Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Trương Công Hải. Show all posts
Showing posts with label Trương Công Hải. Show all posts

Friday, July 4, 2025

VÀI LỜI VỚI ANH LA THUỴ NGƯỜI TẶNG SÁCH - Trương Công Hải



La Thụy, một đồng môn không quen nhưng biết, do đọc bài của anh trên facebook.             
Nhận được tập tạp luận Chữ Nghĩa Văn Chương của anh khi đang ngồi café, mấy bạn cứ chuyện trò, còn tôi thì tranh thủ đọc, lướt vội.
Sách do Hội Nhà Văn xuất bản, trình bày không hoa hoè, giản đơn nhưng đẹp.
 
Đọc Tạp Luận của La Thụy, ngoài việc thưởng ngoạn, ta còn biết thêm được kiến thức về Chữ Nghĩa, và về giá trị thẫm mỹ văn chương kim cổ Đông Tây như tiêu đề của tập sách đã nêu. Trong đó, bài “Lẽ Vô Thường Trong Thơ” là một tiêu biểu.  

Lẽ Vô Thường thường được thấy trong Pháp Phật nhưng điều thú vị là ta còn thấy khái niệm này trong tư tưởng Đạo Giáo của Trang Tử. Khi vợ chết Trang Tử không khóc mà chỉ cười, rồi hát khúc Cổ Bồn Ca bởi ông cho rằng nàng “chẳng qua là tạp chất trong hư không biến ra mà có Khí, khí biến ra mà có Hình, hình biến ra mà có Sinh, rồi lại biến ra nữa mà có Tử. Khí Hình Sinh Tử có khác nào bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông vận hành.” (trang 1) 
Không những Đạo Giáo, mà trong kinh Cựu Ước khái niệm Sắc Không của Lẽ Vô Thường cũng được nhắc tới nhiều lần “Hư không của sự hư không, hư không của sự hư không, thảy đều hư không…” (trang 8 )
   
Khái niệm tương đồng về lẽ vô thường của vạn vật giữa Đạo Giáo, Thiên Chúa Giáo và Phật Giáo được tác giả chỉ ra trong bài viết thật thú vị, làm cũng cố thêm luận thuyết Thân Vô Sở Trụ nằm trong giáo Pháp của nhà Phật mà ta thường biết đến xưa nay.
 
Đề tài bài viết trong tạp luận của La Thụy khá phong phú, nên có bài để thưởng ngoạn có bài để khám phá, làm giàu thêm vốn tri thức, càng đọc càng tò mò xen lẫn thú vị như là: Âm Hán Việt-Tên Những Quốc Gia, Mùa Thu của Apollinaire, Vì Sao Gọi Là Mưa Ngâu… kể cả đề tài về ngữ pháp: Trau Giồi hay Trau Dồi
  
Ẩn chứa trong những trang viết ta thấy một La Thụy là nhà văn, nhà biên khảo bởi ông thông thạo cả chữ Hán Nôm lẫn tiếng Pháp. Người viết coi tâm hồn ông như là giao điểm giữa chữ nghĩa và văn chương, mang bóng dáng của một nhà biên khảo có hồn nghệ sỹ.
 
Cuối cùng, như đã nói, La Thụy là người đồng môn, tôi chỉ biết chứ không quen anh.
Nhưng khi đọc hết tập tạp bút anh tặng tôi, do sự đồng cảm, người viết dường như đã quen anh từ lâu. Nên từ nay, xin phép được nói lại, anh không phải chỉ là người tôi biết, mà anh là người tôi quen biết.   
Cứ thế anh La Thụy nhé. Và cám ơn anh đã tặng sách, về Đà Nẵng đừng quên Alo Café đó !                               
Trương Công Hải                                                            7/2025      
READ MORE - VÀI LỜI VỚI ANH LA THUỴ NGƯỜI TẶNG SÁCH - Trương Công Hải

Friday, January 26, 2024

TẦM HỒN NHƯ MỘT THỦ PHÁP NGHỆ THUẬT qua bài thơ GIỌNG HUẾ của TÔ KIỀU NGÂN - Trương Công Hải

 


Nhà thơ Tô Kiều Ngân



TẦM HỒN NHƯ MỘT THỦ PHÁP NGHỆ THUẬT

qua bài thơ GIỌNG HUẾ của TÔ KIỀU NGÂN

Trương Công Hải


Trước hết là câu chuyện của tôi và Huế.

Tôi, nội Quảng Trị, ngoại Huế, hiện ở Đà Nẵng. Như vậy con người tôi hai phần Quảng, một phần Huế, chưa kể trong suốt 30 năm trời, vì lý do công việc, mỗi tháng ở Huế hết mười mấy ngày, nên tôi với Huế đều thuộc lòng nhau. Gặp nhau hoài nên cứ êm êm rứa!

Thuở vào Đại học, xứ mưa dầm, thấm lâu rồi cũng vương. Người tôi hò hẹn nhan sắc không bằng tính tình, nên sau này, khi làm thơ thì khó tả về chân dung, tôi đành nói chung chung về cái tính Huế của cô ấy mà thôi.

Này em Huế,

“Em ở trong tôi nét u hoài trầm tích

Giọng nói nhu mì tóc rũ dáng kiêu sa

Chút ngây thơ đem che dấu điệu đà

Và khôn khéo,

Cái chi cũng đều sợ mạ”.

