Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Trương Công Hải. Show all posts
Showing posts with label Trương Công Hải. Show all posts

Friday, October 2, 2026

TÌNH THƠ NGUYỄN TẤT NHIÊN VÀ NỖI NGHIỆT NGÃ CỦA TÂM HỒN MỘNG DU - Trương Công Hải


TÌNH THƠ NGUYỄN TẤT NHIÊN

VÀ NỖI NGHIỆT NGà

CỦA TÂM HỒN MỘNG DU

Trương Công Hải


   Tình yêu là đề tài muôn thuở, bởi nó là bản năng gốc của con người, vì thế chẳng có lớp học nào dạy cách yêu nhau cả.

   Đọc thơ tình của Nguyễn Tất Nhiên gợi ta nhớ trước ông một thập niên có thơ Nguyên Sa.Nay nghiệm ra rằng thơ Nguyên Sa là lời giáo ngôn tình ái, là triết luận, tâm lý của những tình yêu thời mới lớn:

"Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc

Áo nàng xanh anh mến lá sân trường

Sợ thư tình chưa đủ nghĩa yêu đương

Anh thay mực cho vừa màu áo tím."

Tình yêu đó đi từ sự trải nghiệm xuyên qua lăng kính tư duy của Trần Bích Lan, giáo sư triết học, người làm thơ cho những tín đồ đang yêu. Trong đời thực, ngoài vợ mình ra, Nguyên Sa không hề yêu ai cả.

  Còn Nguyễn Tất Nhiên thì khác, thơ ông là nỗi lòng, là lời tự thú của một gã tình si trước bình minh số phận: "Thời mới lớn em dễ dàng xao động/ Buồn thay ta không bắt nổi hồn nàng/ Nên mật tình đắng giọng ngàn năm/ Thôi, phận bạc hãy nhuộm giùm tóc bạc."

   Nhà thơ tên thật là Nguyễn Hoàng Hải, sinh năm 1952 tại Biên Hòa, lớn lên học tại Trường Trung học Ngô Quyền nơi sở tại. Năm 14 tuổi, ông đã làm thơ và biết yêu  từ rất sớm:  "Nắng bờ sông như màu trang vở cũ / Thuở học trò em làm khổ ai chưa?" (Nên sầu khổ dịu dàng)

Cùng bạn học là Đỗ Thiên Phương lập thi văn đoàn, xuất bản hai tập: Nàng Thơ Trong Mắt và Dấu Mưa Qua Đất dưới bút danh Hoài Thi Yên Thi. Đến năm lớp 12, xuất bản tập Thiên Tai. Một tập thơ tình tuổi học trò mà lấy tên "Thiên Tai "đủ để thấy rằng tình yêu đối với ông là một trận bão lòng mà hậu quả là những cuộc tình thua: "Em bây giờ có lẽ, toan tính chuyện lọc lừa / Ta bây giờ có lẽ/ Xin làm người tình thua."

  Năm 1970,  khi đến gặp Du Tử Lê để nhờ giới thiệu thơ đến các toà soạn, ông có hỏi: "Thưa anh, bút hiệu Hoài Thi Yên Thi bạn bè em cho là hơi "sến" phải không anh? Du Tử Lê buột miệng nói "tất nhiên" rồi tiếp: "Họ Nguyễn phải không, cứ lấy hiệu là Nguyễn Tất Nhiên đi, may ra thơ còn đổi vận." Bút hiệu Nguyễn Tất Nhiên ra đời, thơ đăng báo.

15 bài thơ được phổ nhạc, trong đó có nhiều bài của vài nhạc sĩ tên tuổi như Phạm Duy, Nguyễn Đức Quang, Anh Bằng..Thơ bước ra ánh sáng, được nhạc chấp cánh, Nguyễn Tất Nhiên đã tạo nên một hiện tượng văn học đình đám ở miền Nam đầu thập niên 1970.

   Bước vào thơ Nguyễn Tất Nhiên là ba bóng hồng Bắc 54. Cả ba cô không hề là giai nhân. Ông mê họ theo cách của mình, bởi vì "Vẻ đẹp của người con gái không ở đôi má hồng mà nằm nơi ánh mắt của kẻ tình si," (Emmanuel Kant). Nhà thơ vương vào đời họ như một nỗi ám thị có từ muôn kiếp:

"Người từ trăm năm về qua sông rộng

Người từ trăm năm về khơi tình động."  

Hình như trong tiền kiếp họ đã vướng vào ông cái duyên của một cọng buồn cỏ khô (chữ TCS ) nên về qua sông rộng rồi về khơi tình động ở kiếp này làm cho ông phải chịu một nghiệp tình sầu: "Ta ngoắc mòn tay, ta chạy vòng vòng, ta chạy mòn chân"  để rồi cuối đường chỉ thấy một trùng trùng gió lộng.

    Ba nàng thơ cô nào cũng ỡm ờ, mắt nhắm mắt mở kiểu câu like. Xem ra nhà thơ đã tự đuổi bắt lấy cái bóng của chính mình trên xa lộ tình yêu: "Tình cứ đuổi theo người như chiếc bóng /  Người thì không bắt bóng được bao giờ / Anh muốn khóc trong buổi đầu niên học / Bởi yêu em nên sầu khổ dịu dàng." Đây là nỗi lòng viết cho Duyên, là tình mối đầu nên lời hồn nhiên, sầu khổ nhưng dịu dàng.

  Năm năm một chuyến tình vô vọng, ông làm bài thơ cuối nói với nàng để tự trách và khép lại trái tim:

"Năm năm trời ta làm tên quái đản

  Cầu danh trên nước mắt người tình

  Năm năm trời có nhục có vinh

  Có chua chát ngọt bùi cay đắng

  Có hai mái đầu chia nhau thù oán

   ......

  Tình ta đẹp nhưng tình con nít nhỏ

  Nên lỗi lầm đã đục màu sông

  Nếu em còn thương mến tuổi mười lăm 

  Xin nuốt hận mỉm môi cười xí xoá

  Hồn ta đẹp nhưng đời ta thảm quá." 

Ý thơ hồn nhiên, có yêu thương, có dỗi hờn, có cam chịu, đó chính là đặc trưng của tình yêu tuổi học trò trong thơ Nguyễn Tất Nhiên.

  Sau Duyên là Minh Thủy, cô bạn học cùng trường, sau hai lớp. Thơ viết cho Thủy thì tình tứ hơn: "Chiều em đi học về thơm tóc thả / Áo eo suông trinh bạch cả giáo đường / Ta ngọt ngào gọi khẽ, người đi luôn." (Kẻ tự đóng đinh tim). 

Tín hiệu tình yêu gởi đến nơi không địa chỉ, vì tình một chiều khiến nhà thơ cũng chịu nhiều đau khổ: "Ba năm vuốt ngọn tình dài / Ừ tôi còn vụng ngón tay dậy thì / Thuở nào sầu đã lâm ly / Giờ thêm già héo nhiều khi hận thù." (Nên thời gian ấy ngùi trông).

Đến đây thì sự hồn nhiên đã đi vắng, thủ pháp tạo hình ảnh "Vụng ngón tay dậy thì" trong "ba năm vuốt ngọn tình dài" rất gợi tả, biểu cảm lời tự trách, tự xót xa.     

   Lúc này, sầu khổ không còn dịu dàng nữa vì thân già héo nhiều khi hận thù. Nỗi đau đã được tôi luyện nên chai cứng hơn rồi. Hai chữ "hận thù" chỉ là cách nói cường điệu mang tính thù vặt của một ẩn ức tình yêu mà ông phải nói ra thơ cho bỏ ghét,  thực ra ông vẫn yêu nàng say đắm. Bài "Hai năm tình lận đận" sau đây là một minh chứng: "Em không còn thắt bím / Nuôi dưỡng thời ngây thơ  / Anh không còn luýnh quýnh / Trước sân trường trao thư / Em vẫn còn mắt liếc/   Anh vẫn còn nôn nao /  Ngoài đường em bước chậm/ Quán chiều ngóng cổ cao / Hai năm tình lận đận/ Hai đứa cùng xanh xao / Hai năm trời mùa lạnh / Hai đứa cùng hư hao".

   Nhà thơ đã thành công trong nghệ thuật đối ý từng cặp câu thơ nhằm biểu đạt tâm hồn đôi lứa, giúp ta cảm nhận được cung bậc cảm xúc của một tình yêu lận đận dần trôi theo năm tháng. Bài này được Phạm Duy chọn để phổ nhạc cùng tên.

   Một nàng thơ nữa là Kim Oanh, bạn học cùng trường kém ông hai lớp, nhà có quán cà phê Ca Dao nổi tiếng ở Biên Hòa: "Đôi mắt tròn, đen, như búp bê / Cô đã nhìn anh rất Bắc Kỳ / / Anh vái trời cho cô dễ dạy / Để anh đừng uổng mớ tình si." (Cô Bắc Kỳ nho nhỏ).  Cô gái có mái tóc thời thượng này thoáng qua hồn ông với những vần thơ nhí nhảnh: "Cô Bắc Kỳ nho nhỏ/ Tóc demi garcon / Chiều vui thương đón gió / Có thương thầm anh không? Cô Bắc Kỳ nho nhỏ / Tóc demi garcon / Cười ngây thơ hết nụ / Tình cờ thấy anh trông / Cô Bắc Kỳ nho nhỏ / Mắt như trời bao dung / Hãy nhìn anh cho rõ / Trước khi nhìn đám đông / Hãy nhìn anh chút nữa  / Trước khi vào đám đông."        (Đám đông)

       Nguyễn Tất Nhiên đi theo em nhưng không lãng mạn bằng Phạm Thiên Thư khi theo Ngọ về, tóc dài tà áo vờn bay mà hình như dạn dĩ, tinh quái và lì hơn: "Hãy nhìn anh cho rõ / trước khi nhìn đám đông / hãy nhìn anh chút nữa  / trước khi vào đám đông." Đúng là một bên bu, một bên né.  Bài nầy đã được Phạm Duy phổ nhạc dưới tên Cô Bắc Kỳ nho nhỏ.

  Tình yêu vốn khởi tự tâm sinh, mỗi người đều có những cách yêu khác nhau tuỳ theo tâm lý, hoàn cảnh và dung lượng tâm hồn, Tất Nhiên gây nhiều ấn tượng cho người đọc bởi vì thơ ông có nhiều tính cách trong một:  hồn nhiên trong chua cay, hạnh phúc trong đau thương và lãng mạn trong sầu thảm: "Người tóc thả vai ngang / Bước qua chiều mưa nhỏ / Cùng tận chốn tang thương /  Ta nghe ngàn phiến gió / Đè nặng bóng thê lương / Xuống từng hơi thở khó.....Đôi mắt người ngây thơ /Không hề vương vấn tội / Có chở tình ta theo / Tới cõi nào diệu vợi?" Những điều đó phát xuất từ tâm trạng, hoàn cảnh và tâm lý bản thân. Việc yêu và làm thơ là vận nghiệp của nhà thơ, chưa kể Nguyễn Tất Nhiên còn mắc bệnh tâm thần phân liệt.

    Ở Trường Sĩ quan Thủ Đức, ông bị từ chối vì tâm thần bất ổn. Và theo Phạm Duy,  nhạc sỹ đã ba lần vào dưỡng trí viện Biên Hoà để thăm Bùi Giáng, Nguyễn Ngu Ý và Nguyễn Tất Nhiên.

  Theo kinh Pháp Cú thì Tâm là chủ tạo tác, khi tâm động thì Ý phát sinh.Thi sĩ là người nhạy cảm và đang yêu thì tâm luôn vọng động, vì thế, ý tưởng trong thơ Nguyễn Tất Nhiên phong phú, ngôn từ mãnh liệt, hình ảnh táo bạo có khi chạm đến ngưỡng siêu thực: "Chiều em đi học về chim trắng bước / Ngang giáo đường nhoè nhoẹt màu vôi phai / Có động lòng xin hãy rút khăn tay / Lau giùm mắt kẻ xương bày trên thán giá / Là ta đó, em ơi đang tầm tã / Mưa đầy hồn đau đớn thương thân / Lỡ yêu tín đồ phải chấp nhận gian truân / Phải muối mặt giao du cùng quỷ sứ / Tính nhân hậu đã hồi nào hoá dữ / Bởi vì em gõ nhẹ cửa Thiên Đàng".

  Khi cao hứng thì thính giác và thị giác được ông cảm nhận qua lăng kính phân liệt tâm thần, tạo nên một hiệu ứng nghệ thuật về hình ảnh đầy ấn tượng:  "Chuông nhà thờ đổ mệt / Tượng Chúa gầy hơn xưa / Chúa bây giờ có lẻ / Xuống trần gian trong mưa." (Hai năm tình lận đận)

   Nhiều khi lên cơn hoang tưởng, ông tự hóa thân làm linh mục:   "Vì tôi là linh mục / Phổ lời tình nhân gian / Thành câu thơ buồn bã  / Nên hạnh phúc đâu còn /  Nên người tình duy nhất  / Vừa thiêu hủy lầu chuông." (Vì tôi là linh mục). 

     Và khi mà ẩn ức về một khát vọng tình chưa thỏa đáng thì phản ứng đột nhiên táo bạo: "Nếu vì em mà ta phải điên tình / Cơn giận dữ đã tận cùng mê muội / Thì đừng sợ, Duyên ơi thiên tài yếu đuối / Tay tre khô mối mọt ăn luồn / Dễ gãy đòn, miếng vụn tả tơi xương / Khi tàn bạo xiết cổ người yêu dấu! (Tình em cô gái Bắc).

