn đề cực kỳ quan trọng của giáo dục, của văn hóa).

Khi sống muốn bao la cùng trời đất thì khi chết sẽ không bị trói buộc vào chốn phiền não.

Khí kẻ ác tấn công ta, ta sử dụng trí tuệ và lòng dũng cảm để đối phó với chúng; làm như thế thì có lợi hơn là sử dụng lòng căm thù.

Vô ngã là tâm thái tịch tri, tịch chiếu, thường tịch quang. Vô ngã là Chân ngã.

Đừng coi thường việc chữa trị các bệnh tinh thần, vì nếu thế, văn minh vật chất và sự hưng thịnh kinh tế chỉ như sức lực dồi dào của một gã khùng hung hãn, sẽ rất nguy hiểm cho nhân loại.

Những người yếu kém văn hoá (có thể có học vị cao, tri thức dày) thường coi khinh dân quê, coi khinh những nghề lao động vất vả, thu nhập thấp. Tâm hồn họ bị xơ hoá, vô cảm, vong ân.

Được lên thiên đường bởi niềm vui: niềm vui mang tính chất nhân từ. Bị xuống địa ngục cũng bởi “niềm vui”: niềm vui mang tính chất gian ác.

Không quan tâm đến sự sống sau khi thể xác chết là quá thờ ơ với tương lai.

Trong ta có “tấm gương” “nghe và thấy” được tư tưởng, cảm giác, ý muốn... Tĩnh tâm một thời gian thì tấm gương này sẽ lộ rõ. Nó càng sáng, ta càng dễ thấy cái “tôi” và cái “tôi” dễ dàng được chuyển hoá thành “vô ngã”.

Tôn giáo có ý nghĩa lớn về đạo đức, về cảm hứng, nhu cầu cải tạo tâm tính, nếu tôn giáo giàu từ bi bác ái .

Gọi là “Thiền” hay từ nào khác cũng được, điều quan trọng là cái nội hàm “tự tri - tỉnh thức - vô ngã”.

Thiền học không nên chỉ dạy hạn chế ở một vài ngành đại học, mà nên phổ cập ở mọi cấp học để có nền tảng vững chắc trong giáo dục - đào tạo nhân cách.

Cái “tôi” làm cho tâm hồn nặng trĩu vì uy lực, còng xuống vì nô lệ, đen tối vì tự ti tự phụ, tự ái…

Thiền định tự tri càng cao thì càng minh mẫn hơn, chủ động hơn với cuộc sống, với công việc; năng lượng phiền não được chuyển hoá thành năng lượng an lạc, thiện ích .

Niệm (nhớ - nghĩ) luôn xuất hiện trong tâm. Chúng 1à ngôn từ (tiếng nói bên trong) và có hình tướng (sóng tâm thức). Trong thiền định (tự tri), ai thấy rõ niệm sinh diệt liên tục, thấy rõ chỗ niệm xuất hiện và chấm dứt (tức là khoảng trống giữa hai niệm) thì sẽ nhận ra (ngộ) tâm vô niệm, “vô ngôn”. Đó là tâm thể “một niệm vô ngôn" như vầng trăng toả sáng. (“Niệm” trong “niệm vô ngôn" có huyền nghĩa khác hẳn với “niệm” trong “vọng niệm”. Phải ngộ mới thấy, mới biết). Vô ngôn đó khi đã “an định”, sẽ soi sáng muôn lời (tức là soi sáng trí phân biệt tương đối), sẽ là tri giác tự do tự tại, thoát tình trạng vọng động vô minh. Đó là “tánh sáng” bất sinh bất diệt.

Phải biết “ghét” bệnh phong, nhưng đừng ghét người mang bệnh phong; cũng vậy, phải biết ghét thói xấu nhưng đừng ghét người đang có thói xấu. Sự xấu ác là bệnh tinh thần .

Nếu chưa quán tâm (tự tri) để thấy rõ tướng trạng như huyễn của bán ngã thì chưa biết “đọc kinh bằng tâm”, chưa biết đọc công án Thiền.

Nhiệm vụ quan trọng nhất của văn nghệ sĩ là giúp người khác biết sống với hạnh phúc trong sáng - thứ hạnh phúc mà người văn nghệ sĩ chân chính phải có, nhà văn hoá chân chính phải có, con người biết tự tin - tự trọng phải có.

Thỉnh thoảng có được một vài phút sống với tâm vô ngôn cũng có công đức và phước đức rất lớn.