Rủ đi chơi đi chơi thì đi nhưng vừa đi vừa kêu sợ mạ. Còn tôi thì:

“Tôi ở trong em, chàng sinh viên non dạ

Tập truyện tình yêu chỉ mới lật trang đầu

Làm dáng vậy thôi, chứ em nhìn là ú ớ

Chẳng có lớp học nào dạy cách yêu nhau

Nếu có, thì bài đầu tiên

Học để thôi đừng lớ ngớ”

Sau đó, do hoàn cảnh di tản năm 1972:

“Quảng Trị mất

Tôi về nơi không định hướng

Mọi chuyện rồi như mây trắng giữa trời

Liệu là em có đi về méc mạ ?”

Tính nông nổi, được nước tôi tới luôn:

“Cứ méc đi thằng dấu hồn du đảng

Giả đò say để sinh sự tự tình

Giả ngu ngơ để làm câu thơ đểu

Ôi biết làm sao để khỏi tự dối mình!”

Câu chuyện của tôi là câu chuyện của kẻ ngoại đạo, trải nghiệm tình yêu một thời với người em xứ Huế.

Không phải là vô cớ, tôi viết ra như một minh họa thực tế về tính cách của cô gái Huế, người có nét tương đồng với nàng thơ trong bài Giọng Huế của Tô Kiều Ngân.

Và câu chuyện của tôi cứ xem như là một lời dẫn cho bài viết.


GIỌNG HUẾ

Ngắt một chút mây trên lăng Tự Đức

Thả vào mắt em thêm một dáng u hoài

Đôi mắt ấy vốn đã buồn thăm thẳm

Đem mây vào e tan nát lòng ai.


Anh quỳ xuống hôn lên đôi mắt đó

Bỗng dưng sao thương nhớ Huế lạ lùng

Hay tại bên anh em ngồi thỏ thẻ

Tiếng quê hương xao động đến vô cùng.


Hèn chi rứa, răng chừ, em sợ lắm

Mạ ngày xưa cũng từng nói như em

Anh mất mạ càng thương em tha thiết

Như từng thương câu hát Huế êm đềm.


Cám ơn em đã cho anh nhìn lại

Dòng sông Hương trên bến cảng Sài Gòn

Nước như ngọc in bóng thuyền lấp lánh

Mái chèo khua vương nhẹ nhánh rong non.


Nếu lại được em ru bằng giọng Huế

Được vỗ về như mạ hát ngày xưa

Câu hát Huế chứa chan lời dịu ngọt

Chết cũng đành không nuối tiếc chi mô.

Ngắt một chút mây trên lăng Tự Đức là lời nói phát ra từ mơ thức, đôi mắt vốn buồn của em qua lăng kính mơ thì trở nên đẹp u hoài, sâu lắng, vô cùng lãng mạn.

“Đôi mắt ấy vốn đã buồn thăm thẳm

Đem mây vào e tan nát lòng ai”

Chữ “e tan nát lòng ai” đưa nghĩa câu thơ vào thế lấp lửng. Sự e thẹn, ngại ngùng trong ánh mắt, sự lấp lửng trong ý tứ luôn là đặc sản bước đầu trong tình yêu của em Huế. Chữ “e” đó đâu có khác gì chữ “e” trong câu Kiều: “Tình trong như đã / Mặt ngoài còn e”, và cũng chẳng khác gì hình ảnh hai vạt tà áo dài bay của người con gái Huế khi đi ngược gió như trong thơ của Phạm Thiên Thư:

“Áo em vạt tím ngàn sim

Nửa nào nức gọi nửa im đợi chờ

Yêu nhau tự thuở bao giờ

Gặp đây giả bộ hững hờ mây bay”

Vạt sau tà áo tung bay như nao nức gọi, vạt trước gió ép vào thân như im lặng đợi chờ. Con gái Huế là vậy đó, kiểu nói thôi nhưng phải hiểu là thôi nữa!

Em Huế với dáng u hoài và mắt buồn sâu thẳm là hóa thân của những hoài mong, mơ màng, tiếc nuối về một vương triều Nguyễn đã lụi tàn nhưng cái cụ thể còn lại muôn đời vẫn là giọng Huế.

Chế Lan Viên đã từng cho rằng: ”Khi ta ở chỉ là nơi đất ở / Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn” và Tô Kiều Ngân cũng như thế:

“Anh quỳ xuống hôn lên đôi mắt đó

Bỗng dưng sao thương nhớ Huế lạ lùng

Hay tại bên anh em ngồi thỏ thẻ

Tiếng quê hương xao động đến vô cùng.”

Nếu cho rằng tiếng nói là linh hồn của một dân tộc thì giọng Huế chính là hồn của Huế.

“Hèn chi rứa, răng chừ, em sợ lắm

Mạ ngày xưa cũng từng nói như em

Anh mất mạ càng thương em tha thiết

Như từng thương câu hát Huế êm đềm.”

Một số hư từ, đặc ngữ của Huế như “mạ, hèn chi rứa, răng chừ” cũng như câu cuối cùng: “Chết cũng đành không nuối tiếc chi mô”, tất cả như một hương vị đặc trưng của Huế, lan tỏa, thấm đều trên trang thơ, ngấm vào từng câu chữ, cho ta cảm giác đọc bài thơ như đọc giọng Huế vào lòng.

Qua người em Huế, dòng Hương được gợi nhớ, hiện lên trên bến cảng Sài Gòn với một hình ảnh đẹp lãng mạn vốn có.

