Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Nguyễn Ngọc Kiên. Show all posts
Showing posts with label Nguyễn Ngọc Kiên. Show all posts

Thursday, November 1, 2018

CÔ GÁI NHÀ BÊN - Thơ Nguyễn Ngọc Kiên


      Tác giả Nguyễn Ngọc Kiên


CÔ GÁI NHÀ BÊN
Tặng nhà giáo Vũ Thanh Tùng (FB Tung Vu)

Cháu là cô gái nhà bên
Biết chú từ thưở mới lên chín mười.
Những năm bom đạn bời bời,
Máy bay giặc Mĩ xám trời Nho Quan.
Chú cùng bao lớp trai làng
Tòng quân giải phóng miền Nam quê nhà!
Đường về quê mẹ đâu xa
Cổng trường đại học mở ra chân trời!
Đường sang Chùa Tháp xa xôi
Mang tâm hồn Việt (1) xứ người xa xăm.
Anh đi biền biệt tháng năm
Chốn quê em cứ âm thầm lớn lên!
Vẫn là cô bé nhà bên,
Trẻ trung xinh đẹp vẹn nguyên  đó rồi!
Thế gian vật đổi sao dời,
Thương anh bỗng chốc thành người trắng tay!
……………………………………..
Từ ngày anh trở về đây,
Mảnh vườn xưa thấm đất này - mồ hôi!
Ngôi nhà xưa ắp tiếng người
Mà sao vẫn vắng tiếng cười trẻ thơ!

                  Hà Nội, tháng 11/ 2018
                     Nguyễn Ngọc Kiên

1/Thầy  Vũ Thanh Tùng có thời gian là chuyên gia tiếng Việt ở Cam - pu - chia.

READ MORE - CÔ GÁI NHÀ BÊN - Thơ Nguyễn Ngọc Kiên

Thursday, August 2, 2018

LỐI NÓI KHOA TRƯƠNG TRONG KHẨU VĂN CỦA NGUYỄN QUANG LẬP (Phần 4) - Nguyễn Ngọc Kiên



                 Tác giả Nguyễn Ngọc Kiên


LỐI NÓI KHOA TRƯƠNG TRONG KHẨU VĂN CỦA NGUYỄN QUANG LẬP (Phần 4)
                              Nguyễn Ngọc Kiên

