Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, August 19, 2013

HỮU LOAN: CÒN MÃI VỚI THỜI GIAN - Phan Tất


Hữu Loan
Còn mãi với thời gian                                                                                                         

Nhà thơ Hữu Loan (1916 - 2010) - tên thật là Nguyễn Hữu Loan, đồng niên với nhà thơ Xuân Diệu. Ông quê ở làng Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Hữu Loan từng học trường Đào Duy Từ (Thanh Hoá); đậu tú tài Tây ở Hà Nội (1938) cùng một khoá với nhà văn Nguyễn Đình Thi.

Xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo, học giỏi, đậu đạt sớm nên người dân ở quê thường gọi ông là “Cậu tú Loan”. Hữu Loan sớm đến với phong trào yêu nước từ Mặt trận bình dân 1936. Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông làm phó ban khởi nghĩa ở Nga Sơn. Sau Cách mạng tháng Tám ông là uỷ viên văn hoá trong Uỷ ban hành chính lâm thời của tỉnh Thanh Hoá, phụ trách các ty: Giáo dục, Thông tin, Thương chính và Công chính.

Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, Hữu Loan gia nhập quân đội; ông từng làm chính trị viên tiểu đoàn thuộc đại đoàn 304 và chủ bút tờ báo: “Chiến sỹ” ở miền Trung. Trong thời gian 1955 - 1957, ông làm việc ở Báo Văn nghệ Hội nhà văn VN. Hữu Loan tham gia phong trào Nhân văn –   Nhà thơ Hữu Loan (1916 – 2010) Giai phẩm cùng thời với Phan Khôi, Trần Dần, Phùng Quán…                                                       
  
                                                      
Theo Hà Đình Cẩn: “Bước thăng trầm của Hữu Loan bắt đầu cuối năm 1957. Một đêm Hà Nội nhiều sương muối, buốt giá, ông và nhạc sỹ Văn Cao trắng đêm dạo quanh hồ Thiền Quang… Đến sáng thì Văn Cao tiễn ông ra bến xe về quê Nga Sơn kiếm kế sinh nhai”. Đó là thời kỳ sau Nhân văn - Giai phẩm bị dập tắt, bạn bè cùng thời với Hữu Loan tan tác nhiều phương, đổ nỗi buồn thi nhân thăm thẳm vào đâu, ông chưa hình dung ra. Riêng ông, ông chỉ biết “Đổ lên đá, và bám đá để sống”. “Hữu Loan trở thành người thợ khai thác đá, đen như sừng, chân tay sần sẹo, tua tủa râu tóc rễ tre, đi đứng, nói năng mạnh mẽ. Cặm cụi vật lộn với núi đá, cùng với người vợ tần tảo, nuôi 10 đứa con khôn lớn”.

Hữu Loan bám núi đá trên mười năm. Trong mười năm ấy, ông đã thực hiện tiếp điều mình luôn tâm niệm: thờ chữ “Tâm”, sống để “bận việc làm người”. Một cuộc mưu sinh cương cường cùng với văn chương một thời bi hùng mà hào sảng, Hữu Loan đã tạc nên tượng của chính mình.

Sự nghiệp văn chương của Hữu Loan gắn liền với một thời chiến tranh vệ Quốc hào hùng của dân tộc. Với những cảm xúc to lớn, đầy phong vị sử thi, tình ca, ông viết không nhiều, chín năm kháng chiến chống Pháp với số lượng đưa ra chỉ mười bài (trong khoảng trên 40 bài ông đã viết), điển hình là hai bài thơ: Đèo Cả và Màu tím hoa sim, nhà thơ Hữu Loan đã ghi tên mình vào nền thơ ca thời đại. Hình ảnh của ông, vị thế của ông trong nền thơ ca kháng chiến đương đại là không thể phủ nhận.

Là người lính, mải miết hành trình theo cuộc kháng chiến, Hữu Loan hầu như không có sự đắn đo, lựa chọn hình thức thơ. Cuộc kháng chiến gian khó, thương đau mà sống động, kiêu hùng đã dội vào lòng ông, rồi tràn xuống trang viết, trào sôi mãnh liệt, hào sảng, kỳ vĩ, yêu thương mà thành: Đèo Cả - Một bài thơ điển hình trong thời đại thơ mới, thơ ca kháng chiến bảo vệ nền độc lập dân tộc.

… Núi cao ngất
mây trời Ai Lao
Sầu đại dương
dặm về heo hút
Đá bia mù sương…


Đèo Cả, bài thơ đầu tay của ông, dọc đường kháng chiến với tâm hồn tráng sỹ, đầy chất gian lao, máu lửa, chân thực mà hào hùng, cao cả: “Rau khe/ cơm vắt/ áo phai sa trường…/Gian nan lòng không nhạt/ căm thù trăm năm xa…”.

