Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Hoàng Đằng. Show all posts
Showing posts with label Hoàng Đằng. Show all posts

Monday, November 13, 2023

TÔI ĐỌC HỒI KÝ “BỤI CÁT CHÂN MÂY” CỦA ĐẠO DIỄN LÊ CUNG BẮC (1946 – 2021) – Hoàng Đằng



Gia đình anh Lê Cung Bắc gởi tặng tôi tập hồi ký “BỤI CÁT CHÂN MÂY” qua Ban Liên Lạc cựu học sinh trường Nguyễn Hoàng tại Quảng Trị.
 
Tôi đã nhận sách cách đây mấy ngày.
Tôi được tặng vì tình Nguyễn Hoàng - Lê Cung Bắc có học Nguyễn Hoàng từ Đệ Thất đến Đệ Tam (lớp 6 đến lớp 10 – 1959 - 1963) và tôi có dạy Nguyễn Hoàng từ 1965 đến 1970.
Tôi lấy làm tự hào và trân quý quà tặng.
Tôi đọc và viết ra mấy dòng này.

*
1- Qua tập hồi ký, trước tiên, tôi tìm hiểu ý nghĩa nghệ danh CUNG BẮC và ý nghĩa tựa đề tập hồi ký “BỤI CÁT CHÂN MÂY”.
 
 Lê Cung Bắc tên thật là Lê Hữu Ty. Anh mồ côi cha lúc mới 10 tháng tuổi. Lớn lên trong vòng tay của mẹ. Mẹ anh có gốc Bắc (người Nam Định); vào đời, hoạt động nổi tiếng trong kịch nghệ và điện ảnh, để tỏ lòng ngưỡng vọng đến mẹ, anh dùng từ Cung Bắc (kính cẩn đối với đất Bắc – quê Mẹ) để làm nghệ danh.
 
“BỤI CÁT CHÂN MÂY” là tập hồi ký cuối đời của Lê Cung Bắc. Anh không tự chấp bút được mà, dù không được khỏe khi đang trên giường bệnh điều trị ung thư phổi vào giai đoạn cuối, sốt sắng kể lại cho diễn viên Võ Sông Hương ghi âm bắt đầu từ 05/4/2021 – nghĩa là trước lúc anh lìa đời không lâu (anh mất ngày 13/6/2021).
 
Tựa đề sách ban đầu định lấy tên là “THẾ GIAN KÝ”, tập sách ghi lại chuyện trong đời; nhưng sau anh muốn đổi lại là BỤI CÁT CHÂN MÂY. Anh lý giải: “Chân mây là cái gốc; cát bụi cũng có cái gốc của nó …”; ý nghĩa là con người sinh ra từ bụi cát, chết tan thành bụi cát; như vệt mây ở chân trời hiện rồi tan và, trong tâm trạng nôn nóng, nói với diễn viên Võ Sông Hương: “Chú chỉ mong nhìn được CÁT BỤI CHÂN MÂY trước khi rời cõi tạm. Không phải để làm gì to tát mà chú chỉ muốn đó là một kỷ niệm đẹp cuối đời của chú đối với những người chú yêu thương và thương yêu chú, kể cả những người không thương chú”

*
2- Qua tập hồi ký, tôi tìm hiểu quê quán và dòng dõi của Lê Cung Bắc.
 
Quê anh là làng Xuân Thành – một làng quê nhỏ thuộc xã Triệu Độ, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
Xuân Thành đã trở thành tên xưa. Từ năm 2019, thôn Xuân Thành không còn là một đơn vị hành chánh nữa. Vì là thôn nhỏ, chỉ có 60 hộ dân, chính quyền đã đem nhập với thôn Quy Hà có 229 hộ dân thành thôn mới lấy tên là thôn Xuân Quy.
Đất làng Xuân Thành là cồn nổi được bồi tụ qua thời gian do phù sa sông Thạch Hãn; thuở xưa, cồn nổi ấy do làng Giáo Liêm chiếm lĩnh.
 
Tiến sĩ Lê Phát lấy vợ là chị của quan Ngự Sử Phan Thiệu Khanh, người làng Giáo Liêm.
 
Làm quan, thương lượng với làng Giáo Liêm nhượng cồn nổi ấy rồi ngài Tiến Sĩ Lê Phát đem dân Xuân Thành đang sống trên sông nước ở bờ Bắc sông Thạch Hãn thuộc huyện Gio Linh lên lập cư và lập ra làng Xuân Thành ở bờ Nam sông Thạch Hãn thuộc huyện Triệu Phong.
 
Xuân Thành là làng bao quanh bởi nhiều dòng nước, đất phù sa màu mỡ, phong cảnh hữu tình, ươm mầm cho những tài năng, trong đó có anh Lê Cung Bắc.
 
Ngài Tiến Sĩ Lê Phát (1854 – 1898), người đã lập ra làng Xuân Thành thuộc huyện Triệu Phong, là ông nội của anh Lê Cung Bắc, đỗ Tiến Sĩ năm 1895, làm quan dưới triều nhà Nguyễn. Do bệnh, ngài cáo quan về quê nhà rồi mất 1898.
 
Thân sinh anh Lê Cung Bắc là ngài Lê Hữu Sảng (? – 1947) - con trai trưởng của ngài Tiến Sĩ Lê Phát – học trường Quốc Tử Giám, rồi ra làm quan, công tác ở một vài tỉnh miền Trung; cuối cùng, tòng sự tại bộ Hình trước khi về hưu trí tại quê với hàm Hàn Lâm Viện Thị Giảng. Năm 1947, bị một số kẻ lạ mặt bắt đem đi giết, gia đình tìm được thi hài hôm sau trên bờ ruộng.
 
Các chú của anh Lê Cung Bắc cũng là những bậc khoa bảng: Ngài Lê Hữu Tiềm (có tên khác Lê Nguyên Lượng) đỗ Phó Bảng năm 1919, ra làm quan; ngài Lê Hữu Phổ đỗ Cử Nhân, cũng ra làm quan.
 
Thân sinh của anh Lê Cung Bắc – ngài Lê Hữu Sảng – có 3 bà vợ. Lê Cung Bắc là con út trong gia đình và cũng là con út bà thứ 3 (1922 ? – 1998). Lê Cung Bắc có 3 bà chị (02 bà là con của mẹ thứ nhất + 01 bà cùng mẹ) và 09 ông anh (04 anh của bà mẹ nhất, 04 anh của bà mẹ nhì và 01 anh cùng mẹ).
 
Các ông anh có người theo Việt Minh chống Pháp, có người làm công chức cho chế độ Quốc Gia.
Ở cả 2 chế độ, họ đều giữ những chức vụ tương đối lớn. Có ông anh – con bà mẹ 2 – được truy phong Anh Hùng Lực Lượng Võ Trang và bà mẹ nhì được truy tặng danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng.
 
Nhờ danh tiếng của gia đình, nhờ vai vế của các ông anh, Lê Cung Bắc, dù sinh ra và lớn lên trong thời dâu bể, vẫn có may mắn, lợi thế hơn nhiều người cùng trang lứa.

*
3- Qua tập hồi ký, tôi tìm hiểu con đường học vấn của Lê Cung Bắc.
 
Lê Cung Bắc đi học khá sớm, bắt đầu từ năm 1950 – lúc mới tròn 4 tuổi. Học trong vùng Việt Minh, do tình hình chiến sự, buổi học buổi nghỉ. Hiệp định Genève ký kết; những lớp học tạm bợ này chấm dứt.
 