“Cám ơn em đã cho anh nhìn lại

Dòng sông Hương trên bến cảng Sài Gòn

Nước như ngọc in bóng thuyền lấp lánh

Mái chèo khua vương nhẹ nhánh rong non”

Một dòng sông mộng, nước chảy là đà đã được nhìn chồng lên con sông cuồn cuộn sóng, nước đục lờ đờ trên bến cảng Sài Gòn, đó là khi cảm xúc dâng cao đến nao lòng thì nhà thơ bị đưa đi từ cõi mơ đến mớ.

Khổ thơ cuối cùng đã đánh thức một hoài vọng về Huế và em, đã khơi dậy một hồi ức thời thơ ấu trong vòng tay mẹ, cùng âm vang chứa chan lời dịu ngọt của câu hát Huế.

“Nếu lại được em ru bằng giọng Huế

Được vỗ về như mạ hát ngày xưa

Câu hát Huế chứa chan lời dịu ngọt

Chết cũng đành không nuối tiếc chi mô”

Người ta thường ca ngợi văn hóa Huế với những di sản vật thể. Ngoài Nhã Nhạc Cung Đình còn có giọng Huế, chất giọng của ngâm thơ, của dân ca hay của điệu hò mái nhì, mái đẩy. tất cả đều thuộc về phần văn hóa phi vật thể thì ít được ai đề cập đến .

Họa hoằn lắm ta mới nghe Trịnh Công Sơn nhắc đến: “Một ngày chợt nghe quê quán tôi xưa / Giọng người gọi tôi nghe tiếng rất nhu mì”.

Tô Kiều Ngân là người con của của Huế sống tại Sài Gòn, là một nhà thơ, một tay sáo nỗi tiếng trước 75 đồng thời cũng là nhà diễn ngâm thơ bằng giọng Huế, thì việc cảm xúc chất giọng để thả vào thơ một linh hồn Huế chẳng có gì là lạ.

Người em Huế trong thơ là cái cớ để nhà thơ trút nỗi niềm về cố quận, ta xem đây như là tiếng lòng của một người trong cuộc nhớ thương về nguồn cội của mình.

Bởi là tiếng lòng nên tự nó đã có chất thơ mà không cần phải gia cố vần vận, cả bài thơ chỉ có 2 vần, không nhất thiết phải liền mà là cách vận như ở khổ 2 và 4 đều nằm ở câu thứ 2 và thứ 4.

Lời thơ thì chan chứa, dạt dào, tự nhiên như âm sắc giọng Huế và dặt dìu như tiếng sáo của Tô Kiều Ngân thổi vào từng thi khúc.

Mặt khác, nhà thơ cũng không cần phải dụng công vào một biện pháp nghệ thuật nào cả để xây dựng hình ảnh, bởi hình ảnh vốn có về Huế đã nằm sẵn trong ký ức khi xúc cảm tuôn trào thì nó đã tự lôi ra để đặt vào trang thơ.

“Hèn chi rứa, răng chừ em sợ lắm

Mạ ngày xưa cũng từng nói như em

Anh mất mạ càng thương em tha thiết

Như tình thương câu hát Huế êm đềm

Nếu lại được em ru bằng giọng Huế

Được vỗ về như mạ hát ngày xưa

Câu hát Huế chứa chan lời dịu ngọt

Chết cũng đành không nuối tiếc chi mô.”

Tận cùng của sự đánh cược cho một tình yêu cao quý nhất trong đời mình là cái chết. Chỉ có tình yêu của đất và người mới

Khiến nhà thơ nói được điều đó vì ông đã yêu Huế bằng một tình yêu đẳng cấp tới mức thượng thừa.

Có thể không sai khi cho rằng Tô Kiều Ngân đã dùng chính tâm hồn ông như một thủ pháp nghệ thuật để viết nên bài Giọng Huế . Giọng Huế là hồn của Huế, nên chỉ có tâm hồn người trong cuộc mới dễ lột tả được hết bản sắc văn hóa Huế mà thôi.

TRƯƠNG CÔNG HẢI

Những ngày cuối đông nhớ Huế 1/2024.


____________________________________________________

GIỌNG HUẾ

Thơ Tô Kiều Ngân

Đăng trên https://www.thivien.net/


GIỌNG HUẾ, thơ TÔ KIỀU NGÂN
READ MORE - TẦM HỒN NHƯ MỘT THỦ PHÁP NGHỆ THUẬT qua bài thơ GIỌNG HUẾ của TÔ KIỀU NGÂN - Trương Công Hải

Tuesday, December 26, 2023

MẸ TÔI NGỦ GIẤC MIÊN TRƯỜNG - Thơ Trương Công Hải

Nhà thơ Trương Công Hải 

 MẸ TÔI

NGỦ GIẤC MIÊN TRƯỜNG

              (Nhân ngày giỗ mẹ)


Tuổi vàng thu, đời lá rụng về đâu

Linh hồn ngủ giấc say vào Thiên Cổ

Con gởi trọn nhớ thương vào nấm mộ

Lời tâm kinh cầu Mẹ tới Thiên Đường.


Chúng con vui nhìn di ảnh mẹ cười

Dầu no đủ đầy vơi theo năm tháng

Dầu lênh đênh ngay từ thuở xa Người

Lòng vẫn cứ rộn ràng hồn xưa cũ.


Ngoài song thưa mưa lạnh gió bốn bề

Đèn hương sẵn giờ anh linh sắp tới

Liệu Người ơi, còn nhớ nổi đường về!

Trời vào đông chiều rơi buồn man mác.