Hữu Loan viết Đèo Cả từ mùa Thu 1946, khi ông mới ngoài 30 tuổi. Rõ ràng cuộc kháng chiến lớn lao của dân tộc, lòng yêu thương đồng đội, đất nước vô hạn đã giúp cho Hữu Loan có được cảm xúc đặc biệt, thành bút pháp hiện thực tinh hoa điển hình cho thơ kháng chiến:

Chân đèo Nam
máu giặc
bao lần
nắng khô
Sau một lần thắng
những người lính Đèo Cả
về bên suối
đánh cờ
người hái cam rừng
ăn nheo mắt
người vá áo
thiếu kim mài sắt
người đập mảnh chai
vênh cằm
cạo râu…

“Đèo cả” đăng trên báo “Chiến sỹ” của Quân khu IV in tại Vinh, Nghệ An, số 8 năm 1947 với bút danh là Hữu, được bộ đội, công chúng đón đọc nồng nhiệt, rồi thành tiếng vang lớn. Bài thơ có bút pháp khúc triết, mạnh mẽ, trong sáng đạt đến phong vị tinh hoa cổ điển của thơ Đường. Trên Văn nghệ Việt Bắc số 7 tháng 12/1948, Xuân Diệu viết:

“Tôi yêu, tôi phục bài thơ hoang vu Đèo Cả. Một Đỗ Phủ của thời đại mới đã gọi cái đèo chênh vênh ấy, đứng trong Đất nước ta, giữa Phú Yên và Khánh Hoà, mà hoá thành heo hút quá, vì bên này là ta, bên kia là giặc. Từ Bắc bộ đi suốt vào Đèo Cả, lên đèo, thấy bên kia giặc rắc tai ương!... Đèo Cả thành biên thuỳ, đứng trên đầu bể thẳm, đụng tới mây cao. Đèo Cả treo giữa biên thuỳ mà cái đẹp trầm hùng ngang với lòng chiến sỹ”.

Từ một “cậu tú” đi dạy học, làm gia sư rồi theo kháng chiến, đánh giặc, làm báo, làm thơ, Hữu Loan đã thực sự chiếm được trái tim yêu thương của cô học trò cũ của ông, người xứ Thanh mới 17 tuổi - Lê Đỗ Thị Ninh là con gái của ông bà Tham Kỳ - một gia đình danh giá. Ông Lê Đỗ Kỳ từng làm Tổng thanh tra canh nông Đông Dương, là đại biểu Quốc hội khoá đầu tiên của Nước ta.

Ngày 06/2/1948 đám cưới của Hữu Loan và Lê Đỗ Thị Ninh được tổ chức như ông viết: “Tôi ở đơn vị về/ cưới nhau xong/ là đi…”. Thật đau đớn, chỉ hơn ba tháng sau, người vợ trẻ của Hữu Loan bị chết đuối! Lúc này Hữu Loan đang ở Ban Tuyên huấn của đại đoàn 304. Một thời gian dài, Hữu Loan hụt hẫng, đau khổ tột cùng và ông đã khóc người vợ trẻ quá cố bằng bài thơ Màu tím hoa sim. Bài thơ đã ghi lại cuộc tình duyên có thực, đẹp như mộng bị tan vỡ. Một thực tế đau thương bị nén chặt xuống đáy lòng nhiều ngày, rồi bật nấc lên thành tiếng tơ lòng làm người đọc xúc động, bi xót đến rơi lệ.

Đã có rất nhiều ý kiến bình luận về Màu tím hoa sim: Buộc tội, khen, chê… nhưng có một điều mà phần lớn tri thức, học giả, người đọc đều phải thừa nhận: đây là bài thơ tình nổi tiếng một thời, toả sáng thi ca Việt Nam, góp một phần tạo nên dấu ấn thời đại, hình tượng Hữu Loan trong lòng độc giả.

Đó là - Nỗi đau chiến chinh, chia ly, tang tóc:

Lấy chồng thời chiến chinh
mấy người đi trở lại…

Tôi về
không gặp nàng

Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương tàn lạnh vây quanh…

Chiều hành quân
qua những đồi hoa sim
những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
Tím chiều hoang biền biệt…

Đó là - Sự thấm đẫm nguyện ước, hy sinh, tình yêu trong trắng, cao đẹp của tuổi trẻ:

Tôi người vệ Quốc quân
xa gia đình
yêu nàng như tình yêu em gái.
Ngày hợp hôn
nàng không may áo cưới
tôi mặc đồ quân nhân
đi dày đinh
bết bùn đất hành quân.
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo.
Tôi ở đơn vị về
cưới nhau xong là đi… 

Và - Đọc thơ, là thấy hình, thấy nhạc, sự sáng tạo của bút pháp trữ tình kể chuyện:

Những nốt nhạc của cuộc đời thấm dội vào lòng ta, thành bản tình ca bi hùng mà thánh thiện. Chính vì giàu chất thơ, chất nhạc mà Màu tím hoa sim đã được nhiều nhạc sỹ nổi tiếng như Phạm Duy, Dũng Chinh, Duy Khánh… phổ nhạc. Các ca khúc trở thành những bản tình ca sâu lắng, được phổ biến rộng rãi, nhất là ở miền Nam thời kỳ chống Mỹ. Theo Nguyễn Trọng Tạo: “Hữu Loan là nhà thơ cách mạng, ông vừa làm cán bộ cách mạng vừa làm cách mạng thơ. Bài Màu tím hoa sim mở ra những bài thơ nổi tiếng khác như Núi Đôi của Vũ Cao, Quê hương của Giang Nam…”.

Sau này, Màu tím hoa sim đã được Công ty cổ phần công nghệ Việt (Vitek VTB) xin tác giả mua bản quyền với giá 100 triệu; thời điểm đó là năm 2004, đời sống còn nhiều khó khăn. Đây là món quà làm vơi bớt những đắng cay, oan trái từ tác phẩm mà Hữu Loan đã phải trả.