Năm 1955 (?), Lê Cung Bắc được ông anh cả (con mẹ thứ nhất) là ông Lê Hữu Kỷ đang làm công chức lớn trong ngành hàng hải của chính phủ Quốc Gia Việt Nam đem vô học bậc Tiểu Học chương trình Việt – Pháp tại trường Lê Bá Cang Sài Gòn.
 
Mùa thu năm 1957 (?), trở về quê, Lê Cung Bắc được nhận vô học lớp Nhì (lớp 4 bây giờ) rồi lớp Nhất (lớp 5) trường Tiểu Học Gia Độ.
 
Xong lớp Nhất (lớp 5 bây giờ) tức là xong bậc Tiểu Học, Lê Cung Bắc trúng tuyển kỳ thi tuyển vào lớp Đệ Thất (lớp 6) năm học 1959 – 1960 (?) trường trung học Nguyễn Hoàng tại tỉnh lỵ Quảng Trị. Lê Cung Bắc học ở đây đến xong lớp Đệ Tam (lớp 10).
 
Qua trung học đệ II cấp – Đệ Tam, Đệ Nhị, Đệ Nhất (lớp 10, 11, 12 trung học phổ phông bây giờ), Lê Cung Bắc chọn ban C – ban Văn Chương Sinh Ngữ. Năm sau, Nguyễn Hoàng chưa có lớp Đệ Nhị (lớp 11) ban C, Lê Cung Bắc vào Quốc Học Huế học tiếp lớp Đệ Nhị, Đệ Nhất C cho xong Tú Tài.
 
Trong thời gian học Nguyễn Hoàng ở tỉnh lỵ Quảng Trị, Lê Cung Bắc xa quê Xuân Thành khoảng non 20 cây số, phải ở trọ, cũng không gặp khó khăn gì vì ở đó, Lê Cung Bắc có nhiều người thân.
 
Trong hai năm học Quốc Học Huế, Lê Cung Bắc cũng có nhà của ông anh Lê Hữu Khải (con bà mẹ nhất) đang giữ chức lớn trong ngành thủy lâm và nhà bà chị ruột Lê thị Hoàng Oanh đang làm thư ký tại ty Thủy Lâm.
 
Xong Tú Tài, Lê Cung Bắc định thi vào trường Không Quân, thụ huấn để trở thành phi công, nhưng mẹ không cho, lấy cớ là có 5 ông anh (4 ông là con của mẹ nhì + 1 ông cùng mẹ) đang theo chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, không chừng đang chiến đấu ở miền Nam, chả lẽ anh em chém giết nhau.
 
Lê Cung Bắc lên Đà Lạt học trường Chính Trị Kinh Doanh thuộc Viện Đại Học Đà Lạt. Nơi đây, việc ăn ở có phần thuận tiện vì người em - con ông chú - tên Lê Phỉ (sinh năm 1927) đang làm hiệu trưởng trường tư thục Việt Anh ở đó. Với thêm, mộng của Lê Cung Bắc là sẽ ra ứng cử Dân Biểu, Nghị Sĩ hoặc sẽ công tác trong ngành ngoại giao, vì vậy, xong 2 năm học tổng quát, bắt đầu năm 3, Lê Cung Bắc chọn ngành Bang Giao Quốc Tế.
 
Tốt nghiệp Cử Nhân Chính Trị Kinh Doanh năm 1971, Lê Cung Bắc ghi danh học tiếp Cao Học ở Sài Gòn. Nơi đây, lúc đó, Lê Cung Bắc cũng có nhiều gia đình trong nội thân.
Con đường học vấn của Lê Cung Bắc tương đối suôn sẻ, học xa quê ở đâu cũng có nhà anh em để nương tựa.
 
Điều đặc biệt nơi Lê Cung Bắc, khi anh kể để ghi vào tập hồi ký, là lòng trân quý, tình cảm đối với những lớp, những trường mà anh đã kinh qua: từ những lớp vỡ lòng tạm bợ tại quê Xuân Thành với buổi học, buổi nghỉ vì tránh giặc càn, qua trường tiểu học Gia Độ với cơ sở đơn sơ, nhưng đầy ắp tình thầy tình bạn, trường Nguyễn Hoàng mà Cung Bắc bảo là “trong trái tim tôi”, “đã giúp anh có những kiến thức cơ bản để phát triển tư duy”, trường Quốc Học là nơi Lê Cung Bắc gọi là “cái  nôi hình thành nhân sinh quan, định hướng bản thân”, đến Viện Đại Học Đà Lạt – nơi để Cung Bắc bung nở tài năng sau này.
 
Lê Cung Bắc khác nhiều người ở chỗ là không quên, không lơ những nơi mà anh đi qua khi đứng trên đỉnh vinh quang sự nghiệp dù nơi đó đơn sơ, nghèo hèn, không tiếng tăm gì.
 
Ngọt bùi nhớ lúc đắng cay,
Ra sông nhớ suối, có ngày nhớ đêm. 
                                  (Thơ Tố Hữu) 
*
4- Qua tập Hồi Ký, tôi tìm hiểu sự nghiệp của Lê Cung Bắc.
 
Dù học trường Chính Trị Kinh Doanh, tốt nghiệp ngành bang giao quốc tế, ra đời, Lê Cung Bắc không làm gì trong lãnh vực chính trị và ngoại giao.
 
Anh có dạy giờ tại trường trung học tư thục Việt Anh do ông em - con ông chú - là Lê Phỉ làm hiệu trưởng tại Đà Lạt lúc đang là sinh viên Đại Học Đà Lạt. Việc dạy học của anh chưa đáng gọi là nghề mà chỉ là phương tiện kiếm tiền phụ vào chi phí học đại học.
Lúc về Sài Gòn học Cao Học, Lê Cung Bắc có cộng tác với một số tờ báo; nhưng viết báo cũng chỉ là phương tiện để mở rộng giao lưu và kiếm thu nhập phụ vào những khoản chi tiêu chứ chưa phải là nghề.
Từ ngày 24/4/1972 đến 30/4/1975, Lê Cung Bắc thi hành lệnh tổng động viên. Sau thời gian thụ huấn tại quân trường, Lê Cung Bắc ra làm trung đội trưởng Địa Phương Quân ở quân khu 3 một thời gian ngắn; rồi nhờ quen biết, nhờ tài năng kịch nghệ đã có tiếng tăm, Lê Cung Bắc được thuyên chuyển về đơn vị không tác chiến. Như thế, dù mang cấp bậc cuối cùng là Thiếu Úy, Lê Cung Bắc làm sĩ quan chỉ là việc bất đắc dĩ, nên chưa thể gọi là nghề quân nhân.
 