Phận chúng con

Sương nắng dở khóc cười

Nên chỉ ước, được sa vào lòng Mẹ

Được Người ôm mà khóc vạ số trời

Nấc tiếng thật to

Cho thỏa một cuộc người

Và hét toang lên

Cho đáng một trận đời.


Rồi Mẹ sẽ đưa bàn tay hiền dịu 

Vuốt ve đầu và nhỏ nhẹ: nín thôi!

Hết khóc rồi con sẽ có nụ cười

Đời là thế, cứ mà: hoài nũng nịu!


Vĩnh biệt gian nan từ khi ăn cháo lú

Quên trần ai Người qua khỏi Nại Hà

Nơi bốn mùa xanh cây lá cỏ hoa

Chốn Vô Ưu hay là cõi Ta Bà

Ở nơi đó, không gian màu ngọc bích.


Mộng bình thường, ru con lời mẹ hát

Phật Trời ru, Mẹ mộng giấc miên trường

Và cứ thế Người ơi đừng quay lại

Kiếp nhân sinh sao quá đỗi vô thường.


Chín Chữ cưu mang đời nặng nhẹ

Bốn lạy nầy đâu thấm nghĩa Cù Lao

Phút trầm mặc lòng ngậm ngùi thương nhớ 

Nén hương tàn

Mưa tạnh tự lúc nào!

Con của Mẹ,

        TRƯƠNG CÔNG HẢI

        Và em TRƯƠNG THU HÀ

       Đà nẵng, mùa đông tháng 12/2023.

\      

READ MORE - MẸ TÔI NGỦ GIẤC MIÊN TRƯỜNG - Thơ Trương Công Hải

Sunday, November 12, 2023

HOA PHẤN - Thơ Trương Công Hải

Nhà thơ Trương Công Hải


 HOA PHẤN

Kính tặng quý Thầy Cô giáo của tôi tại Gio Linh, Bồ Đề và Trung học Nguyễn Hoàng, Q.Trị nhân ngày 20/11.

 

Người ngồi đó,im lìm như pho tượng

Có nỗi niềm chi,trong ánh mắt đăm chiêu?

Tiếng trống trường ai vọng điểm trong chiều

Chắc Thầy  nghĩ đã tới giờ lên lớp!

Gian gác cũ, nhuốm một màu hiu quạnh

Tập sách buồn,con chữ cũng hờn theo

Cây viết đỏ nằm im không muốn nói

Chồng giáo án nghiêng nghiêng

Xô xuống phận người.

Phút gặp đầu tiên, lòng thầy tĩnh lặng

Nhưng em biết ngoài sân nắng đã vơi đầy.

Em cúi xuống, ôm bàn tay gầy guộc

Ôi bàn tay, năm ngón khẳng khiu     

Vừa đủ ấm để đôi lòng xao động

Ngọn gió mùa sang se lạnh tự lúc nào?

Bàn tay ấy, đã từng cầm viên phấn

Kẻ những đường cong lên tấm bảng đen

Để em biết, đời mình luôn đi thẳng

Để em biết, không so đo tính toán

Khi đã làm xong hai phép cọng trừ.

Rồi có khi, thầy ghi hình chữ S

Em biết làm sao yêu Tổ Quốc mình

Rồi có khi,thầy vẽ hình trái tim

Để chúng em

Lớn thành những con người nhân bản

Rồi cứ thế, trong từng bầy chim sẻ

Có đứa đã bay lên

Bằng đôi cánh phượng hoàng

Thầy vẫn đứng,tự hào trên bục giảng

Lòng vẫn vui khi giữ vững nhịp cầu

Nhịp cầu Kiều trong câu hát ca dao

Đẹp muôn đời ầu.. ơ..tiếng mẹ.

Phút tạm biệt

Cầm tay không nói

Trời đã tàn thu  còn những lá rơi

Ngọn lá vàng phai

Hay lá của ngậm ngùi

Sao Thầy cứ dấu hoài nơi đôi mắt?

Tóc Thầy bạc từ những hồn bụi phấn

Đã kết tinh thành một loài hoa

HOA PHẤN trắng như đời Thầy thanh bạch

Để chúng em lớn nổi thành người.

                        TRƯƠNG CÔNG HẢI.

                                  4/2023

READ MORE - HOA PHẤN - Thơ Trương Công Hải

Sunday, September 24, 2023

THỤY SƠN - NGƯỜI CHẠM TRỔ GIẤC MƠ NGÀN - Trương Công Hải

 




THỤY SƠN - NGƯỜI CHẠM TRỔ GIẤC MƠ NGÀN

Trương Công Hải


Tôi được chị Thụy Sơn tặng một tập thơ, Bài viết xem như một lời cám ơn chị.


I. Người chạm trổ giấc mơ ngàn

Ngày không gió là một ngày hư cấu, là cái cớ để nhà thơ trút nỗi mưa lòng:

“Ngày không gió

Nắng không về bên cửa

Có một người đem nỗi nhớ ra phơi"

(Ngày không gió)

Nỗi nhớ của Thụy Sơn chính là quá trình quán tưởng tự thân đã đến lúc cần được đánh thức, quá giang vào thơ, dũng cảm vượt cạn theo cơn sóng, vỗ bềnh bồng vào tập thơ.


Nhà thơ Thụy Sơn


Thơ đối với tâm hồn Thụy Sơn là một điều kiện cần và đủ để giải tỏa những trăn trở hiện sinh của một phận người lạc lõng giữa đời thường.

