Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Phan Bùi Bảo Thi. Show all posts
Showing posts with label Phan Bùi Bảo Thi. Show all posts

Thursday, February 9, 2017

NGƯỜI ĐÀN ÔNG NHIỀU VỢ VÀ NHIỀU CON NHẤT VIỆT NAM - Phan Bùi Bảo Thi


Nguồn:  http://thanhnien.vn/doi-song/gap-lai-nguoi-dan-ong-co-gan-100-nguoi-con-114778.html



                         Con trai trưởng của ông Chu: 
        “Anh em chúng tôi rất đoàn kết  và không hề trách cha”



NGƯỜI ĐÀN ÔNG NHIỀU VỢ VÀ NHIỀU CON NHẤT VIỆT NAM

Ông Trần Viết Chu ở làng Câu Nhi, xã Hải Chánh, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị có rất nhiều vợ, với vô số con và cháu, thế nhưng họ vẫn sống bình yên bên nhau trong một xóm nhà rất mực đoàn kết. Bà vợ trước nói thì ngay lập tức bà sau vâng lời răm rắp. Vợ con của ông Chu ở thành xóm, người dân địa phương gọi đây là "xóm nhiều vợ" (khi nhà văn Nguyễn Quang Lập đến đây để làm phóng sự, ông Chu mới có 7 bà vợ - NV). Đã có một vài bài báo viết về cái xóm nhà lạ lùng, đã phê phán ông Chu đa thê, đa thiếp nên việc gặp và tiếp cận với ông Chu không còn mấy dễ dàng. Nhờ sự giúp đỡ rất chân tình của một cán bộ ở UBND xã Hải Chánh, huyện Hải Lăng (Quảng Trị), chúng tôi đã tiếp xúc được với người đàn ông đặc biệt này.
Lăng của người đàn ông có tới “một tá” bà vợ.

Ông Chu ngày xưa đối với mọi người là một chàng thanh niên mẫu mực, siêng năng, không hút thuốc, không rượu chè, không cờ bạc bê tha như một số thanh niên có tiền có của cùng thời. Năm 17 tuổi, ông đem lòng yêu thương một cô gái láng giềng rất xinh đẹp tên là Lâm Thị Lớn. Hai người đã thề non hẹn biển, rồi kết tóc xe duyên và có với nhau một người con gái. Ông Chu yêu vợ, thương con hết mực, suốt ngày ông chỉ biết làm lụng và vun vén cho hạnh phúc của gia đình mình. Chính vì vậy vợ chồng ông mỗi ngày thêm khấm khá, chỉ trong vòng 10 năm kể từ ngày ông thành gia thất, ông Chu - bà Lớn đã trở thành một đôi vợ chồng trẻ giàu có vào loại nhất làng. Sợ chúng tôi không tin vào cái quá khứ rất "hoành tráng" đó, bà Sính "tổng quản" của ông Chu lên tiếng: "Ông ấy nói thiệt đó. Sau khi chị Lớn mất, tui về làm vợ ông Chu, hồi nớ (ấy) của nả trong nhà nhiều lắm, đất ruộng mênh mông, trâu bò, lợn gà không đếm xuể, ước chừng đứng chật cả một góc đồi". Ông Chu kể tiếp: "Khi người vợ đầu của tui khuất núi, tui lâm vào tình cảnh "gà trống nuôi con". May nhờ có mụ Nậy (bà Sính- NV) đây san sẻ cho tui những nỗi gập ghềnh gian khó trong đời, tui mang ơn mụ suốt đời, mụ hỉ?". Nói xong, ông nhìn mụ Nậy gật gù, đắm đuối...
Ngoài bà Sính, ông Chu đã đưa về “nhập cư” vào xóm thêm 12 bà vợ khác. Những bà này hiện đang sớm tối quây quần bên nhau rất đoàn kết. Ngoài những bà này, anh Trần Đình (con trai ông Chu) còn cho tôi biết rằng cha anh còn có thêm nhiều bà vợ ở nơi khác: Đà Nẵng 1 bà, ở Huế 2 bà, ở Nghệ An 1 bà, ở Lâm Đồng 1 bà, ở Long Khánh 1 bà, ở Hương Điền (Thừa Thiên - Huế) 2 bà, ở Hải Lăng (Quảng Trị) 2 bà, ở Quy Nhơn 1 bà... Trước khi chúng tôi có mặt ở "xóm nhiều vợ" vài ngày, ông Chu đã đến UBND xã để làm khai sinh gửi về nơi đứa con ông vừa được sinh ra với một người phụ nữ 37 tuổi khác... Ông Chu hiện có 86 người con, đó là chưa kể những đứa con ông gửi khai sinh qua đường bưu điện. Trong đó có 22 người con đã lên đường thực hiện nghĩa vụ quân sự và có một người là liệt sĩ. Ông Chu có cả thảy gần 200 cháu nội và ngoại.
Ông Chu không phải là một người đàn ông có khả năng thôi miên hay có bùa, có ngải như nhiều người thêu dệt. Nhưng phải thừa nhận rằng ông Chu là một người rất nam tính, tính tình lại hết sức đa cảm, thương người, bởi thực tế hơn một nửa số vợ của ông Chu đều nằm trong diện "cụt đọt" (chết chồng, chồng bỏ). Ông bày tỏ rằng mình chúa ghét những gã đàn ông "quất ngựa truy phong".
      Bia đá tuy là to nhất nhưng ghi không thể hết tên vợ và các con ông Chu.
Nhiều vợ, đông con nên "xóm nhiều vợ" hiện vô cùng vất vả. Người con gái đầu của ông Chu đã bị chồng bỏ, có 8 đứa con thì không đứa nào học hết cấp tiểu học. Người con gái thứ hai của ông có 5 đứa con, chồng cũng đã chết do đi rà phế liệu trúng bom bi, các con giờ cũng theo nghiệp cha đi rà tìm phế liệu để kiếm sống. Nói chung, vợ và những người con đã có gia đình của ông Chu đều đang sống trong nỗi cơ hàn, đầu tắt mặt tối, chạy gạo từng ngày... Có lẽ cái xóm nhà này vẫn là cái xóm nghèo nhất trong cái tỉnh nghèo vào loại bậc nhất của cả nước.
Để trả lời cho nhiều câu hỏi của chúng tôi, ông Chu mở tủ mang ra hai "bộ luật" của "xóm" được ông kẻ, vẽ rất nắn nót:
Luật cấm ghen
Điều 1: Bà vợ đến sau phải chấp hành lệnh của bà vợ đến trước. Tất cả những bà vợ thứ đều phải chấp hành lệnh của bà vợ cả.
Điều 2: Ông trưởng xóm (ông Chu) có quyền điều một, hai, hay ba bà vợ đến để "thực thi nhiệm vụ", cấm không được ai vì việc đó mà điều to, tiếng nhỏ làm ảnh hưởng đến danh dự của xóm.
Điều 3: Không ai được từ chối mỗi khi ông trưởng xóm có yêu cầu. Không ai được tự tiện chen ngang hoặc phá đám người được yêu cầu.
Điều 4: Mọi luật lệ riêng trái với những điều đã quy định trên đều được bãi bỏ.
Luật sinh nhai
Điều 1: Mỗi bà vợ phải tự làm lấy mà nuôi con, không ai xin ai, không ai được vòi tiền bạc của ông trưởng xóm.
Điều 2: Tiền bạc do ông trưởng xóm làm ra là để nuôi ông, số còn lại sẽ dành để giúp đỡ cho những gia đình có hoạn nạn.
Điều 3: Tất cả các gia đình phải có nghĩa vụ đóng góp vào quỹ tiết kiệm chung của xóm. Quỹ này do ông trưởng xóm quản lý.
Điều 4: Các bà vợ sẽ nhất loạt đóng cửa không cho ông trưởng xóm bén mảng tới, nếu xét thấy ông trưởng xóm không chí công vô tư, làm trái với những điều đã quy định trên.
Điều 5: Ông trưởng xóm, bà vợ cả và các bà vợ thứ có trách nhiệm thực hiện luật này.
                                                                         Phan Bùi Bảo Thy



READ MORE - NGƯỜI ĐÀN ÔNG NHIỀU VỢ VÀ NHIỀU CON NHẤT VIỆT NAM - Phan Bùi Bảo Thi

Wednesday, August 10, 2011

PHAN BÙI BẢO THI - GIẤC MƠ MÀU LÔNG CHUỘT

Người ta dạy cho con những cái bắt tay sặc sụa tiếng cười

Những cái nhón chân dưới đèn màu xanh đỏ

Như con dế mù con lang thang trên cỏ

Vấp giọt sương chiều rụng

Giật mình, con mới biết mình đau


Ng
ười ta dạy cho con biết hát, biết hôn nhau

Nhưng không dạy cho con giữa đất chua đồng làng có những

giọt mồ hôi của mẹ

Cái vô hình sao mà mênh mang thế

Cái hữu hình là lúc đắng cay

Người ta gọi tên con không như mẹ từng gọi tên con

Người ta vỗ về con không như mẹ từng vỗ về con

Thuở bốn tao nôi cha làm bằng dây pháo sáng


Xin l
ỗi cha, xin lỗi mẹ

Con là thằng bất trắc

Ăn phải bùa mê vướng thòng lọng thị thành

Đêm, con ngửa mặt mình tìm một chấm sao xanh

Rồi úp mặt tìm giấc mơ màu lông chuột

Hình như có bóng cha con và chiến hào sũng nước

Thịt xương và khói súng cùng nước mắt bộ hành từ đất ngoi lên


Chi
ến tranh!

Con vuốt mắt mình để tìm lại con xưa

Thằng bé xác xơ, con trâu buồn đưa mắt nhìn nạm cỏ

Xót xa con biết

Giữa bình yên trời không ngưng gió

Mắt mẹ buồn để nước mắt trôi xuôi...


PBBT

Nguồn: vanconghung.vnweblogs

READ MORE - PHAN BÙI BẢO THI - GIẤC MƠ MÀU LÔNG CHUỘT

Friday, February 18, 2011

PHAN BÙI BẢO THY - DÒNG SÔNG CỦA NHỮNG CHUYỆN TÌNH


Sông Ô Lâu (còn có tên khác là sông Thu Rơi; sông Mỹ Chánh; sông Thác Ma) được bắt nguồn từ vùng núi Tây Trị Thiên hùng vỹ, rồi uốn lượn quanh co hiền hoà qua bao triền đồi bazan bỏng rát, âm trầm chảy qua các xã Hải Sơn, Hải Chánh, Hải Tân, Hải Hoà... thuộc huyện Hải Lăng nằm ở cực Nam của tỉnh Quảng Trị nơi tiếp giáp với các làng Mỹ Chánh, Mỹ Xuyên, Kế Môn, Đại Lược, Phước Tích... của tỉnh Thừa Thiên - Huế.


Từ xa xưa cho tới tận bây giờ, người đời vẫn quen gọi dòng sông Ô Lâu bốn mùa nước trong văn vắt này là dòng sông của những chuyện tình riêng đau, nên con nước dẫu đã nghìn năm vẫn cứ mãi phân vân xuôi chảy về biển Đông một cách lặng buồn như nước mắt của những người con gái...

Là người Quảng Trị, nên từ những năm tháng còn cắp sách đến học chữ ở trường làng, đôi lần tôi đã được nghe những người lớn tuổi kể về dòng sông Ô Lâu. Dòng sông mà trong ký ức hiểu biết của tôi bao giờ cũng mềm mại đáng yêu như một bức tranh thủy mặc, hiền hòa lưu giữ những vàng son, quê kệch của làng xưa thăm thẳm đến vô cùng...

Thế rồi, cho đến chiều nay, một buổi chiều bình yên, gió xào xạc rung từng đợt buồn lên mặt sóng của dòng Ô Lâu xanh thẳm, tôi mới có dịp về đứng bên dòng sông này trong đoàn những người đi điền dã để khảo sát về những làng nghề xưa nằm dọc theo dòng sông Ô Lâu đẹp như nước mắt...

Đêm. Giữa một ngôi làng nhỏ bé nằm về phía tả ngạn của dòng Ô Lâu, chúng tôi được dịp nghe một vị cao niên của làng kể lại câu chuyện tình buồn thương của một cô gái chèo đò ngang bên dòng Ô Lâu xưa với một anh học trò nghèo xứ Nghệ.

Chuyện kể rằng, một ngày xưa lắm, có anh học trò nghèo ở đâu tận miệt Quỳnh Lưu xa lắc, trên đường vào ứng thí ở Kinh đô. Khi đi qua bến đò ngang trên dòng Ô Lâu thì phải lúc ốm đau, trong tay không còn một đồng chinh lộ phí. Thương cảm trước cảnh ngộ của một đấng nam nhi có chí sách đèn, cô gái chèo đò bên sông Ô Lâu năm ấy đã e ấp giúp chàng trai kia từ bữa cơm dưa cà cho qua đận đói, cho đến mấy đồng lộ phí giắt lưng để tiếp tục hành trình mải miết chờ ngày ứng thí ở chốn Kinh đô.

Đáp lại tấm lòng thơm thảo của cô gái bên sông, anh học trò nghèo xưa cũng bùi ngùi gửi lại biết bao lời thề non hẹn biển. Họ ước nguyện sau khoa thi năm ấy, chàng sẽ quay về bên bến đò xưa để tìm gặp lại người con gái yêu thương đã chiếm giữ trái tim mình. Thế nhưng, sau cái bận đưa khách sang sông ấy, người học trò nghèo xứ Nghệ cũng theo tháng theo năm mà biệt vô âm tín... Bên bến sông quê, với cây đa, bến nước, con đò, người con gái cứ mỏi mòn chống sào chờ đợi trong nỗi tuyệt vọng đớn đau. Rồi đến một ngày khi sức cùng lực tận, người con gái chèo đò bên bến Ô Lâu đành phải gửi lại nỗi chờ trông cùng cây đa, bến nước... mà xuôi tay về chốn cửu tuyền.

Oái oăm thay, khi trên nấm mồ của người con gái chèo đò bên bến sông kia cỏ chưa kịp xanh thêm, thì người học trò nghèo năm xưa nay công thành danh toại, võng lọng xênh xang tìm đường trở lại. Lặng yên đứng bên nấm mồ của người mình thương nhớ, chàng học trò nghèo năm xưa khóc thương cho đến cạn khô nước mắt. Rồi chàng khắc mấy vần thơ dang dở buồn đau đặt lên nấm mồ cô quạnh bên sông. Cũng từ đó, những câu thơ trên nấm mồ của người con gái bên dòng Ô Lâu được người đời nối tiếp nhau truyền tụng cho đến tận bây giờ:

" Trăm năm đành lỗi hẹn hò

Cây đa, bến cũ con đò khác đưa

Con đò đã thác năm xưa

Cây đa, bến cũ còn lưa bóng người"

Ở làng Câu Nhi, huyện Hải Lăng (Quảng Trị) tôi còn được nghe kể một cách khá tường tận về câu chuyện tình của bà Nguyễn Thị Bích - vợ thứ hai của Hoàng đế Quang Trung. Bà Bích cũng là một người con gái được sinh ra ở ngôi làng nhỏ nằm ngay bên dòng sông Ô Lâu xanh mát. Một ngôi làng mà trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc đã sản sinh ra nhiều người con tài đức để phụng sự cho Tổ quốc như vị tiến sỹ đầu tiên trong làng quan lại phong kiến ở miền Trung - Bùi Dục Tài, Tướng công Nguyễn Chánh, Đô đốc Phúc Long Hầu, Tham tướng Hoàng Bộ, Tống sứ Phạm Duyến, nhị vị Thượng thư Nguyễn Tăng Doãn - Bùi Văn Tú, danh y Trần Mậu... thời hiện đại sau này thì có nhạc sỹ - cựu Bộ trưởng Bộ VHTT - Trần Hoàn, Thượng tướng - Thứ trưởng Thường trực Bộ Công an - Nguyễn Khánh Toàn... với hơn 400 tiến sỹ, thạc sỹ và cử nhân hiện đang sinh sống và làm việc ở nhiều nơi trong và ngoài nước.

Theo sự chỉ dẫn của một người cao niên thuộc tộc Nguyễn trong làng, chúng tôi được tiếp xúc với hậu duệ của cụ Hồ Tranh - một con người rất am tường cổ sử. Ông Hồ Tranh là con trai của ông Hồ Tiểu Viện, một ông quan huấn đạo dưới triều vua Tự Đức. Ông Tranh từng kể cho con cháu nghe rằng: Cha ông thi đỗ tú tài năm 34 tuổi (1899), đến năm 41 tuổi (1906) thì thi đỗ cử nhân rồi được bổ làm quan huấn đạo tỉnh Bình Thuận. Hồi ông Tranh còn nhỏ, mỗi lần dạy học cho con, ông Viện thường kể cho con trai mình nghe về bà Nguyễn Thị Bích.

Theo hiểu biết của ông Hồ Tranh thì bà Bích là con thứ 16 của ông Nguyễn Cảnh - một ông quan danh tiếng dưới thời các Chúa Nguyễn. Bà Bích là một người con gái hiền thục, tài hoa, được ăn học tử tế. Khi lớn lên, bà theo cha vào làm quan ở Bình Định và cũng ở đó bà đã gặp rồi nên duyên cùng người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ. Theo ông Tranh thì bà Bích dù là vợ thứ hai của Nguyễn Huệ nhưng lại trước công chúa Lê Ngọc Hân. Những năm tháng chung sống với người anh hùng này, bà Bích đã sinh hạ được một người con trai. Trong cuộc đời ngắn ngủi của mình, Nguyễn Huệ thường xuyên xông pha nơi trận tiền ác liệt, chứ chẳng mấy khi được an nhàn ngơi nghỉ ở chốn bình yên. Những lúc người anh hùng áo vải mải mê với vó ngựa trường chinh nơi biên thùy lửa khói, bà Bích vẫn một lòng một dạ ôm con chờ chồng nơi biên ải xa xăm. Nhưng, phận số của những người đàn bà nhan sắc thường rất đỗi đa đoan và cuộc đời của bà Bích cũng không là một ngoại lệ. Nguyễn Huệ không bỏ mình nơi chiến trường dưới làn tên mũi đạn của quân thù, mà ông đã chết khi chỉ mới vừa ngồi lên ngôi báu.

Tai họa lại ập xuống đầu bà từ sự truy lùng trả thù vô cùng dã man của triều đại Gia Long. Bà Bích vì thế mà đã phải cải dạng ăn mày, bồng con khăn gói trốn về quê nhà bên bến sông Ô Lâu để lánh nạn. Nhiều lần nghĩ quẩn, bà đã định bụng ôm con trầm mình xuống dòng sông đã tắm mát cho suốt tuổi thơ của bà để quyên sinh. Nhưng để bảo trọng giọt máu của hoàng đế Quang Trung nên nhiều cận thần Tây Sơn đã tìm cách đưa bà cùng con trai của mình trở lại Bình Định. Ở đó, bà đã sống những năm tháng cuối đời mình trong cảnh cơ hàn, ẩn dật cho đến khi nhắm mắt xuôi tay ở thôn Vĩnh An, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.

Còn có một câu chuyện tình bi thương khác nữa, cũng của một người con gái được sinh ra và lớn lên bên bến sông này, đó là câu chuyện tình của bà Dương Thị Ngọt. Bà Ngọt là con gái của ông Dương Quang Xứng, ông Xứng làm quan dưới triều nhà Nguyễn, ông từng được giữ chức viên ngoại lang ở Nha Thương trường. Năm 1885, sau cuộc chính biến ở Kinh đô Huế và tiếp đến là "kinh đô thất thủ". Tôn Thất Thuyết hộ giá vua Hàm Nghi ra căn cứ Tân Sở. Thống tướng De Coucey đày Nguyễn Văn Tường, Phạm Thận Duật và Tôn Thất Đính sang đảo Haiti, đồng thời sai ông De Champeaux lên Khiêm Lăng yết kiến đức Từ Dũ, xin lập ông Chánh Mông là Kiến Giang Quận Công lên làm vua lấy niên hiệu là Đồng Khánh.

Dưới thời Đồng Khánh, ông Xứng được thăng chức Lang Trung. Đến năm 1894, dưới thời vua Thành Thái, ông Xứng giữ chức Thái Bộ Tư khoanh rồi đến giữ chức Bố Chính tỉnh Khánh Hoà. Trên con đường hoạn lộ, dù làm gì, ở đâu ông Xứng cũng mang cô con gái rượu theo cùng, bà Ngọt càng lớn lên càng đẫy đà xinh đẹp. Vì vậy mà vua Thành Thái đã chọn bà để làm bà phi thứ 9. Sử sách kể lại rằng, bà Ngọt là một bà phi được vua Thành Thái hết mực thương yêu và sủng ái, vì vậy mà những bà phi khác trong cung hết sức ghen ghét với bà. Nhân một lần vua Thành Thái cắt tóc ngắn... vậy là các bà phi trong cung đã bày mưu tính kế để hại bà Ngọt, họ đã đánh lừa để cắt mất của bà Ngọt một nắm tóc, rồi tìm cách báo cho vua hay. Thấy vậy, vua Thành Thái gán cho bà mắc phải trọng tội khi quân nên đã xử chém bà. Thế nhưng, sau khi bà Ngọt chết, vua vẫn cho làm lễ mai táng bà hết sức chu đáo, đúng theo nghi lễ triều đình, xứng đáng với cái chết của một bà hoàng phi. Quan tài của bà được đưa xuống thuyền rồng rồi theo đường sông về bên bến Ô Lâu, với làng quê yêu dấu của bà ở thôn Hội Kỳ, xã Hải Chánh, huyện Hải Lăng (Quảng Trị).

Lăng mộ của bà được xây cất rất cẩn thận, trên bia mộ có khắc dòng chữ: "Hoàng triều cửu giai tài nhân thụy thục thuận Dương thị chi tẩm. Thành Thái thập tam niên bát nguyệt cát nhật tại". Sau khi xây cất lăng xong, vua còn cho 4 người từ phu túc trực trông coi lăng bà, cả 4 người này đều được nhà vua cấp phát ruộng đất và miễn tất cả các loại sưu thuế cho đến trọn đời. Tương truyền, sau cái chết oan uổng của bà Ngọt, vua Thành Thái vì thế mà muộn phiền nhiều hơn rồi ông giả điên để mưu đồ kháng Pháp. Nếu điều tương truyền ấy là sự thật, thì chắc bà Ngọt cũng sẽ mãi ngậm cười nơi chín suối vì cái chết của mình cũng hữu ích cho vận mệnh của quốc gia.

Xã Hải Sơn giáp với làng Hội Kỳ của bà Ngọt là quê hương của bà Trần Thị Dương, người đàn bà đã xin phép chồng để đội tang đi lấy đầu của hai nhà chí sỹ yêu nước Thái Phiên - Trần Cao Vân bị Pháp tử hình ở cống chém An Hoà (TP Huế) mang về chôn cất ở một ngọn núi gần chùa Từ Hiếu bây giờ.

Sông Ô Lâu vẫn thế, suốt bốn mùa con nước mãi xanh trong, ai đó bảo nước sông đẹp như nước mắt của những người con gái, phải chăng câu ví von ấy được phát xuất từ những cuộc tình bi thương, khắc khoải của những người con gái đã được sinh ra, được tắm mát và đã lớn lên trên bến sông này. Biết bao nhiêu cuộc đời lụa là gấm vóc rồi cũng trở về với vĩnh hằng cát bụi, chỉ còn lại với đời những câu chuyện tình yêu đớn đau, tiếc nuối khôn nguôi... Rồi con nước Ô Lâu vẫn sẽ cứ nghìn năm mải miết, cứ nghìn năm thì thầm vào ngàn khơi vô tận của tình yêu.

Phan Bùi Bảo Thi (CAND)

.

READ MORE - PHAN BÙI BẢO THY - DÒNG SÔNG CỦA NHỮNG CHUYỆN TÌNH

Saturday, September 25, 2010

PHAN BÙI BẢO THI - NƠI SINH THÀNH NHỮNG NGƯỜI NGHỆ SĨ TÀI HOA

Một góc công viên làng Tùng Luật. Ảnh từ trang Báo Ảnh Việt Nam - vietnam.vnanet.vn

Ghi chép


Có một làng quê nhỏ, khiêm nhường nép mình sau lũy tre xanh ở cuối dòng sông Bến Hải, suốt bốn mùa trầm mình trong tiếng du dương nghìn đời của sóng biển cửa Tùng. Từ xưa đến nay, làng quê nhỏ ấy đã trải qua biết bao nhiêu biến cố cùng với chiều dài của lịch sử dân tộc, vậy mà chính trên mảnh đất ấy đã sinh ra, đã ấp iu nuôi dưỡng rất nhiều người con ưu tú...họ là những nghệ sỹ tài hoa lừng lẫy trên bầu trời nghệ thuật của nước nhà...


Sử cũ chép lại rằng: Ngôi làng nhỏ có tên là Tùng Luật xưa kia thuộc huyện Minh Linh, đã xuất hiện trên bản đồ nước Đại Việt từ năm 1069 (thời nhà Lý). Đây chính là cái nôi đã sinh ra điệu "chèo cạn làng Tùng". Một trong những nét sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo mà người đời đã bảo tồn và gìn giữ cho tới ngày nay. Đây cũng chính là quê hương của Hoàng Hậu Hiếu Văn hoàng đế Nguyễn Phúc Nguyên, tiền nhân của 13 đời vua triều Nguyễn, ngự trị hơn một trăm năm và đã để lại những dấu ấn quan trọng trong lịch sử dân tộc. Vương phi Mai Thị Vàng, người đàn bà tiết hạnh đã có một thiên tình sử đầy bi ai, trắc trở với Hoàng đế Duy Tân cũng được sinh ra ngay chính trên mảnh đất này.


Chiếu theo thuật phong thủy thì làng nằm trên thế đất "Phụng hàm thơ", có nghĩa là con chim Phụng Hoàng ngậm thơ trong miệng. Âu đó cũng là điềm lành dự báo đất sẽ sinh ra nhiều bậc anh hào, tài tử, giai nhân... giải thích nguồn gốc của điệu chèo cạn ở đây, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: xưa kia, đây là một cảng thị sầm uất, nằm ngay mé biển nên xác cá Voi, cá Ông chết ngoài biển thường trôi dạt vào bờ. Là những cư dân vùng biển, họ hết sức tôn thờ những loài vật này theo truyền thống tín ngưỡng vật linh luận. Mỗi khi thấy xác cá trôi dạt vào bờ, người dân ở đây thường thiết những mâm lễ rất trang trọng, để đưa tiễn linh hồn của các thần ngư về trời. Những lúc như thế, họ thường quy tụ những đội "hát đưa linh", mỗi đội thường là 15 người (còn gọi là đội chèo cạn). Các nghệ nhân người cầm chịch, người cầm chèo, người tát nước, người đứng mũi... rồi nhịp nhàng hát theo những bè cao, bè thấp...nhằm mô phỏng lại những chuyến đi biển của ngư dân, người cầm chịch trong các đội chèo cạn bắt buộc phải hát được các điệu hò mái nhì, hò nện... So với các miền biển khác, lễ hội chèo cạn làng Tùng Luật còn có những nét đặc trưng như: tay chèo của ba trạo (12 tay chèo) phải có ngoắc tay làm cho động tác chèo trở nên mạnh mẽ hơn nhằm tái hiện lại hình ảnh những người đi biển vượt qua sóng biển một cách chân thực nhất. Đồng thời chèo cạn ở đây còn kết hợp với hò lý ngư, hò mái đẩy để cho ba trạo lấy hơi. Ở chèo cạn làng Tùng, thuyền được hình thành bởi sự sắp xếp của các ba trạo và được diễn ra trên một phạm vi rộng là sân làng. Vậy nên, các buổi biểu diễn của đội chèo cạn làng Tùng bao giờ cũng sinh động.



Theo những nguồn tài liệu hiện có thì người được coi là ông tổ đã khơi thông cho mạch nguồn ca hát ở làng Tùng Luật (nay thuộc xã Vĩnh Giang, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị) chảy mãi đến muôn đời là ông Nguyễn Hữu Như Bá (1840). Khi đến tuổi trưởng thành, ông Bá học nghề bốc thuốc cứu người nên rất có điều kiện để vào ra Kinh đô Huế và các tình vùng Nam Trung bộ, đôi khi ông còn tìm nguồn gốc thuốc quý tận lục tỉnh Nam kỳ. Trên những hành trình phiêu lãng ấy, ông đã có dịp để xem nhiều gánh hát tuồng biểu diễn. Như tiền định, những làn điệu dân ca vùng Trung bộ như những loài tiên dược tháng ngày ăn sâu vào tâm khảm và máu huyết của ông. Để thỏa chí cầm ca, ông Bá đã dừng chân ở xứ dừa Bình Định để tìm thầy học hát Bội. sau đó, ông ra Huế theo thầy học nhuần nhuyễn thêm 5 loại nhạc cụ với nhiều làn điệu dân ca Bình-Trị-Thiên như điệu lý giao duyên, lý ngựa ô, lý đoản xuân, lý quỳnh tương, lý con sáo sang sông; điệu khách gồm kim tiền lưu thủy, phú lục chậm, phú lục nhanh, cổ bản thường, cổ bản dựng, tứ đại cảnh (nam ai, nam bằng, nam xuân...); điệu hò Quảng Trị như hò mái nhì, hò mái đẩy, hò hụi, hò mái xắp, hò đưa linh...Từ đó, ông đêm ngày khổ luyện để truyền thụ lại cho anh em, con cháu trong cùng dòng tộc. Sau một thời gian rất ngắn, một gánh hát do ông làm chủ đã được ra đời, gánh hát có 14 diễn viên gồm: con trai Nguyễn Như Gián, các con gái là Nguyễn Thị Hòa, Nguyễn Thị Hạnh (thân mẫu NSND Lệ Thi) và các ông Nguyễn Như Tính, Trần Duyến (sau 1954, ông Duyến là nhạc công ca Huế của Đài Tiếng nói Việt Nam), Lê Não, Võ Cháu (thân sinh của nhạc sĩ Võ Đình Hùng), Trần Nóng, Phùng Ngấn, Nguyễn Khê, Bùi Văn Mè (thân sinh NSND Châu Loan, Châu Phụng). Gánh hát này bắt đầu biểu diễn từ năm 1880. Việc xuất hiện gánh hát này là một "sự kiện trọng đại" trong sinh hoạt văn hóa ở Quảng Trị thời bấy giờ. Chính vì vậy mà những tích tuồng cổ như: "Thoại Khanh Châu Tuấn", "Lưu Bình Dương Lễ", "Giang tả cầu hôn", "Cô Cơ giả dại qua đèo", "Hồ Xuân Hương", "Tam xuân loạn trào" ... với những giọng ca mùi mẫn đã làm cho nhiều người trong vùng Trung bộ đắm say. Sau này, 12 dòng họ trong xã Vĩnh Giang đã thống nhất lập nên đội "Chèo cạn làng Tùng", trên cơ sở là gánh hát của ông Nguyễn Hữu Như Bá, tồn tại cho đến năm 1947, lúc mà giặc Pháp tấn công dữ dội vào Vĩnh Linh mới tạm ngưng.


Những thế hệ hậu duệ đã không phụ lòng ông, họ miệt mài rèn luyện để trở thành những nghệ sĩ tài danh được cả nước biết đến như: NSND Châu Loan, NSND Lệ Thi, NSƯT Kim Phú (vợ của NSƯT Sỹ Cừ), NSƯT Kim Quý (vợ của NSND Xuân Đàm), NSƯT Châu Dinh, Thu Sen, Ái Chủng, Trần Duyến, Thanh Thảo...


Cố NSND Châu Loan (tên thật là Bùi Thị Loan) sinh năm 1926, là con gái của nghệ sĩ Ba Mè. Được sinh thành, dưỡng dục trong một gia đình có truyền thống về âm nhạc, từ năm 7 tuổi, Châu Loan đã được cha dạy cho đàn và hát dân ca. Trong môi trường ấy, tài năng của Châu Loan đã sớm nảy nở. Châu Loan có một chất giọng thiên phú và đặc biệt có tài ngâm thơ. Năm 1947, bà theo cha ra Hà Nội, cộng tác với đài phát thanh Pháp Á. Năm 1954, hòa bình lập lại, bà làm việc tại Tổ ca nhạc miền Trung, Ban âm nhạc của Đài tiếng nói Việt Nam. Năm 1957, Châu Loan được chọn là diễn viên xuất sắc đi dự Hội nghị thanh niên thế giới lần thứ nhất ở Vác SaVa (Ba Lan). Trong những năm tháng chiến tranh, tiếng thơ của Châu Loan trên làn sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam đêm đêm đã làm đắm say biết bao nhiêu triệu con tim của chiến sĩ và đồng bào trong cả nước. NSND Châu Loan nay không còn nữa (bà mất vì bệnh ung thư vào chiều Noel năm 1972), nhưng tên tuổi cùng với giọng ngâm thơ réo rắt đằm thắm của bà sẽ mãi còn ngân nga cùng với tuổi dài của đất nước. Bà được phong tặng danh hiệu NSND năm 1984 (đợt 1). Bà là mẹ của nhạc sỹ Quốc Trường.


NSND Lệ Thi (tên thật là Vũ Thị Lệ Thi) sinh năm 1925, tại thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Quảng Ngãi trong một gia đình có cha là tri phủ, mẹ là nghệ nhân Nguyễn Thị Hạnh, ông ngoại là cụ tổ Nguyễn Hữu Như Bá. Năm lên 15 tuổi, Lệ Thi đi theo đoàn tuồng "Ý Hiệp Ban" do vợ chồng ông Bang tá làm chủ gánh. Ở Đoàn tuồng này Lệ Thi đã rong ruổi khắp các miền đất ở vùng Trung bộ để biểu diễn và đã rất thành công với các vai diễn: Loan Dung (vỡ Lý Phụng Đình); Trại ba (vỡ Địch Thanh ly hôn); Đào Tam Xuân (vỡ Trảm trịnh ân); Nguyệt cô (vỡ Tiết Giao đoạt ngọc); Nguyệt Tiên (vỡ Đào phi phụng); Xuân Hương (vỡ Mã long mã phụng); Phượng Cơ (vỡ Tam Nữ đồ vương)... Năm 1942, Lệ Thi đã cùng mẹ và anh trai là Vũ Tư Trị lập nên một gánh hát do ông Tư Trị làm chủ. Cuộc đời ca hát đã làm cho Lệ Thi say đắm mà quên đi cuộc sống của một vương gia vọng tộc (cha của Lệ Thi là Vũ Thiếu Trinh, người quê Quảng Ngãi, làm tri phủ Vĩnh Linh). Sau năm 1954, Lệ Thi tập kết ra Bắc làm diễn viên của đoàn Văn công liên khu 5. sau khi Đoàn tách làm 2 đoàn là đoàn Tuồng và đoàn Dân ca kịch. Lệ Thi đã cùng với Ngô Quang Thắng, Nguyễn Tường Nhẫn, Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Kiểm, Đinh Thái Sơn tham dự đoàn dân ca kịch và được giao nhiệm vụ xây dựng kịch chủng mới là kịch hát bài chòi. Chính bà cũng là người đã có rất nhiều đóng góp trong việc cách tân, cải biên dân ca kịch liên khu 5. Các điệu lý như: Lý bắt bướm, Lý thiên thai, Lý hoa thơm, các điệu hò xe, hò đạp nước và đặc biệt là hò bài chòi đã được bà cách tân để đưa vào dân ca kịch một cách nhuần nhụy. Trong chiến tranh, bà là một nghệ sĩ luôn đem tiếng ca của mình đến những điểm chốt gian nguy để phục vụ cho đồng bào cùng chiến sĩ. Giọng ca điêu luyện, thấm đẫm ân tình của bà đã làm cho nhiều trái tim đắm say và yêu mến. Năm 1984, bà được phong tặng danh hiệu NSND (đợt 1), bà là vợ của soạn giả, NSƯT Nguyễn Tường Nhẫn, Con trai bà là Kì Ngộ và con gái Tường Vân đều là diễn viên Đoàn ca kịch Thuận Hải, con trai Quang Tái là một nhạc công của đoàn, con gái Hạnh Nguyên là diễn viên Đoàn ca kịch Phú Khánh, Phó Hiệu trưởng trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội.


NSƯT Châu Dinh (tên thật là Nguyễn Thị Dinh), sinh năm 1942 ở quê mẹ là làng Tùng Luật. Năm 1960 Châu Dinh được tiếp nhận vào đoàn Ca kịch Trị Thiên Huế khi đoàn đang đóng tại Ty Thông tin - Văn hóa Vĩnh Linh. Thời gian này Châu Dinh có dịp trau dồi, rèn luyện các kỹ năng ca, kỹ năng sân khấu. Bà Kim Thao, là người đã có công giúp Châu Dinh định hình tính cách, vai diễn về sau. Năm 1961, cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam đang bắt đầu bước vào thế trận mới, Châu Dinh đã được Đài tiếng nói Việt Nam mời thể hiện nhiều bài ca Huế, dân ca Bình Trị Thiên ngợi ca cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước của nhân dân hai miền Nam - Bắc. Thính giả trong cả nước cũng từ đây bắt đầu biết đến tên tuổi Châu Dinh.


Những năm 1970, trên miền đất XHCN, Châu Dinh đã có những tháng ngày tuyệt vời về sự ôn luyện học tập nghệ thuật ca kịch Huế. Từ phong cách biểu diễn đến kỹ thuật diễn ca Châu Dinh đều cố gắng thể hiện không để làm phụ lòng các bậc thầy như Kim Oanh, Mộng Điệp, Minh Tâm.


Từ năm 1966 đến năm 1969, Châu Dinh được theo đoàn vào tuyến lửa Quảng Bình - Vĩnh Linh. Để biểu diễn phục vụ đồng bào và chiến sĩ vùng giới tuyến. Với tài năng và bản lĩnh của mình, Châu Dinh được đoàn phân công và đảm nhận nhiều vai diễn quan trọng. Châu Dinh nhớ và ấn tượng nhất là vai diễn đầu tiên: Bà Lành trong vở diễn Con gà chân chì. Qua vai bà Lành, Châu Dinh đã thu hút được sự chú ý của khán giả, niềm tin cậy của khán giả dành cho Châu Dinh ngày càng được nhân lên.

Nghệ thuật biểu diễn, nghệ thuật ca Huế tiếp tục được định hình theo thời gian. Lần lượt, Châu Dinh đảm nhận nhiều vai diễn mới như Kan Xiêm (vở Kan Lịch), Công chúa Sở, Tuấn mẫu (vở Thoại Khanh Châu Tuấn), Bà vợ trung tá quân đội Sài Gòn (vở Chiếc áo cưới màu xanh) của các soạn giả Xuân Lư - Lê Anh Phong; Bà mẹ sinh viên đấu tranh (vở Nước mắt và bạo lực), Nhũ mẫu (vở Quạ thần, pho tượng đá) chuyển thể từ kịch nói của soạn giả Lưu Quang Vũ...


Tài năng nghệ thuật của Châu Dinh được nhiều đài, báo trong nước ngợi ca. Chị xứng đáng với Huy chương Bạc (1985- vỡ Vòng oan nghiệt của soạn giả Lê bá Sinh), Huy chương Vàng (1990- vai Diệu Thúy trong vỡ Lời trăn trối của soạn giả Minh Hằng) cùng nhiều bằng khen khác qua các mùa hội diễn. Bên cạnh thành tích trên Châu Dinh đã được Bộ VHTT tặng Huy chương Vì sự nghiệp văn hóa, Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam tặng Huy chương Vì sự nghiệp VHNT và vinh dự nhất là được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú vào năm 1993.


Trên mảnh đất cỗi cằn Quảng Trị, vợ chồng NSƯT Sỹ Cừ-NSƯT Kim Phú đã cùng với các nghệ sĩ tâm huyết khác đêm ngày tôi luyện để đạt đến đỉnh cao trong biểu diễn đàn và hát dân ca. Cũng chính họ là những người luôn đau đáu một khát vọng bảo lưu và phát triển một cách vĩnh hằng những vốn văn hóa cổ truyền của dân tộc. Khác với người chị ruột của mình, NSƯT Kim Quý đã thể hiện rất thành công khả năng biểu diễn của mình trên sân khấu kịch nói. Với tài đạo diễn sân khấu của chồng chị (NSND Xuân Đàm), với những kịch bản của các nhà văn là người Quảng Trị như: Xuân Đức, Nguyễn Quang Lập, Cao Hạnh... NSƯT Kim Quý đã thực sự tỏa sáng qua từng vai diễn của mình trong các vở như: "Mùa hạ cay đắng", "Ám ảnh", "Đứa con nối dõi", "Chuyện đời thường vớ vẩn", "Huyền thoại mẹ"... đặc biệt ở NSƯT Kim Quý là vai độc diễn Lý Chiêu Hoàng. Liên tiếp trong nhiều năm, chị đã gặt hái về cho quê hương Quảng Trị, cho làng Tùng Luật của chị nhiều huy chương vàng của các kỳ hội diễn sân khấu toàn quốc. