Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, September 2, 2013

NGƯỜI XA NGƯỜI - chùm thơ Lê Hoài Phương






NGƯỜI XA NGƯỜI ! 



Từ anh đi nghe lòng rưng rưng nhớ 

Hạt mưa rơi dần nặng tiếng cô đơn 

Lắng nghe tim thoáng giận thoáng hờn 

Không trách người chỉ trách vì số phận 



Trót kiếp sầu thôi đành lòng phải dặn 

Nước mẳt đừng làm thấm mặn môi son 

Chạnh lòng chi để thấy những héo hon

Vì đau khổ là tim còn rạn vỡ !



Biệt ly rồi người về vùi thương nhớ 

Để lại nơi này nửa trái tim côi 

Vội vàng đi chưa nhắn được một lời : 

Về nơi ấy xin lòng BÌNH YÊN nhé !!! 



Berlin 31-08-2013 

LHP






CÓ BAO GIỜ ???



Có bao giờ anh chợt tỉnh cơn mơ

Lòng ngơ ngẩn quyện hoà tiếc nuối ,

Có bao giờ hương thầm làm đắm đuối 

Khoảng lòng riêng tim đập nhịp xôn xao ?



Và có khi nào ....

Anh thẫn thờ nhìn mây trôi về miền xa khuất 

Lòng lên tiếng ... Một lời thôi rất thật : 

Có phải mình đã phụ một tình yêu ?! 



Berlin 30-08-2013 

LHP 







NÀY THU !!!



Khi trời thu rụng rơi đầy xác lá 

Nắng mong manh ảo ảnh những đường tơ 

Với niềm riêng trỗi dậy ... Nhớ vô bờ ...

Bao khoảnh khắc chen về dòng kỷ niệm 



Hè trôi qua chứa chan niềm thương mến 

Thu chớm sang nghe đã xác xơ nhiều 

Để bâng khuâng chiều nhớ những chiều 

Góp nhặt lại mảnh linh hồn vụn vỡ .



Một ngày qua là chất chồng nỗi nhớ 

Mộng ngày xanh sao đã vội tàn rồi 

Chuyện như thơ nhưng chỉ dờ dang thôi 

Vì phận số ! Vì lòng người đen bạc ?! 



Có biết không anh ? 

Một mùa thu lác đác 

Anh đã yêu rồi và ....

Anh đã phụ người yêu !!! 



Berlin 30-08-2013

Lê Hoài Phương 


READ MORE - NGƯỜI XA NGƯỜI - chùm thơ Lê Hoài Phương

Thơ Trương Điện Hòa - PHƯỚC QUANG NGÀY VỀ

Trương Điện Hòa




Tặng Vân



Phước Quang ơi!

Phố ngày xưa

Cuối cùng mình cũng tiễn đưa nhau về

Lỡ làng duyên nợ phu thê

Trăm năm còn biết MƠ về bên nhau

 

Phước Quang ơi!

Phố ngày nay

Tình yêu đã cạn – men cay vẫn nồng

Thì thôi em hãy sang sông

Và em tay bế tay bồng duyên ai?



Phước Quang ơi!

Phố ngày mai

Tìm đâu bóng dáng trang đài năm xưa

Tôi về đứng dưới cơn mưa

Nghe tim sám hối

                cho vừa lòng em.



TRƯƠNG ĐIỆN HÒA
READ MORE - Thơ Trương Điện Hòa - PHƯỚC QUANG NGÀY VỀ

NGHỆ NHÂN - truyện ngắn Ngọc Châu

Ngọc Châu


                                                                                               


          Thế là cuối cùng mình cũng đã xuất ngoại, ông cay đắng khi rời máy bay. Đã chết tất cả những ham mê, hoài bão cùng ước mong đi đây đi đó ra ngoài biên giới. Làm người ai chẳng có thứ đó, chúng cũng đã nhen nhúm ở trong ông bao năm. Lúc này lại thấy cay đắng.

          Chẳng phải vì chuyến xuất ngoại muộn mằn khi đã đến tuổi "tri thiên mệnh". Nhưng đây là chuyến du lịch bất đắc dĩ. Nếu bà vợ trẻ kém chồng hơn một giáp không dẫn ông đến phòng cấp hộ chiếu, bắt ngồi chờ để làm mọi thủ tục cần thiết cho chiếc giấy thông hành ra nuớc ngoài, không liên hệ với Du lịch "Rét tua, ấm tua" gì đấy rồi lại nhờ một con bé hướng dẫn viên dẻo mồm đốc thúc, hướng dẫn, nhắc nhở  thì chưa chắc giờ đây ông đã chui ra khỏi máy bay ở sân bay thủ đô của nuớc láng giềng phuơng Bắc như thế này.

          Lờ mờ biết về ý đồ của bà vợ trẻ khi cố bắt mình tham gia chuyến du lịch này cùng với vợ chồng một cô bạn của bà ta. Người ta đang muốn làm điều gì đó. Ông thoáng nghĩ đến chuyện bồ bịch của nguời đàn bà chớm tuổi hồi xuân trong khi mình không còn hăng hái trong chuyện "sửa soạn yên cương" và thường phải "hạ mã" khi chưa đến đích. Chuyện như thế làm người đàn ông  nghẹn trong tim. Càng đau đớn hơn khi ngày xưa họ đã đến với nhau bằng tình yêu, đã cùng nếm trải bao nhiêu cay đắng, cả những ngọt bùi tuy thật hiếm hoi.