Nghề thực sự của Lê Cung Bắc thuộc lãnh vực kịch nghệ và điện ảnh.
Ở lãnh vực này, anh vừa là diễn viên, vừa viết kịch bản, vừa đạo diễn, tài năng được đánh giá cao với nhiều giải thưởng, và được Nhà Nước công nhận danh hiệu Nghệ Sĩ Ưu Tú. Qua kịch nghệ và điện ảnh, Lê Cung Bắc đã thành danh và nổi tiếng ở tầm mức quốc gia, thậm chí ở tầm mức quốc tế - ở trang 95 và 96 của Hồi Ký, Lê Cung Bắc kể: “Một điều thú vị là lúc tôi đang trong nhà binh mà lại được vinh dự đại diện cho ngành kịch nói Sài Gòn (dạo đó gọi là thoại kịch) sang Pháp và Canada nghiên cứu về lãnh vực này, đồng thời tham dự Liên Hoan Thanh Niên Thế Giới Các Quốc Gia Nói tiếng Pháp; tại Liên Hoan, tôi được mời làm trợ lý cho đạo diễn người Pháp khá nổi tiếng Caude Jerry để dựng vở kịch Les Nègus; sở dĩ tôi được chọn vì tôi đã khá nổi tiếng trong giới kịch nghệ và giỏi tiếng Pháp”.
*
Lê Cung Bắc giỏi kịch nghệ mà không học trường Kịch Nghệ - điều khiến tôi và có thể nhiều người thắc mắc.
Tôi lượm lặt những lời anh kể rải rác trong hồi ký để tìm giải đáp:
 
1- Lê Cung Bắc có năng khiếu bẩm sinh về kịch nghệ. Năng khiếu ấy thừa hưởng từ gia đình. Anh (con mẹ nhất) của Lê Cung Bắc là ông Lê Hữu Khải học thủy lâm, ra đời công tác trong ngành thủy lâm, nhưng lại có máu kịch nghệ. Cuối thập kỷ 1950, lập ban kịch Xây Dựng diễn tại hội Quảng Tri Huế, biên soạn và dàn dựng nhiều vở kịch. Ông Lê Hữu Khải còn nghiên cứu chuyên sâu về kịch nghệ, biên soạn công trình nghiên cứu được học giới đánh giá cao; vì vậy, từ giữa thập kỷ 1960, ông Khải được mời dạy kịch nghệ tại Đại Học Văn Khoa và Đại Học Sư Phạm Huế với tư cách học giả.
 
2- Lê Cung Bắc mê đọc truyện kiếm hiệp từ lúc còn học tiểu học. Truyện kiếm hiệp chứa đựng nhiều kịch tính. Mang dòng máu thích kịch nghệ, Lê Cung Bắc đã nghĩ ra và dàn dựng những vở kịch ngắn trong thời gian học tiểu học và trung học. Các vở diễn nào cũng được nhà trường khen thưởng và đồng môn đồng khóa tán dương.
Thời gian ở Đà Lạt, Lê Cung Bắc đã cùng bạn bè lập ban kịch, dàn dựng và diễn những vở kịch dài hơi của các kịch tác gia nổi tiếng (“Người viễn khách thứ mười” của Nghiêm Xuân Hồng, “Thành Cát Tư Hãn” của Vũ Khắc Khoan …). Vở diễn nào cũng được khán giả và giới sinh viên tán tụng; giáo sư Vũ Khắc Khoan, kịch tác gia, còn khen “Các anh chị diễn còn hay hơn sinh viên trường Quốc Gia Kịch Nghệ Sài Gòn”.
Dù vẫn biết rằng Lê Cung Bắc có tài diễn xuất, có tài dàn dựng Trời ban, những lời đánh giá tích cực ban đầu từ công chúng, bằng hữu và các bậc thầy vẫn là nguồn khích lệ cho sự bùng nở tài năng nơi Lê Cung Bắc.
 
3- Việc Lê Cung Bắc tiến sâu, tiến xa được trong lãnh vực kịch nghệ và điện ảnh còn nhờ anh thông minh về trí tuệ, đẹp trai về nhân dạng. Đó là dựa theo lời kể của anh và theo nhận xét từ công chúng và từ bạn bè anh. Còn tôi, tiếc là chưa có may mắn gặp mặt anh lần nào.
 
4- Việc Lê Cung Bắc trở nên lỗi lạc trong lãnh vực kịch nghệ và điện ảnh cũng nhờ anh am hiểu nhiều về triết học, văn học, sử học … Với lại, ngành học chính trị kinh doanh, bang giao quốc tế cũng giúp anh kỹ năng thu phục lòng người, sử dụng người đúng vai, đúng vế, biết quản lý và sắp xếp công việc hợp tình hợp lý.

*
Tập Hồi Ký BỤI CÁT CHÂN MÂY dài đến 224 trang, in trên giấy tốt, thiết kế và trang hoàng bìa mỹ thuật, chứa đựng nhiều nội dung về cuộc đời của anh Lê Cung Bắc.
 
Trong tâm trạng vui mừng được tặng sách, tôi đọc vội vàng và sau khi đọc xong, trong tâm trí tôi lắng đọng lại những điều mà tôi đã ghi trên đây.
 
Bài viết của tôi là sự bày tỏ lòng mến mộ của tôi đối với anh – một đồng trang tài năng (anh sinh 1946, tôi 1944), là sự tự hào của tôi về anh – một đồng hương, đồng môn nổi danh (cùng quê Quảng Trị, cùng gia đình trường Nguyễn Hoàng cũ), là nén hương lòng tưởng niệm và cầu nguyện cho linh hồn anh thảnh thơi nơi Tiên cảnh, cuối cùng, là lời cảm ơn gởi đến cô Bùi thị Giang – vợ anh - cùng các cháu – con anh - đã nghĩ đến tôi, gởi sách với lời ghi tặng thân thương: “Thân quý tặng thầy Hoàng Đằng”. 
 
13/6/2023
Hoàng Đằng

READ MORE - TÔI ĐỌC HỒI KÝ “BỤI CÁT CHÂN MÂY” CỦA ĐẠO DIỄN LÊ CUNG BẮC (1946 – 2021) – Hoàng Đằng

Tuesday, September 5, 2023

THỬ ĐOÁN ĐỌC VĂN BIA BẰNG HÁN VĂN TÌM THẤY Ở TỈNH LỴ QUẢNG TRỊ - Hoàng Đằng




Tôi thấy trên trang facebook của Nguyễn Duy Ái có thông tin:

“Những năm làm nghề xây dựng trên địa bàn thị xã Quảng Trị, tôi lại cơ duyên được gặp khá nhiều ngôi mộ của liệt sĩ, tử sĩ, quan lại, nhân dân quá cố... Trong đó có ngôi mộ của Ngài Hàn Lâm Viện Thị độc, bia dựng năm 1935.
Tôi đã gửi thư về địa phương, qua nhiều kênh, ở Quảng Nam đã có thư xác nhận là Tổ Tiên của họ, nhưng sau đó thấy không liên hệ tiếp.
Các Liệt Sĩ thì phối hợp với Chính Quyền Địa Phương đưa lên Nghĩa Trang thị xã Quảng Trị.
Có hai tử sĩ thì người nhà đã xác nhận đưa về quê.
Hằng năm, trước mùa Vu Lan, ngày 10/7, gia đình tôi lên viếng mộ, vệ sinh và tổ chức hiệp kỵ cho các vong linh.
Phật dạy: Chúng sanh là cha mẹ của nhau, nên hữu duyên nầy chắc là những người yêu thương trong quá khứ.
Nhân mùa Vu Lan, chúng tôi luôn khấn nguyện cầu mong các vong linh sớm tái sanh về Miền Tịnh Quốc”.
 
Dưới những dòng thông tin, có ảnh tấm bia mộ “Ngài Hàn Lâm Viện Thị Độc” và ảnh chụp phần phiên âm của ai đó (có lẽ do ông Nguyễn Duy Ái cây nhờ) từ chữ Hán ra âm Hán Việt viết bằng chữ Quốc Ngữ, xin gọi là bản phiên âm văn bia 1.
 
I- BẢN PHIÊN ÂM VĂN BIA 1

 
“CỐ PHU NGHỆ AN TỈNH NGHI LỘC HUYỆN VẠN TANG XÃ HÀN LÂM VIỆN THỊ ĐỘC

SUNG ĐIỀN KHÂM KHOA HOÀNH NHI TƯ HOÀNG SANH PHỦ QUÂN CHI MỘ
 
CHÁNH PHỐI THẤT PHẨM NHU NHÂM QUẢNG NAM TỈNH PHÚ BÌNH XÃ HƯƠNG XUÂN BÁI CHI

KHẢI ĐỊNH ẤT HỢI NIÊN NHUẬN TỨ NGUYỆT NHỊ THẬP LỤC NHẬT (1935).
 