Vì thế, mở đầu tập Ngày Không Gió là bài Xin Làm Người Thắp Nến. Bài này chưa hẳn là một tuyên ngôn thơ, mà nó được xem như là một sứ mệnh tự thân, thắp sáng tâm hồn cho thơ:

“Người đàn bà

Xin làm người thắp nến

Lửa nhóm trong thơ

Huyết lệ tâm hồn

Nhai lại tuổi mình tròn khuyết một tháng ba.”

(Xin làm người thắp nến)

Nhai lại tuổi mình tức là quán tưởng đời mình, một tháng ba mươi ngày đủ.

Với một năng khiếu thiên bẩm, nhà thơ đã tự tin làm được sứ mệnh này. Khổ thơ sau đây là một minh chứng

“Người đàn bà gánh chữ đi xa

Thân cổ lục/ hồn ngữ ngôn hóa đá

Lời rêu phong chạm trổ giấc mơ ngàn”

(Xin làm người thắp nến.)

Thơ luôn bước ra từ tâm hồn rồi hóa thân thành con chữ, nói thành lời, diễn thành ý.

Xét về nội dung thì bốn yếu tố trên được gói gọn gàng vào khổ thơ.

Xét về hình thức nghệ thuật thì cả bốn yếu tố trên đều được thi ảnh hóa. Từ những khái niệm phi vật thể chuyển thành vật thể để người đàn bà có thể gánh chữ, hóa đá ngữ ngôn, dậy rêu phong và cuối cùng là chuyển thể bài thơ thành hình tượng của một tác phẫm điêu khắc: “Chạm trổ giấc mơ ngàn”.

Có thể nói Thụy Sơn đã không dùng ngòi bút mà dùng chiếc đũa thần kỳ để phù phép về mặt ngôn ngữ.

Cùng với việc gặm nhắm nội dung hơn 150 bài thơ trong tập Ngày Không Gió,tôi chắc sẽ không sai khi gọi Thụy Sơn là: Người Chạm Trổ Giấc Mơ Ngàn.


II. Chiếc đũa thần kỳ

Thơ là lối thoát của lòng, tuôn ra từ ý nghĩ. Nhưng thơ của Thụy Sơn thì khác, đi ra từ tư duy. Tư duy là một bước nữa của ý nghĩ sau khi đã nhận thức, nên ngôn ngữ phù hợp nhất để chuyển tải tư duy chính là từ Hán Việt. Từ Hán Việt được xem như là một linh kiện đã định hình. Đẹp và phong phú về mặt ý nghĩa. Các từ như Huyền Trân, Huyết Lệ… diễn nôm ra thì không hay bằng để y như vậy.

Thơ Bà Huyện Thanh Quan đẹp quý phái nhờ vận dụng nhuần nhuyễn loại từ này.

“Gác mái ngư ông về viễn phố

Gỏ sừng mục tử lại cô thôn.”

Thụy Sơn là người vận dụng tối đa từ Hán Việt vào thơ, thỉnh thoảng có chút điển tích,lại cộng thêm cú pháp tư duy, rất giàu hình ảnh ẩn dụ, nên có một số người khi đọc qua thấy hơi khó hiểu.

“Văn kỳ thanh/Bất kiến kỳ hình

Khẻ chạm vào/Ngôn ngữ lặng thinh

Đôi mắt Đường Thi/Nghiêng Bạch Mã

Một hồn luận thuyết/Ngát Ninh Bình

Ta xin hóa thạch/Chờ tri kỷ

Người có là đêm rót thịnh tình

Chiết tửu.

(Nói cùng tri kỷ)

Đúng là người yếu vía thơ mới đọc mà hiểu là chết liền. Khó hiểu nhưng có thể cảm nhận được chất men say trong thần thái của thơ, dù tác giả là người nữ,chắc không uống.

Đây là lời độc thoại với tri kỷ Thôi Hiệu, một nhà Đường thi, hẹn chờ đêm đối ẩm.

“Người có là đêm rót thịnh tình

Chiết tửu."

Lời mời rượu hào sảng của một cuộc rượu hư mà rất thực, khác gì một cuộc người rất thực mà hư trong thơ Thụy Sơn.

Dòng thơ tư duy của Thụy Sơn không rơi vào kể lể, tả thực hay trần tình bằng lời, như nhiều tác giả thường gặp.

Thơ của Thụy Sơn rất giàu thi ảnh, suối nguồn tư duy tuôn ra từ ẩn thức nên thi ảnh là ngôn ngữ phù hợp nhất để đặc tả những sắc thái của nỗi niềm thân phận.

“Từ em,

Đánh cắp nụ cười

Ta dung nhan đó/ra người cổ sơ

Hẹn nhau hay là tình cờ

Trăng trăm năm gảy đôi bờ hợp tan

Em đi về phía xa xăm

Bên ta khuyết một chổ nằm từ đây.

(Chiều rụng bên hồ)

Những hình ảnh ẩn dụ gợi sự mất mát như nụ cười bị đánh cắp, tiều tụy về dung nhan, tan tác một cuộc tình rồi đột nhiên vén toạc bức màn thực: Em đi về phía xa xăm/ Bên ta khuyết một chỗ nằm từ đây.

Nói một cách hoa mỹ theo cú pháp của nhà thơ là, nỗi niềm được mạc khải bằng một thực tế hiện sinh. Vì thế thơ Thụy Sơn luôn thấm đẫm một triết lý nhân văn:

“Người đàn bà gối đầu trên nửa giấc hoàng hôn

Đưa môi cắn nỗi buồn vỡ nát

Đêm hợp cẩn của loài chim hoàng hạc

Ngó xuống bóng mình một nửa khuyết rưng rưng."