    Xét kỹ, ta thấy Nguyễn Tất Nhiên không phải là kẻ thất tình, vì ông không có mối tình nào cả mà chỉ là yêu đơn phương với những chuyến tình thua thiệt. Ông là kẻ lụy tình.

  Có điều là, 8 năm sau, ông gặp lại Minh Thủy. Do những đổi thay của thời cuộc, năm 1978, Thủy không còn sự lựa chọn nào khác nữa. Nàng đã đáp lại tình ông.  Họ cưới nhau, đến năm 1980 thì sang Pháp, năm sau lại sang Mỹ.

    Hôn nhân là quà tặng của tình yêu, đồng thời cũng là định mệnh, bởi sự khác biệt nhau về tính cách, khó chịu đựng được đời nhau:  "Em mang hồn vô tội / Đeo thánh giá huy hoàng / Còn tôi nhiều sám hối / Mà sao vẫn hoang đàng." (Em hiền như Ma soeur). 

Hãy nghe ông dự cảm trước hôn nhân:

"Phu thê nếu đã nợ rồi  / Thì tôi đâu ngại ngỏ lời yêu em / Như con chim mới tập chuyền / Bâng khuâng gánh lụa thánh hiền em ra /  Mặt trời rực rỡ phương xa / Ở đây hạnh phúc  chỉ là đau thương / Phu thê nếu đã buộc ràng / Thì xin nhẫn nhục cưu mang vợ chồng  / Tôi quanh năm sống hoang đàng  /  Cũng xin nhỏ lệ hoàn lương khóc tình." 

      Khi đã chung thuyền, rồi thì hạnh phúc với ông là một sự hoài nghi: "Có những chiều muốn hôn em rồi khóc / Mùa bình an nào chờ đợi uyên ương? (Uyên ương) 

Đúng như Hồ Zếnh đã nói: "Tình mất vui khi đã vẹn câu thề / Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở."

Thay vì là vương miện tình yêu, ông đã đội phải chiếc vòng Kim Cô. Ở khúc quanh số phận này, nhà thơ bắt đầu đối mặt với bi kịch của cuộc đời mình:

   "Tình cũng khó theo thời cơm áo khó 

    Ta dìu nhau đi dưới bóng nợ nần"

    (Hai hàng me đường GIa Long)

   Cùng vợ và hai con sống ở Mỹ, nhà thơ không thể nào hội nhập được với một xã hội thực dụng, hiện đại. Bằng những bước chân lơ đãng của kẻ mang tâm hồn mộng du trên đất Mỹ,  ông như đi giữa đôi bờ hư thực của cuộc đời .

    Vợ dẫn con đi biệt, ông trở về nguyên bản của chính mình: "Tôi đứng một mình trong im lặng / Như những cánh buồm kiệt sức lang thang." (Thiên Thu).  Sống lang thang bờ bụi khi không thể ở nhờ lâu ngày nơi nhà bè bạn.

   Theo Nguyễn Khánh Trương thì bài Tình ơi hỡi tình là bài thơ cuối cùng nhà thơ làm trên đất Mỹ, xin trích hai khổ đầu và cuối: "Lâu rồi, không nhớ bao lâu / Tìm nhau trong cõi bạc đầu nhân gian / Em về dưới gót trăng tan / Có nghe thiên cổ tiếng ngàn thông đau?...Lâu rồi không biết bao nhiêu / Nắng mưa trên những tàn xiêu đổ đời / Hôm em êm ả điệu ngồi / Sau lưng là những tình ơi hỡi tình!".  Ý thơ là nỗi chán chường, ngán ngẩm, là lời cuối cùng cho những chuyến tình sầu đã đi qua đời ông.

    Là một người sống nội tâm, đầy suy tư, không biết nhà thơ có mặc khải được chốn bất khả tư nghì trong tư tưởng hay không, mà thơ ông từ rất sớm đã lảng vảng hình bóng của sự chết: "Ta mời ta viếng mộ / Rời thảm cảnh dương gian...Lửa đời ta đã lụn / Đang hấp hối tro tàn,". (Thơ Mưa).

Và ông xem cái chết như một nghiệp định: Ta phải khổ cho đời ta chết trẻ / Phải ê chề cho tóc bạc với thời gian / Phải đau theo từng hớp rượu tàn / Phải khép mắt sớm hơn giờ thiên định."  (Giữa Trần gian tuyệt vọng).         

          

   Việc gì đến sẽ đến, ngày 8 tháng 3 năm 1992, người ta tìm thấy nhà thơ gục đầu trong một chiếc xe cà tàng đậu dưới tán cây, trong sân một góc chùa ở California, chung quanh ông có nhiều vỏ ống thuốc ngủ rơi vãi.

  Bút danh Nguyễn Tất Nhiên đã lận vào đời để vinh danh ông là một thi sĩ tài hoa, cuối cùng rồi cũng theo lẽ "Tất Nhiên". Ông lặng lẽ trả lại tên cho người bằng một phận đời bế tắc:

  "Đường không gian đã cách ly

   Đường thời gian đã một đi không về 

   Con đường mờ mịt sương che

   Tôi vô định lái chuyến xe mù đời "          

                          (Minh Khúc 90)

   Trái tim tình thua đã tự ngừng đập ở tuổi 40.  Đối với ông, ra đi là một cách giải thoát và ở một phương xa nào đó nơi cõi Vĩnh Hằng. Có lẽ nhà thơ sẽ thanh thản mỉm cười, vì ông đã trải qua được kiếp trần gian ô trọc đầy hỷ nộ ái ố nầy bằng những bước chân hồn nhiên, vô tư của một lãng tử mộng du đời, mà không hề vương mang một chút mùi tục lụy.

 "Hỡi Thượng Đế xin cúi đầu trả lại             

  Linh hồn tôi là một kiếp đi hoang

  Sầu đã chín, xin người thôi hãy hái

  Nhận tôi đi dầu địa ngục, thiên đàng"

                                       (Trình bày, thơ Huy Cận)

                          Trương Công Hải,

                           9/2026.

READ MORE - TÌNH THƠ NGUYỄN TẤT NHIÊN VÀ NỖI NGHIỆT NGÃ CỦA TÂM HỒN MỘNG DU - Trương Công Hải

Friday, July 4, 2025

VÀI LỜI VỚI ANH LA THUỴ NGƯỜI TẶNG SÁCH - Trương Công Hải



La Thụy, một đồng môn không quen nhưng biết, do đọc bài của anh trên facebook.             
Nhận được tập tạp luận Chữ Nghĩa Văn Chương của anh khi đang ngồi café, mấy bạn cứ chuyện trò, còn tôi thì tranh thủ đọc, lướt vội.
Sách do Hội Nhà Văn xuất bản, trình bày không hoa hoè, giản đơn nhưng đẹp.
 
Đọc Tạp Luận của La Thụy, ngoài việc thưởng ngoạn, ta còn biết thêm được kiến thức về Chữ Nghĩa, và về giá trị thẫm mỹ văn chương kim cổ Đông Tây như tiêu đề của tập sách đã nêu. Trong đó, bài “Lẽ Vô Thường Trong Thơ” là một tiêu biểu.  

Lẽ Vô Thường thường được thấy trong Pháp Phật nhưng điều thú vị là ta còn thấy khái niệm này trong tư tưởng Đạo Giáo của Trang Tử. Khi vợ chết Trang Tử không khóc mà chỉ cười, rồi hát khúc Cổ Bồn Ca bởi ông cho rằng nàng “chẳng qua là tạp chất trong hư không biến ra mà có Khí, khí biến ra mà có Hình, hình biến ra mà có Sinh, rồi lại biến ra nữa mà có Tử. Khí Hình Sinh Tử có khác nào bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông vận hành.” (trang 1) 
Không những Đạo Giáo, mà trong kinh Cựu Ước khái niệm Sắc Không của Lẽ Vô Thường cũng được nhắc tới nhiều lần “Hư không của sự hư không, hư không của sự hư không, thảy đều hư không…” (trang 8 )
   
Khái niệm tương đồng về lẽ vô thường của vạn vật giữa Đạo Giáo, Thiên Chúa Giáo và Phật Giáo được tác giả chỉ ra trong bài viết thật thú vị, làm cũng cố thêm luận thuyết Thân Vô Sở Trụ nằm trong giáo Pháp của nhà Phật mà ta thường biết đến xưa nay.
 
Đề tài bài viết trong tạp luận của La Thụy khá phong phú, nên có bài để thưởng ngoạn có bài để khám phá, làm giàu thêm vốn tri thức, càng đọc càng tò mò xen lẫn thú vị như là: Âm Hán Việt-Tên Những Quốc Gia, Mùa Thu của Apollinaire, Vì Sao Gọi Là Mưa Ngâu… kể cả đề tài về ngữ pháp: Trau Giồi hay Trau Dồi…
  
Ẩn chứa trong những trang viết ta thấy một La Thụy là nhà văn, nhà biên khảo bởi ông thông thạo cả chữ Hán Nôm lẫn tiếng Pháp. Người viết coi tâm hồn ông như là giao điểm giữa chữ nghĩa và văn chương, mang bóng dáng của một nhà biên khảo có hồn nghệ sỹ.
 
Cuối cùng, như đã nói, La Thụy là người đồng môn, tôi chỉ biết chứ không quen anh.
Nhưng khi đọc hết tập tạp bút anh tặng tôi, do sự đồng cảm, người viết dường như đã quen anh từ lâu. Nên từ nay, xin phép được nói lại, anh không phải chỉ là người tôi biết, mà anh là người tôi quen biết.   
Cứ thế anh La Thụy nhé. Và cám ơn anh đã tặng sách, về Đà Nẵng đừng quên Alo Café đó !                               
Trương Công Hải                                                            7/2025      
READ MORE - VÀI LỜI VỚI ANH LA THUỴ NGƯỜI TẶNG SÁCH - Trương Công Hải

Friday, January 26, 2024

TẦM HỒN NHƯ MỘT THỦ PHÁP NGHỆ THUẬT qua bài thơ GIỌNG HUẾ của TÔ KIỀU NGÂN - Trương Công Hải

 


Nhà thơ Tô Kiều Ngân



TẦM HỒN NHƯ MỘT THỦ PHÁP NGHỆ THUẬT

qua bài thơ GIỌNG HUẾ của TÔ KIỀU NGÂN

Trương Công Hải


Trước hết là câu chuyện của tôi và Huế.

Tôi, nội Quảng Trị, ngoại Huế, hiện ở Đà Nẵng. Như vậy con người tôi hai phần Quảng, một phần Huế, chưa kể trong suốt 30 năm trời, vì lý do công việc, mỗi tháng ở Huế hết mười mấy ngày, nên tôi với Huế đều thuộc lòng nhau. Gặp nhau hoài nên cứ êm êm rứa!

Thuở vào Đại học, xứ mưa dầm, thấm lâu rồi cũng vương. Người tôi hò hẹn nhan sắc không bằng tính tình, nên sau này, khi làm thơ thì khó tả về chân dung, tôi đành nói chung chung về cái tính Huế của cô ấy mà thôi.

Này em Huế,

“Em ở trong tôi nét u hoài trầm tích

Giọng nói nhu mì tóc rũ dáng kiêu sa

Chút ngây thơ đem che dấu điệu đà

Và khôn khéo,

Cái chi cũng đều sợ mạ”.

Rủ đi chơi đi chơi thì đi nhưng vừa đi vừa kêu sợ mạ. Còn tôi thì:

“Tôi ở trong em, chàng sinh viên non dạ

Tập truyện tình yêu chỉ mới lật trang đầu

Làm dáng vậy thôi, chứ em nhìn là ú ớ

Chẳng có lớp học nào dạy cách yêu nhau

Nếu có, thì bài đầu tiên

Học để thôi đừng lớ ngớ”

Sau đó, do hoàn cảnh di tản năm 1972:

“Quảng Trị mất

Tôi về nơi không định hướng

Mọi chuyện rồi như mây trắng giữa trời

Liệu là em có đi về méc mạ ?”

Tính nông nổi, được nước tôi tới luôn:

“Cứ méc đi thằng dấu hồn du đảng

Giả đò say để sinh sự tự tình

Giả ngu ngơ để làm câu thơ đểu

Ôi biết làm sao để khỏi tự dối mình!”

Câu chuyện của tôi là câu chuyện của kẻ ngoại đạo, trải nghiệm tình yêu một thời với người em xứ Huế.

Không phải là vô cớ, tôi viết ra như một minh họa thực tế về tính cách của cô gái Huế, người có nét tương đồng với nàng thơ trong bài Giọng Huế của Tô Kiều Ngân.

Và câu chuyện của tôi cứ xem như là một lời dẫn cho bài viết.


GIỌNG HUẾ

Ngắt một chút mây trên lăng Tự Đức

Thả vào mắt em thêm một dáng u hoài

Đôi mắt ấy vốn đã buồn thăm thẳm

Đem mây vào e tan nát lòng ai.


Anh quỳ xuống hôn lên đôi mắt đó

Bỗng dưng sao thương nhớ Huế lạ lùng

Hay tại bên anh em ngồi thỏ thẻ

Tiếng quê hương xao động đến vô cùng.


Hèn chi rứa, răng chừ, em sợ lắm

Mạ ngày xưa cũng từng nói như em

Anh mất mạ càng thương em tha thiết

Như từng thương câu hát Huế êm đềm.


Cám ơn em đã cho anh nhìn lại

Dòng sông Hương trên bến cảng Sài Gòn

Nước như ngọc in bóng thuyền lấp lánh

Mái chèo khua vương nhẹ nhánh rong non.


Nếu lại được em ru bằng giọng Huế

Được vỗ về như mạ hát ngày xưa

Câu hát Huế chứa chan lời dịu ngọt

Chết cũng đành không nuối tiếc chi mô.

Ngắt một chút mây trên lăng Tự Đức là lời nói phát ra từ mơ thức, đôi mắt vốn buồn của em qua lăng kính mơ thì trở nên đẹp u hoài, sâu lắng, vô cùng lãng mạn.

“Đôi mắt ấy vốn đã buồn thăm thẳm

Đem mây vào e tan nát lòng ai”

Chữ “e tan nát lòng ai” đưa nghĩa câu thơ vào thế lấp lửng. Sự e thẹn, ngại ngùng trong ánh mắt, sự lấp lửng trong ý tứ luôn là đặc sản bước đầu trong tình yêu của em Huế. Chữ “e” đó đâu có khác gì chữ “e” trong câu Kiều: “Tình trong như đã / Mặt ngoài còn e”, và cũng chẳng khác gì hình ảnh hai vạt tà áo dài bay của người con gái Huế khi đi ngược gió như trong thơ của Phạm Thiên Thư:

“Áo em vạt tím ngàn sim

Nửa nào nức gọi nửa im đợi chờ

Yêu nhau tự thuở bao giờ

Gặp đây giả bộ hững hờ mây bay”

Vạt sau tà áo tung bay như nao nức gọi, vạt trước gió ép vào thân như im lặng đợi chờ. Con gái Huế là vậy đó, kiểu nói thôi nhưng phải hiểu là thôi nữa!

Em Huế với dáng u hoài và mắt buồn sâu thẳm là hóa thân của những hoài mong, mơ màng, tiếc nuối về một vương triều Nguyễn đã lụi tàn nhưng cái cụ thể còn lại muôn đời vẫn là giọng Huế.

Chế Lan Viên đã từng cho rằng: ”Khi ta ở chỉ là nơi đất ở / Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn” và Tô Kiều Ngân cũng như thế:

“Anh quỳ xuống hôn lên đôi mắt đó

Bỗng dưng sao thương nhớ Huế lạ lùng

Hay tại bên anh em ngồi thỏ thẻ

Tiếng quê hương xao động đến vô cùng.”

Nếu cho rằng tiếng nói là linh hồn của một dân tộc thì giọng Huế chính là hồn của Huế.

“Hèn chi rứa, răng chừ, em sợ lắm

Mạ ngày xưa cũng từng nói như em

Anh mất mạ càng thương em tha thiết

Như từng thương câu hát Huế êm đềm.”

Một số hư từ, đặc ngữ của Huế như “mạ, hèn chi rứa, răng chừ” cũng như câu cuối cùng: “Chết cũng đành không nuối tiếc chi mô”, tất cả như một hương vị đặc trưng của Huế, lan tỏa, thấm đều trên trang thơ, ngấm vào từng câu chữ, cho ta cảm giác đọc bài thơ như đọc giọng Huế vào lòng.

Qua người em Huế, dòng Hương được gợi nhớ, hiện lên trên bến cảng Sài Gòn với một hình ảnh đẹp lãng mạn vốn có.

“Cám ơn em đã cho anh nhìn lại

Dòng sông Hương trên bến cảng Sài Gòn

Nước như ngọc in bóng thuyền lấp lánh

Mái chèo khua vương nhẹ nhánh rong non”

Một dòng sông mộng, nước chảy là đà đã được nhìn chồng lên con sông cuồn cuộn sóng, nước đục lờ đờ trên bến cảng Sài Gòn, đó là khi cảm xúc dâng cao đến nao lòng thì nhà thơ bị đưa đi từ cõi mơ đến mớ.

Khổ thơ cuối cùng đã đánh thức một hoài vọng về Huế và em, đã khơi dậy một hồi ức thời thơ ấu trong vòng tay mẹ, cùng âm vang chứa chan lời dịu ngọt của câu hát Huế.

“Nếu lại được em ru bằng giọng Huế

Được vỗ về như mạ hát ngày xưa

Câu hát Huế chứa chan lời dịu ngọt

Chết cũng đành không nuối tiếc chi mô”

Người ta thường ca ngợi văn hóa Huế với những di sản vật thể. Ngoài Nhã Nhạc Cung Đình còn có giọng Huế, chất giọng của ngâm thơ, của dân ca hay của điệu hò mái nhì, mái đẩy. tất cả đều thuộc về phần văn hóa phi vật thể thì ít được ai đề cập đến .

Họa hoằn lắm ta mới nghe Trịnh Công Sơn nhắc đến: “Một ngày chợt nghe quê quán tôi xưa / Giọng người gọi tôi nghe tiếng rất nhu mì”.

Tô Kiều Ngân là người con của của Huế sống tại Sài Gòn, là một nhà thơ, một tay sáo nỗi tiếng trước 75 đồng thời cũng là nhà diễn ngâm thơ bằng giọng Huế, thì việc cảm xúc chất giọng để thả vào thơ một linh hồn Huế chẳng có gì là lạ.

Người em Huế trong thơ là cái cớ để nhà thơ trút nỗi niềm về cố quận, ta xem đây như là tiếng lòng của một người trong cuộc nhớ thương về nguồn cội của mình.

Bởi là tiếng lòng nên tự nó đã có chất thơ mà không cần phải gia cố vần vận, cả bài thơ chỉ có 2 vần, không nhất thiết phải liền mà là cách vận như ở khổ 2 và 4 đều nằm ở câu thứ 2 và thứ 4.

Lời thơ thì chan chứa, dạt dào, tự nhiên như âm sắc giọng Huế và dặt dìu như tiếng sáo của Tô Kiều Ngân thổi vào từng thi khúc.

Mặt khác, nhà thơ cũng không cần phải dụng công vào một biện pháp nghệ thuật nào cả để xây dựng hình ảnh, bởi hình ảnh vốn có về Huế đã nằm sẵn trong ký ức khi xúc cảm tuôn trào thì nó đã tự lôi ra để đặt vào trang thơ.

“Hèn chi rứa, răng chừ em sợ lắm

Mạ ngày xưa cũng từng nói như em

Anh mất mạ càng thương em tha thiết

Như tình thương câu hát Huế êm đềm

Nếu lại được em ru bằng giọng Huế

Được vỗ về như mạ hát ngày xưa

Câu hát Huế chứa chan lời dịu ngọt

Chết cũng đành không nuối tiếc chi mô.”

Tận cùng của sự đánh cược cho một tình yêu cao quý nhất trong đời mình là cái chết. Chỉ có tình yêu của đất và người mới

Khiến nhà thơ nói được điều đó vì ông đã yêu Huế bằng một tình yêu đẳng cấp tới mức thượng thừa.

Có thể không sai khi cho rằng Tô Kiều Ngân đã dùng chính tâm hồn ông như một thủ pháp nghệ thuật để viết nên bài Giọng Huế . Giọng Huế là hồn của Huế, nên chỉ có tâm hồn người trong cuộc mới dễ lột tả được hết bản sắc văn hóa Huế mà thôi.

TRƯƠNG CÔNG HẢI

Những ngày cuối đông nhớ Huế 1/2024.


____________________________________________________

GIỌNG HUẾ

Thơ Tô Kiều Ngân

Đăng trên https://www.thivien.net/


GIỌNG HUẾ, thơ TÔ KIỀU NGÂN
READ MORE - TẦM HỒN NHƯ MỘT THỦ PHÁP NGHỆ THUẬT qua bài thơ GIỌNG HUẾ của TÔ KIỀU NGÂN - Trương Công Hải

Tuesday, December 26, 2023

MẸ TÔI NGỦ GIẤC MIÊN TRƯỜNG - Thơ Trương Công Hải

Nhà thơ Trương Công Hải 

 MẸ TÔI

NGỦ GIẤC MIÊN TRƯỜNG

              (Nhân ngày giỗ mẹ)


Tuổi vàng thu, đời lá rụng về đâu

Linh hồn ngủ giấc say vào Thiên Cổ

Con gởi trọn nhớ thương vào nấm mộ

Lời tâm kinh cầu Mẹ tới Thiên Đường.


Chúng con vui nhìn di ảnh mẹ cười

Dầu no đủ đầy vơi theo năm tháng

Dầu lênh đênh ngay từ thuở xa Người

Lòng vẫn cứ rộn ràng hồn xưa cũ.


Ngoài song thưa mưa lạnh gió bốn bề

Đèn hương sẵn giờ anh linh sắp tới

Liệu Người ơi, còn nhớ nổi đường về!

Trời vào đông chiều rơi buồn man mác.


Phận chúng con

Sương nắng dở khóc cười

Nên chỉ ước, được sa vào lòng Mẹ

Được Người ôm mà khóc vạ số trời

Nấc tiếng thật to

Cho thỏa một cuộc người

Và hét toang lên

Cho đáng một trận đời.


Rồi Mẹ sẽ đưa bàn tay hiền dịu 

Vuốt ve đầu và nhỏ nhẹ: nín thôi!

Hết khóc rồi con sẽ có nụ cười

Đời là thế, cứ mà: hoài nũng nịu!


Vĩnh biệt gian nan từ khi ăn cháo lú

Quên trần ai Người qua khỏi Nại Hà

Nơi bốn mùa xanh cây lá cỏ hoa

Chốn Vô Ưu hay là cõi Ta Bà

Ở nơi đó, không gian màu ngọc bích.


Mộng bình thường, ru con lời mẹ hát

Phật Trời ru, Mẹ mộng giấc miên trường

Và cứ thế Người ơi đừng quay lại

Kiếp nhân sinh sao quá đỗi vô thường.


Chín Chữ cưu mang đời nặng nhẹ

Bốn lạy nầy đâu thấm nghĩa Cù Lao

Phút trầm mặc lòng ngậm ngùi thương nhớ 

Nén hương tàn

Mưa tạnh tự lúc nào!

Con của Mẹ,

        TRƯƠNG CÔNG HẢI

        Và em TRƯƠNG THU HÀ

       Đà nẵng, mùa đông tháng 12/2023.

\      

READ MORE - MẸ TÔI NGỦ GIẤC MIÊN TRƯỜNG - Thơ Trương Công Hải

Sunday, November 12, 2023

HOA PHẤN - Thơ Trương Công Hải

Nhà thơ Trương Công Hải


 HOA PHẤN

Kính tặng quý Thầy Cô giáo của tôi tại Gio Linh, Bồ Đề và Trung học Nguyễn Hoàng, Q.Trị nhân ngày 20/11.

 

Người ngồi đó,im lìm như pho tượng

Có nỗi niềm chi,trong ánh mắt đăm chiêu?

Tiếng trống trường ai vọng điểm trong chiều

Chắc Thầy  nghĩ đã tới giờ lên lớp!

Gian gác cũ, nhuốm một màu hiu quạnh

Tập sách buồn,con chữ cũng hờn theo

Cây viết đỏ nằm im không muốn nói

Chồng giáo án nghiêng nghiêng

Xô xuống phận người.

Phút gặp đầu tiên, lòng thầy tĩnh lặng

Nhưng em biết ngoài sân nắng đã vơi đầy.

Em cúi xuống, ôm bàn tay gầy guộc

Ôi bàn tay, năm ngón khẳng khiu     

Vừa đủ ấm để đôi lòng xao động

Ngọn gió mùa sang se lạnh tự lúc nào?

Bàn tay ấy, đã từng cầm viên phấn

Kẻ những đường cong lên tấm bảng đen

Để em biết, đời mình luôn đi thẳng

Để em biết, không so đo tính toán

Khi đã làm xong hai phép cọng trừ.

Rồi có khi, thầy ghi hình chữ S

Em biết làm sao yêu Tổ Quốc mình

Rồi có khi,thầy vẽ hình trái tim

Để chúng em

Lớn thành những con người nhân bản

Rồi cứ thế, trong từng bầy chim sẻ

Có đứa đã bay lên

Bằng đôi cánh phượng hoàng

Thầy vẫn đứng,tự hào trên bục giảng

Lòng vẫn vui khi giữ vững nhịp cầu

Nhịp cầu Kiều trong câu hát ca dao

Đẹp muôn đời ầu.. ơ..tiếng mẹ.

Phút tạm biệt

Cầm tay không nói

Trời đã tàn thu  còn những lá rơi

Ngọn lá vàng phai

Hay lá của ngậm ngùi

Sao Thầy cứ dấu hoài nơi đôi mắt?

Tóc Thầy bạc từ những hồn bụi phấn

Đã kết tinh thành một loài hoa

HOA PHẤN trắng như đời Thầy thanh bạch

Để chúng em lớn nổi thành người.

                        TRƯƠNG CÔNG HẢI.

                                  4/2023

READ MORE - HOA PHẤN - Thơ Trương Công Hải

Sunday, September 24, 2023

THỤY SƠN - NGƯỜI CHẠM TRỔ GIẤC MƠ NGÀN - Trương Công Hải

 




THỤY SƠN - NGƯỜI CHẠM TRỔ GIẤC MƠ NGÀN

Trương Công Hải


Tôi được chị Thụy Sơn tặng một tập thơ, Bài viết xem như một lời cám ơn chị.


I. Người chạm trổ giấc mơ ngàn

Ngày không gió là một ngày hư cấu, là cái cớ để nhà thơ trút nỗi mưa lòng:

“Ngày không gió

Nắng không về bên cửa

Có một người đem nỗi nhớ ra phơi"

(Ngày không gió)

Nỗi nhớ của Thụy Sơn chính là quá trình quán tưởng tự thân đã đến lúc cần được đánh thức, quá giang vào thơ, dũng cảm vượt cạn theo cơn sóng, vỗ bềnh bồng vào tập thơ.


Nhà thơ Thụy Sơn


Thơ đối với tâm hồn Thụy Sơn là một điều kiện cần và đủ để giải tỏa những trăn trở hiện sinh của một phận người lạc lõng giữa đời thường.

Vì thế, mở đầu tập Ngày Không Gió là bài Xin Làm Người Thắp Nến. Bài này chưa hẳn là một tuyên ngôn thơ, mà nó được xem như là một sứ mệnh tự thân, thắp sáng tâm hồn cho thơ:

“Người đàn bà

Xin làm người thắp nến

Lửa nhóm trong thơ

Huyết lệ tâm hồn

Nhai lại tuổi mình tròn khuyết một tháng ba.”

(Xin làm người thắp nến)

Nhai lại tuổi mình tức là quán tưởng đời mình, một tháng ba mươi ngày đủ.

Với một năng khiếu thiên bẩm, nhà thơ đã tự tin làm được sứ mệnh này. Khổ thơ sau đây là một minh chứng

“Người đàn bà gánh chữ đi xa

Thân cổ lục/ hồn ngữ ngôn hóa đá

Lời rêu phong chạm trổ giấc mơ ngàn”

(Xin làm người thắp nến.)

Thơ luôn bước ra từ tâm hồn rồi hóa thân thành con chữ, nói thành lời, diễn thành ý.

Xét về nội dung thì bốn yếu tố trên được gói gọn gàng vào khổ thơ.

Xét về hình thức nghệ thuật thì cả bốn yếu tố trên đều được thi ảnh hóa. Từ những khái niệm phi vật thể chuyển thành vật thể để người đàn bà có thể gánh chữ, hóa đá ngữ ngôn, dậy rêu phong và cuối cùng là chuyển thể bài thơ thành hình tượng của một tác phẫm điêu khắc: “Chạm trổ giấc mơ ngàn”.

Có thể nói Thụy Sơn đã không dùng ngòi bút mà dùng chiếc đũa thần kỳ để phù phép về mặt ngôn ngữ.

Cùng với việc gặm nhắm nội dung hơn 150 bài thơ trong tập Ngày Không Gió,tôi chắc sẽ không sai khi gọi Thụy Sơn là: Người Chạm Trổ Giấc Mơ Ngàn.


II. Chiếc đũa thần kỳ

Thơ là lối thoát của lòng, tuôn ra từ ý nghĩ. Nhưng thơ của Thụy Sơn thì khác, đi ra từ tư duy. Tư duy là một bước nữa của ý nghĩ sau khi đã nhận thức, nên ngôn ngữ phù hợp nhất để chuyển tải tư duy chính là từ Hán Việt. Từ Hán Việt được xem như là một linh kiện đã định hình. Đẹp và phong phú về mặt ý nghĩa. Các từ như Huyền Trân, Huyết Lệ… diễn nôm ra thì không hay bằng để y như vậy.

Thơ Bà Huyện Thanh Quan đẹp quý phái nhờ vận dụng nhuần nhuyễn loại từ này.

“Gác mái ngư ông về viễn phố

Gỏ sừng mục tử lại cô thôn.”

Thụy Sơn là người vận dụng tối đa từ Hán Việt vào thơ, thỉnh thoảng có chút điển tích,lại cộng thêm cú pháp tư duy, rất giàu hình ảnh ẩn dụ, nên có một số người khi đọc qua thấy hơi khó hiểu.

“Văn kỳ thanh/Bất kiến kỳ hình

Khẻ chạm vào/Ngôn ngữ lặng thinh

Đôi mắt Đường Thi/Nghiêng Bạch Mã

Một hồn luận thuyết/Ngát Ninh Bình

Ta xin hóa thạch/Chờ tri kỷ

Người có là đêm rót thịnh tình

Chiết tửu.

(Nói cùng tri kỷ)

Đúng là người yếu vía thơ mới đọc mà hiểu là chết liền. Khó hiểu nhưng có thể cảm nhận được chất men say trong thần thái của thơ, dù tác giả là người nữ,chắc không uống.

Đây là lời độc thoại với tri kỷ Thôi Hiệu, một nhà Đường thi, hẹn chờ đêm đối ẩm.

“Người có là đêm rót thịnh tình

Chiết tửu."

Lời mời rượu hào sảng của một cuộc rượu hư mà rất thực, khác gì một cuộc người rất thực mà hư trong thơ Thụy Sơn.

Dòng thơ tư duy của Thụy Sơn không rơi vào kể lể, tả thực hay trần tình bằng lời, như nhiều tác giả thường gặp.

Thơ của Thụy Sơn rất giàu thi ảnh, suối nguồn tư duy tuôn ra từ ẩn thức nên thi ảnh là ngôn ngữ phù hợp nhất để đặc tả những sắc thái của nỗi niềm thân phận.

“Từ em,

Đánh cắp nụ cười

Ta dung nhan đó/ra người cổ sơ

Hẹn nhau hay là tình cờ

Trăng trăm năm gảy đôi bờ hợp tan

Em đi về phía xa xăm

Bên ta khuyết một chổ nằm từ đây.

(Chiều rụng bên hồ)

Những hình ảnh ẩn dụ gợi sự mất mát như nụ cười bị đánh cắp, tiều tụy về dung nhan, tan tác một cuộc tình rồi đột nhiên vén toạc bức màn thực: Em đi về phía xa xăm/ Bên ta khuyết một chỗ nằm từ đây.

Nói một cách hoa mỹ theo cú pháp của nhà thơ là, nỗi niềm được mạc khải bằng một thực tế hiện sinh. Vì thế thơ Thụy Sơn luôn thấm đẫm một triết lý nhân văn:

“Người đàn bà gối đầu trên nửa giấc hoàng hôn

Đưa môi cắn nỗi buồn vỡ nát

Đêm hợp cẩn của loài chim hoàng hạc

Ngó xuống bóng mình một nửa khuyết rưng rưng."

(Nửa khuyết)


III. Gõ cửa đền thiêng

Đến đây có thể nói ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ Thụy Sơn là không lạ nhưng tân kỳ.

Thơ Thụy Sơn luôn ẩn hiện một nỗi buồn cô đơn bản thể (Từ dùng của bạn Hồ Sỹ Bình).

Trước hết ta hãy nghe Hàn Mặc Tử cảm nhận về điều này:

“Ánh trăng mỏng quá che không nổi

Những vẻ xanh xao của mặt hồ

Những nét u buồn tơ liễu rũ

Những lời năn nỉ của hư vô

Chao ôi! Ghê quá trong tư tưởng

Một vũng cô liêu cũ vạn đời"

Và nghe Trịnh Công Sơn:

“Con diều bay mà linh hồn quạnh quẻ

Con diều rơi cho vực thẳm buồn theo.”

Vũng cô liêu của Hàn Mặc tử hay linh hồn quạnh quẽ của Trịnh là những hóa thân của nỗi cô đơn bản thể. Cả 2 người này còn trên cả cô đơn.

Và Thụy Sơn cũng không ngoại lệ, có những lúc lạc lõng giữa đời thường:

“Tìm nhau trong cuộc vô thường

Tiếng kêu khàn giữa mù sương núi đồi

Hẹn nhau cùng một dòng trôi

Sông người rẽ nhánh, sông tôi lỡ bồi.”

(Tri âm)

Hay độc hành trong đêm phố núi

“Người đàn bà giẫm bóng trong đêm

Gùi cô đơn đi bên xe thổ mộ

Đánh cược đời mình

Bên kia con dốc đổ dài.”

(Chiếc khăn quàng bỏ quên trên phố núi)

Con dốc đổ dài, nghe như tiếng thở dài của một nỗi cô đơn sâu thẳm.


Tác giả Trương Công Hải

Đọc thơ Thụy Sơn, ta nhận thấy có cùng một mẫu số chung với lời nhạc Trịnh, họ đều nói về những phận người.

Chỉ khác là ở Sơn Trịnh, ông nói đến phận đời khắc khoải của con người và của dân tộc trong thời cuộc chiến tranh. Vì sự phiêu lưu tư duy dài tay của ông, nên ông đành chịu sự bế tắc sau cuộc chiến. Bài Tiến Thoái Lưỡng Nan là một ví dụ.

Còn ở Sơn Thụy, thơ là một nỗi niềm cá nhân và những nút thắt từng bước trong đời đều được hóa giải theo tư tưởng của Pháp Phật một cách ngoạn mục.

Đọc thơ Thụy Sơn, ta bắt gặp nhiều thi ảnh của tư duy quán tưởng:

“Chưa choàng y áo Chân tu

Qua sông đã rớt kinh thư thuở nào

Đọa làm kiếp lá hanh hao

Vàng thu ta rụng xanh xao nỗi buồn.”

(Vàng thu lá rụng)

Hay: “Hành châu nghịch thủy về đâu

Sóng Tràng Giang nhuộm trắng màu biệt ly

Đò chưa qua buổi xuân thì

Sông trăng giờ đã già đi nhánh buồn.”

(Vàng thu lá rụng)

Từ một kiếp lá hanh hao nhà thơ đã dự cảm được vàng thu lá rụng. Từ thuở đò chưa qua buổi xuân thì nhà thơ đã quán tưởng được sông trăng giờ đã già đi nhánh buồn và hành châu nghịch thủy, lội ngược dòng để tìm về nguyên ủy phận đời.

Quán tưởng thông thì phát sinh quán niệm, thấy hết lẽ đời mới phát tâm buông bỏ.

“Người đàn bà ngồi giấu mặt

Sau giải khăn mây

Dịu dàng phóng sinh… nỗi nhớ!”

(Phóng sinh nỗi nhớ)

Hay: “Buồn gì mây xuống trắng trong

Nặng lòng chi đục,trong ao người

Ta ngồi nhìn được mất, trôi

Đời sông cũng được dòng trôi về nguồn”

(Về nguồn)

Vượt qua được hai giới cảnh trên, thơ của Thụy Sơn chứng nghiệm được quán không:

“Ai về bên ấy cho tôi hỏi

Ở cõi thiên thu có Niết Bàn

Dấu chân trên nước còn hay mất

Dưới cội…nghìn thu một quán không.”

(Quán không)

Tư duy Quán không trong khổ thơ trên, có một câu hé lộ cho thấy nhà thơ đang đứng bên ni bờ của không sắc với một câu hỏi tu từ: Dấu chân trên nước còn hay mất?.

Như vậy sắc không của bản thể không còn là điều vô minh với thơ của Thụy Sơn nữa:

“Người đàn bà vẫn ngồi dấu mặt

Sau giải khăn mây

Thấy trắng trong đen

Thấy không trong có.”

(Phóng sinh nỗi nhớ)

Nghiệm chứng được sắc không là điều kiện đủ để đi đến cảnh giới của tánh không:

“Cội Bồ Đề ôm bóng

Tịch lặng cõi mù sương

Lòng không mưa không nắng

Vạn Pháp bừng hư không.”

(Quán không)

Trong Ngày Không Gió, nhà thơ đã vận vào một căn nghiệp ngay tự thuở lọt lòng, căn phần luôn được giấu vào ẩn thức và tuôn ra thơ, nương vào thơ để giải bày và nương vào Pháp để hóa giải.

Vì thế, dẫu cuộc đời có bắt đầu bằng: 

“Những chiếc lá non khiếm khuyết/Khai sinh từ buổi nhú chồi.” (Lá khuyết)

Nhà thơ đã biết cách dùng ngòi bút để phóng sinh nỗi nhớ và đạt được giới hạnh buông bỏ.

Có khả năng thơ chị không cần dùng đến chén Cháo Lú mà vẫn tới được bờ vô minh, bởi lòng quyết tâm của chị khi bước vào đền thiêng:

“Áo còn/ trắng lụa Duy Xuyên

Lòng còn/ mở cửa đền thiêng bước vào.”

(Gõ cửa đền thiêng)

Cũng như Hàn Mặc tử hằng tin vào Chúa và mơ thơ bay đến chốn Phượng Trì.

Tư tưởng Đạo trong thơ của Thụy Sơn đang đi trên con đường của Pháp, đó là con đường hạnh phúc miên viễn, như Thiền Sư Thích Nhất Hạnh đã nói: “Làm gì có con đường dẫn đến hạnh phúc, vì hạnh phúc là một con đường.”

Nhân đây, để kết thúc bài viết này, tôi xin được quá giang vài câu thơ của chính mình khi gặp lại người thơ năm xưa trong màu áo nâu sòng.

“Thân vô sở trụ

Em duyên về nơi Mô Phật

Chút phận đời tàn

Anh đi tìm Phật nơi mô?”

(Thơ phai hồn ma nữ - tch)

Có nghĩa là tôi vẫn còn lẫn quẫn trong vòng tục lụy. Còn chị, là người đã có một hồn thơ được phóng sinh.

Trương Công Hải

9/2023


READ MORE - THỤY SƠN - NGƯỜI CHẠM TRỔ GIẤC MƠ NGÀN - Trương Công Hải