Cùng cuộc hành trình chín năm kháng chiến chống Pháp, sau Đèo Cả, Màu tím hoa sim, thơ Hữu Loan vẫn nặng tình làng bản, quê hương ruột thịt: “Đôi làng/ như làng quê/ người mẹ già/ như mẹ…”. Là nỗi nhớ thương của gái làng, trai lính trong Những làng đi qua. Rồi đến Hoa lúa có cái gì đó quen thuộc, gần gũi, thân thương như ca dao: “Đôi mắt em mang/ chân trời quê cũ/ giếng ngọt cây đa/ anh khát tình làng quê/ trong mắt em/ thăm thẳm…”.

Vẫn với tính cách hoàn toàn riêng biệt, đầy sinh lực và sáng tạo, gồ gề, thang bậc như cuộc đời của ông, cùng với thế hệ Văn nghệ sỹ kháng chiến chống Pháp như: Nguyễn Đình Thi, Trần Mai Ninh, Chính Hữu, Vũ Cao, Trần Hữu Thung… Hữu Loan đã có những đóng góp xứng đáng cho nền thi ca kháng chiến Việt Nam, và ông sẽ còn mãi với thời gian.

Hữu Loan mất ngày 18/03/2010. Với cuộc đời “Tuổi gần thế kỷ ”, ông đã sống một cuộc sống sôi nổi, cao đẹp, khói lửa, trầm luân…“Ông ra đi thanh thản, nhẹ nhõm và mãn nguyện như vừa chở xong một chuyến xe đá giữa bà con xóm giềng. Những người như ông không bao giờ coi cái chết là trút xong một món nợ đời, mà chính là bước sang một thế giới khác sinh sinh, hóa hóa vô thường. Thế hệ đời sau nhớ mãi một Nhà thơ chiến sĩ, nhớ mãi Thi nhân chở đá xây Đời…” - (.Điếu văn tiễn biệt Nhà thơ Hữu Loan của Hữu Thỉnh - Chủ tịch hội nhà văn Việt Nam).

Phan Tất
90, Võ Thị Sáu - TP. Vinh - Nghệ An.
Tel: 0912387344
phantat@yahoo.com.vn

READ MORE - HỮU LOAN: CÒN MÃI VỚI THỜI GIAN - Phan Tất

Thơ giao lưu của người cao tuổi: TÂM SỰ TUỔI GIÀ - Tâm Hương (Hồ Thanh Danh) và thi hữu

Tâm Hương (Hồ Thanh Danh)



Kính gởi:
Quý thầy
Quý Đồng Nghiệp, Đồng Môn
Quý Thi Huynh, Thi Hữu, cùng bạn bè xa gần

TÂM HƯƠNG
Tên thật: Hồ Thanh Danh.
Quê quán: Quế Sơn, Quảng Nam.
Địa chỉ: Kim Long, Châu Đức, Bà Rịa, Vũng Tàu.
Tuổi đời: Còn 2 bước vịn cửa bát tuần.
Nghề nghiệp: Trước 1975: Nhà Giáo
Sau 1975: “mất dạy”.
Sự nghiệp:   Lúc chào đời hai bàn tay trắng.
Sắp lìa đời trắng hai bàn tay.
Số điện thoại:  0984748978
Email:    danhho2002@yahoo.com
(Từ năm 2007 đến 2013 vào bệnh viên 5 lần nhận án mổ xẻ)

Nay, có bài thơ kính gởi  đến quý vị - ai có nhã hứng xin họa cho mấy vần – Chân thành cảm ơn  (vui lòng chuyển đến bạn bè)

Thư họa gởi về: danhho2002@yahoo.com


TÂM SỰ TUỔI GIÀ

Nằm viện lâu ngày trí rổng không
Về nhà khắc khoải mãi trong lòng
Mượn dòng tâm bút trao niềm nhớ
Trải tấm chân tình ấm nỗi mong
Dẫu biết cuộc đời là huyễn hoặc
Dù cho kiếp sống có long đong
Vẫn còn nhân nghĩa cùng bè bạn
Cho cõi đời thêm chút nắng hồng.
                            Mạnh Thu, Quý Tỵ.
                            14-08-2013
                            TÂM HƯƠNG

Các bài họa:

Bài họa 1:
AN PHẬN TUỔI GIÀ

Đại bàng tung cánh, giữa tầng không!
Lộng gió sương ra chẳng bận lòng
Thi hữu ba miền luôn gắn bó
Bạn bè tứ xứ mãi chờ mong
Mang thân cát bụi đừng lo nghĩ
Vướng nghiệp đường trần chớ đếm đong
Trăm tuổi vẫn còn ba chục tết
Giữ gìn thanh mảnh - sánh hoa hồng!
                          Trương Văn Lũy
                          Bình Thuận


Bài họa 2:
DƯỠNG TÂM GIÀ

Nay đến tuổi già ngẫm Tánh Không.
Chân như vạn hữu sáng nằm lòng
Cậy nguồn Pháp lạc nuôi Tâm cảm
Thấu lẽ đạo mầu toại ý mong
Chẳng lụy tình trường đang đắm mộng
Nào b uông nhận thức lúc cân đong
Nhân tình thế thái dù hư huyễn
Bầu bạn hòa chan nghĩa thắm hồng (nồng)
                                Hồ Trọng Trí
                                Kim Long, BRVT