Phần phiên âm tối nghĩa vì (1) người viết phiên âm nghe người đọc âm Hán Việt các chữ Hán không rõ nên viết sai nhiều chữ và (2) bản văn bia bằng chữ Hán khắc không rõ, lại lâu ngày bị lu mờ, phải vừa đọc vừa đoán.
 
II- BẢN PHIÊN ÂM VÀ DỊCH NGHĨA VĂN BIA 2

Trên facebook, BS. Nguyễn Văn Nguyên đã đọc và phiên âm lại, kèm phần dịch nghĩa:
 
“ĐẠI NAM CỐ PHU NGHỆ AN TỈNH, NGHI LỘC HUYỆN, VẠN TRANG XÃ, HÀN LÂM VIỆN KIỂM THẢO.

NGUYÊN QUẢNG NAM TỈNH TẤN THI HOÀNG TRÚC NHỊ TỰ HÀN SINH, PHỦ QUÂN CHI MỘ.
 
CHÁNH PHỐI THẤT PHẨM LỤC NHÂN QUẢNG NAM TỈNH, PHÚ BÌNH XÃ, PHAN THỊ XUÂN BÁI CHÍ

KHẢI ĐỊNH ẤT SỬU NIÊN, NHUẬN TỨ NGUYỆT, NHỊ THẬP LỤC NHẬT
 
Tạm dịch như sau:
 
“Đại Nam (tên nước ta), chồng quá vãng, tỉnh Nghệ An, huyện Nghi Lộc, xã Vạn Trang, là Hàn Lâm Viện Kiểm Thảo
Nguyên quán Quảng Nam, Tấn Thi Hoàng Trúc Nhị, tự là Hàn Sinh, là mộ của phủ quân. 

Chánh thất phẩm Lục Nhân, tỉnh Quảng Nam, xã Phú Bình tên Phan Thị Xuân bái ghi.
Năm Ất Sửu triều vua Khải Định, tháng tư nhuận, ngày hai mươi sáu.”
 
BS. Nguyễn Văn Nguyên đã tìm thấy một số điều xét ra không hợp lý trong bản phiên âm trước:
 
1/ Thiếu chữ trên bia.
2/ Chức Kiểm Thảo Quan của Hàn Lâm Viện triều Nguyễn ngang hàng Thất phẩm. Thị Độc ngang hàng tứ phẩm.
3/ Người dưới mộ tên là Hoàng Trúc Nhị, Tấn Thi là làm bài được tấu cho vua phong hàm, không phải thi cử (hay còn gọi là ngự chế). Ông có tên tự là Hàn Sinh.
4/ Năm Ất Sửu 1925 là năm nhuận, Ất Hợi 1935 không nhuận.
5/ Vua Khải Định băng hà 1925. Niên hiệu Khải Định phải là khi vua còn tại vị. Năm 1935 là vua Bảo Đại.”
Phần phiên âm và dịch nghĩa của BS. Nguyễn Văn Nguyên tương đối đã soi rõ nhiều thông tin trong văn bia; tuy nhiên, chưa phải là tất cả.
 
III- BẢN PHIÊN ÂM VÀ DỊCH NGHĨA VĂN BIA 3
 
Vì vậy, tôi muốn góp chuyện.
Qua cô bạn đồng môn, đồng khóa của tôi – Võ Hồng Phi - ở Viện Hán Học Huế ngày xưa, tôi nhờ ông Đỗ Chiêu Đức, người mà đọc trên mạng tôi biết có trình độ Hán Văn cao, đọc giùm.

Và đây là ý kiến của ông Đỗ Chiêu Đức:
“Bia đá từ năm Ất Mão 乙卯 (1915) đời vua Khải Định, hơn một trăm năm rồi, chỗ bị mẻ sứt. lại được tô bù bằng xi-măng, nên ... Em (từ ông Đức xưng với cô bạn đồng môn đồng khóa của tôi ở Viện Hán Học Huế 1960 – 1965) đọc tới đâu thì tính tới đó thôi nghen !
Em sẽ đọc từ TRÊN xuống DƯỚI và từ hàng phía TAY PHẢI trước, rồi sang các hàng TAY TRÁI. Tất cả gồm có 4 hàng như dưới đây:
 
1. 大南故夫,乂安省,宜祿縣,萬莊社,翰林院檢討。
Đại Nam cố phu, Nghệ An Tỉnh, Nghi Lộc huyện, Vạn Trang xã, Hàn Lâm Viện Kiểm Thảo.
Tạm dịch:
Chồng cũ (đã chết), ở tỉnh Nghệ An, huyện Nghi Lộc, Xã Vạn Trang, (chức vụ) là Kiễm Thảo của Viện Hàn Lâm.
 
2. x  x  廣南省,邏譯,黃行二字,語生,府君之墓。
x  x  Quảng Nam tỉnh, La dịch, Huỳnh Hành nhị tự, Ngữ Sinh, Phủ Quân chi mộ.
 
Tạm dịch:

Tỉnh Quảng Nam, LA DỊCH không hiểu là nghĩa gì, Hai chữ Huỳnh Hành,                    
NGỮ SINH không hiểu nghĩa, mộ của Người tên Phủ Quân

3. 正記六品录人,廣南省,富平社,潘氏春輝誌。
Chính ký Lục phẩm lục nhân, Quảng Nam tỉnh, Phú Bình xã, Phan Thị Xuân Huy chí.

Tạm dịch:

Người ghi lại chính là người có hàm Lục Phẩm, ở tỉnh Quảng nam, Xã Phú Bình,
Phan Thị Xuân Huy lập mộ chí.
 
4. 啟定, 乙卯年, 閏四月, 二十六日。
Khải Định, Ất Mão niên, Nhuận Tứ Nguyệt, Nhị thập lục nhật.

Tạm dịch:
Đời vua Khải Định, năm Ất Mão (1915), ngày 26, Tháng Tư nhuần.

Em chỉ đọc được có vậy thôi. Mong Chị thông cảm!
                                                        Nay kính,
                                                    Thầy Đồ Dõm
                                                   Đỗ Chiêu Đức”
 
Tôi xin cảm ơn ông Đỗ Chiêu Đức đã chịu khó, bỏ thì giờ giúp tôi.

 V- BẢN PHIÊN ÂM VÀ DỊCH NGHĨA VĂN BIA 4

Vậy là đã có 3 vị phiên âm văn bia. Giờ, việc tìm hiểu ý của văn bia trên xin được xem như một buổi hội luận.
Sau khi đọc ý kiến của các vị thức giả, tôi cũng muốn tự phiên âm và dịch nghĩa – lẽ dĩ nhiên, vừa nhận dạng mặt chữ vừa đoán vì chữ không còn rõ ràng.

Và đây là bản phiên âm của tôi:
 
ĐẠI NAM CỐ PHU NGHỆ AN TỈNH NGHI LỘC HUYỆN VẠN TRANG XÃ HÀN LÂM VIỆN KIỂM THẢO

NGUYÊN QUẢNG NAM TỈNH THÔNG DỊCH HOÀNG TRÚC NHỊ TỰ NGỮ SINH PHỦ QUÂN CHI MỘ
 
CHÁNH PHỐI THẤT PHẨM NHU NHÂN (xem chú thích 1 ở dưới) QUẢNG NAM TỈNH PHÚ BÌNH XÃ PHAN THỊ XUÂN BÁI CHÍ

KHẢI ĐỊNH ẤT SỬU NIÊN NHUẬN TỨ NGUYỆT NHỊ THẬP LỤC NHẬT

Dịch nghĩa:

Mộ của chồng đã mất tên HOÀNG TRÚC NHỊ (xem chú thích 2 ở dưới) tự NGỮ SINH (người học về ngôn ngữ), chức Hàn Lâm Viện Kiểm Thảo, người xã Vạn Trang, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, nước Đại Nam (tên nước Việt Nam kể từ triều Minh Mạng), nguyên làm thông dịch ở tỉnh Quảng Nam.
 