1. Khái niệm so sánh tu từ
          So sánh theo cách hiểu phổ thông là “nhìn vào cái này mà xem xét cái kia để thấy sự giống nhau hoặc khác nhau hoặc sự hơn kém”.[4, tr. 861]
         Theo Đinh Trọng Lạc, Cù Đình Tú thì: “So sánh tu từ là sự đối chiếu về hai sự vật (về tính chất, trạng thái sự việc) A và B cùng có một dấu hiệu chung nào đó giống nhau. A là sự vật chưa biết, nhờ qua B mà người đọc biết A hoặc hiểu thêm về A. So sánh tu từ còn gọi là so sánh hình ảnh, đó là một sự so sánh không đồng loại, không cùng một phạm trù chung, miễn là một nét tương đồng nào đó về mặt nhận thức hay tâm lí”.[3, tr.14]
2 . So sánh ngang bằng X – R -  Y biểu thị khoa trương
X = vật so sánh; R = từ so sánh; Y = vật chuẩn so sánh
Các chữ viết tắt: S = subject (chủ ngữ); V = verb (động từ); Adj = adjective  (tính từ); O = object (tân ngữ); N = noun (danh từ); P = phrase (cụm từ).
Hay gặp nhất trong văn NQL: R = như. Loại  này có các tiểu loại sau:
2.1. Biểu thức: N(P) như + N(P)
(1) Bà nói anh Nập không biết chứ Viện này từ xưa đến nay giống như chùa Bà Đanh, anh Thưởng về cái nà anh em đến thường xuyên, ông nhỏ ông to vào ra tấp nập, mừng nắm. Mình đùa, nói chị em trong viện cũng tươi tắn hẳn lên bà nhỉ, như thài lài gặp cứt chó.
            (Kí ức vụn, tr.113)
 (2) Có lần tôi về Nghệ An, người ta nói mãi mình cứ chối thì người ta cho mình kiêu, nhận lời rồi thì lo mất ăn mất ngủ, không biết nói cái gì, cái đầu khi đó như cục vôi sống, không nghĩ ra được cái gì, khỉ thế.
(3)Xe đi qua thì nhếch mép cười nhạt, người này nói đồ mặt như mặt mo mà cũng lấy được lái xe hà bay, người kia nói ừ đo, đúng là may hơn khôn, to  ... hơn đẹp mặt.
(4) Rượu chưa đủ đô không ngủ được, ngủ được rồi thì giấc ngủ như một cuộc chiến tranh, tay đập chân đạp miệng gầm gừ, ai không quen sợ lắm.
               (Bạn  văn, tr. 179)
2.2. Biểu thức: V như N
Ví dụ:
(5) Nhưng là phở tái thằng cha láng giềng, cơm nguội để dành mấy chục năm chán lắm, ăn thì chả ăn nhưng hễ ai động đến thì lồng lên như sói.
               (Chuyện đời vớ vẩn, tr. 350)
Chúng tôi coi đây là một thành ngữ. Thành ngữ này có biến thể “tru lên như sói”. (Xem thêm Sử dụng thành ngữ khoa trương trong khẩu văn của Nguyễn Quang Lập, Kì 3.). Ví dụ:
(6) Lắm người bị đồn shock đến nỗi hóa rồ, nhiều khi tru lên như sói.
(7) Bây giờ nó là nhạc sĩ Tinh Túy, tên tuổi nổi tiếng khắp tỉnh, bài hát thì chẳng ai nhớ nhưng tên nó cứ nổi như cồn.
               (Kí ức vụn, tr.105)
2.3. Biểu thức: N(P) như (S) – V
(8) Mình và con Hà như muốn bắn tung lên trời, ôm nhau sung sướng muốn tắt thở.
              (Kí ức vụn, tr. 156)
(9) Hồi đó mình biết mê bóng đá rồi nhưng chẳng biết tí gì bóng đá thế giới, có nghe nói đến bóng đá Brazin, đến ông Pele như nghe chuyện trời, nói thật cũng chẳng mấy quan tâm, có đến 99% không quan tâm chứ chẳng riêng gì mình.
          (Chuyện đời vớ vẩn, tr. 286)
2.4. Biểu thức: (S) – V – O như (S) – V – O
(10) Mình được giáo dục cẩn thận, ghét nhà giàu như nhà nông ghét cỏ, cứ ghét như thế cho đến chục năm sau mới biết mình ngu.
           (Chuyện đời vớ vẩn, tr. 224)
(11) Giáo sư Tây hỏi ngu như bò còn ông văn hóa 8/10 thì trả lời hay như Thánh phán.
(12) Rồi nhà văn Nguyễn Việt Hà, họa sĩ Lê Thiết Cương tiến si Trần Trọng Thưởng chạy vật vờ như đám mất sổ gạo, hễ thấy tốp chân dài nào chạy qua thì mắt sáng như sao, ba chân bốn cẳng  đuổi theo vô cùng hoan hỉ.
       (Chuyện đời vớ vẩn, tr. 242)
(13) Xưa nay đều vậy, phim trường nước ta thằng có tài thì són tiền như đái dắt, thằng bất tài, giỏi múa mép thì ôm tiền cả mớ, quyết làm giàu trước khi làm phim
2.5 . Biểu thức: (S) – V như (S) - V – O
 (14) Chị Trâm vợ anh hỏi Đại hội có gì vui, anh chỉ nhăn răng  cười, nói ua chầu, cãi nhau như mổ bò.
      (Chuyện đời vớ vẩn, tr. 79)
(15) Cái thời thơ thật sướng, nhà thơ như con trời ở xa tít mù, mỗi lần xuất hiện như thiên sứ từ trời sa xuống, cho dù đi đứng nghênh ngang.
      (Chuyện đời vớ vẩn, tr. 115)
(16) Tháng sau anh thu được cả chục rổ ốc bươu vàng, đúng là loại ốc này đẻ như ăn cướp, bà con cũng tranh nhau mua như ăn cướp, anh thu được một mớ tiền to.
             (Bạn văn, tr. 388)
2.6. Biểu thức: S - Adj như  N(P)
(17) Vé khan hiếm đắt như sâm.
(18) …thế tío nhưng sao thấy thơ sang trọng kinh hồn, thơ đến với người vừa gần gũi vừa cao vời, vừa âu yếm như lời hát ru, vừa thiêng liêng như Thánh ca.
(19) Học trò đều đã tốt nghiệp khoa văn, có đứa thạc sĩ văn chương, nhưng cái tên NQL chúng nghe lạ hoắc, như tên tuổi mấy ông gác chợ vậy.    
       (Chuyện đời vớ vẩn, tr. 101)
(20) Anh nói nhà người ta sang như trời mình đến mần răng.
                                       (Kí ức vụn, tr. 203)
2.7. Biểu thức: S - Adj như  (S) – V- O
(21) Người nói tôi sẽ nói cái này người nói tôi sẽ nói cái kia, ai nấy mặt phừng phừng như sắp ra chốn sa trường hi hi.
          (Chuyện đời vớ vẩn, tr. 76)
(22) Sau mới biết tính anh vậy, ngồi đâu cũng rụt rè cả thẹn như gái mới về nhà chồng.
           (Bạn văn, tr. 165)
(23) Yêu vợ như ông nhà văn T. cũng gọi là xưa nay hiếm. Lấy nhau đã gần ba chục năm mà mỗi lần nhìn vợ mắt ông cứ đắm đuối như thôi miên thì phục quá.
           (Bạn văn, tr. 74)
(24) Khi cụ từ Hội trường tỉnh ủy đi ra, bao nhiêu cô gái nhìn cụ với những cái nhìn ngưỡng mộ thèm khát bốc cháy như muốn ăn tươi unốt sống cụ, bảo đảm chỉ cần cụ vẫy khẽ cái là có cả chục cô chạy theo liền.
            (Bạn văn, tr. 426)
3. Trường hợp R bị thay thế. “như” =  “chẳng khác nào”, “chẳng khác gì”, “ngang tầm”, “không khác gì”, “có cảm tưởng”
(25) Trong làng có cô nào cưới được chồng lái xe, làng xóm bàn tán mê man cả tháng, chẳng khác gì con gái xưa vớ phải trạng nguyên.
(26) Cũng có cô xấu, xấu mấy thì xấu, dù xấu ngang tầm Thị Nở cũng không đến lượt mình.
            (Chuyện đời vớ vẩn, tr. 189)
(27) Khoang máy lạnh người ta không cho hút thuốc lá, ba thằng đều ghiền nặng cả, rượu bia mà không có điếu thuốc chẳng khác nào đau ốm phải uống thuốc Bắc.
          (Kí ức vụn, tr. 216)
(28) Hi hi bầu Ban chấp hành Hội Nhà văn mà hồi hộp căng thẳng không khác gì bầu Tổng thống.
            (Chuyện đời vớ vẩn, tr. 76)
 (29) Đến khi đá với Argentina thua, đá với Romania thua tiếp ai nấy thất thần như người mất sổ gạo. Trận đá với Romania, thua 2 quả rồi mà Liên Xô rề rà như là đang thắng, có cảm tưởng đá tảng đang đeo chân họ.
          (Chuyện đời vớ vẩn, tr. 284)
3.1. Trường hợp bị thay thế nhiều nhất là R “như” = “y chang”
(30) Thằng T. vắt chân chữ ngũ, mặt vênh lên y chang nó vừa quen được ông Thủ tướng.
(31) Vào cuộc người ta nói đông nói tây, anh cứ ngồi khóm róm, nơm nớp  sợ người ta gọi đến tên mình, y chang cậu học trò không thuộc bài.
                      (Bạn  văn, tr. 176)
(32) Anh nhoẻn miệng cười, cái mặt đỏ kè xấu hổ, y chang ông con rể chuẩn bị ôm vợ bỗng gặp ông bố vợ.
                      (Bạn  văn, tr. 177)
(33) Lại còn người này khen như này, người kia khen như kia, miệng nói tay khua y chang vừa trúng số độc đắc.
           (Chuyện đời vớ vẩn, tr. 79)
(34) Dứt lời Bùi Hiển lên xe lao đi , y chang trốn chạy kẻ cướp.
                    ( Bạn văn, tr. 443)
(35) Hễ nghe có khách, lãnh đạo Hội mặt xanh như đít nhái, cái mặt cười y chang cái mặt trâu ngửi l., tội lắm.
(36) Anh ngửa cổ cười, mặt đỏ rực, mắt long lanh, y chang ông Lưu Bị vừa đả xong trận Xích Bích. Hi hi
              (Bạn văn,  tr. 391)
3.2. Các trường hợp bị thay thế khác “ như” = “chỉ bằng”, “cũng giống như”.
(37) Đang ăn thì em thấy một đoàn mười mấy đứa bạn cùng khoá đang rong ruỗi vỉa hè, em bèn chạy ra gọi tất cả vào quán phở. Tim mình thắt lại, cuống tim teo lại chỉ bằng sợi tóc.
                 (Chuyện đời vớ vẩn, tr. 224)
(38) Mình đứng ôm cột nhà nhìn anh, hồi đó còn bé thấy nhà thơ cũng giống như nhà hoạn heo, không thấy xúc động gì, chỉ đứng ôm cột nhà trương mắt nhìn.
            (Kí ức vụn, tr. 182)
4. Sử dụng so sánh ngang bằng với biểu thức “S là P” biểu thị khoa trương
Trong khẩu văn của Nguyễn Quang Lập, hệ từ  “là”  có thể được thay thế cho những từ so sánh, và đó là câu biểu thị so sánh thuần túy. Ví dụ:
 (39) Mình học Bách Khoa năm cuối, đọc xong hai trường ca này thì mặc nhiên coi hai ông này là trời, suốt ngày mơ làm sao mình có được dăm câu thơ hay như thơ họ.
       (Bạn văn, tr. 252)
(40) Chẳng phải nó đá hay, có cú sút phạt thần sầu mà vì là thằng cha hay cãi, có lẽ nó là cầu thủ hay cãi nhất thế giới túc cầu.
     (Chuyện đời vớ vẩn, tr. 384)
(41) Thế mà từ năm 1981 anh Tạo đã dám viết những câu thơ bỏng rát, nhức nhối đến như vậy, quả là gan trời.
                       (Bạn văn, tr. 97)
  Trong những câu trên, “là” vốn là một động từ phán đoán, cho nên khi được sử dụng trong cấu trúc này, cả cấu trúc còn mang sắc thái khẳng định vốn có của động từ. Tuy nhiên, hình thức so sánh tu từ dùng “là” cũng khác với phán đoán logic có công thức “ S là  P” . Chính vì vậy, có người không cho rằng “là” là thành tố trong phép so sánh. Tuy nhiên căn cứ vào ngữ nghĩa chúng tôi cho rằng “là” không những có khả năng biểu đạt so sánh mà còn có khả năng biểu đạt khoa trương.  Ví dụ:
(42) Với nhiều người Liên Xô là nhất, Mỹ chỉ là cái đinh gỉ. Kuwait, Honduras còn vào được World cup mà Mỹ chẳng thấy khi nào ló mặt vào, đúng là con hổ giấy hi hi
              (Chuyện đời vớ vẩn, tr. 291)
(43) Phàm là nhà văn chẳng ai chỉ đạo được ai, ông nào ông ấy cái tôi to bằng cái bồ, văn mình vợ người xưa nay đều thế cả, chẳng làm sao thay đổi được.
               (Chuyện đời vớ vẩn, tr. 83)
(44) Hi hi bây giờ cả hai đều là những con sâu nghiện blog.
                        (Chuyện đời vớ vẩn, tr. 84)
5. Trường hợp so sánh không ngang bằng X – R – Y . Biểu thức này R được thay thế “như” = “còn quá”, “gấp mấy lần”, “còn hơn”, “không bằng”, “không coi bằng”. Ví dụ:
(45)
Thật không ngờ cụ Vũ Đình Liên đón mấy đứa vô danh tiểu tốt tụi mình còn quá đón con cháu ở xa về.
           (Bạn văn, tr. 437)
(46) Vì thế quen được cô mậu dịch viên còn phấn khởi gấp mấy lần được thăng chức lên lương ( tất nhiên là lương nhỏ chức quèn).
      (Chuyện đời vớ vẩn, tr. 186)
(47) Bây giờ pv mỗi ngày vài chục ngàn, hơn 10 triệu lượt người viếng thăm, thật còn hơn cả một giấc
       (Chuyện đời vớ vẩn, tr. 84)
(48) Mình giấu nàng chuyện đi buôn, thời ấy nghề đi buôn gọi là gian thương, bị xã hội không coi bằng chó mèo.
           (Kí ức vụn, tr. 170)
(46) Nàng buồn, tóc rụng mất quá nửa, có lẽ dưới mắt nàng lúc đó mình không bằng giống chó mèo.
              (Kí ức vụn, tr. 170)
(49) Thế mà vẫn  không thoát được hoạn nạn, đoi lần chết hụt chứ chẳng chơi, tĩnh trí như nó mà bị mấy đòn đau hơn hoạn.
               (Bạn văn, tr. 334)