Bài họa 3:
VUI HƯỞNG TUỔI GIÀ

Chẳng chấp có và - chẳng chấp không
Sống sao thoải mái nhẹ tơ lòng
Ra vườn hóng gió - nghe chim hót
Lên mạng đưa thơ- ngại khách mong
Thiện hữu viêng thăm - nào tính toán
Thi đàn xướng họa - chẳng lường đong
Tâm bình trí tịnh thong dong dạo
Phước lạc đơn sơ rạng ánh hồng
                                    Hồ trọng Trí


Bài họa 4:
CHIA SẺ TUỔI GIÀ

Giữa cõi vô thường sắc kế không
Tuổi già ý xả thảnh thơi lòng
Khi tâm được định an nhàn hưởng
Lúc trí luận thiền thanh thoát mong
Gieo ác, oan vào - vất vả tính
Thí ân, phúc đến - nhẹ nhàng đong
Tùng duyên sanh diệt là quy luật
Phước tụ nhà đơm vạn đóa hồng.
                                Ca, USA, Aug,17, 2013
                                Hạ Thái Trần Quốc Phiệt


Bài họa 5:
THĂM  HỎI

Xuất viện - về nhà có khỏe không ?
Chưa lên thăm viếng thẹn cho lòng !
Dẫu rằng mình bác từng trông đợi
Đâu biết có người đang nhớ mong ?
Thuở ấy yêu thương không thể đếm
Bây giờ tình nghĩa lấy gì đong ?
Vui lên để xóa tan sầu muộn
Cùng với nàng thơ dệt mộng hồng !
                                Nguyễn Thanh Bá

Bài họa 6:
MƠ  ƯỚC

Người về phương ấy có vui không ?
Ta giữa vườn quê quạnh quẻ lòng
Chiều ngóng trời xa thương với nhớ
Đêm ôm gối chiếc đợi và mong
Ngày trôi chậm rãi mòn tay đếm
Buồn đến dài lâu ủ mộng đong
Mơ ước mai sau giờ hội ngộ
Đường xưa sóng bước nắng xuân hồng !
                                     Nguyễn Thanh Bá


Bài họa 7:
THẦN DƯỢC

Say nắng nên chi bệnh phải không!
Nghe anh nằm viện chẵng yên lòng
Vườn thơ Bà Rịa trăm thương đợi
Nhóm bút Đà Thành vạn nhớ mong
"Lực bất tòng tâm" khôn đến tận
"Váng mình sốt mẩy" khó đo đong
"Đồng hương" chén thuốc tiên mầu nhiệm
Chưa uống mà da đã thắm hồng.

                                   THANH TÙNG
                                   Đà Nẵng



READ MORE - Thơ giao lưu của người cao tuổi: TÂM SỰ TUỔI GIÀ - Tâm Hương (Hồ Thanh Danh) và thi hữu

NGƯỜI DƯNG - chùm thơ Phan Minh Châu



NGƯỜI DƯNG

Tôi có quán cà phê
Nên mổi sáng thường ra ngồi trước cửa
Vừa trông khách vừa dắt xe
Cho vợ tôi dư ra vài buổi chợ.
Sáng hôm nay như mọi ngày
Tôi bày bàn, bày ghế
Rồi căng dù che nắng, che mưa.
Tôi mang tờ báo cũ ra trước sân ngồi đọc.
Những người bán hàng rong, những người chào vé số
Già trẻ gái trai, kể cả tật nguyền
Kéo về đây mỗi ngày như cơm bữa
Ngước mắt nhìn tôi như đã từng thân.
Tôi phớt tỉnh như chưa hề nhìn thấy
Tôi phớt tỉnh nhiều lần tôi đứng dậy
Mời họ đi theo đúng nghĩa người dưng.
Duy người đàn ông chỉ có một chân
Ôm đôi nạng gõ từng bước nặng.
Tôi ngước nhìn lên. 
Không thể nào tin nỗi
Người bạn tôi năm nào thuở tuổi hai mươi
Bất ngờ gặp nhau anh bối rối mĩm cười
Đôi tay run vuốt từng tờ vé số
Tôi kéo ghế mời anh ngồi
Rót cho anh ly trà, đốt cho anh điếu thuốc
Rồi bần thần nghĩ đến ngày xưa ...
Những ngày xưa ….
Tôi hồi tưởng những điều tôi còn  nhớ!
Anh với tôi cùng chung đơn vị
Trận đánh nào cũng bỏ chút thịt da
Trong một đêm giặc càn
Bom dày, đạn xéo
Đôi chân tôi máu chảy dầm dề
Anh vác tôi băng qua làn đạn lửa …
Đưa tôi về tuyến sau …
Bao nhiêu năm sau ngày giải phóng
Lặn lội tìm anh trên mỗi chiến trường
Có tìm hỏi từng đồng đội cũ
Nhưng họ đều lắc đầu dửng dưng
Bởi họ biết tôi chỉ hoài công…
Ngày xuất ngủ.
Có lẽ tôi may mắn hơn anh
Cưới được người vợ xinh gia đình khá giả
Tôi có tiền Việt kiều của cả cùng hai họ
Nên cuộc đời cũng bớt nổi lo toan.
Uống xong ly nước trà
Chưa kịp nói gì, anh chào tôi đi
Trong đôi mắt ngân ngấn từng giot nước
Tôi giữ lại biết là không được.
Những đứa con anh ở nhà
Đang cần vài ký gạo
Và dăm ba hộp sửa
Một ít thuốc men, đôi phút dỗ dành
Bửa cơm chiều không phải chỉ rau xanh
Tôi chợt nhận ra mình mới đúng nghĩa người dưng.
                                                                                