(Nửa khuyết)


III. Gõ cửa đền thiêng

Đến đây có thể nói ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ Thụy Sơn là không lạ nhưng tân kỳ.

Thơ Thụy Sơn luôn ẩn hiện một nỗi buồn cô đơn bản thể (Từ dùng của bạn Hồ Sỹ Bình).

Trước hết ta hãy nghe Hàn Mặc Tử cảm nhận về điều này:

“Ánh trăng mỏng quá che không nổi

Những vẻ xanh xao của mặt hồ

Những nét u buồn tơ liễu rũ

Những lời năn nỉ của hư vô

Chao ôi! Ghê quá trong tư tưởng

Một vũng cô liêu cũ vạn đời"

Và nghe Trịnh Công Sơn:

“Con diều bay mà linh hồn quạnh quẻ

Con diều rơi cho vực thẳm buồn theo.”

Vũng cô liêu của Hàn Mặc tử hay linh hồn quạnh quẽ của Trịnh là những hóa thân của nỗi cô đơn bản thể. Cả 2 người này còn trên cả cô đơn.

Và Thụy Sơn cũng không ngoại lệ, có những lúc lạc lõng giữa đời thường:

“Tìm nhau trong cuộc vô thường

Tiếng kêu khàn giữa mù sương núi đồi

Hẹn nhau cùng một dòng trôi

Sông người rẽ nhánh, sông tôi lỡ bồi.”

(Tri âm)

Hay độc hành trong đêm phố núi

“Người đàn bà giẫm bóng trong đêm

Gùi cô đơn đi bên xe thổ mộ

Đánh cược đời mình

Bên kia con dốc đổ dài.”

(Chiếc khăn quàng bỏ quên trên phố núi)

Con dốc đổ dài, nghe như tiếng thở dài của một nỗi cô đơn sâu thẳm.


Tác giả Trương Công Hải

Đọc thơ Thụy Sơn, ta nhận thấy có cùng một mẫu số chung với lời nhạc Trịnh, họ đều nói về những phận người.

Chỉ khác là ở Sơn Trịnh, ông nói đến phận đời khắc khoải của con người và của dân tộc trong thời cuộc chiến tranh. Vì sự phiêu lưu tư duy dài tay của ông, nên ông đành chịu sự bế tắc sau cuộc chiến. Bài Tiến Thoái Lưỡng Nan là một ví dụ.

Còn ở Sơn Thụy, thơ là một nỗi niềm cá nhân và những nút thắt từng bước trong đời đều được hóa giải theo tư tưởng của Pháp Phật một cách ngoạn mục.

Đọc thơ Thụy Sơn, ta bắt gặp nhiều thi ảnh của tư duy quán tưởng:

“Chưa choàng y áo Chân tu

Qua sông đã rớt kinh thư thuở nào

Đọa làm kiếp lá hanh hao

Vàng thu ta rụng xanh xao nỗi buồn.”

(Vàng thu lá rụng)

Hay: “Hành châu nghịch thủy về đâu

Sóng Tràng Giang nhuộm trắng màu biệt ly

Đò chưa qua buổi xuân thì

Sông trăng giờ đã già đi nhánh buồn.”

(Vàng thu lá rụng)

Từ một kiếp lá hanh hao nhà thơ đã dự cảm được vàng thu lá rụng. Từ thuở đò chưa qua buổi xuân thì nhà thơ đã quán tưởng được sông trăng giờ đã già đi nhánh buồn và hành châu nghịch thủy, lội ngược dòng để tìm về nguyên ủy phận đời.

Quán tưởng thông thì phát sinh quán niệm, thấy hết lẽ đời mới phát tâm buông bỏ.

“Người đàn bà ngồi giấu mặt

Sau giải khăn mây

Dịu dàng phóng sinh… nỗi nhớ!”

(Phóng sinh nỗi nhớ)

Hay: “Buồn gì mây xuống trắng trong

Nặng lòng chi đục,trong ao người

Ta ngồi nhìn được mất, trôi

Đời sông cũng được dòng trôi về nguồn”

(Về nguồn)

Vượt qua được hai giới cảnh trên, thơ của Thụy Sơn chứng nghiệm được quán không:

“Ai về bên ấy cho tôi hỏi

Ở cõi thiên thu có Niết Bàn

Dấu chân trên nước còn hay mất

Dưới cội…nghìn thu một quán không.”

(Quán không)

Tư duy Quán không trong khổ thơ trên, có một câu hé lộ cho thấy nhà thơ đang đứng bên ni bờ của không sắc với một câu hỏi tu từ: Dấu chân trên nước còn hay mất?.

Như vậy sắc không của bản thể không còn là điều vô minh với thơ của Thụy Sơn nữa:

“Người đàn bà vẫn ngồi dấu mặt

Sau giải khăn mây

Thấy trắng trong đen

Thấy không trong có.”

(Phóng sinh nỗi nhớ)

Nghiệm chứng được sắc không là điều kiện đủ để đi đến cảnh giới của tánh không:

“Cội Bồ Đề ôm bóng

Tịch lặng cõi mù sương

Lòng không mưa không nắng

Vạn Pháp bừng hư không.”

(Quán không)

Trong Ngày Không Gió, nhà thơ đã vận vào một căn nghiệp ngay tự thuở lọt lòng, căn phần luôn được giấu vào ẩn thức và tuôn ra thơ, nương vào thơ để giải bày và nương vào Pháp để hóa giải.