          Ngày ấy cô học sinh thành phố nhí nhảnh về sơ tán ở cái làng Bảo Hà hẻo lánh giữa miền quê Vĩnh Bảo, chỉ có ốc đàn với bèo hoa dâu. Cô  thích ngồi xem chú "đục gỗ khéo tay" làm những ông phỗng, những con rối nuớc, rối cạn và nghe "ông chú" kể về những cụ tổ xa xưa của làng nghề, đôi lúc minh họa bằng những câu thơ nửa cổ nửa kim chỉ hiểu lơ mơ nhưng lạ lẫm và thích thú.

          Đặt bức tượng Di lặc vừa điểm xong đôi nhãn xuống nền nhà ngổn ngang gỗ vụn, anh nghệ nhân tài hoa đã đến tuổi " nhi lập" của làng nghề cổ truyền đọc như trêu cô bé đang tròn mắt ngắm nghía tác phẩm của mình

          Sinh ư nghệ tử ư nghệ

          Thánh nhân dạy người ta thế

          Dạy kiếp người quen với đói nghèo

          Dạy cách cười cả lúc treo niêu..

          Cô  bé lém lỉnh cuời hồn nhiên

            - Chú ơi, niêu nhà chú mà không treo thì con mèo muớp nó chén hết con cá sộp chú mới câu đuợc sáng nay. Mà nó không ăn vụng thì cháu cũng gắp trộm. Chú cứ đợi đấy mà xem!

          Niêu treo mặc kệ niêu treo

          Cháu cao hơn con mèo

          Cháu gắp  khúc giữa cơ..

          Tiếng cười trong trẻo chạy theo chân cô học sinh sơ tán mới mười lăm tuổi làm "ông chú" nổi tiếng dí dỏm, khéo tay đâm ra đỏ mặt.

          Bốn năm sau, vào lúc người ta không có nghề để làm, không có gì để ăn cho đúng kiểu một con người thì cô bé năm xưa lại xuất hiện. Đã là một thiếu nữ. Xinh xắn và nghịch ngợm.

          - Chú ơi, niêu nhà chú hồi này thế nào, có gì để phải treo lên không?

          Chưa kịp trả lời thì cô đã ngồi thụp xuống, nhấc chú Tễu lăn lóc giữa vụn gỗ lên ngắm nghía rồi lại nói như  máy

          - Chú ạ, cháu làm hợp đồng thời vụ cho công ty Xuất khẩu Mỹ nghệ. Mà chẳng có gì  mỹ nghệ lắm đâu. Mấy cái lẵng mây mốc meo. Con bằng than đá chỉ nhỡ tay một tí là tử - một tràng cười ròn tan. Cháu đã phải đền tiền một con do lau chùi mạnh tay đấy.

          - Còn chú dạo này - cô chuyển tia nhìn từ chú Tễu lên mặt "chú đục gỗ khéo tay"- trông còn tơn tớn hơn chú Tễu. Mà sao lại gọi là chú nhỉ, là anh Tễu hay cậu Tễu có hay hơn không?!

          Chả hiểu câu nói vô tình hay hữu ý, chỉ biết "ông chú" vẫn mồm mép ở đâu đâu tự dưng chỉ biết cuời gượng gạo và đỏ mặt truớc cô nàng nho nhỏ, chân nhảy như thỏ, cười như ngô nổ, chú Tễu  cũng đánh  đổ..

          Sau này, khi đã thành vợ thành chồng, cùng chung sức trong hợp tác xã thủ công mỹ nghệ ông thường trêu cô vợ trẻ như vậy. Lần ấy ông chỉ tò mò ngồi nghe cô trình bày về phương án dựng Hợp tác xã Điêu khắc- Sơn mài. " Anh Tễu" sẽ tìm mời  các nghệ nhân của làng, xã và tổ chức sản xuất đồ điêu khắc bằng chất liệu gỗ mít với lớp phủ sơn mài nổi tiếng tuyệt văn diệu truyền đời đã mấy trăm năm từ cụ cao tằng tổ tỷ Nguyễn Công Huệ. "Cô Thỏ" sẽ chạy đi chạy lại làm con thoi với đầu ra là Công ty Xuất khẩu Thủ công Mỹ nghệ.

          Bao nhiêu nhiệt tình, bao nhiêu nỗ lực đã bỏ ra vào ngày đó. Suối tình của đôi vợ chồng tưởng như không bao giờ cạn nhưng không thể nào tràn bờ vì ngoài đôi bờ nhỏ nhoi của họ là cả một sa mạc mênh mông của thói quan liêu bao cấp, bảo thủ và trì trệ. Một thời chỉ thấy những anh khố son bòn anh khố nâu và "thành phần cơ bản", trước kia từng là động lực của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, được dung dưỡng mãi tác phong ăn thì có, mó thì không.

          Ông đã uất ức với nghề cổ truyền của tổ tiên khi nó không cứu đuợc đứa con gái đầu lòng yêu quý. Con bé giống mẹ nên ông coi nó như báu vật. Thế mà nó chết. Chẳng phải vì bệnh gì quá hiểm nghèo, chỉ không có tiền thuê phương tiện để kịp thời đưa ra bệnh viện ngoài thành phố, sau khi đã phải chờ hai ngày vì người có quyền ký giấy giới thiệu  đi vắng.

          Ông đã định nghe lời cô Thỏ nhập vào dòng chảy của những người di tản khốn khổ vào thời kỳ đó.  Khá đông bạn bè và người quen của hai vợ chồng ông  đã liều mình như chẳng có. Để đổi lấy một tương lai cũng không biết ra sao. Đủ mọi loại người. Từ khố rách áo ôm  đến những bàn tay, khối óc không phải nặn ra bằng đất thó.Ông đã giữ cô ấy ở lại chỉ vì  nhớ tới chuyện cụ tổ của làng nghề đã từng khốn khổ khi làm lao công ở xứ người. Chính tại mảnh đất ông đang buớc xuống lúc này.

          Hai vợ chồng bỏ quê, dắt díu nhau vào miền đất đỏ Tây Nguyên. Những ngày chờ đợi xin phép khai hoang ông lang thang thăm thú các buôn làng người Jơrai. Đứng hàng giờ ngắm nghía những cột kưt, cột klao ở nóc và bốn xung quanh những ngôi nhà mồ. Người Jơrai chỉ dùng rìu và dao đẽo gọt các pho tuợng từ thân và gốc cây nhưng không thiếu một hình thể gì. Họ không quan tâm đến kích thước, tỷ lệ và hình khối nhưng tuợng nhà mồ rất thực và sống động. Thi thoảng có những cột tượng làm ông phải thán phục vì tính uớc lệ và cuờng điệu hết sức bay bổng của người dân miền đất bazan.

          Chợt sững người truớc một cột tượng đẽo gọt thô sơ nhưng sao giống đứa con gái đã mất của mình đến thế. Người nghệ nhân bàng hoàng bước vào bên trong. Đây là ngôi nhà mồ của một cô bé chết lúc sáu tuổi, đúng bằng tuổi của con gái ông khi nó mất vì bệnh sởi. Người ta vừa làm lễ bỏ mả cho con bé sau hai năm hung táng. Lúc đó ông chưa hiểu gì về tục lệ ma chay của người Jơrai nhưng sau biết rằng lễ bỏ mả là nghi lễ cuối cùng tiễn đưa một linh hồn về với thế giới vĩnh hằng, thường tiến hành long trọng sau khi chôn từ một đến mười năm tuỳ gia cảnh. Sau lễ đó nguời nhà không phải cúng và thăm nom mộ thường xuyên như truớc nữa.

          Chiều hôm đó ông kiếm đuợc một cây mít khô trong rừng. Đẽo gọt  đuợc một khúc phôi mượt mà. Gỗ mít là thứ gỗ rất thích hợp với việc tạc tuợng. Độ mềm và dai đều vừa đủ. Thớ không thô và không dễ bong tách như một số loại gỗ khác, dù  quý và đắt hơn. Chúng cũng có thể tạc tượng nhưng lưỡi dao của nghệ nhân sẽ không thể tự do bay bổng như khi tạo hồn cho bức tuợng bằng gỗ mít. Ông giấu vợ, hí húi với mấy lưỡi dao điêu khắc rèn mài đặc biệt từ một gọng ô cổ, sắc và dai không kém  các thanh kiếm Can Tuơng, Mạc Tà thời Xuân Thu- Chiến Quốc trong dã sử Tàu.

          Cho bà ấy biết làm gì. Chính ông cũng đã mấy lần rỏ nước mắt khi tạo lại dáng hình của đứa con đã mất. Đàn bà  yếu lòng hơn đàn ông. Mà bà ấy còn bao việc đang phải lo lắng, chạy vạy. Ôm bức tuợng con gái đến đặt vào ngôi nhà mồ của cô bé Jơrai, ông cầu chúc cho cả hai đứa được siêu sinh tịnh độ mà lòng nhói đau vì những người sinh thành ra chúng đã bó tay, không làm được những gì lũ trẻ kia mong đợi. Để chúng phải chết khi chưa thành niên. Vì bất lực, bó tay truớc những bất công của cuộc đời.

          Có lẽ nỗi đau của người tạc tượng đã động đến oanh linh của núi rừng nên miền đất của nền văn hoá cồng chiêng đã không nỡ hắt hủi con người  tài hoa. Dù sau đấy ông ta bỏ nghề, chỉ lúc nào vợ đi công chuyện mới tranh thủ tạc vài bức tuợng, gửi cả trong khu nhà mồ của buôn làng người Jơrai..

           Phải nhận rằng mọi thành công đều có  nỗ lực của bà ấy- vị khách du bất đắc dĩ thầm nghĩ- Ông  cai quản ở nhà là chính. Việc tiêu thụ, giao dịch sản phẩm do đôi chân và cái mồm khéo léo của cô Thỏ ngày xưa. Giờ đây hai vợ chồng đã có mấy chục hecta cà phê, tiêu và một đàn bò đứng kín bãi trước nhà. Có điều quy luật bù trừ hình như luôn luôn hiện diện. Ông vẫn tự hỏi liệu có doanh nhân tài ba nào lách đuợc luật tạo hoá để tài sản tăng lên mà các giá trị tinh thần của gia đình và hôn nhân không bị giảm đi.

           Từ ngày dư dật đồng tiền,  làm ra những thứ không chỉ để ăn như ngày xưa, đã xuất hiện nhiều nguời khách. Bạn làm ăn. Sếp nọ, sếp kia. Các điểm hội tụ. Thời trang doanh nhân. Rồi những hôm vắng nhà, những chuyến đi công chuyện. Nụ cuời ỡm ờ giả lả của chủ, của khách. Ghen tuông đã thoáng hiện trong lòng ông.

          Sau chuyến đi tìm hiểu thị truờng Hoa Bắc phải đến vài tuần, bà ta trở về thúc ông đi du lịch phuơng Bắc. Bất đáo Truờng Thành phi hảo hán, bà ấy nói thế nhưng mình thì hảo hán nỗi gì, từ ngày bỏ nghề tạc tượng ông gần như thành cái bóng. Đã không hứng khởi từ  đầu chuyến đi, càng thêm bực khi gặp thời tiết xấu.

          Người ta nói thăm Bắc Kinh tốt nhất là vào tháng tư, tháng năm, lúc ấy đang là cuối xuân Trung Hoa. Ông đi chuyến này vào lúc thời tiết thất thường nhất -nóng thì nóng quá, mưa thì mưa quá trời. Chuyến bay khứ hồi phải hoãn vì thời tiết xấu, mọi nguời đều bực bội, riêng con bé hướng dẫn viên dẻo mồm- hệt cô Thỏ ngày xưa như ông thầm nhận xét- vẫn tươi tắn như không. Cô bé tranh thủ ngày mưa đưa ba người khách gồm ông và vợ chồng cô bạn đi thăm xưởng chế tác Cảnh Thái Lam.    Dần dà ông bị cuốn hút vào câu chuyện của nguời hướng dẫn. Thật kỳ lạ. Những bình, lọ và đồ trang trí đủ màu sắc kia không phải bằng sứ hay ngọc thạch như  người ta tuởng. Chúng làm bằng đồng và được phủ men đặc biệt ở bên ngoài. Té ra vào thời nhà Lê, khi tổ sư Nguyễn Công Huệ đã đuợc trả về quê hương sau nhiều năm bị bắt sang tạc tượng và chế đồ nội thất cho triều đình nhà Minh thì vua Minh Cảnh Thái đã tập trung tất cả nghệ nhân tài danh của Trung Hoa để tìm cách làm ra chiếc bình sứ đặc biệt. Phải có màu sắc đẹp và thanh nhã như đồ gốm sứ nhưng không bị vỡ khi đánh rơi. Đó là yêu cầu của vị Thiên Tử này đưa ra sau khi ngài lỡ tay làm rơi vỡ chiếc bình ngọc Lam thạch kỷ vật của nguời tình!

          Ông ta mới là Con Trời thôi mà đã có yêu cầu ghê gớm như thế, thảo nào giới doanh nhân như vợ ông không phải tìm cách chiều các Thượng Đế đích thực của ngày nay! -Nghệ nhân của làng Bảo Hà suy nghĩ một cách hài hước-  Và từ ngày xưa nguời Trung Hoa đã thoả mãn đuợc Con Trời, đến bây giờ vẫn là bí quyết độc quyền của đất nước họ với thương hiệu nổi tiếng toàn cầu Lam Cảnh Thái. Nhiều công đoạn cũng  phải làm bằng tay như nghề tạc tuợng sơn mài của làng ông.

          Ông để ý xem nguời thợ đang quấn và gắn keo những sợi dây đồng nhỏ, có tiết diện khác nhau xung quanh cốt đồng mỏng của một bình hoa to để tạo thành hoa văn theo mẫu hàng hoá tại phân xưởng giới thiệu công nghệ. Sau đấy người ta sẽ phủ lớp men đặc biệt rồi đem nung.

          Mấu chốt công nghệ của họ nằm ở keo dán và lớp men cơ, ông nghĩ. Việc gia công kia không cần bàn tay thợ giỏi như nghề tạc tuợng. Và bí quyết của điêu khắc Vĩnh Lại - Bảo Hà quê ông cũng nằm ở phần chế tạo sơn mài..

          Thấy ông chuyên tâm xem xét  chồng cô bạn nháy vợ,  trao đổi với hướng dẫn viên rồi kéo nhau ra ngoài, có thể họ đói rồi nhưng cô hướng dẫn vẫn đứng cạnh ông. Cô này khá quen với người thợ Tàu, chắc đã nhiều lần cô ta dẫn đoàn du lịch vào tham quan và mua hàng ở đây. Thấy ông xem chăm chú, cô  nói chuyện với bác thợ rồi mời nhau cùng ăn trưa vì đã đến giờ nghỉ. Hoá ra ông ta là cổ đông chính đồng thời là Chủ tịch Hội đồng Quản trị của hãng, tên là Kỳ Hưu (hay Kỳ Hươu gì đấy). Rất vui tính. Tiếc rằng cô Thỏ không thể phiên dịch nhanh và thoát hết từ  ý của cả hai bên. Ông cho biết thỉnh thoảng nhớ nghề lại xuống phân xưởng giới thiệu công nghệ này làm một lúc, cũng là cơ hội để giao tiếp với khách hàng.

          "Trời đất, bọn Tàu này có nhiễu thứ  người mình phải học lắm.." Khách chưa hết ngạc nhiên đã phải trả lời những câu hỏi vồn vã của chủ khi biết ông là nghệ nhân điêu khắc gỗ qua lời giới thiệu của cô hướng dẫn viên du lịch. Từ nhà ăn nhân viên ông ta xin phép chạy về ít phút rồi mang ra một bức tuợng La Hán cao cỡ bốn mươi phân. Tuợng La Hán ngồi này có một chân trái giơ lên trông thiếu tự nhiên nhưng nghệ nhân làng Bảo Hà lập tức nhận ra dấu ấn của tác giả. Chắc chắn nó xuất xứ từ Việt Nam. Là tác phẩm của một vị cao tằng tổ của dòng họ ông. Nhưng sao người ta lại có đuợc nó?

          Khách cầm bức tượng, chăm chú xem xét. Đã hiểu rõ phần nào xuất xứ nhưng vẫn lặng yên chờ lời giới thiệu của chủ.

          - Cái này, cái này...(cô huớng dẫn viên bắt đầu dịch cho ông nghe) đã có ở nhà tôi nhiều đời lắm rồi.  Phả hệ ghi lại rằng sau khi vua Lê bên nuớc các ông, tên huý ngài là Lê Lọi hay Lê Lội tôi không rõ lắm, cử đoàn sứ thần sang xin hoà hiếu với vua Anh Tông nhà Minh thì có nhiều tù binh và lao công đuợc trả về quê cũ. Huệ Công là thợ điêu khắc gỗ giỏi người An Nam cũng đuợc trả về. Khi ở bên này ông ấy có quen với cụ tằng tổ tỷ nhà chúng tôi nên về sau học trò của Huệ Công là Vượng Công có gửi sang tặng gia tộc chúng tôi bức tuợng này..

          - Vâng, tôi cũng đã ngờ ngợ khi thấy hình đầu con voi rất nhỏ khắc ở gáy bức tuợng, người không lưu ý thì không nhận ra - Khách gật gù - Chắc chắn là do bàn tay của Kỳ Tài hầu Tô Phú Vượng. Đúng ngài là học trò của tổ sư Nguyễn Công Huệ tức Huệ Công như ông vừa nói.

          - Hảo a, hảo a! - Cả chủ nhân và cô hướng dẫn cùng bật ra nhưng cô bé vội che mồm cuời, nghe rồi dịch tiếp - Tốt quá. Vậy là có duyên kỳ ngộ à - Chủ vẫy cô nhân viên nhà ăn đưa ra chai Mao-đài cùng mấy chiếc ly, tự tay mở rót và chạm cốc khách. Chẳng hiểu Nữ-nhi-hồng với Trạng-nguyên-hồng ngày xưa ra sao nhưng thứ Mao-đài này thật sự làm người ta kinh ngạc. Phong vị khác hẳn các chai nhãn vàng, nhãn xanh của loại Jonnie Walker xứ Britan ông vẫn thường phải cùng bà vợ chạm cốc khi có các sếp đến nhà. Nhưng khó có thể quên mùi vị này dù khách không phải là người sành cho lắm.

          Có một điều ông không hiểu. Tại sao Kỳ Tài hầu lại tạc bức tuợng La Hán co một chân như vậy? Hình như các chùa ở nước mình không có bức tuợng nào như thế.

          - Tôi chắc là Huệ Công đã kể cho học trò ngài nghe về chuyện Minh Thái tổ Chu Nguyên Chương hồi hàn vi đã từng là chú tiểu ở chùa - Chủ nói khi thấy khách chăm chú xem xét bên chân co của bức tuợng- Phải lau hàng trăm pho tuợng trong chùa nên một lần chú tiểu đã cáu kỉnh đập vào chân pho tuợng La Hán " Co lên cho người ta lau!" La Hán sợ oai của chân mệnh thiên tử  vội co  chân lên nhưng vị sư trụ trì ngôi chùa tình cờ nhìn thấy, sợ quá vội cử chú tiểu đi học ở chùa khác. Chú tiểu-thiên tử ra đi vội vàng, quên bãi miễn lệnh thành ra pho tuợng La Hán ấy cứ co chân lên mãi!

          - Nhưng đây là bức tuợng đầu tiên do nghệ nhân tạc ra - chủ tiếp tục giải thích- Phải nói Kỳ.. à Vượng Công của nước ông rất thông tuệ và tinh ý. Chỉ đuợc nghe kể chuyện lại mà nghĩ ngay ra việc tạc tuợng La Hán co chân. Sau này các chùa ở quanh Tây An và Nam Kinh bên chúng tôi cũng đều tạc tuợng La Hán co chân theo tích ngày xưa. Hảo a, khách du thích lắm a! - Chủ phấn khích nói xen tiếng Việt-Bây giờ  hậu duệ  hai nhà bắt tay nhau liên thương sản phẩm thì tốt lắm a!

          Hình như cô Thỏ nhà mình đã có ý đồ liên thương với bên này nên mới thúc mình đi  du lịch - ông chợt nghĩ - Ngày xưa cô ấy đã đánh đổ chú Tễu, bây giờ còn định đánh những ai nữa đây?!

                   Vui chuyện khách cũng kể cho chủ nghe thêm về Vượng Công. Chuyện ngày xưa cụ chế tác ngai vàng cho vua Lê Cảnh Hưng. Lúc hoàn thành kiệt tác, khoái chí qúa đã ngồi thử vào nên bị tống ngục về tội khi quân. May là cụ kiếm đuợc bảy hạt gạo nếp từ  chiếc chổi rơm mới. Bảy hạt gạo biến thành  bảy con voi tinh xảo khiến viên quan coi ngục phải đệ trình Hoàng Thượng ngự lãm. Thói quen tạc đầu voi tí xíu vào các kiệt tác khác như một chữ ký kín đáo của cụ  chắc chắn bắt đầu từ lần thoát chết, lại đuợc ban tuớc Kỳ Tài hầu do Hoàng thuợng cảm mến tài  năng. Cả chuyện bức đại tuợng Linh Lang đại vương của làng mình có thể đứng lên chào mỗi khi có khách vào tham quan chiêm nguỡng, chẳng khác gì các tuợng trong miếu Gia Cát Võ hầu từng khiến Tư Mã Ý kinh hoàng trong truyện Tam Quốc diễn nghĩa.

          Chẳng hiểu họ liên lạc với nhau từ bao giờ mà khi ông lên chuyến bay khứ hồi thì cô hướng dẫn viên (Thỏ con như ông vẫn gọi) đưa cho ông một bức thư của Thỏ lớn cô đã mang theo từ đầu chuyến đi.

          " Anh Tễu yêu quý! Chúc mừng anh đã thành Hảo Hán!  Nhưng em còn muốn hơn thế nữa. Muốn anh Tễu-Bảo Hà của em có mặt trên toàn thế giới cơ. Là người kinh doanh mà không còn ham mê và sự liều lĩnh thì coi như đã chết phải không anh. Em muốn anh trở về với tài năng của anh, muốn chúng ta có thêm tài sản bằng bàn tay mà em đã yêu từ lúc còn là cô bé con, anh có hiểu không ?

           Hai năm truớc em đã mua khu đồi mít cỗi của một chủ vườn đang định chặt hết đi để thay bằng giống mít tố nữ  Thái Lan. Mua cho anh Tễu của em. Để anh có bột mà gột nên tuợng vàng đấy ạ. Nhưng em giấu anh, cũng như giấu anh việc vẫn thường xuyên đến nhà mồ thăm hai đứa nó, thăm những bức tượng anh tạc rồi gửi ở đấy lúc em đi vắng. Anh đừng có nghĩ vớ vẩn về cô Thỏ của anh đấy nhá, em muốn cơ ngơi của chúng ta phải phần lớn là do bàn tay tài hoa của  anh làm ra cơ.           Tới đây anh sẽ hiểu ra câu châm ngôn "Bố đĩ giàu bố đĩ tiên, ông Sếp kiết tiền ông Sếp xéo"- là câu mẹ chồng em hay nói khi em mới về làm dâu xứ " thuốc nào Vĩnh Bẩu", em chỉ thay ông Lý bằng ông Sếp - Họ chỉ là bạn làm ăn thôi bố đĩ ạ.

          Em biết anh Tễu bây giờ hiếm khi tơn tớn được như ngày xưa. Một phần cũng tại cô Thỏ, nhưng cái chính là công việc buộc phải thế. Có những chuyện làm ăn  em đã giấu vì không muốn anh phải bận tâm nhưng bao giờ em cũng thích được là Cô nàng nho nhỏ, chân nhảy như thỏ.. để tròn mắt ngắm nhìn những tác phẩm do bàn tay anh Tễu nhà mình làm ra.."

          Còn có một bức thư điện tử  mới gửi nữa: " Công ty Cảnh Thái Lam đã gửi sang cho mình các thông tin cần thiết cho việc liên thương giữa hai bên. Mình sẽ làm đại lý bán Lam Cảnh thái còn họ đại lý bán đồ gỗ sơn mài-điêu khắc Kỳ Tài cho mình. Giờ anh Tễu đã có đủ điều kiện để thực hiện ước mơ của cô Thỏ khi cô ấy tình nguyện trở thành dâu con của làng Bảo Hà. Cấm anh suy nghĩ lăn tăn gì về em. Chỉ bên anh Tễu cô Thỏ mới có thể cười như ngô nổ, không có anh Tễu thì cô Thỏ  chỉ thành đựơc món sốt vang thiu mà thôi.

           Về nhà chuyến này anh hãy tạt qua quê mình rủ bạn nghề cùng vào anh nhá. Vợ chồng mình đủ sức trả mức luơng ưu đãi cho nghệ nhân. Hoặc  có thể mở một chi nhánh của Công ty Kỳ Tài ở quê cũng đuợc anh ạ.

          Hãy bảo trọng anh nhá!"


 Hải Phòng 12/2005
                                                                                                        Ngọc Châu
READ MORE - NGHỆ NHÂN - truyện ngắn Ngọc Châu

CÂY THẦM TIẾC BÓNG - thơ Phạm Ngọc Thái - lời bình Trần Tứ Đức


 
Phạm Ngọc Thái



CÂY THẦM TIẾC BÓNG



                        Nàng đi mãi mà không trở lại

                        Gió bên đường kéo liễu hát trong mưa

                        Và mặt nước bi bô lời than thở

                        Chiều buông rèm tàn tạ nắng buồn mơ.



                        Anh ngắm liễu bên hồ càng nhớ bóng

                        Ai ru mình trong trăng sáng nép vào anh

                        Làn da trắng, vòm ngực nàng hưng phấn

                        Tan tành rồi! Ôi, mộng thuở ái ân...



                        Người đàn bà ra đi không trở lại

                        Để cây thầm tiếc bóng hoá bơ vơ

                        Và gió nữa cũng giông cuồng rồ dại

                        Hồn thi nhân tan tác giữa hư vô.



                        Đôi mắt đẹp nàng dịu dàng đong trời biếc

                        Thân hoa thơm mà lại ủ bão dông

                        Anh tê dại cõi hồn hoang biền biệt

                        Bao sầu tư vương vấn các nẻo đường.



                        Người đàn bà ra đi không trở lại

                        Bãi-cuộc-đời cát bụi, gió mưa

                        Hoa sẽ úa, nhị sẽ tàn và lụi

                        Một đời trôi theo năm tháng xô bồ...



                                                           Phạm Ngọc Thái

                                                   Trích tập "Rung động trái tim" 2009




  Lời bình của Trần Tứ Đức



  Một bài thơ tình mà lại có cái tên "Cây thầm tiếc bóng"? Ta thấy trong khổ thơ thứ ba đã viết:



                        Người đàn bà ra đi không trở lại

                        Để cây thầm tiếc bóng hoá bơ vơ

                        Và gió nữa cũng giông cuồng rồ dại

                        Hồn thi nhân tan tác giữa hư vô.



     Hình ảnh cây âm thầm tiếc bóng - Không phải là bóng của nó, mà là bóng của người đàn bà đã ra đi không trở lại ấy! Tác giả chỉ lấy thiên nhiên, trời đất làm biểu tượng cho sự chia ly tình yêu đó thôi. Đến gió cũng phải "giông cuồng rồ dại", hồn thi nhân thì tan tác, năm tháng hoá hư vô.



     Tôi sẽ quay trở lại nói thêm về những câu thơ này - Giờ ta đến với khổ thơ thứ nhất:



                        Nàng đi mãi mà không trở lại

                        Gió bên đường kéo liễu hát trong mưa

                        Và mặt nước bi bô lời than thở

                        Chiều buông rèm tàn tạ nắng buồn mơ.



     Khung cảnh: liễu đứng hát trong mưa và những lời thở than của nước, mỗi khi tiếng sóng vỗ xô bờ khe khẽ, xôn xao... vào trong cảm xúc nhà thơ như là những tiếng lòng thương nhớ, thuở nàng vẫn thường cùng anh đến bên hồ. Giờ sóng vẫn vỗ mà em thì mãi mãi không trở về. Rồi cái ánh hoàng chiều của một ngày tàn như bức rèm buông xuống phủ trùm lên mặt đất, để vào những giấc mơ đêm tưởng nhớ đến người yêu. Cách diễn tả tâm trạng hoà trong hình ảnh thiên nhiên đồng vọng tạo nên sự huyền thẳm của thi ca, chứa chất ý tình. Giọng điệu, ngôn ngữ thơ đọc lôi cuốn như lời hát mà vẫn sâu. Tuy không nói về người nhưng cảnh vật được nhân sinh hoá - Nghĩa là những cảnh vật ấy biết nói, thể hiện sự vui buồn, thương nhớ từ trong tâm tư, tình cảm của nhà thơ.



     Về hình ảnh câu đầu:



                        Nàng đi mãi mà không trở lại



     Hay là: Người đàn bà ra đi không trở lại /- Được điệp khúc nhiều lần bộc lộ một tình thương yêu da diết, song cũng là nhằm nhấn mạnh tình ý, chủ đề của cả bài.



     Sang khổ thơ thứ hai:       



                        Anh ngắm liễu bên hồ càng nhớ bóng

                        Ai ru mình trong trăng sáng nép vào anh

                        Làn da trắng, vòm ngực nàng hưng phấn



     Đó phải là một người đàn bà đẹp và nhà thơ rất yêu nên lời thơ mới say sưa, hình ảnh duy mỹ như vậy. Mỗi khi ngắm những nhành liễu ru bên hồ, thi nhân lại nhớ tới bóng xưa. Những đêm trăng sáng hồi ấy, như vẫn còn đây cả tấm thân, hơi thở của nàng... lòng Người lại bồi hồi, da diết: Làn da trắng, vòm ngực nàng hưng phấn /- Thế mà nay chỉ còn là kí ức?... rồi tác giả buông xuống một câu thơ đầy xa xót:



                       Tan tành rồi! Ôi, mộng thuở ái ân...



     Ta tưởng như chính lòng mình tan vỡ. Về mặt cấu trúc đã đạt được độ viên mãn ngay của khổ thơ. Sang đoạn thơ thứ ba mà tôi đã nói ở phần đầu cũng thế - Cuối đoạn đã được gieo một câu thơ rất mạnh:



                     Hồn thi nhân tan tác giữa hư vô



     Cho nên, tuy viết tung hứng theo sự thăng hoa của tâm hồn mà thơ vẫn súc tích, không rơi vào sự dàn trải tràn theo cảm xúc thường thấy của dòng lãng mạn trước kia. Hình tượng thơ giàu chất sống và đầy ắp nội tâm. Có khi những hình ảnh đó còn mang theo cả tính triết lý về tình yêu và đàn bà. Thí dụ, ta xem tiếp khổ thơ thứ tư:



                        Đôi mắt đẹp nàng dịu dàng đong trời biếc

                        Thân hoa thơm mà lại ủ bão dông

                        Anh tê dại cõi hồn hoang biền biệt

                        Bao sầu tư vương vấn các nẻo đường.



     Thi nhân mô tả đôi mắt đẹp của người yêu... "đong cả trời biếc" - Còn khi tả về tấm thân nàng lại đưa ra một biểu tượng rất triết học:



                        Thân hoa thơm mà lại ủ bão dông



     Để nói cả hai mặt: Người đàn bà vừa nồng nàn, êm ấm lại vừa là trái gió, trở giời và dông bão... làm trái tim ta đau đớn. Tấm thân đàn bà thật huyền diệu cũng như sức mạnh của tình yêu là vô bờ bến. Câu thơ sinh động mà tích tụ cả một đời sống tâm lý bên trong. Vì tha thiết nên lòng thi nhân mới: "... tê dại cõi hồn hoang biền biệt" -  Nghĩa là khi người yêu xa, lòng thì sầu, tâm hồn thành hoang vắng, cô đơn.



     Giọng thơ hay lại hàm chứa, tạo nên vẻ đẹp và tấm vóc của thi phẩm. Đến khổ thơ cuối cùng:



                        Người đàn bà ra đi không trở lại

                        Bãi-cuộc-đời cát bụi, gió mưa

                        Hoa sẽ úa, nhị sẽ tàn và lụi

                        Một đời trôi theo năm tháng xô bồ...



     Hình ảnh câu thơ: Người đàn bà ra đi không trở lại /- Được điệp thêm một lần nữa để khắc sâu vào lòng người sự nuối cảm. Một đặc điểm thơ Phạm Ngọc Thái khi nói về chốn dân gian, nhà thơ thường dùng hình tượng "bờ bãi...". Thí dụ như trong bài Váy Thiếu Nữ Bay:



                        "Bờ bãi con người" em trổ hoa trái ngọt

                        Đến đế vương cũng khum gối cầu mong



     Hay tình thơ Em Về Biển:



                        Bờ-bãi-đời-người cuộc sống tình yêu

                        Trái tim nhỏ em dựng cả toà sen chân phật tổ!



     Còn bài Cỏ Hoang sáng tác ở nước ngoài, nói về hình ảnh một cô gái cùng những người xuất khẩu lao động sống trôi dạt trên đất khách quê người, tác giả viết:



                        Ôi, cuộc bèo hoang trời đất trầm luân

                        Và bản chất muôn đời còn muông thú

                        Nhà chính khách cùng đứa du côn tranh thủ chơi thánh nữ

                        Em vũ ba lê trong thế giới hỗn mang gieo hoa cấy linh hồn...



     Đó chính là chốn bể dâu của đời người, bèo dạt mây trôi...  với những sướng khổ, buồn vui, hạnh phúc và mất mát. Trong khổ thơ cuối của bài này, người đàn bà ấy cũng đang trôi dạt ở nơi đó. Như câu:



                       Bãi-cuộc-đời cát bụi, gió mưa



      Theo qui luật thời gian - Năm tháng cứ trôi... tất cả sẽ úa tàn, bụi cát. Thơ đưa ta vào cõi vô định của cuộc sống con người, chỉ có tình yêu trường cửu mãi không già. Giờ đây chỉ còn lại khoảng trời xưa, những nhành liễu, bờ hồ, trăng sao cùng những cơn mưa gió của lòng anh, của đất trời và cuộc sống với bao xô bồ, vật vã.





     Điều đặc biệt bao trùm trong bài thơ là hầu hết đều dùng cảnh họa lòng. Những cảnh vật đó được tắm trong hồn, đầm đìa tình ý. Như trên đã nói, nào là: Liễu hát trong mưa, hồ nước than thở, chiều buông rèm mơ, nàng ru mình trong trăng sáng, cây thầm tiếc bóng, gió lại giông cuồng rồ dại, trái tim thì tan tác, cuộc sống hoá hư vô, đôi mắt người yêu dịu dàng đong cả bầu trời, tấm thân nàng tắm hoa thơm nhưng lại ủ cả cuồng phong dông bão, v.v...



     Một tình thơ làn điệu du dương được tác giả sáng tác cũng chính ở trên "bãi cuộc đời..." đầy cát bụi, gió mưa ấy - Nơi thi nhân cùng với người đàn bà đẹp từng tha thiết yêu nhau. Tình yêu của họ đã một thời đơm hoa, kết nhụy. Dù nay đã xa vời, nhưng tình thi vẫn đang truyền cảm, cuốn hút ta trầm sâu hơn vào ý nghĩa của thi ca. Như nhiều văn nghệ sĩ khi thưởng thức thơ anh vẫn nói: Thơ Phạm Ngọc Thái càng đọc càng hay! "Cây thầm tiếc bóng" là một bài thơ tình nhiều hương sắc, khá độc đáo và hấp dẫn của văn đàn.



         TTĐ.          
READ MORE - CÂY THẦM TIẾC BÓNG - thơ Phạm Ngọc Thái - lời bình Trần Tứ Đức