MẶT TRỜI NGỦ YÊN

Em đi về phía xa xôi
Anh đi về phía mặt trời ngủ yên
Đất màu dẫu đất không tên
Phồn hoa vẫn cứ chông chênh nỗi buồn
Em đi thả mộng bên trời
Để anh mặc niệm những lời héo hon
Tình sầu như mảnh trăng non
Bỗng dưng hụt hẫng thấm hồn anh đau
Giật mình một giấc chiêm bao
Trái tim lỡ vận ngọt ngào vẫn yêu
Em đi về phía không chiều
Để anh ôm trái đìu hiu tội tình
Lời nhàu nát cả câu kinh
Gởi cho em chút tình này sẻ chia
Phố buồn rắc hạt sương khuya
Sớm mai trở giấc rộ tia nắng hồng
Mai này gội nắng đầu sông
Nhớ em khua áo trên dòng nước xuôi
Chở che một chút ngậm ngùi
Để trăm năm cũ còn trôi bóng người
                                                        

NHỮNG PHONG THƯ XANH 

Có lẽ hôm nay
Các anh các chị
Đang ngồi bên nhau với những bản tin ngày
Những bản tin đến từ những đất nước xa xôi
Đến từ nhừng ốc đảo hoang vu,những núi rừng sâu thẳm
Và các anh các chị
Chắc đang soạn những phong thư gần nhất
Hoặc những phong thư xa cần một chuyến bay dài
Những kiện hàng mới đến được trao tay
Hoặc chưa đến vẫn còn nằm phía trước
Những Bưu phẩm chờ đi
Những phong thư chờ đến
Các anh vẫn âm thầm chuyển gửi những phong thư
Ngành bưu chính hôm nay đã khác những ngày xưa
Thời chúng tôi vượt hai đầu tổ quốc
Những phong thư được giấu trong mo cơm, phích nước
Trong búi tóc người đàn bà nửa tỉnh nửa điên
Trong chiếc bánh chưng xanh, trong gấu áo người giao liên
Hoặc trong cạp quần của những em liên lạc
Phong thư vượt Trường Sơn trong những năm ác liệt
Để đến được cho chồng, cho chị, cho anh
Để đến được ngục tù nơi có những người con
Đang ngày tháng chờ phong thư của mẹ
Đang chờ đợi phong thư của người yêu nơi đầu non cuối bể
Hoặc một gói quà em gái nhỏ phương xa
Có những con người thân phải xẻ làm ba
Để dấu đút những tờ thư trọng tội
Những tin khẩn đưa đi
Chỉ đôi khi lầm lỗi
Bao tai ương đổ xuống đất quê mình
Kim Đồng xưa khi sống vẫn đinh ninh
Mười ba tuổi đã làm nên đất nước
Một vết son không thể nào phai được
Trong núm ruột đồng bào năm tháng chở che
Hôm nay tôi đến chổ các anh, các chị
Để gửi ít tiền cho thằng con còn đang đi học
Để gửi một gói quà được cóp nhặt từ những năm khó nhọc
Rất ít oi nhưng thấm đẩm tấm lòng
Các anh tiếp chúng tôi
Bằng khuôn mặt của vầng trăng mười sáu
Bằng nụ cười của những kẻ đang yêu
Người bạn đứng bên tôi
Anh không nói gì nhiều
Gật đầu cảm ơn cho những lần hạnh phúc
Những phong thư xanh được đưa đến từ ba miền tổ quốc
Đến từ những con người ôm khát vọng giao liên.
                                      
                                   


CHIỀU QUA BIÊN GIỚI TÂY NINH

Trăng lồng biên giới chiều nay
Bỗng nghe thèm khát một ngày bình yên
Thung xa phố đã lên đèn
Sông Vàm Cỏ cứ say men bốn mùa
Chập chờn mấy cánh hoa mua
Hoa Cau rụng trắng bãi bờ tịch liêu
Ta đi buổi đó nương chiều
Nhìn qua đất bạn liêu xiêu cuối ngày
Bên này vẫn cứ hương bay
Suối reo như riếng chim bầy kêu xa
Đất này là đất Hoàng Hoa
Đi đâu cũng chạnh … quê nhà vẫn hơn.
Dẫu xưa trăng có tủi hờn
Trên vùng đất đã đơm hương mỗi ngày
Xạc xào mấy cánh chuồn bay
Chao đi về phía không ngày để yêu
Ta về em cũng về theo
Trên vai một mớ bọt bèo cố hương
Ruổi rong qua mấy dặm đường
Tây Ninh vẫn ngát mùi hương đất mềm



PHAN MINH CHÂU
xua_roidiem@yahoo.com
READ MORE - NGƯỜI DƯNG - chùm thơ Phan Minh Châu

ĐƯỜNG KHUYA - thơ Ngưng Thu



Đường khuya cơn gió ngập ngừng
Lắng nghe trong phố buớc chân ai về
Mẹ già khua tiếng chổi tre
Cõng theo năm tháng mà che nỗi buồn

Nuôi con đại học mấy mùa
Đêm đêm mẹ quét gió lùa tiếng khan
Trăng treo đỉnh phố mơ màng
Con êm giấc ngủ, mẹ vàng ước mơ

Con ơi! ngoan nhé mẹ chờ
Mai con khôn lớn vần thơ dâng đời
Nụ giêng chớm nở rạng ngời
Vẫn đêm xào xạc chân người phố quen

Chạnh lòng hàng quán lên men
Lòng đêm cũng hiểu nỗi niềm mẹ quê
Thềm xuân ngân khúc người về
Ví dầu người ở câu thề gió bay

Thu đơn trăng cũng hao gầy
Thân đơn mẹ chống mẹ chầy nuôi con
Hàng me xao xác lối mòn
Thương đời, thương nỗi cô đơn mẹ hiền

Yêu con quên hết ưu phiền
Bao giờ cho cạn nỗi niềm … mẹ tôi

NGƯNG THU


READ MORE - ĐƯỜNG KHUYA - thơ Ngưng Thu

LẬN ĐẬN - truyện ngắn Trạch An

                             
Trạch An Trần Hữu Hội



     Toán  vừa bước vào nhà Vọng , vừa móc túi lôi ra mấy tờ vé số, ném mạnh xuống bàn:

     - Chán thiệt, Chúa lúc nào cũng nặng tai mà nhẹ tay !

     - Sao, chuyện gì mà lại có Chúa ở đây ?

     - Thì còn ai ngoài “Ngài” nữa ! Con nó đi thực tập, gọi về xin tiền, gom cả nhà được trăm mốt, chừa năm chục mua bún mai vợ bán vài tô kiếm tiền qua ngày, còn lại tớ mua sáu tấm vé. Hai vợ chồng cầu nguyện suốt đêm, chiều lại dò, nó trúng giải tám,  không được một phần ba số tiền con nó cần ! Mình có ham gì nhiều, thêm cho mình một hai số, thừa thừa ra chút, đưa mẹ nó đi cắt cái trĩ, càng ngày càng lòi ra, thấy nó nhăn nhó mà xót ruột ! Cái bao tử mình nó cũng hành, đau mình ráng chịu được, nó có ung thì cũng kệ mẹ nó, nhưng thấy vợ con vậy thương không chịu được ! Không lẽ còn hai mẫu đất mà bán luôn thì lấy gì ăn!

      - Từ tốn, ngồi xuống đi, giải tám còn hơn không có giải nào à?

      - Thì biết là vậy nhưng mà mình hy vọng mãi, cầu xin mãi, bao năm nay  rồi ! Với lại nếu không trúng thì chấp nhận, xem như “ Ngài” chưa nghe, còn hy vọng, đằng này chứng tỏ có nghe, nhưng nghe nhỏ, giờ thì vô phương !

       Vọng phì cười:

      - Nó xin bao nhiêu ?

      - Triệu rưởi, tiền xe và ăn ở một tháng !

      Vốn thân tình, là bạn từ  thời học trung học đệ nhất cấp, rồi về sống cùng trong một địa phương. Qua cái thời kỳ độc thân sau 75, Toán lại muộn màng chuyện vợ con, gần bốn mươi tuổi mới lấy vợ. Hoàn cảnh Toán thật bi đát, dù làm thì cật lực không ai bằng, người càng ngày càng gầy ra, xui xẻo cái số mệnh! Người ta trúng mía cả thì hắn mất mùa riêng , lúc được mùa chung thì giá tụt xuống dưới đáy, lỗ công chặt ! Bét gì hai ba mùa người ta cũng trúng được một mùa, mà trúng được là thanh toán ngân hàng, nần nợ, còn xây được cái nhà ! Có người chỉ năm sào thôi, mà cũng ấm cũng êm, ung dung, cứ “sáng ngậm đắng chiều nuốt cay” (Sáng cà phê chiều uống rượu ). Ai như hắn ! Từ năm mẫu đất, bán hết ba mẫu trả nợ, rồi chia ra làm một mẫu mì  một mẫu mía, gọi là “mất cái này được cái kia”, cũng trật lất. Nợ ngân hàng cứ chồng lên, mà con thì đứa đầu đang học Cao Đẳng, giờ mới đi thực tập, còn ba đứa , đang nằm trong các lớp phổ thông !

      -Thôi thì xem như có tiền cho con đi thực tập rồi. Tao bù, cho mày mượn một triệu nữa là được chứ gì?

      - Mẹ kiếp, lại bám thằng “cà rem !”.

      Hắn vừa thờ dài vừa buông người xuống ghế, một tay ấn ấn  cái bao tử, có lẻ đang đau, một tay che mũi. Một chiếc xe chở mía chạy ngang qua nhà Vọng, con đường nhựa đang đi được, có dự án cày để làm lại, thế rồi dở dang ba năm nay, bụi mù trời!

                                         

                                                               oOo



     Toán gọi Vọng là thằng “cà  rem” vì Vọng cũng tã tơi, nghèo, lại bị đột quy liệt mất một tay ! May mắn là trời cho vợ con sớm hơn chút, cũng bốn đứa con nhưng lớn cả rồi, giờ thì con đã đi làm, tháng năm vất vả rồi cũng qua, không còn lo lắng, có thiếu thốn chút ít thì mấy đứa con bù đắp, dù không dư nhưng cũng ít thiếu . Những lúc kẹt tiền công cán, phân tro, hắn lại tới Vọng, khi có khi không, nhưng được cái là sẵn lòng. Có lần Vọng sửa lại cái nhà, chẩn bị khởi công thì hắn kẹt tiền thuê xe cày đất trồng mía:

      -Bao nhiêu mầy?