6. Kết luận
Từng nổi tiếng rất sớm; ngay từ khi còn là học sinh phổ thông Nguyễn Quang Lập đã nổi tiếng với những bài thơ được giải. Lớn lên anh nổi tiếng về tiểu thuyết và kịch và phim. Đó là các tác phẩm gây được tiếng vang một thời như: Những mảnh đời đen trắng, (Tiểu thuyết); Mùa hạ cay đắng (Kịch); Đời cát (Kịch bản phim); Trên mảnh đất đời người (Kịch bản phim).  Bỗng nhiên, ngoài năm mươi tuổi anh lại một lần nữa nổi tiếng về khẩu văn như một … hotboy. Phải chăng đây cũng là một hướng đi mới của nhà văn.
Khoa trương trong khẩu văn của Nguyễn Quang Lập rất đa dạng và phong phú. Theo khảo sát của chúng tôi, hầu hết từ loại cơ bản tạo thành lớp từ vựng trong tiếng Việt đều được Nguyễn Quang Lập sử dụng để khoa trương. Hơn thế nữa, những mẫu câu cơ bản tiếng Việt cũng được Nguyễn Quang Lập vận dụng triệt để để khoa trương. Ngoài ra, anh còn sử dụng các biện pháp tu từ và các phương tiện tu từ để thực hiện khoa trương như một công cụ hữu hiệu. Chính vì vậy, khẩu văn của anh rất hấp dẫn  và lôi cuốn  người đọc. Liên tục trong mấy năm “Kí ức vụn”, “Bạn văn”, “Chuyện đời vớ vẩn” lần lượt ra đời đáp ứng lòng mong mỏi, đón đợi của độc giả.