Vì thế, dẫu cuộc đời có bắt đầu bằng: 

“Những chiếc lá non khiếm khuyết/Khai sinh từ buổi nhú chồi.” (Lá khuyết)

Nhà thơ đã biết cách dùng ngòi bút để phóng sinh nỗi nhớ và đạt được giới hạnh buông bỏ.

Có khả năng thơ chị không cần dùng đến chén Cháo Lú mà vẫn tới được bờ vô minh, bởi lòng quyết tâm của chị khi bước vào đền thiêng:

“Áo còn/ trắng lụa Duy Xuyên

Lòng còn/ mở cửa đền thiêng bước vào.”

(Gõ cửa đền thiêng)

Cũng như Hàn Mặc tử hằng tin vào Chúa và mơ thơ bay đến chốn Phượng Trì.

Tư tưởng Đạo trong thơ của Thụy Sơn đang đi trên con đường của Pháp, đó là con đường hạnh phúc miên viễn, như Thiền Sư Thích Nhất Hạnh đã nói: “Làm gì có con đường dẫn đến hạnh phúc, vì hạnh phúc là một con đường.”

Nhân đây, để kết thúc bài viết này, tôi xin được quá giang vài câu thơ của chính mình khi gặp lại người thơ năm xưa trong màu áo nâu sòng.

“Thân vô sở trụ

Em duyên về nơi Mô Phật

Chút phận đời tàn

Anh đi tìm Phật nơi mô?”

(Thơ phai hồn ma nữ - tch)

Có nghĩa là tôi vẫn còn lẫn quẫn trong vòng tục lụy. Còn chị, là người đã có một hồn thơ được phóng sinh.

Trương Công Hải

9/2023


READ MORE - THỤY SƠN - NGƯỜI CHẠM TRỔ GIẤC MƠ NGÀN - Trương Công Hải

Saturday, September 9, 2023

CHÂU THẠCH-MỘT NGƯỜI ĐỒNG HƯƠNG KHÁC QUÊ - Trương Công Hải


 

CHÂU THẠCH - MỘT NGƯỜI ĐỒNG HƯƠNG KHÁC QUÊ


Anh Châu Thạch là người Điện Bàn,nói rặc giọng Quảng Nam.Nhưng tôi luôn coi anh là một đồng hương khác quê.

Bởi tự thuở thiếu thời anh theo bố ra sống và lớn lên tại thị xã Quảng Trị,quê hương tôi. Học trường Nguyễn Hoàng,uống nước gánh từ sông Thạch Hãn,đọc cọp báo tại hiệu sách Lương Giang,sáng ăn bún mụ Ấm tối bánh mì chú Hưng, xem cine ở rạp Đại Chúng.

Anh đã lớn lên bằng chất liệu Quảng Trị cho đến lúc tòng quân đeo lon sỹ quan Quân Lực, bôn ba khắp bốn vùng chiến thuật.

Từ trại cải tạo về,anh sinh sống tại Đà Nẵng,nhập vào cộng đồng lưu dân người Quảng Trị, sinh hoạt các hội đồng hương, đồng môn và giao lưu với bạn bè hầu hết là người Quảng Trị cùng trang lứa.

Anh là người nghiệp dư làm thơ và viết bình thơ. Bình thơ là một thể loại khó,đòi hỏi phải có kiến thức và một tâm hồn nhạy cảm đủ cảm nhận được sáng tác của người khác để tái tạo vẻ đẹp của tác phẩm,giúp người đọc thưởng ngoạn tốt hơn.

Và anh đã viết bình thơ nhiều hơn thơ anh làm.

Vừa rồi Châu Thạch có tặng tôi tập thơ Qua Miền Ký Ức, miền ký ức của Châu Thạch cũng chính là lý ức của những lưu dân Quảng trị sau biến cố 72 đã ra đi mà chưa hề trở lại.

Mỗi bài thơ của anh là mỗi niềm tiếc nuối về một thị xã,nơi đã từng lưu giữ biết bao kỷ niệm thời trai trẻ của anh, nay đã biến thành bình địa, tất cả đã bị chôn vùi dưới lớp bụi phế hưng.

Anh làm thơ như một cách giữ lại chút trầm tích cho gam màu ký ức.

"Đời vô thường trơn tuột trên tay

Đá Thành Cổ rêu màu đỏ cháy

Trầm tích của nỗi đau lắng đáy

Niềm vui xưa đã hóa bọt bèo"

(Lời tựa)

Thị xã Quảng Trị bé nhỏ,hiền hòa theo năm tháng bên dòng sông Thạch Hãn, Châu Thạch rất dễ dàng gói trọn hết vào thơ. Tất cả đã được đánh thức bởi những câu thơ đẹp như:

"Áo trắng bồng bềnh

Con phố nhỏ mờ sương"

hay:"Gió tự Nhan Biều gió thổi qua

Thơm như hoa cúc hương hoa cà"

( Em Nhan Biều)

"Em Như Lệ Mắt chưa hề vướng lệ

Chỉ trời thu xanh biếc dưới hàng mi"

( Em Như Lệ)

Hình ảnh của một ngôi trường mang tên chúa Tiên nay không còn nữa được tái hiện bằng những lời mộc mạc:

"Phố xưa Quảng Trị trường Nguyễn Hoàng

Bao cô thiếu nữ tan giờ học

Dạo bước vui chơi chẳng vội vàng"

Và sau đây là một hồn thơ đầy ma lực,làm thức dậy ngôi Thành Cổ vốn đã ngủ yên từ mấy trăm năm:

"Và bóng ai đi dưới Cổ Thành

Chân chim từng bước gợn âm thanh

Mơ hồ tiếng nhạc qua đường vắng

Gõ cả tim người lặng lối xanh"

Đọc Qua Miền Ký Ức của Châu Thạch, ta cảm thấy dường như tác giả đã bỏ quên con sông,trong các tiêu đề không có bài nào dành riêng cho Thạch Hãn cả.