      -Bảy triệu !

      -Chắc chịu quá !

      Nói thế nhưng trong lòng không yên, Vọng lại hỏi:

      -Bao lâu mày có , hai tháng kịp không?

      -Nếu không kịp cho mày thì  tao bán lúa non !

      Biết tính hắn, Tự trọng và Tự ái thì  hắn nhất ! Tiền công thợ thường thì xong nhà mới cần,Vọng đưa cho hắn bảy triệu. Đến ngày xong nhà, thấy hắn chạy bán lúa non, giá rẻ quá sức tưởng tượng, Vọng nóng mặt không cho bán, tự tay cầm sổ đỏ lên ngân hàng, vay bù vào chờ đến lúc gặt ! Lúa thì tàm tạm, còn hy vọng vào mía.

      Được mùa cho cam, mía vụ này cũng chẳng ra gì!

                                                              oOo

    

      Toán cầm một triệu đi về, còn đổi mấy tấm vé, gởi cho kịp con đi thực tập. Vọng ngồi ngẫm nghĩ vẩn vơ đời của hắn mà chạnh lòng. Nói rằng khổ lắm, khổ đến cùng tận thì chưa đến nỗi, nhưng cứ lận đận cơm áo gạo tiền thì hắn là kẻ điển hình nhất trong đám bạn bè cùng lứa của Vọng.

      Ngày hắn ở Quy Nhơn ra học ở Quảng Trị. Nổi nhất lớp vì nhìn qua là biết con nhà giàu. Từ ăn mặc đến cách tiêu tiền, tuy mới học lớp bảy nhưng hắn chững chạc hơn Vọng và bạn cùng lớp, mặt mày lại dễ coi… Cũng từ cái chổ ấy mà hắn bị dập một trận tơi bời trong nhà chơi của trường. Vọng đứng ra can ngăn dù khá muộn, mặt hắn đã bê bết máu! Từ đó thân nhau.

      Năm 72 loạn lạc, hắn được vào học trường tư thục Việt Anh Đà Lạt. Trong khi đó, Vọng chuyển hết trại tạm cư này đến trại tạm cư khác, trường này chuyển qua trường khác, tỉnh này chuyển qua tỉnh khác! Những năm gần đây, tuổi xế chiều, cái phong trào họp lớp, họp trường rộ lên…Vọng, nếu đi cho đủ đầy thì cũng chục lớp, chục trường , dù chỉ bảy năm học trung học !

      Dạo thi tú tài II, năm đó thi Trắc Nghiệm, máy IBM chấm thế nào lọt hết vài ngàn bài thi. Bạn bè học trường tạm cư, có thầy kiêm tới ba môn, học bạ phải thuê Giáo sư các trường công lập ký thay cho hợp lệ, vậy mà cũng có tên, còn hắn thì không ! Ức quá, hắn cạo trọc đầu, học  miệt mài thi lại kỳ hai. Vọng quá ngạc nhiên là vì biết hắn học không thua ai, dân ban B có hạng.

       Ngày gần thi lại, có kết quả bổ sung, trường gởi danh sách về tận nhà, tên hắn nằm hạng “Bình” ! sau “Tối ưu” và “Ưu” ! Điểm Toán – Lý - Hóa cao chót vót !

       Mơ ước từ lâu được vào trường Võ Bị Dalat, hình ảnh hào hùng và huyền sử “Rút gươm tuyên thệ trên đỉnh Lang Biam”, mộng “Tang bồng hồ thỉ”, quyến rũ hắn từ những ngày theo học tại đây. Không ghi danh hay thi vào trưòng đại học nào, hắn thi vào Trường Võ Bị. Điểm thì cao nhưng người hắn thì thấp, cởi giày đứng lên đo, hắn thiếu tới ba phân ! Nhiều người cho biết trước nhưng hắn không tin !

      Hắn bị bạn bè cười, tặng cho cái tên là “Người hùng thước mốt” (1m10!) ! Nói cho luôn vần thế, chứ hắn cũng tới một thước năm bảy ( 1m57)

      Với cái chiều cao ấy, Trường Sĩ Quan Cảnh Sát Quốc Gia cũng chê, chỉ có trường Bộ Binh Thủ Đức chờ đón hắn vào !  Nhưng chưa kịp mãn khóa, tháng 4/1975 ập đến, hắn đi cải tạo chung với Sĩ Quan, hai năm!    

                                                      oOo

      Thà là dốt nát không biết tính toán làm ăn và lười nhác chi cho cam. Đằng này, hắn kế hoạch lắm, siêng năng ít ai bằng, có lần ghé thăm cái rẫy của hắn, Vọng phục cái cần cù, rẫy sạch và ngăn nắp như nhà mới xây ! Người xưa nói: Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống…Hắn đủ cả bốn yếu tố này nhưng vẫn trật !