                               Nguyễn Ngọc Kiên

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Cù  Đình Tú (2007), Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, Nxb Giaó dục.
2. Đào Thản (1990), Lối nói phóng đại trong tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ.
3. Đinh Trọng Lạc (2005), Phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, Nxb Giaó dục.
4. Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa (2006), Phong cách học tiếng Việt, Nxb   Giaó dục.
5. Hữu Đạt (2001), Phong cách học tiếng Việt hiện đại, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
6. Nguyễn như Ý (2002), Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
7. Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Anh Việt, NXB Khoa học Xã hội
8. 汉语词典,(2003), 北京商务印书馆。

NGUỒN TƯ LIỆU TRÍCH DẪN
Nguyễn Quang Lập, (2009), Kí ức vụn, Nxb Hội nhà văn
Nguyễn Quang Lập, (2011), Chuyện đời vớ vẩn, Nxb Văn học
Nguyễn Quang Lập, (2011), Bạn văn, Nxb Trẻ

READ MORE - LỐI NÓI KHOA TRƯƠNG TRONG KHẨU VĂN CỦA NGUYỄN QUANG LẬP (Phần 4) - Nguyễn Ngọc Kiên

Sunday, July 22, 2018

LỐI NÓI KHOA TRƯƠNG TRONG KHẨU VĂN CỦA NGUYỄN QUANG LẬP (PHẦN 3) - Nguyễn Ngọc Kiên


                 Tác giả Nguyễn Ngọc Kiên



SỬ DỤNG THÀNH NGỮ BIỂU THỊ KHOA TRƯƠNG TRONG KHẨU VĂN NGUYỄN QUANG LẬP
                                                 Nguyễn Ngọc Kiên