Bà Phan thị Xuân, người xã Phú Bình tỉnh Quảng Nam, vợ chính của quan Thất Phẩm lạy ghi.
Ngày 26/Tư nhuận/năm Ất Sửu (xem chú thích 3 ở dưới) đời vua Khải Định (16/6/1925)
 
V- TẠI SAO CÓ NGÔI MỘ NÀY Ở TỈNH LỴ QUẢNG TRỊ

Ông Nguyễn Duy Ái kể trường hợp phát hiện ngôi mộ có tấm bia:

 “… Khi em thi công trường Thanh niên Dân Tộc (hiện nay, trước mặt trường Trung Học Phổ Thông thị xã, trước đây là trường Nguyễn Hoàng) thì gặp 3 cái, tức là khu vực sau bến xe Nguyễn Hoàng ngày xưa đó anh. Rồi tất cả em quy về nghĩa địa thị xã Quảng Trị, khu vực em đặt mộ nhìn ra hồ Tích Tường”.

Mộ ngài Hàn Lâm Viện Kiểm Thảo tìm thấy ở tỉnh lỵ Quảng Trị, nhưng trong văn bia không có thông tin Ngài giữ chức vụ gì trong chính quyền tỉnh Quảng Trị mà chỉ nói Ngài nguyên làm thông dịch ở tỉnh Quảng Nam.

Tôi đoán khi học hành xong, còn rất trẻ, từ quê tỉnh Nghệ An, Ngài được bổ nhiệm vào làm việc tại tỉnh Quảng Nam.
Ở tỉnh Quảng Nam, Ngài lấy vợ là bà Phan thị Xuân người xã Phú Bình huyện Quế Sơn.
Hai vợ chồng đem nhau từ Quảng Nam về thăm quê Nghệ An. Trên đường, đến Quảng Trị, có thể Ngài bị tai nạn gì đó hay bệnh đau đột ngột và qua đời. Đường sá xa xôi, bà Phan thị Xuân phải chôn chồng, lập mộ, dựng bia ở tỉnh lỵ Quảng Trị.

Nguyễn Duy Ái nói là đã thông báo vô Quảng Nam, có người nhận là thân nhân của Ngài, nhưng sau đó, họ cắt liên lạc.
Như thế, người nhận thân nhân ấy không phải thuộc trực hệ của Ngài, nói rõ ra không phải con cháu của Ngài; biết đâu Ngài và bà Phan thị Xuân chưa có con!
 
V- THÔNG ĐIỆP NHẮN GỞI
 
Qua đọc mấy chục chữ Hán trên văn bia, mỗi người đọc, đoán mỗi khác.
Việc đọc và hiểu Hán Văn không phải dễ.
Chuyện chồng của Trưng Trắc có tên Thi Sách hay Thi hiện nay đang rối; THI SÁCH THÊ TRƯNG TRẮC, xưa hiểu: Vợ Thi Sách là Trưng Trắc, nay có nhà sử học hiểu: Thi lấy vợ là Trưng Trắc.

Chuyện tờ di chúc chỉ mấy chục chữ mà ý hiểu 2 cách khác nhau hoàn toàn:
DƯ THẤT THẬP TUẾ SINH ĐẮC NHẤT NAM TỬ NHI PHI NGÔ TỬ DÃ KỲ GIA TÀI GIAO DỮ TẾ NGOẠI NHÂN BẤT ĐẮC XÂM TRANH

Người viết di chúc muốn quan xử việc sau này hiểu là:

Ta bảy mươi tuổi sinh được một con trai mà PHI là con của ta; gia tài của ta giao cho nó; rể là người ngoài không được vào giành; chàng rể của người viết di chúc thì hiểu: Ta bảy mươi tuổi, sinh được một con trai nhưng không phải con ta; gia tài của ta giao cho rể; người ngoài không được vào giành.
 
Ấy là chưa nói đến chữ trên bia, trên trụ các công trình thờ tự, chữ bị sứt mẻ, khắc sai do trình độ của người khắc, trong các tài liệu qua thời gian chữ phai mờ hay bị ẩm ướt, mối mọt rỉa ráy, bào mòn …
 
Tôi thấy hiện nay trong cộng đồng không còn mấy người biết chữ Hán, hiểu Hán Văn rành rẽ nữa.
Vì vậy, những tài liệu gì bằng Hán Văn mà tiền nhân để lại thì xem như chuyện đã rồi, còn hiện tại và tương lai, có gì thì nên viết bằng chữ Quốc Ngữ.
Ấy là thông điệp tôi muốn nhắn gởi qua bài viết này.
 
                               01/9/2023 (17/Bảy/Quý Mão)
                                            Hoàng Đằng
* 
PHẦN CHÚ THÍCH:
 
(1) Thụy hàm dành cho các phu nhân
Năm Minh Mạng 7 (1826), vua Minh Mạng ban lệnh chuẩn định việc phong ân sung thụy hàm cho phu nhân (nếu chỉ một vợ) hoặc các phu nhân (nếu nhiều vợ) của các quan viên. Thụy hàm này không phân biệt trật chánh tòng hoặc ban văn võ, được chuẩn định như sau:

Vợ quan Nhất phẩm: Phu nhân (夫人);
Vợ quan Nhị phẩm: Phu nhân (夫人), sau đổi Đoan nhân (端人)
Vợ quan Tam phẩm: Thục nhân (淑人);
Vợ quan Tứ phẩm: Cung nhân (恭人);
Vợ quan Ngũ phẩm: Nghi nhân (宜人);
Vợ quan Lục phẩm: An nhân (安人);
VỢ QUAN THẤT PHẨM: AN NHÂN (安人), sau đổi NHU NHÂN (柔人)
Vợ quan Bát phẩm: Nhụ nhân (孺人), sau đổi Cẩn nhân (謹人)
Vợ quan Cửu phẩm: Nhụ nhân (孺人)
                                              
(Thông tin do Bảo Lâm cung cấp)

 (2) Ngoài tên Hoàng Trúc Nhị do BS. Nguyễn Văn Nguyên đoán dịch, Ngài trong văn bia cũng có thể là tên Hoàng Trúc hay Hoàng Hành vì chữ TRÚC 竹  và chữ HÀNH  行  gần giống nhau và cụm từ HOÀNG TRÚC NHỊ TỰ NGỮ SINH có thể hiểu là Hoàng Trúc có 2 chữ  tự 2 là Ngữ Sinh.
(3) Phải là năm Ất Sửu – 1925 vì năm này có tháng Tư nhuận (theo LỊCH THẾ KỶ XX, nhà xuất bản Văn Hóa) và là năm cuối niên hiệu Khải Định (1916 – 1925).