Thực ra thì không,tuy rằng không được đặc tả nhưng Thạch Hãn trong thơ luôn được hóa thân vào nét xuân thì của người con gái hay loãng tan vào hương sắc của thiên nhiên như làn gió,hương hoa và vạt nắng chiều...

Con sông như được dú trong thơ bằng phép ẩn dụ, ta hãy cùng nhà thơ đi dọc triền sông:

"Những sáng mai em đạp xe đi học

Theo hàng tre xanh ngát suốt con đường

Ven dòng sông ẩn hiện giữa mù sương

Tà áo trắng lùa hương về phố thị

(Em Như Lệ)

Hay lên một chuyến đò ngang:

"Gió tự Nhan Biều gió thổi qua

Thơm hương hoa cúc hương hoa cà

Thuyền ai tách bến ngang sông Thạch

Áo trắng đi về chung với hoa"

Có thể nói ,khi nương vào thuật ẩn dụ để nói về dòng sông, Châu Thạch đã giải mã được một mật ngữ, khươi ra vẻ đẹp của dòng Thạch Hãn, từ lâu đã vốn mang một phận đời của mồ hôi đá.

Thực ra thì mỗi dòng sông đều có vẻ đẹp riêng của nó,vấn đề là nằm trong mắt ai mà thôi. Như một triết gia phương Tây đã nói: "vẻ đẹp của người con gái không nằm nơi đôi má hồng mà năm trong ánh mắt của kẻ si tình".

Rồi thì cũng chính dòng sông đó với con nước im lìm mãi miết lạnh lùng trôi đã trở thành chứng nhân cho một cuộc đời dâu bể:

"Rồi một ngày kia rất hãi hùng

Lửa về theo hạ vượt qua sông

Tôi đi biền biệt theo chính chiến

Em đến rừng thiêng đón gió đông"

Tàn cuộc chiến chinh,tác giả về lại chốn xưa thì 

"Hồn xưa tự ấy không về nữa

Ở cõi hư vô dấu đã chìm"

(Hàn mặc Tử)

Có thể nói bài Hư Mộng trong tập thơ là một bài xuất sắc,là tiếng khóc khô không lệ trong Qua Miền Ký Ức của Châu Thạch

"Phố của ảo những ngày xưa còn đó

Tìm không ra dấu tích của một thời

Ta bươn bả giữa thành quách sụp đổ

Nhà em xưa ẩn hiện trong sương

Những ngã tư không phải của con đường

Ta đã đợi đón em thời xưa cũ

Trường trong mơ gạch màu tro ủ rũ

Hai hàng cây sa nước mắt song song

Ta bước đi quay quắt ở trong lòng

Tà áo trắng vật vờ bay trong gió"

Chỉ hai câu: Những ngã tư không phải của con đường/ta đã đợi đón em thời xưa cũ, cũng đủ để biết rằng thị xã đã được cơ cấu lại hoàn toàn mới.

Một bài thơ hay thường chạm đến được cảm xúc của người đọc, Châu Thạch đã làm được điều đó.

Từ một vùng bình địa,thị xã Quảng Trị nay được tái sinh. Đúng ra là đã được đầu thai bằng một vong hồn khác, không phải là linh hồn của một thị xã tiền kiếp

Nói vậy vì qua trải nghiệm cảm xúc của bản thân tôi,khi lần đầu về thăm lại cố hương, cũng vẫn bến bờ sông cũ,nhưng sao nghe như nơi nầy hình như không phải là nơi trước đây mình đã từng thuộc về.

"Tôi trở lại bên ni giòng Thạch Hãn

Đường Gia Long nay đã đổi tên rồi

Phía Nhan Biều mưa giăng mù bãi bắp

Con nước im lìm, mãi miết lạnh lùng trôi

Quảng Trị yêu thương nay sao nghe là lạ!

Vọng tiếng chuông ngân từ chùa Tỉnh Hội

Tôi gởi hồn tôi tới mênh mông

Còn mưa nào buồn hơn mưa trên sông?"

( tch)

Tóm lại, Một tập thơ thì có bài hay với người này, bài hay với người kia, nhưng những khổ thơ đã chọn trích dẫn trong bài viết này đối với tôi,là những mãnh lụa trong nhiều mãnh lụa mượt mà được lượm ra từ xấp vải thơ Qua Miền Ký Ức của Châu Thạch.

Hơn nữa viết về thơ của một nhà chuyên bình thơ thì cũng hơi khó nên tôi xin dừng lại nơi đây.Và hy vọng rằng tôi sẽ không sai khi gọi anh là một người đồng hương khác quê,vì từ tố chất tới tâm hồn anh đã được hoàn toàn

Quảng Trị hóa.

TRƯƠNG CÔNG HẢI

Tháng 8/2023,


READ MORE - CHÂU THẠCH-MỘT NGƯỜI ĐỒNG HƯƠNG KHÁC QUÊ - Trương Công Hải