Theo “Từ điển giải thích ngôn ngữ học” thì: “Thành ngữ là cụm từ cố định có tính nguyên khối về ngữ nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác tổng số ý nghĩa của các thành tố cấu thành nó, tức là không có nghĩa đen và hoạt động như một từ riêng biệt ở trong câu.”
                                                            [7, tr.237]

1.  Sử dụng thành ngữ mượn từ tiếng Hán

Thành ngữ, theo Từ điển tiếng Hán hiện đại (trang 160), là phân câu ngắn hoặc từ tổ đã  định hình, kết tinh đơn giản do thói quen mọi người dùng trong thời gian dài để lại. Thành ngữ tiếng Hán phần nhiều do bốn chữ tạo thành, thường đều có  xuất xứ. Có một số thành ngữ nhìn chữ trên bề mặt không khó lí giải như “小題做大”[tiểu đề tác thí] (việc bé xé ra to)” “后來居上”[hậu lai cư thượng] (sinh sau hơn bậc đàn anh). Có một số thành ngữ phải biết nguồn gốc hoặc điển cố thì mới hiểu được ý nghĩa, như 朝三莫四[triêu tam mộ tứ] (sáng thế này chiều thế khác/lòng chim dạ cá), 杯弓蛇影 [bôi cung xà ảnh] (lo sợ hão huyền) v. v.
                                                          [8, tr.157]

Trong tác phẩm của mình nhà văn NQL đã sử dụng nhiều thành ngữ tiếng Hán. Ví dụ:

(1)  Mọi người ha ha ha, nói ôi giời mỗi mỏ dầu thối mà anh em choảng nhau, huynh đệ tương tàn
                                                (Chuyện đời muôn nẻo)

(2) Hầu hết những người anh Tường quen thân anh đều kể cho mình chuyện thâm cung bí sử của họ.
                                                  (Kí ức vụn, tr.177)

Thành ngữ “sát khí đằng đằng” 2 lần được tác gỉa đổi lại trật tự thành “đằng đằng sát khí” trong Chuyện đời vớ vẩn và Kí ức vụn.

(3) Cụ chạy  theo nhịp 2/4, dậm giật dậm giật, hô một hai một hai, mặt đằng đằng sát khí, y như sắp xáp mặt quân thù.
                                        (Chuyện đời vớ vẩn, tr. 241)

(4) Cái đêm hội thảo cuốn Học phí trả bằng máu của Nguyễn Khắc Phục, mấy ông mệ gộc và mấy ông đang cố gắng chứng minh mình là mệ gộc mặt mày đằng đằng sát khí, làm ầm ầm.
                                               (Kí ức vụn, tr.202)

Hầu hết đó là những thành ngữ mượn nguyên dạng rất quen thuộc với người Việt, không cần dịch mà ai cũng hiểu. Ví dụ:

(5) Có năm chúng nó về hằng hà sa số, cây trâm bầu nào cũng có vài trăm con đậu bám.
                                              (Kí ức vụn, tr.137)
(6) Cái sự nổ thiên hình vạn trạng, nhiều cấp bậc, nhiều trạng thái nhưng chơihung qui lại cũng chỉ hai loại, một thứ nổ để đùa chơi, vô hại, nếu có hại cũng chỉ hại mình chứ chẳng hại ai.
                                  (Chuyện đời vớ vẩn, tr. 392)
Có những thành ngữ hoàn toàn do người Việt sáng tạo ra. Chẳng hạn “thiên kinh vạn quyển”. Chúng tôi đã tra năm cuốn từ “Từ điển Hán – Việt” và cuốn “Hán ngữ Từ điển” do Bắc Kinh Thương vụ ấn thư quán ấn hành 2003, nhưng đều không có thành ngữ này. NQL đã dùng “thiên kinh vạn quyển” để ca ngợi nhà văn Đỗ Chu là người đọc nhiều, hiểu nhiều biết rộng:

(7) Lại nghe các anh lớp trên khen Đỗ Chu thiên kinh vạn quyển đọc anh thấy đó là thứ văn “ mật ngọt chết ruồi” lại càng phục.
                                             (Bạn văn, tr. 373)
Lần khác anh dùng “thiên kinh vạn quyển” để ca ngợi bạn anh -  nhà văn Nguyễn Việt Hà:
(8) Nó là thằng thiên kinh vạn quyển, lại nghiện đọc báo như nghiện thuốc phiện, thành ra chuyện trên trời dưới biển thứ gì cũng biết một ít, hễ động đến là nói, lắm khi thật nhức đầu nhưng không có nó cũng buồn.
NQL còn dùng các thành ngữ “hằng hà sa số ”,“thập tử nhất sinh”, “thân bại danh liệt” khi viết về dịch giả Đoàn Tử Huyến. Viết về Nguyễn Thành Phong anh dùng “bạch diện thư sinh”, NTP là người “nhân bảo như thần bảo”.
Có lần anh sử dụng thành ngữ Hán Việt trong một ngữ cảnh khác:

(9) Ra Hà nội cái, biết mình không đủ tiền mua nhà ngon, thuê ngay cái nhà xịn, mời dân có máu mặt Hà Thành đến nhậu một trận sơn hào hải vị, cho chúng nó lác mắt.
                                           (Kí ức vụn, tr. 120)
Thành ngữ tiếng Hán có thể là những thành ngữ đã ra tiếng được dịch  ra tiếng Việt và được sử dụng rộng rãi. Chẳng hạn “long phi phượng vũ” dịch tiếng sang tiếng Việt là “rồng bay phương múa”. Ví dụ:
(10) Nhưng nơi tụ hội vẫn là đình làng. Đình làng Đông to lắm, con nít ôm cột đình không xuể, cao bốn, năm mét, toàn gỗ lim, chạm nổi rồng bay phượng múa rất đẹp.
                                            (Kí ức vụn, tr. 137)
2.   Sử dụng thành ngữ so sánh

2.1.  Sử dụng thành ngữ so sánh ngang bằng dạng hiện có từ “như”
Cấu trúc “X như Y”

X  là danh từ; Y  là cụm danh từ NP
Cấu trúc hay gặp nhất trong khẩu văn của NQL là khi tác giả so sánh người nhiều tiền là tiền nhiều như quân Nguyên. Ví dụ:

(11)Anh thứ hai một doanh nghiệp trẻ nổi tiếng mới 32 tuổi đã là tổng giám đốc một tổng công ty danh tiếng tiền nhiều như quân Nguyên mỗi lần đón nó đi chơi anh lái con Mẹc bóng loáng đỗ xịch thiên hạ lác mắt.
                                                 (Kí ức vụn, tr. 52)
Do khuôn khổ bài báo có hạn nên chúng tôi không thể liệt kê hết các ví dụ ra đây; bạn đọc  có thể tham khảo câu có chứa thành ngữ “tiền nhiều như quân Nguyên” ở các trang Kí ức vụn tr. 105; Chuyện đời vớ vẩn, tr. 298; Bạn văn; tr. 30.

Biểu thức: X như Y

X là S – V; Y là S – V. Các chữ viết tăt: S là chủ ngữ; P là vị ngữ; V là động từ.

Điển hình cho cấu trúc này trong khẩu văn NQL là:
 - mặt nghệt như ngỗng ỉa. Ví dụ:
(12) Nhưng chỉ độ mươi phút nửa tiếng lại nghe tiếng guốc dép đàn bà, vừa gõ cửa vừa nói anh ui. Cả hội lại đực mặt như ngỗng ỉa.
                                       (Chuyện đời vớ vẩn, tr. 92)
Thành ngữ này còn có thể gặp ở các trang Kí ức vụn tr. 234; Kí ức vụn; tr.129; Kí ức vụn 122; Bạn văn tr. 214; Bạn văn tr. 267, Bạn văn, tr. 204, Kí ức vụn , tr. 196.
-   như người nghiện thuốc phiện
(15) Nó là thằng thiên kinh vạn quyển, lại nghiện đọc báo như nghiện thuốc phiện, thành ra chuyện trên trời dưới biển thứ gì cũng biết một ít, hễ động đến là nói, lắm khi thật nhức đầu nhưng không có nó cũng buồn.
                                                      (Kí ức vụn, 214)
 Có chỗ anh lại biến tấu “hơn người ta nghiện thuốc phiện”, thành so sánh hơn. Ví dụ:
(16) Anh Nam nói anh Vu nghiện sách thiếu nhi hơn người ta nghiện thuốc phiện.
                                                      (Bạn văn, tr. 32)

Biểu thức: V như N . V là động từ, N là danh từ.
- lồng lên như sói

(13) Nhưng là phở tái thằng cha láng giềng, cơm nguội để dành mấy chục năm chán lắm, ăn thì chả ăn nhưng hễ ai động đến thì lồng lên như sói.
                                         (Chuyện đời vớ vẩn, tr. 350)
Thành ngữ này có biến thể “tru lên như sói”. Ví dụ:

(14) Lắm người bị đồn shock đến nỗi hóa rồ, nhiều khi tru lên như sói.
                                          (Chuyện đời vớ vẩn, tr. 389)
Người đọc có thể gặp thành ngữ này trong Kí ức vụn, tr. 276.

Những thành ngữ so sánh ngang bằng khác mà nhà văn NQL đã dùng: “như thài là gặp cứt chó”, “như nước đổ đầu vịt”. “trắng như trứng gà bóc”, “nhanh như tên bắn”, “như bắt được vàng”, “mặt xanh như đít nhái”, “nhanh như chớp mắt”, “như mặt mo”, “bán chạy như tôm tươi”, “nổi như cồn”,

2.2.  Sử dụng thành ngữ so sánh ngang bằng dạng ẩn

Ví dụ:
(17) Cũng có đôi ba người nhận lời giúp, đến kì sách ra thì cứ thản nhiên đến lấy nhuận bút không đưa cho anh một xu, anh cũng phải ngậm bồ hòn làm ngọt, nhưng hầu hết đều giúp anh rất vô tư. Nhiều người vì giúp anh đã rơi vào tấn bi hài nửa cười nửa mếu.

Ở câu trên, nguyên văn thành ngữ là “như ngậm bồ hòn làm ngọt”. Ở đây, “như” đã bị ẩn đi
Riêng trong Kí ức vụn tr.122; tác giả biến tấu, bỏ chữ “như” thành cấu trúc so sánh ngang bằng dạng ẩn (Xem thêm mục 2.2.). Ví dụ:
 Mặt nó đực ngỗng ỉa.

2.3.   Sử dụng thành ngữ so sánh không ngang bằng có từ “hơn”
X hơn Y
X có thể là tính từ; Y có thể là S - V
 - Tiêu biểu cho cấu trúc này NQL hay dùng là:
- mừng hơn cha / bố chết sống lại. Ví dụ:

(18) Đến kì sách ra người này lại phải đến lấy sách, lấy nhuận bút, rồi lại phải đưa cả phòng biên tập đi nhậu. Rách việc thế nên cậy được người đứng tên giùm thật mừng hơn bố chết sống lại.
Ta có thể gặp ở các trang Kí ức vụn, tr. 45; Kí ức vụn, tr. 290; Chuyện đời vớ vẩn, tr. 293, Bạn văn, tr. 215.
-  buồn hơn chấu cắn
Mật độ naỳ xuất hiện khá nhiều. Chẳng hạn, trong Lai rai world cup thành ngữ này có tần số xuất hiện hai lần. Chỗ thì anh viết mặt mày như chấu cắn chỗ thì anh viết buồn hơn chấu cắn, thành ra so sánh hơn -  không ngang bằng. Ví dụ:

(19) Đến khi Bỉ gỡ hoà 3 đều mọi người vẫn tin Liên Xô sẽ thắng, dè đâu thua chung cuộc 4-3, mọi người nhìn nhau ngẩn ngơ, buồn hơn chấu cắn.
     (Chuyện đời vớ vẩn, Lai rai world cup, tr. 294)

(20) Hôm thì mặt mày như chấu cắn, nói sư bố nó chứ, Đức hoà Tunisia 0-0 thế mới đau.
      (Chuyện đời vớ vẩn, Lai rai world cup, tr. 288)
 Thành ngữ này có thể  tham khảo thêm Chuyện đời vớ vẩn, tr 289

2.4. Sử dụng thành ngữ so sánh không ngang bằng có từ “không bằng”
Biểu  thức “X không bằng Y”

(21) Anh Châu cười khì khì, cái thằng tài, mình không bằng cái móng tay nó.                                               
                                                 (Bạn văn, tr. 168)

2.5.  Sử dụng thành ngữ có chứa yếu tố động vật

(22) Anh thì không, cần một con câu một con, không cần không câu, thời đói rách anh bỏ qua cái lợi lớn ấy nhẹ tựa lông hồng, thật phục quá đi mất.
                                                (Kí ức vụn, tr. 289)
Trong 3 cuốn Chuyện đời vớ vẩn, Kí ức vụn Bạn văn, NQL đã dùng các thành ngữ có chứa từ ngữ chỉ động vật  sau: “ngơ ngơ như bò đội nón”, “mật ngọt chết ruồi”, “nổi da gà”.

2.6.  Sử dụng thành ngữ có chứa từ, ngữ chỉ cơ thể người

(23) Thằng này cực giỏi, 7 tuổi đã thuộc hết tên cầu thủ giải bóng đá ngoại hạng Anh, lên đến 10 tuổi thì cầu thủ giải Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Đức, Hà Lan nó đều thuộc hết, còn biết lai lịch cầu thủ đến tận chân tơ kẻ tóc. Kinh.
                                    (Chuyện đời vớ vẩn, tr. 301)
(24) Năm đó đời sống văn nghệ đã thông thoáng hơn nhiều, nói như anh Tường (Hoàng Phủ Ngọc Tường) đất nước đang lăm le đổi mới, nhưng mời được anh Quán vào Huế không phải chuyện đơn giản. Anh Tường, anh Vĩ (Tô Nhuận Vĩ), anh Điềm (Nguyễn Khoa Điềm) chạy rạc chân, nói gãy lưỡi tỉnh ủy mới chấp thuận Hội Văn nghệ đón chính thức Phùng Quán.
                                                  (Kí ức vụn, tr. 286)

(25) Khi đó mới biết Tuyết Nga năm thứ hai Đại học đa có thơ in Văn nghệ quân đội; Xuân Hoài, Trần Hữu Thung khen đứt lưỡi, phục nó tốt  nghiệp cái là đem về Hội ngay.
                                                         (Bạn văn, tr. 79)
(26) Một hôm anh Sơn phổ nhạc câu thơ này, theo điệu Lý năm canh, mình và Vinh Nguyễn cười lộn ruột.
                                                       (Kí ức vụn, tr. 184)
Trong 3 cuốn Chuyện đời vớ vẩn, Kí ức vụn Bạn văn, NQL đã dùng các thành ngữ có chứa bộ phận cơ thể sau: “lo thắt ruột”, “vỡ mặt”, “lo sốt vó”, “đau nhói tim”, “chướng mắt”, “sợ toát mồ hôi”, “chỉ cách một sợi tóc”, “hộc máu mồm”, “sợ xanh mắt”, “thèm nhỏ dãi”, “thiên hạ lác mắt”, “cạy răng”, “nếm mật nằm gai” , “mồm loa mép giải”

2.7.  Sử dụng thành ngữ có chứa các con số
Mục này chúng tôi không bàn nhiều về các thành ngữ NQL đã dùng kiểu như: “ba chân bốn cẳng”, “có một không hai”, “một trời một vực” mà chúng tôi bàn về một lối nói khoa trương con số của người Việt đã thành công thức kiểu như:
Mấy ông trẻ Tây học, là nói học thật chứ không phải lấy tiền bố mẹ đi du lịch như ối cô cậu trẻ như bây giờ, mười ông thì chín ông tự đắc về sở học.
                                                       (Kí ức vụn, tr. 272)

(27) Cụ nói mười người đến xin chữ thì tám người xin chữ nhẫn, chẳng hiểu vì sao 
                                                          (Kí ức vụn, tr.)
Thoạt nghe có vẻ rất phi logic, nhưng người Việt rất ưa lối nói này:

(28) Nói vậy thôi, đàn ông mười ông thì có đến chín ông rưỡi ghen vợ.
                                           (Chuyện đời vớ vẫn, tr. 349)

(29) Các nhà thơ thường hay rượu, mười người thì có chín anh yêu rượu như con quí mồi như vợ. Chuyện say sưa của họ nhiều lắm, kể mãi không hết được, chỉ xin kể ra một số chuyện vui vui.
                                                     (Bạn văn, tr. 119)

(30) Trường ca Ở làng Phước Hậu của anh đến nay lớp trẻ 10 đứa thì 9 đứa không biết, nhưng nó là trường ca bề thế nhất, đúng chất trường ca nhất, trước đó chỉ là những bài thơ dài, nhờ vậy đã mở ra tạm gọi một trào lưu trường ca ra đời sau 1975.
                                                       (Bạn văn, tr. 119)

2.8. Sử dụng thành ngữ có chứa các yếu tố siêu nhiên và các hiện tượng trời đất thần phật
Ví dụ:
(31) Nếu Bụt hiện ra nói một là con được giải Nobel, hai là con lành lặn, con chọn điều gì? Lập tức mình ôm chân Bụt mà kêu lên Bụt ơi Bụt ơi cho con được lành lặn.
                                                    (Kí ức vụn, tr. 130)
(32) Hồi đó mình biết mê bóng đá rồi nhưng chẳng biết tí gì bóng đá thế giới, có nghe nói đến bóng đá Brazin, đến ông Pele như nghe chuyện trời, nói thật cũng chẳng mấy quan tâm, có đến 99% không quan tâm chứ chẳng riêng gì mình.
                                          (Chuyện đời vớ vẩn, tr. 285)

(33) Khác nhau một trời một vực như thế, dạy nhau thế quái nào, hả?
                                                          (Bạn văn, tr.375)

2.9.  Các trường hợp khác

(34) Mình chẳng sợ, trên răng dưới ca tút, sợ gì, chỉ thương anh Đỉnh, anh Huân (Nguyễn Trí Huân, tổng biên tập) vì chuyện của mình mà vất vả tất tả ngược xuôi.
                                              (Chuyện đời vớ vẩn, tr. 68)

(35) Hu hu. Thế mới biết miệng lưỡi thế gian, giết người không dao là thế nào.
                                              (Chuyện đời vớ vẩn, tr.69)

Tiêu biểu cho loại này là các thành ngữ NQL đã dùng: “trên trời dưới bể”, “như đám mất sổ gạo” , “bố bảo”, “trên răng dưới ca tút”, “đinh tai nhức óc”, “chết cha”, “bỏ bà”, “rối canh hẹ”, “tan cửa nát nhà”, “trèo đèo lội suối”, “tên bay đạn lạc”. v.v…

(Còn nữa, kì sau đăng tiếp)
                                                     Nguyễn Ngọc Kiên

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Cù  Đình Tú (2007), Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, Nxb Giaó dục.
2. Đào Thản (1990), Lối nói phóng đại trong tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ.
3. Đinh Trọng Lạc (2005), Phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, Nxb Giaó dục.
4. Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa (2006), Phong cách học tiếng Việt, Nxb   Giaó dục.
5. Hữu Đạt (2001), Phong cách học tiếng Việt hiện đại, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
6. Nguyễn như Ý (2002), Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
7. Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Anh Việt, NXB Khoa học Xã hội
8. 汉语词典,(2003), 北京商务印书馆。

NGUỒN TƯ LIỆU TRÍCH DẪN

Nguyễn Quang Lập, (2009), Kí ức vụn, Nxb Hội nhà văn
Nguyễn Quang Lập, (2011), Chuyện đời vớ vẩn, Nxb Văn học
Nguyễn Quang Lập, (2011), Bạn văn, Nxb Trẻ

KÌ SAU ĐÓN ĐỌC

SỬ DỤNG SO SÁNH TU TỪ BIỂU THỊ KHOA TRƯƠNG TRONG KHẨU VĂN CỦA NGUYỄN QUANG LẬP

READ MORE - LỐI NÓI KHOA TRƯƠNG TRONG KHẨU VĂN CỦA NGUYỄN QUANG LẬP (PHẦN 3) - Nguyễn Ngọc Kiên