Giới hạnh là vấn đề khoa học, vấn đề nhân quả. Chí hướng giác ngộ biết tôn trọng nhân quả, nhưng muốn siêu vượt nhân quả, luân hồi.

Thấy - biết khác với hiểu. Nếu thấy - biết của tâm chưa khế hợp với Bát Nhã Tâm Kinh thì chưa có Trí Bát Nhã.

Một trong những phương cách giúp duy trì cảm hứng sống thiền là tọa thiền mỗi ngày. Không nên bỏ trắng ngày nào cả (vì lý do gì đó cũng nên duy trì vài phút).

Tâm vô ngôn là sự tỉnh thức toàn diện của sự sống.

Khoác lác, tự đại, tự ti, khiêm tốn đều không có lợi cho Đạo .

Muốn đi sâu vào kinh sách về Thiền, phải có năng lực đọc - hiểu và đọc - thấy. Thiền định tự tri làm xuất sinh năng lực đọc - thấy. Đó là cái thấy nội tại.

Khi tâm hồn không có lý tưởng thánh thiện và minh triết thì con người rất dễ bị cái xấu lôi cuốn, rất dễ bị tha hóa biến chất.

Muốn có hiệu qủa cao trong việc chống hối lộ - tham ô - bè phái, một đại nạn của thế giới, thì tôn giáo phải vào cuộc với giới luật rõ ràng về vấn đề này.

Chưa thật thấy chúng sinh là ân nhân của mình thì chưa có phẩm chất Bồ tát, chưa tỉnh thức.

Thể xác thì tất nhiên có sở trụ, nhưng tinh thần thì cần “hướng đến” vô sở trụ .

Làm cho con người biết yêu quý nét đẹp tâm hồn mình, đó là nhiệm vụ cao cả của văn hoá, của giáo dục, của tôn giáo.

Thiền định tự tri là sống tận nền tảng, tận cội nguồn sự sống.

Có duyên lành với nền văn hoá giác ngộ là có diễm phúc cực kỳ lớn lao.

Không tôn trọng phương tiện thăng hoa tâm linh của người khác thì chưa có tâm thái hòa bình, tỉnh thức .

Nếu đã thật sự phát khởi tâm nguyện lớn (tâm Đại thừa) thì dù chưa triệt ngộ, vẫn có thể tuỳ duyên sử dụng nghịch hạnh.

Khi triết lý giáo dục chưa minh triết thì tất yếu dẫn đến suy yếu đạo đức nghề nghiệp ở người lao động, suy yếu lương tri ở người cán bộ.

Càng tôn vinh quá độ các gíá trị bản năng và công cụ (nhất là công cụ trí óc) thì thế giới càng đảo điên, khốn đốn .

Người có tâm Đại thừa thì vui mừng vì nhiều người biết hướng thượng, chứ không cố chấp “hơn thua" về khái niệm, về từ ngữ.

Giáo dục “toạ thiền - quán hơi thở - tự tri” là biện pháp tối ưu để nâng cao hiệu quả giáo dục, thăng hoa tâm trí, cải thiện thế giới.

Thiền là sống tỉnh thức, thực tế và minh triết.

“Vô niệm” để chấm dứt trí nhớ tâm lý - thứ trí nhớ lấy cái “tôi”, cái chấp ngã làm trọng tâm.

Niềm tin nếu đi đôi với sự chấp ngã nặng nề thì nuôi dường lòng kiêu ngạo sân si.

Không biết tu tâm thì không thể phát triển nhân cách. Sự tu tâm chân chính là việc làm quan trọng, có ý nghĩa lớn đối với xã hội, vũ trụ.

Không tự tri, tức quán tâm, thì không thể thấy huyễn tướng cái “tôi”, tức bản ngã.

Sự giác ngộ đích thực thì đi đôi với lòng từ bi, bao dung.

Khi dục vọng vô mình và sự chấp ngã ngự trị thì không có tự do tinh thần.

Vô minh là trạng thái tâm trí trụ vào kiến chấp nhị nguyên (nhị tướng).

Tự tri là hồi quang phản chiếu, là nội quán .


Trích từ Đường về minh triết; Tuệ Thiền; NXB Văn Nghệ, 2007.

Nguồn: Đạo Phật Ngày Nay (daophatngaynay.com)


Tranh từ trang My.Opera của Phương Thảo

READ MORE - TUỆ THIỀN Lê Bá Bôn - Chùm LỜI DÂNG