      Không rầu sao được, có  lần mía lên cao đẹp ơi là đẹp…Mùa này mà thu hoạch thì chắc chắn ngon lành. Tội nghiệp vợ và mấy đứa con hắn, gì chứ cái TiVi “ nội địa” lem nhem hình ảnh, lúc có hình lúc không, lần này phải thay. Làm lại cái nhà trên chứ từ ngày ông nội mất, xập xệ đến không muốn bạn bè ghé thăm, bộ ghế bàn cũ rích từ thời não thời nao, vẹc- ny tróc hết, người ta thì Salon nệm láng tưng, ngồi êm ái…Còn nữa, chiếc xe  Trung Quốc cũ mèm hư lên hư xuống, hết “đề” được, sáng ra đi rẫy, đạp xặc xừ, ống “bô” bễ, nổ bôm bốp như súng máy ! Thay tuốt, hắn cũng nghỉ vậy.

      Đám mía bắt đầu khô  lá, ngày chặt cũng gần kề…Chạy vạy đăng ký  nhà máy đường lên lịch cho xe chở…Nhà máy thì còn đỡ tốn đỡ hao, cái anh tài xế và đám bốc vác mới hao nặng . Ăn sáng, ăn lỡ, ăn trưa , ăn chiều...bữa nào bét cũng vài trăm ! Thuê công chặt cũng khó khăn vì tới mùa thu hoạch, vậy mà có người hứa chặt cho, đâu vào đó rồi, còn vài hôm nửa thì chặt. Ác tăng cái thằng mất dạy nào vứt cái tàn thuốc ngay bờ ranh, hay cái gì đó không biết, cũng không loại trừ cái chuyện buồn tay thì đốt chơi! Cháy sạch sành sanh, hai đám, có ông Phú bên cạnh cũng vạ lây. Mà cũng chưa biết ai lây ai, đám nào cháy trước đám nào cháy sau. Khi cả hai chạy trối chết trong đêm, vấp té lên té xuống, vào tới nơi thì chỉ đứng nhìn mà khóc chớ làm gì được, gió thổi lửa lên cao ngút trời ! Vợ và mấy đứa con khóc to nhất ! Tiền công chặt cao hơn vì chặt mía cháy rất cực.

       Tại nhà máy, nhân viên nhà máy lấy mẫu vô phòng "thí nghiệm"đo độ đường , “phù phép” thế nào mà chữ đường giảm hơn một nửa, năn nỉ lấy lại mẫu khác, rút ba cây khác, gặp ngay cái nhìn lạnh tanh, lỗ te tua !

       Thì làm lại và  hy vọng mùa tới. Hắn lại cật lực, nhưng rồi chị  vợ bấy lâu gánh bún loay xoay cũng có đồng ra đồng vào, thế mà  khi người ta tráng "bê tông" con đường chạy dọc thôn, đường sạch đẹp thì hàng quán lại mọc lên, nông dân lâu nay quen ngồi chồm hổm bên cái gánh, nay cũng ưng kéo cái ghế, ngồi lau đũa lau bát, tán dốc dăm câu cùng ai đó, ăn tô bún, rồi đi ra miệng ngậm cái tăm, ta đây đi ăn sáng về , ăn quán hẳn hoi !

       Hắn cũng muốn xây cái quán, nhưng xập xệ thì không ai vào, mà làm kha khá, trông được một chút là phải nói tới chục triệu trở lên, tiền đâu mà xây, vậy là cứ cái gánh ! Gần năm nay, hậu môn lại ra máu, ngồi chồm hổm cũng đau, mà ngồi ghế cũng đau, vợ hắn xanh xao hẳn !

        Rồi hắn cũng xanh xao. Hàm răng chục năm nay sâu ăn hư mấy cái răng cấm, nhổ thì qua trạm xá nhổ miễn phí, mấy lần nhổ, hết mấy cái răng quan trọng, gọi là mất sức nhai ! Thôi thì trệu trạo nuốt đại cũng xong, nhưng mà không xong, dạo này cái bao tử nó nhoi nhói rồi đau thiệt tình, có khi đau quá hắn muốn văng tục !

        Không biết đến khi nào cái lận đận mới qua. Ngay trong đám bạn cùng lứa, có người trúng số đặc biệt tới hai lần, một lần mấy tấm ! Còn hắn, vụng đường tu chăng ?!



                                                         oOo

       Lâu nay, khi cái tuổi ngũ thập qua vài năm, Vọng hay ngẫm nghĩ vẩn vơ về cái may cái rủi, cái số cái phần, nghĩ hoài mà chẳng "Tri" được cái "Thiên mệnh" !

       Cứ xét như giữa hai người, Vọng và Toán thôi, tuổi thì cùng một tuổi Ất Mùi như nhau. "Cung, Mạng" thế nào mà hai đứa lại có cuộc đời  khác nhau ?! Vọng thì làm không bằng một nửa hắn, vậy mà không đến phải khốn khó như bạn.

       Hồi đi học, cũng có học được cái môn "Triết học". Đọc được dăm đều về môn này, Đông có Tây có. Khi thì thấy ông này đúng, đến xem ông kia thì thấy cũng gần đúng...

       Vọng mỉm cười, cười câu "Ngũ Thập tri Thiên Mệnh" !

       Rồi hoang mang với câu "Thiên cơ bất khả lậu"!

       Lẩn quẩn hoài, Vọng buông một câu:

      -Ối dào, chả biết đâu mà lần !!!




Ninh Thuận, 02 tháng VIII năm 2013.
Trạch An (Trần Hữu Hội)
READ MORE - LẬN ĐẬN - truyện ngắn Trạch An