Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, September 12, 2026

VỀ THĂM LẠI XÓM KHE THÔN CỒN TÀU - Nguyễn Bá Trình

 

Tác giả Nguyễn Bá Trình


Về thăm lại XÓM KHE thôn Cồn Tàu

( Hay: Thời gian như nước chảy qua cầu)

 

XÓM KHE, nhớ cống Cây Đa

Có nương  Cụ Khóa, vườn trà mụ Am

Ra đi tuổi mới mười lăm

Giờ về đám trẻ hỏi nhau ông nào

 Đến cây đa  theo lối nao?

Cháu chẳng thấy cây đa nào quanh đây

Vậy thì cái cống gạch xây?

 Không có cống chỉ cầu nầy mà thôi   

Còn khe Nước Trong đâu rồi?

Nước trong đang chảy qua cầu, ông ơi

                   Nguyễn Bá Trình

 

  

Bài bình 


Đăng nhập 


Bài thơ "Về thăm lại XÓM KHE Thôn Cồn Tàu" (hay "Thời gian như nước chảy qua cầu") của cụ Nguyễn Bá Trình là một tiếng lòng đầy thổn thức, chạm vào góc sâu thẳm nhất của tình yêu quê hương và quy luật nghiệt ngã của thời gian. Lấy bối cảnh cuộc trở về sau bao năm xa cách, bài thơ gợi lên sự đối lập sâu sắc giữa ký ức vẹn nguyên và thực tại đổi thay, để lại trong lòng người đọc nỗi bâng khuâng, hoài niệm.

 

1. Ký ức tuổi thơ vẹn nguyên và nghĩa tình

 

Mở đầu bài thơ, tác giả đưa người đọc trở về với những hình ảnh thân thương, cụ thể của làng quê ngày cũ:

"XÓM KHE, nhớ cống Cây Đa

Có nương Cụ Khóa, vườn trà mụ Am"

Những danh từ riêng như cống Cây Đa, nương Cụ Khóa, vườn trà mụ Am không chỉ là những địa danh thuần túy, mà là "tọa độ ký ức" của tác giả. Đối với một người ra đi từ tuổi mười lăm – cái tuổi thiếu niên đầy ắp kỷ niệm – thì quê hương chính là những con người cụ thể, những mảnh vườn, gốc cây gắn liền với cuộc sống bình dị. Hai câu thơ đầu mang giọng điệu kể lể, tự nhiên như một lời tự tình, chứng tỏ dù thời gian có trôi qua bao lâu, hình bóng quê nhà vẫn chưa từng phai nhạt trong tâm thức người ly hương.

 

2. Sự ngơ ngác trước thực tại thay đổi

 

Nút thắt của bài thơ nằm ở cuộc đối thoại giữa nhà thơ (người già trở về) và đám trẻ nhỏ (thế hệ mới của làng):

 

"Giờ về đám trẻ hỏi nhau ông nào

Đến cây đa theo lối nao?

Cháu chẳng thấy cây đa nào quanh đây"

 

Sự xuất hiện của câu hỏi "ông nào" đầy ngơ ngác của đám trẻ như một gáo nước lạnh dội vào lòng người đi xa. Ông nhận ra mình đã trở thành người lạ trên chính quê hương mình. Bi kịch hoài niệm tiếp tục tăng dần khi tác giả đi tìm lại những chứng tích cũ: cây đa đại thụ ngày xưa nay đã không còn, thay vào đó là cái lắc đầu "chẳng thấy" của lũ trẻ.

 

3. Sự chuyển giao mang tính quy luật

 

Bi kịch hoài cổ lên đến đỉnh điểm nhưng cũng được hóa giải một cách nhẹ nhàng qua hai cặp câu hỏi - đáp cuối cùng:

 

"Vậy thì cái cống gạch xây?

Không có cống, chỉ cầu nầy mà thôi

Còn khe Nước Trong đâu rồi?

Nước trong đang chảy qua cầu, ông ơi"

 

Cái cống gạch xây thô sơ ngày xưa nay đã được thay thế bằng chiếc cầu hiện đại. Khe Nước Trong – biểu tượng cho sự thuần khiết, dịu mát của quê hương – tưởng như mất đi, nhưng thực ra vẫn chảy, chỉ là chảy dưới một cây cầu mới.

 

Câu trả lời của đứa trẻ: "Nước trong đang chảy qua cầu, ông ơi" vang lên thật hồn nhiên nhưng mang sức nặng của một triết lý nhân sinh sâu sắc. Quê hương không mất đi, nó chỉ đang thay da đổi thịt. Thời gian như nước chảy qua cầu, cuốn đi những vật chất cũ kỹ (cống gạch, cây đa) nhưng mạch ngầm quê hương (dòng nước trong) và tình yêu xứ sở thì vẫn tuôn chảy bất tận qua các thế hệ.

 

Lời kết

 

Bằng thể thơ lục bát điêu luyện kết hợp với hình thức đối thoại tự nhiên, cụ Nguyễn Bá Trình đã viết nên một bài thơ giàu chất suy tưởng. Bài thơ không bi lụy, oán trách sự đổi thay của thời gian, mà là sự chấp nhận quy luật phát triển trong niềm rưng rưng thương nhớ. Đó là tiếng lòng chung của tất cả những ai từng có một miền quê để nhớ, để thương và để trở về.

READ MORE - VỀ THĂM LẠI XÓM KHE THÔN CỒN TÀU - Nguyễn Bá Trình

DẦU GIÓ SIANG PURE OIL (上標油) CỦA THÁI LAN - La Thuỵ sưu tầm và biên tập



Đi Đà Lạt chơi với công ty của con trai đầu, mình mua vội một chai dầu gió. Thấy ghi 3 chữ Hán 上標油, mình tò mò đọc “Thượng tiêu du”.
上 “thượng” nghĩa là “bên trên”, thì dễ hiểu thôi.
油 “du” nghĩa là “dầu” cũng dễ hiểu.
Nhưng 標 “tiêu” nó ẩn nghĩa gì ?
Mình tra thử từ điển Hán Việt để rõ.
Thì ra 標 có nhiều cách đọc như : “tiêu, phiêu, biểu” có nghĩa là “ngọn”, “khuôn mẫu”, “cây nêu”
Tên chữ Hán in trên hộp, trên chai của dòng dầu gió Siang Pure Oil (thường gọi là dầu ông già Thái Lan) là 上標油 , phiên âm Hán Việt đọc là “Thượng Tiêu Du”.

Cụm từ 上標油 còn có thể đọc theo âm Hán Việt là “Thượng Phiêu Du”, “Thượng Biểu Du” (hoặc người Tàu gọi sản phẩm này là “Thượng Tiêu Bản”).

1. Nguồn gốc tên gọi
 
Thương hiệu dầu gió “Ông Già” Thái Lan Siang Pure Oil có nguồn gốc sâu xa từ công thức y học cổ truyền của người Hoa di cư vùng Triều Sán (Quảng Đông).
- Tên tiếng Thái: เซียงเพียวอิ๊ว (Siang Pure Ew / Siang Pure Oil)
- Chữ Hán in trên hộp, trên chai: 上標油
- Phiên âm Triều Châu: Siang-phiêu-iú
(đọc trại thành Siang-pure-oil trong tiếng Anh và tiếng Thái).
Thượng Tiêu Du  (上標油) mang ý nghĩa là "loại dầu mang nhãn hiệu hàng đầu"
 
2. Chiết tự âm Hán Việt
 
Khi dịch chữ Hán 上標油 sang âm Hán Việt, chúng ta sẽ có:
上 (Thượng): Nghĩa là ở trên, cao cấp, danh tiếng.
標 (Tiêu / Biểu): Nghĩa là nhãn hiệu, cột mốc, tiêu chuẩn (trong từ "mục tiêu", "nhãn hiệu").
油 (Du): Nghĩa là dầu, tinh dầu.
 
* Nguồn gốc tên gọi "Siang Pure" liên quan đến chữ Hán:
 
Mặc dù nhãn chữ Hán trên bao bì sản phẩm ghi là Thượng Phiêu Du (上標油), nhưng cách đọc tiếng Anh Siang Pure lại bắt nguồn từ âm đọc tiếng Triều Châu của một cụm từ Hán khác.
 
 Do người sáng lập thương hiệu này là ông Boonchua Eiampikul - một người gốc nhập cư từ vùng Sán Đầu (Triều Châu, Trung Quốc) sang Thái Lan.

Khi phân phối cho thị trường người Hoa, hãng sử dụng tên gọi Thượng Tiêu Du (上標油) làm thương hiệu chính thức để khẳng định uy tín và chất lượng của sản phẩm.

Như vậy, từ phiên âm Triều Châu: Siang-phiêu-iú  (đọc trại thành Siang-pure-oil trong tiếng Anh và tiếng Thái). Nhãn chữ Hán trên bao bì sản phẩm ghi là 上標油 với âm Hán Việt là “Thượng Phiêu Du,  “Thượng Tiêu Du”, “Thượng Biểu Du”.
 
Trong tiếng Anh chữ “Pure”  có nghĩa là tinh khiết, nguyên chất hoặc thuần túy…
“Pure Oil” có nghĩa là dầu nguyên chất hoặc dầu tinh khiết, chỉ loại dầu được chiết xuất từ thực vật hoặc động vật mà không bị pha trộn với các chất phụ gia, tạp chất hay dầu nền rẻ tiền khác.
 
Công dụng:
 
Dầu gió đỏ Siang Pure Oil là sản phẩm của Thái Lan dùng để:             
- Giảm cảm lạnh, ngạt mũi, đau đầu, chóng mặt.
- Xoa dịu vết sưng, bầm tím và ngứa do côn trùng đốt .
- Giảm đau cơ khớp nhẹ.
- Giữ ấm cơ thể và tạo cảm giác sảng khoái.

                                  La Thuỵ sưu tầm và biên tập

Phụ chú:

Âm Hán Việt có những cái ngồ ngộ. Trước 1975, khi học môn triết, tôi ngỡ ngàng về một số từ ngữ chẳng hạn YÊN SĨ PHI LÝ THUẦN, sau đó mới hay rằng đó là cách phiên âm Hán-Việt cũ từ chữ Hán 英士斐理純 (do Lương Khải Siêu phỏng dịch) để chỉ từ INSPIRATION (có nghĩa là cảm hứng) ở tiếng Pháp hoặc tiếng Anh, trong triết học dùng chỉ trạng thái thăng hoa, linh cảm hoặc nguồn cảm hứng sáng tác nghệ thuật.
*
Cũng lạ, PHIÊU 標 là âm Hán Việt của PURE (tiếng Anh), nhưng DU 油 là nghĩa chính của OIL (tiếng Anh).
"Thượng Phiêu Du"上標油 là hỗn hợp của phiên âm Hán Việt các từ tiếng Anh với
âm Hán Việt của chữ Hán có ý nghĩa trực tiếp !

Tra từ điển Hán Nôm, ta thấy: 油 (DU)

- Âm Hán Việt: du
- Âm Quan thoại: yóu
ㄧㄡˊ, yòu ㄧㄡˋ
- Âm Nôm: dàu, dầu, du, dư, rầu, trầu
- Âm Nhật (onyomi):
ユ (yu), ユウ (yū)
- Âm Nhật (kunyomi):
あぶら (abura)
- Âm Hàn:
유
- Âm Quảng Đông: jau4

Như vậy, "Íu" (hoặc "iêv", "iu"), không phải là phiên âm của chữ DU 油 mà là phiên âm của chữ OIL.

Từ OIL trong tiếng Anh được người Triều Châu phiên âm thành "อิ๊ว" - phát âm là iu / íw).
Trong tiếng Anh từ YOU được phiên âm quốc tế là /juː/, đọc nhanh nghe như là "du"
Từ THANK YOU được phiên âm quốc tế là /ˈθæŋk juː/, người Việt thường đọc gần đúng là "thanh-kyu" không đọc là ''thanh du'' ...

*
Tên chữ Hán của loại dầu gió này là hỗn hợp âm Hán Việt của chữ Hán như THƯỢNG 上 (Siang), kết hợp phiên âm Hán Việt các từ tiếng Anh PURE (phiêu) và OIL (Ew, íu) thành “Siang-phiêu-iú”, Thượng Phiêu Du (上標油). Đặc biệt, dù phiên âm chữ OIL trong tiếng Anh thành “íu”, họ vẫn viết chữ Hán là DU 油. Chữ PURE trong tiếng Anh, họ viết thành 標 “phiêu” (hoặc “tiêu”)

Dầu gió Siang Pure Oil (上標油) của Thái Lan, do người Hoa di cư từ vùng Sán Đầu (Triều Châu, Trung Quốc) sang Thái Lan sản xuất. Họ dùng tên tiếng Thái: เซียงเพียวอิ๊ว (Siang Pure Ew) và tên tiếng Anh Siang Pure Oil để quảng cáo cho thương hiệu dầu gió này, đồng thời ghi chữ Hán上標油 in trên hộp, trên chai với ý nghĩa là "loại dầu mang nhãn hiệu hàng đầu"
READ MORE - DẦU GIÓ SIANG PURE OIL (上標油) CỦA THÁI LAN - La Thuỵ sưu tầm và biên tập

MÁI CHÙA TRẦM SAU LŨY TRE LÀNG - Lê Thi

 



MÁI CHÙA TRẦM SAU LŨY TRE LÀNG 

Lê Thi

 

Nơi người con quê hương trở về gieo những hạt lành. 

Rời Quốc lộ 1, theo con đường làng quanh co men dòng sông Thác Ma, qua những lũy tre xanh, vườn cau, đồng lúa, du khách bắt gặp một mái chùa thấp thoáng giữa không gian thanh bình của làng quê Quảng Trị. 

Buổi sớm nơi đây êm ả đến lạ. Tiếng chào mào, tiếng khướu vang lên giữa vườn cây như một bản nhạc tự nhiên đánh thức làng quê. Khi trời còn chưa sáng rõ, từ khoảng 4 giờ sáng, những người nông dân đã tìm về chùa. Trước khi bắt đầu một ngày làm việc trên đồng ruộng, họ lặng lẽ lễ Phật, cầu mong bình an, sức khỏe và một ngày lao động thuận lợi.

Đó là Chùa Trầm – một ngôi chùa không quá xa hoa, nhưng gây ấn tượng bởi vẻ đẹp mộc mạc, cổ kính và một không gian văn hóa – tâm linh được gây dựng bằng nhiều tâm huyết. 

Trong một dịp hữu duyên, tôi có cơ hội gặp Đại đức Châu Tịnh, trụ trì Chùa Trầm. Ở vị tu sĩ này, dễ nhận thấy một tình yêu sâu nặng dành cho quê hương và mong muốn đưa những giá trị tốt đẹp của Phật giáo, văn hóa dân tộc đến gần hơn với đời sống cộng đồng. 

Từ năm 2018, Thầy dành nhiều thời gian, công sức xây dựng Chùa Trầm giữa làng quê. Với Thầy, dựng chùa không chỉ là tạo nên một nơi thờ tự, mà còn là cách gìn giữ những giá trị văn hóa Việt, tạo một không gian để người dân tìm về sự bình an và nuôi dưỡng đời sống tinh thần. 

Giữ hồn xưa trong một không gian mới. 

Điểm nhấn của Chùa Trầm là ngôi chánh điện bằng gỗ lim, mang dáng dấp kiến trúc nhà cổ xứ Huế. Những bộ tủ, vật dụng bằng gỗ quý càng làm không gian thêm vẻ trầm mặc. 

Trên khuôn viên rộng hơn 7.000 m², hàng cây xanh, vườn cây ăn trái, hồ cá Koi, khu vực thưởng trà và không gian sinh hoạt tạo nên một cảnh quan hài hòa với thiên nhiên. 

Dưới chân tượng Quán Thế Âm Bồ Tát, một góc nhỏ bên hồ trở thành nơi nhiều người tìm đến uống trà, đọc sách, trò chuyện hoặc đơn giản chỉ ngồi yên nghe tiếng gió và tiếng chim. 

Giữa nhịp sống ngày càng hối hả, một khoảng lặng như thế đôi khi là món quà quý giá. 

Nhưng sức sống của Chùa Trầm không chỉ nằm ở cảnh quan. 

Điều làm nên nét riêng của ngôi chùa chính là những hoạt động hướng đến cộng đồng. 

Mỗi đêm, Phật tử từ các thôn làng tìm về chùa. Họ đến nghe pháp, chia sẻ những câu chuyện về đạo lý, cách sống và tình người. 

Phật pháp ở đây được chuyển tải bằng những điều gần gũi: biết yêu thương cha mẹ, sống tử tế, biết sẻ chia và làm những việc thiện trong khả năng của mình. 

Một thư viện giữa làng quê 

Chùa Trầm còn có thư viện với hàng trăm đầu sách về Phật giáo, văn hóa, lịch sử, đời sống và những câu chuyện về các doanh nhân thành đạt. 

Đằng sau thư viện ấy là một quan niệm đáng quý: muốn thay đổi con người không chỉ cần những lời giảng, mà còn cần tri thức. 

Qua những câu chuyện với Đại đức Châu Tịnh, có thể cảm nhận ở Thầy vốn kiến thức phong phú và tinh thần học hỏi không ngừng. 

Sự kết hợp giữa đạo pháp, văn hóa và tri thức tạo cho Chùa Trầm một sắc thái riêng: vừa là không gian tâm linh, vừa là nơi kết nối cộng đồng và khơi mở việc học. 

Từ lời giảng đến những việc làm. 

Tinh thần từ bi ở Chùa Trầm không dừng lại trong lời kinh tiếng kệ. 

Các hoạt động thiện nguyện, giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn, chương trình cộng đồng, hoạt động múa lân, tổ chức trung thu cho các cháu, bữa ăn bufe cho các cụ già, bà con trong làng quê nghèo.. được tổ chức với mong muốn đưa tinh thần yêu thương vào đời sống thực tế. 

Bởi giá trị của đạo, suy cho cùng, không chỉ nằm ở những điều được nói trong chùa, mà còn nằm ở những gì con người làm sau khi bước ra khỏi cánh cổng chùa. 

Một bàn tay đưa ra đúng lúc. 

Một phần quà dành cho người khó khăn. 

Một lời động viên dành cho người đang tuyệt vọng. 

Những điều nhỏ bé ấy có thể tạo nên sức mạnh lớn lao của tình người. 

Trở về để cho đi. 

Có lẽ câu chuyện đẹp nhất về Chùa Trầm là câu chuyện của một người con quê hương sau nhiều năm tu học đã trở về. 

Trở về với con đường làng, dòng sông, những lũy tre và những con người thân thuộc. 

Nhưng sự trở về ấy không chỉ là trở về với quê hương, mà còn là trở về để trao đi những gì mình đã học, đã trải nghiệm và tích lũy trong hành trình tu tập. 

Một ngôi chùa có thể bắt đầu từ những khúc gỗ, viên ngói, hàng cây. Nhưng để trở thành một nơi có sức sống, cần có tấm lòng của con người. 

Ở Chùa Trầm, tấm lòng ấy được thể hiện qua từng bài giảng, từng trang sách, những hoạt động cộng đồng và những việc làm thiện nguyện. 

Có người tìm đến để lễ Phật. 

Có người đến nghe pháp. 

Có người tìm một cuốn sách. 

Có người chỉ muốn ngồi uống một chén trà trong buổi sáng yên bình. 

Nhưng khi rời Chùa Trầm, điều họ mang theo có lẽ không chỉ là một kỷ niệm về một điểm đến, mà còn là một chút nhẹ nhàng trong tâm trí. 

Giữa miền quê Quảng Trị nhiều nắng gió, mái Chùa Trầm vẫn lặng lẽ nép mình sau lũy tre làng. 

Dòng sông Thác Ma vẫn trôi. 

Ruộng lúa vẫn xanh. 

Vườn cau vẫn đón gió. 

Tiếng chào mào, tiếng khướu vẫn ngân lên giữa buổi sớm. 

Và từ khi trời còn chưa sáng, những bước chân người nông dân đã tìm về, gửi một lời cầu bình an trước khi bắt đầu ngày mới. 

Bởi nơi ấy không chỉ có một mái chùa. 

Nơi ấy có một người con quê hương đang dùng hành trình tu học của mình để gieo những hạt giống thiện lành trên chính mảnh đất đã nuôi mình lớn lên. 

Trở về không phải để tìm một điều gì cho riêng mình, mà để trao đi yêu thương, lan tỏa tri thức và mang đến cho mọi người một nơi tìm thấy sự bình an. 

Có lẽ đó cũng chính là nguồn năng lượng đẹp nhất mà Chùa Trầm đang âm thầm lan tỏa giữa làng quê Quảng Trị hôm nay. Hy vọng chùa Trầm là điểm đến nuôi dưỡng tâm linh và nguồn năng lượng tích cực trong cuộc sống

 

Hải Lăng, ngày thu tháng bảy 2026. 

Lê Thi

(Hình: Tác giả với Đại đức Châu Tịnh tại chùa Trầm.)

READ MORE - MÁI CHÙA TRẦM SAU LŨY TRE LÀNG - Lê Thi

QUAN SÁT PHONG CÁCH - Đặng Xuân Xuyến



    QUAN SÁT PHONG CÁCH

Đặng Xuân Xuyến

 

Ngạn ngữ đã có câu: “Trông mặt mà bắt hình dong, con lợn có béo miếng lòng mới ngon”. Bạn đã bao giờ nghĩ như vậy chưa? Quả thật, qua phong cách ta có thể hiểu được tính cách, bản chất của một con người cụ thể. Làm thương mại, tiếp xúc với nhiều con người, nhiều đối tượng, hẳn bạn sẽ rút ra được ít nhiều kinh nghiệm về bản chất, tính cách thực của một con người qua phong cách giao tiếp của họ. Những điều tôi trình bày dưới đây, cũng chỉ là những điều tự rút ra trong cuộc sống của mình còn với bạn có thể là một đôi điều tham khảo. 

1. Quan sát đi đứng: 

Tướng thuật cho rằng: Dáng đi phải chắc chắn, nhẹ nhàng, đúng tiết độ mới quý. Dáng đi hấp tấp, luôn lao đầu về phía trước thì đời phải bôn ba vất vả. Dáng đi vặn vẹo như rắn bò thì đấy là tướng của người không đàng hoàng, mà số phận cũng long đong. Dáng đi nhẹ nhàng mà thanh thoát thì đấy là tướng của người thông minh, nhưng nếu dáng đi lạch bạch như ngan như ngỗng, chân bước gấp gáp như bước đi của con ngựa thì đấy là tướng đi của người có số phận khổ sở. Dáng đi nhẹ tênh mà người thì to lớn, thì đó là tướng của người được hưởng phú quý, còn dáng đi như nện đất, thình thịch mà người bé nhỏ thì đấy là tướng của người có số nô tì. 

2. Quan sát về sắc mặt: 

Trong dân gian, người ta quan niệm những người da mặt trắng sáng như ngọc thường là người hiển vinh trong xã hội. Thực tế không hẳn sẽ là vậy. Nói chung, về sắc mặt, cần phải có hai điều kiện: sắc diện da không dễ biến đổi và phải có ánh quang khác thường mới là người thành danh trong xã hội. 

Những người khi giao tiếp thường nói oang oang, mặt đỏ dừ như gấc thì đấy là kẻ hữu dũng vô mưu, còn những người sắc mặt luôn thay đổi khi gặp những tình huống rắc rối, căng thẳng thì đấy là những người sẽ không làm nên tích sự gì cả, chớ nên giao việc quan trọng cho họ mà hỏng việc. Những người như vậy phần do thần kinh kém. Phần do trực tính hoặc nhát tính nên họ thường có những biểu hiện như vậy. Thực tế cho thấy, khi thần kinh yếu, nếu gặp trắc trở, khó khăn lớn sẽ dẫn tới tâm lý sợ hãi hoặc căng thẳng, từ đó dẫn đến sự đổ bể, suy sụp tinh thần, không thể làm được việc. 

Những người có sắc mặt không thay đổi khi gặp những bất trắc, khó khăn, nguy hiểm thì đấy mới là những người có nghị lực, bản lĩnh, có trí tuệ hơn người và vì thế họ mới là những người tạo nên tiếng vang trong xã hội. 

3. Quan sát thái độ: 

Người quân tử tính nhân từ, thái độ bao giờ cũng đường hoàng, đứng đắn, không vồn vã, không cầu cạnh. Ngược lại, những kẻ tiểu nhân thì đon đả mời chào, ngọt ngào phỉnh nịnh. 

Người trung dũng thì có thái độ cẩn thận, người hào phóng thì không cầu kỳ, câu nệ, không chấp nhặt, e dè. 

Thấy hoạn nạn hay giúp đỡ là người chuộng nghĩa; thấy lợi lộc tranh giành cho bằng được là kẻ hẹp hòi. 

Nay ngả đằng này, mai ngả đằng kia, không giữ quan điểm là kẻ gian trá. Luôn luôn sinh sự là kẻ thực ngu. 

Gặp ai cũng coi là tri kỷ, chơi thân là kẻ lật lọng. 

Làm việc lớn không than mệt nhọc, không oán giận mới xứng đáng là bậc tài cao. Kính già thương trẻ là người tin cậy. Trong giàu khinh nghèo là kẻ bất nhân. 

Khi viết đến những dòng này, một anh bạn khi ngó qua bản thảo có hỏi tôi: Hạ Vinh Thi viết như thế này có sợ mọi người cho là tuyên truyền mê tín không? Không đợi tôi trả lời anh bạn tôi thủ thỉ nói: Tất cả những biểu hiện đó đều do tâm lý mà ra, nó biểu hiện cốt cách của con người thì dù có nói hay không nói mọi người nhìn nhận vào khắc sẽ nhận ra thì những lời trên của Thi sao gọi là mê tín? Hơn nữa, đó lại là thực tế, là kinh nghiệm, mà đã là kinh nghiệm thì làm sao có chuyện chính xác 100%, chính xác tuyệt đối. Tất cả chỉ để tham khảo, để ngẫm xem sao, phải vậy không, Thi? 

Tôi không còn cách nào trả lời nữa, đành gật đầu xác nhận. Còn bạn? Bạn có tin những điều tôi vừa viết? Hãy nhớ giúp tôi một điều: Những gì tôi viết ở phần này chỉ là tâm sự với bạn để tôi và bạn cùng thử ngẫm xem sao.

 

----------------------

 

(Trích từ: MƯU LƯỢC GIÀNH CHIẾN THẮNG 

của Đặng Xuân Xuyến, Nhà xuất bản Thanh Niên 2000)

READ MORE - QUAN SÁT PHONG CÁCH - Đặng Xuân Xuyến