READ MORE - THỬ ĐOÁN ĐỌC VĂN BIA BẰNG HÁN VĂN TÌM THẤY Ở TỈNH LỴ QUẢNG TRỊ - Hoàng Đằng

Friday, July 7, 2023

MẤY Ý KIẾN VỀ TÁC GIẢ BÀI THƠ “KHÓC BẰNG PHI” – Hoàng Đằng


Vua Tự Đức (1847- 1883)


KHÓC BẰNG PHI
 
Ới Thị Bằng ơi đã mất rồi!
Ới tình, ới nghĩa, ới duyên ôi!
Mưa hè, nắng chái, oanh ăn nói,
Sớm ngõ, trưa sân, liễu đứng ngồi.
Đập cổ kính ra, tìm lấy bóng,
Xếp tàn y lại, để dành hơi.
Mối tình muốn dứt càng thêm bận,
Mãi mãi theo hoài cứ chẳng thôi.
 
Tác giả bài thơ “KHÓC BẰNG PHI”, trong sách giáo khoa văn học, là vua Tự Đức (sinh 1829 – mất 1883; lên ngôi năm 1847).
 
Tuy vậy, nhiều người vẫn không tin bài thơ ấy là của vua Tự Đức vì lời lẽ mùi mẫn, ướt át không phù hợp với văn phong của một vị vua.
Đặc biệt trong bài “Tác giả bài thơ ‘Khóc Bằng phi’ không phải là vua Tự Đức” đăng trên tạp chí Sông Hương ngày 03/12/2008, nhà sử học Phan Thuận An, ngoài dẫn ý kiến của nhà thơ – học giả Phan Văn Dật (1907 – 1987), học giả Bửu Kế (1914 – 1989) không tin bài “Khóc Bằng Phi” là của vua Tự Đức, còn tìm tòi những cứ liệu rất hàn lâm để chứng minh cho quan điểm của mình:
 
Cứ liệu 1
“ …  Đọc lại sử sách triều Nguyễn, chúng ta thấy suốt thời Tự Đức, trong số các bà "phi tần trở xuống", chỉ có 3 bà được phong lên hàng phi. Đó là bà Thiện phi, bà Học phi và bà Cung phi. Tất nhiên, đứng trên 3 bà phi ấy là bà Hoàng Quý phi ở địa vị đặc biệt. Xin tóm lược tiểu sử của cả 4 bà để thử tìm xem trong đó có bóng dáng của bà "Bằng phi" nào đó hay không.
1. Bà Hoàng Quý phi: Bà tên thật là Vũ Thị Duyên (còn có tên huý là Hài), sinh năm 1828, con gái của đại thần Vũ Xuân Cẩn. Bà được tuyển vào cung làm vợ vua Tự Đức từ năm 1843 khi nhà vua chưa lên ngôi. Sau khi vua đăng quang, năm 1848, bà được phong làm Cung tần, rồi lần lượt được thăng lên Cần phi (1850), Thuần phi (1860), Trung phi (1861). Đến năm 1870, bà mới được tấn phong làm Hoàng Quý phi. Bà là mẹ nuôi của "Hoàng trưởng dưỡng tử" Dục Đức (sau đó làm vua chỉ được 3 ngày thì bị bức tử). Khi chết vào năm 1902, bà được triều đình Thành Thái tặng thụỵ hiệu là Lệ Thiên Phụ Thánh Trang Ý Thuận Hiếu Cần Thứ Ôn Từ Hiền Minh Tĩnh Thọ Anh Hoàng hậu. Miếu hiệu của bà là Lệ Thiên Anh Hoàng hậu. Như vậy, bà mất sau vua Tự Đức đến 19 năm (1883-1902). Việc than khóc thương tiếc nếu có thì chỉ có việc bà khóc vua Tự Đức khi nhà vua thăng hà, chứ không có chuyện nhà vua khóc bà này.
 
2. Bà Thiện phi: Bà phi này tên thật là Nguyễn Thị Cẩm, thứ nữ của Hải An Kinh lược Đại thần kiêm Định An Tổng đốc Nguyễn Đình Tân (1798-1873). Ông người huyện Quảng Điền, đậu Hương tiến (Cử nhân), làm quan từ thời Minh Mạng. Đến thời Tự Đức, dù ông là một đại thần có công, nhưng vì "con ông là Đình Cán cùng công tử Hồng Tập mưu làm trái phép, Đình Tân tri tình mà dung túng ẩn nặc, bị nghĩ tội "trượng đồ". Sau được vua gia ân cho khai phục Hồng lô Tự khanh rồi mất, truy tặng Lễ bộ Thượng thư". Từ Cung tần, bà Nguyễn Thị Cẩm được phong làm Chiêu phi vào năm 1860, rồi sau đó được tấn phong làm Thiện phi.
 
3. Bà Học phi: Bà tên thật là Nguyễn Thị Hương, người gốc tỉnh Vĩnh Long. Năm 1870, theo lệnh vua Tự Đức, bà nhận công tử Nguyễn Phúc Ưng Hỗ (con của Kiên Quốc Công Nguyễn Phúc Hồng Cai: 1845-1876) bấy giờ mới 2 tuổi làm con nuôi (cho nhà vua). Về sau, vị Hoàng dưỡng tử này lên ngôi với niên hiệu Kiến Phúc (1884).
 
4. Bà Cung phi: Bà mang họ Lê, thường được gọi là Lê Thị Cung phi. Từ Thận tần, bà được tấn phong làm Cung phi vào tháng giêng năm Tự Đức thứ 13, tức là tháng 1-1860”.
  
Cứ liệu 2
“Một loại cứ liệu đáng quan tâm nữa là những bài vị thờ các bà phi tần ở lăng Tự Đức. Nhà vua đã cho xây dựng trong khu lăng tẩm của mình hàng chục tòa nhà với những chức năng khác nhau, trong đó có Chí Khiêm Đường dùng "để thờ phụng các phi tần". Riêng bà Hoàng Quý phi (Lệ Thiên Anh Hoàng hậu) thì được thờ chung với vua Tự Đức tại Hòa Khiêm Điện. Còn tất cả các bà từ hàng phi tần trở xuống đều được thờ tại Chí Khiêm Đường. Hiện nay, tòa nhà này vẫn còn hầu như nguyên vẹn, trong đó tồn tại hàng chục bài vị ghi rõ danh hiệu của các bà. Trong khi ở đó hiện có bài vị thờ bà Học phi và các bà khác thì chúng tôi không hề thấy bài vị nào ghi danh hiệu "Bằng phi" cả.”
 
Với cách dẫn cứ liệu rõ ràng và lập luận bài bản của nhà sử học (Huế học) Phan Thuận An, tôi đã nghĩ bài thơ “KHÓC BẰNG PHI” không phải của vua Tự Đức.
 
Nhưng …
 
Vừa rồi, tình cờ gặp trên net sách “THUYỀN AI ĐỢI BẾN VĂN LÂU” của nhà sử học Nguyễn Lý Tưởng (sách xuất bản lần đầu 2001, tái bản tháng 5/2023 dưới dạng pdf), tôi đọc và bắt gặp thông tin BẰNG PHI tên Nguyễn thị Cẩm, con gái tổng đốc Nguyễn Đình Tân nuôi cháu gọi vua Tự Đức bằng bác ruột là Ưng Đường, về sau lên ngôi vua lấy niên hiệu là Đồng Khánh.
 
Tôi có nhờ cô bạn hỏi Nguyễn Lý Tưởng thông tin Nguyễn thị Cẩm là Bằng Phi lấy từ nguồn nào; trong e-mail trả lời, nhà sử học Nguyễn Lý Tưởng cho biết:
 
“Bằng Phi tên thật là Nguyễn Thị Cẩm, con Tổng Đốc Nguyễn Đình Tân, là bà phi thứ hai của vua Tự Đức. Bà là mẹ nuôi của hoàng tử Ưng Kỵ (hay Ưng Đường) sau nầy là vua Đồng Khánh. (xin đọc trang 254 sách Thuyền Ai Đợi Bến Văn Lâu của NLT (bài Từ Ngôi Mộ Lưỡng Hổ Chầu đến Chiến khu Tân Sở )... phần nói về vụ Tứ Nguyệt Tam Vương... Đây là tài liệu chính sử (trích trong Đại Nam Liệt Truyện Chính Biên - bản Hán văn, quyển 32)
 
Vua Tự Đức có 03 bà phi (1) Trang Ý là chính phi (mẹ nuôi của Dục Đức tức Hoàng tử Ưng Chân) (2) Bằng Phi, tên là Nguyễn Thị Cẩm con gái của Tổng Đốc Nguyễn Đình Tân là mẹ nuôi của Ưng Kỵ (Hay Ưng Đường) sau nầy là vua Đồng Khánh (3) Học Phi (tên là Nguyễn Thị Hương) là mẹ nuôi của Dưỡng Thiện (sau nầy là vua Kiến Phước)...
 
Chú ý: Cách viết của Nguyễn Lý-Tưởng ở trong phần nầy là căn cứ vào chính sử của triều đình do Quốc Sử Quán biên soạn, không phải là thu thập tin tức ở ngoài dân gian …”
 
 
Phan Thuận An và Nguyễn Lý Tưởng đều là đàn anh của tôi ở Viện Hán Học Huế ngày xưa.
 
Hai vị học khóa 1 (1959 – 1964), Phan Thuận An học đủ 5 năm, tốt nghiệp Viện Hán Học, và có bằng Cao Học Sử từ Đại Học  Văn Khoa Sài Gòn. Nguyễn Lý Tưởng học Viện Hán Học được 3 năm thì thi vào Đại Học Sư Phạm ban Sử Địa khóa 1962 – 1965.
 
Còn tôi học Hán Học khóa 2 (1960 – 1965).
 
Hai vị ra đời có cơ hội tiếp xúc với sách vở, có điều kiện để nghiên cứu những vấn đề sử học và cả hai đều cho ra nhiều bài báo, nhiều quyển sách về sử học giá trị.
 
Về bà Nguyễn thị Cẩm, vợ vua Tự Đức: Phan Thuận An bảo là Thiện Phi, Nguyễn Lý Tưởng bảo là Bằng Phi. Tôi không có sách vở để tra cứu tận ngọn, nguồn, nhưng tôi đoán – đoán là quyền cá nhân – ý kiến của cả 2 vị đều đúng: Có thể Thiện Phi là danh hiệu chính thức, còn Bằng Phi là danh hiệu thường dùng???
 
Tôi tìm trong Wikipedia xem bà Nguyễn thị Cẩm sinh và mất năm nào, nhưng mục này để khuyết. Giá như có thông tin về năm sinh, năm mất - bà mất trước hay mất sau vua Tự Đức, thì chúng ta có thêm chứng cớ để xác quyết bài thơ “Khóc Bằng Phi” là của vua Tự Đức hay không.
 
Tôi lại tìm xem trong đoàn xa giá theo vua Hàm Nghi rời kinh thành trong biến cố thất thủ kinh đô sáng ngày 05/7/1885 (23/5/Ất Dậu) xem có bà Thiện Phi hay Bằng Phi không. Qua những tài liệu tôi tiếp cận, trong đoàn chỉ có tam cung: bà Từ Dũ (mẹ vua Tự Đức), bà Hoàng Quý Phi Vũ thị Duyên (vợ vua Tự Đức, mẹ nuôi vua Dục Đức) và bà Học Phi Nguyễn thị Hương (vợ vua Tự Đức, mẹ nuôi vua Kiến Phước) mà không có bà Thiện Phi (Bằng Phi) Nguyễn thị Cẩm; như thế có thể nào bà Nguyễn thị Cẩm đã mất trước năm 1885 (thậm chí trước năm 1883 – năm vua Tự Đức mất)???
 
Tôi trở lại Wikipedia, phần vua Tự Đức. Mục Hậu Cung cho biết tổng đốc Nguyễn Đình Tân có đến 2 con gái được đưa vào cung làm vợ vua Tự Đức: bà chị Thiện Phi (Bằng Phi) Nguyễn thị Cẩm và bà em (không rõ tên, chỉ ghi Nguyễn Đình thị) được xếp Cửu Giai Tài Nhân (hàng thấp nhất trong hệ thống cửu giai xếp các bà vợ vua Tự Đức). Từ thông tin này, tôi nghĩ: Có thể nào Thiện Phi (Bằng Phi) Nguyễn thị Cẩm mất, người em được tiến vào thay thế???
 
Thêm thông tin này nữa … Đinh Công Vĩ, trong sách “Các Câu Chuyện Tình Vua Chúa Việt Nam”, nhà xuất bản Phụ Nữ năm 2005, cho biết vua Tự Đức có 104 vợ; Capitaine Gosselin trong sách “L’Empire d’Anmam” cho biết lúc vua Tự Đức mất năm 1883, còn lại 103 bà. Có thể nào bà không còn ấy là Thiện Phi (Bằng Phi) Nguyễn thị Cẩm???
 
Cuối cùng xét về văn phong trong bài “Khóc Bằng Phi” mà nhiều vị cho không xứng hợp với vua Tự Đức, tôi xin dẫn ra đây một bài thơ của vua Tự Đức để so sánh:
 
NGẪU CẢM
 
Sự đời ngẫm nghĩ, nghĩ mà ghê!
Sống gửi, rồi ra lại thác về.
Khôn dại cùng chung ba thước đất,
Giàu sang chưa chín một nồi kê.
Tranh giành trước mắt mây tan tác,
Đày đọa sau thân núi nặng nề.
Muốn đến hỏi tiên, tiên chẳng bảo,
Gượng làm chút nữa để mà nghe.
 
(Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển của Dương Quảng Hàm - 1898 – 1946, năm 1929)

Học giới xưa nay công nhận vua Tự Đức hay chữ, sành thơ văn. Theo tôi, bài thơ “Ngẫu Cảm” rất mượt mà. Vậy thì khi bà vợ yêu thương mất đi, cảm xúc trào dâng, nỗi niềm thương tiếc lấn át tất cả, vua làm ra bài thơ “Khóc Bằng Phi”, điều đó cũng không có gì đáng ngạc nhiên.
 
*
“Nói gần nói xa chẳng qua nói thiệt”. Đến bây giờ, tôi vẫn tin bài thơ “Khóc Bằng Phi” là của vua Tự Đức. Không phải tự dưng mà nhiều nhà nghiên cứu văn học trước đây bảo bài thơ đó là của vua Tự Đức. Chắc chắn là do truyền khẩu – truyền khẩu cũng là một phương tiện – ngoài truyền thư – để lưu giữ ký ức.
 
Hoàng Đằng
08/7/2023

READ MORE - MẤY Ý KIẾN VỀ TÁC GIẢ BÀI THƠ “KHÓC BẰNG PHI” – Hoàng Đằng

Saturday, April 8, 2023

“HOÀNH SƠN NHẤT ĐÁI, VẠN ĐẠI DUNG THÂN” – Hoàng Đằng


Tác giả Hoàng Đằng

Các điểm liên quan đến dinh chúa Nguyễn (1558 – 1626) trong địa bàn huyện Triệu Phong tỉnh Quảng Trị được xếp hạng “Di tích lịch sử quốc gia” vào năm 2018.
 
Baoquangtri.vn ngày 30/3/2023 đưa tin UBND tỉnh: “Phê duyệt nhiệm vụ lập quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi và phát huy giá trị di tích lịch sử quốc gia “Các điểm liên quan đến dinh chúa Nguyễn (1558 – 1626).”
 
“Thông qua quy hoạch này, xác định các nhóm dự án hoàn thành, nhóm dự án ưu tiên trong giai đoạn trung hạn 2023 – 2025, 2026 – 2030 và tầm nhìn đến 2050 …”
 
Trong đó, “… mục tiêu dài hạn là bảo tồn, tôn tạo, phục hồi các yếu tố mang thuộc tính lịch sử gốc của di tích, đồng thời tạo ra một không gian lưu niệm lịch sử nhằm tôn vinh, tưởng niệm về thời kỳ lịch sử các Chúa Nguyễn cũng như tạo ra một khu du lịch mang tính chất lịch sử - văn hóa để kết nối với các di tích lịch sử hiện có ở vùng phụ cận, làm đa dạng, phong phú hơn sản phẩm du lịch Quảng Trị…”
 
*
Như thế, không chóng thì chầy, tỉnh Quảng Trị sẽ có thêm “một khu du lịch mang tính lịch sử - văn hóa”.
 
Sự quan tâm của chính quyền đến vùng đất khơi nguồn sự nghiệp mở cõi phương Nam làm cho lòng tôi dậy lên mừng vui, khiến tôi tìm đọc những tài liệu liên quan.
 
Và khi đọc, tôi lại nảy ra trong trí đôi điều thắc mắc về một vài sự kiện lịch sử, trong đó, có câu sấm: “HOÀNH SƠN NHẤT ĐÁI, VẠN ĐẠI DUNG THÂN” (Một dãi Hoành Sơn – đèo Ngang, dung thân đến muôn đời).
 
*
 
Lời sấm trên, xưa nay, được cho là của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585), một đại nho thông thái không những văn chương mà còn cả lý số, khi Nguyễn Hoàng (1525 – 1613) cho người đến thỉnh ý trước khi vâng mệnh vua Lê chúa Trịnh vào trấn thủ Thuận Hóa năm 1558.
 
Wikipedia, ở mục “Nguyễn Hoàng”, có đoạn:
 
“ … Bàn mưu với bác họ là Nguyễn Ư Dĩ, Nguyễn Hoàng ngầm sai sứ giả tới hỏi Trạng Trình. Nguyễn Bỉnh Khiêm, người làng Trung Am, xứ Hải Dương, đỗ Trạng nguyên triều Mạc, làm đến chức Thái Bảo về trí sĩ, lúc đó đã có tiếng giỏi nghề thuật số. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nhìn cái núi non bộ ở trước sân mà ngâm lớn rằng: Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân, nghĩa là: Một dải núi ngang có thể dung thân muôn đời được. Khi sứ giả về thuật lại câu ấy, Nguyễn Hoàng hiểu ý ngay.”
 
Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, trong thời Nam – Bắc triều (1533 – 1592), sống và làm quan trong vùng do nhà Mạc (Bắc triều) cai trị (từ Ninh Bình trở ra) và rất được nhà Mạc ưu ái, trọng nể; bằng chứng là Ngài được phong tước Hầu (Trình Tuyền Hầu) rồi tước Công (Trình Quốc Công).
 
Còn Nguyễn Hoàng sống trong vùng do chúa Trịnh vua Lê (Nam triều) quản lý (từ Thanh Hóa trở vào).
 
Chúa Trịnh vua Lê và nhà Mạc là địch thủ của nhau, cai trị hai vùng riêng biệt. Làm sao có người từ vùng này sang vùng khác hỏi quốc sự với một vị quan lớn đang phục vụ chính quyền vùng ấy và rất được trọng dụng?
 
Tôi không tin việc Nguyễn Hoàng cho người ra thỉnh ý Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm trước khi vào Thuận Hóa năm 1558.
 
Có nguồn nói lời sấm trên là Nguyễn Hoàng nhận từ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm lúc cho người đến thỉnh ý trước khi về lại Thuận Hóa năm 1600.
 
Nguyễn Khoa Chiêm (1659 – 1736) trong “Nam triều công nghiệp diễn chí” viết:
 
“Năm Canh Tý, niên hiệu Hoằng Định năm đầu (1600), mùa hè, ngày mồng một tháng năm, hữu thừa tướng Đoan quốc công Nguyễn Hoàng thấy tình cảm đối xử của Bình An vương Trịnh Tùng ngày một thưa nhạt, phải tính kế giữ mình, nhưng không nghĩ ra cách gì, bèn sai người đem vàng bạc làm lễ vật đến biếu viên quan nhà Mạc đã hưu trí về làng là Trình quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm để hỏi kế giữ thân, Trình quốc công bèn lấy giấy bút viết tám chữ giao cho người tâm phúc của Nguyễn Hoàng đem về. Đoan quốc công Nguyễn Hoàng mở thư đọc thấy tám chữ: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung nhân” (Nghĩa là “Hoành Sơn một giải, dung thân muôn đời”). Đọc xong, Nguyễn Hoàng trầm ngâm nghĩ ngợi suốt cả một ngày mới chợt hiểu ra. Từ đó chỉ nghĩ cách tìm đường trở về trấn cũ.”
 
Chuyện Nguyễn Hoàng và đoàn tùy tùng từ Thuận Hóa ra Bắc rồi từ Bắc trở lại Thuận Hóa có nguyên cớ như sau:
 
Năm 1592, chúa Trịnh vua Lê từ Thanh Hóa ra đuổi nhà Mạc lấy lại Thăng Long. Năm 1593, Nguyễn Hoàng từ Thuận Hóa cùng đoàn tùy tùng ra Thăng Long mừng và ở lại giúp chúa Trịnh vua Lê dẹp tàn quân nhà Mạc, bình định lãnh thổ. Chúa Trịnh muốn giữ Nguyễn Hoàng ở lại đất Bắc, nhưng Nguyễn Hoàng không muốn và người ta đồn rằng Nguyễn Hoàng cho người hỏi ý kiến Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và được dạy: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân.”
 
Thông tin này cũng vô lý. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm mất từ năm 1585, trước khi mất, chắc chắn phải đau yếu nhiều năm, thân thể mệt mỏi, trí não không còn sáng suốt. Vậy thì chuyện Nguyễn Hoàng cho người vấn ý để trở lại Thuận Hóa năm 1600 không có tính thuyết phục.
 
*
 
“SỬ” là chuyện thật, diễn ra trong quá khứ, “SỬ KÝ” là chuyện xưa do con người thuật lại, ghi chép lại (ký: ghi chép).
 
Sử được chép lại phải qua lăng kính của sử gia. Do trình độ, do thiên kiến, do áp lực, do muốn tuyên truyền, sử gia đã xào nấu lịch sử, vì vậy, sử ký không bao giờ là thật hoàn toàn.
 
“Tận tín thư bất như vô thư” (tin vào sách hoàn toàn thà chẳng có sách còn hơn), tôi nghĩ là chuyện Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm khuyên Nguyễn Hoàng: “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân” là do đời sau bịa ra.
 
Bịa ra làm gì?
 
Khi giữa chúa Trịnh đất Bắc và chúa Nguyễn đất Nam “cơm hết lành, canh hết ngọt”, chúa Nguyễn tạo ra giai thoại để tuyên truyền việc dựng riêng cơ đồ ở Đàng Trong là do Trời định qua lý số từ ông thầy giỏi là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.
 
Hoàng Đằng
05/4/2023
 
READ MORE - “HOÀNH SƠN NHẤT ĐÁI, VẠN ĐẠI DUNG THÂN” – Hoàng Đằng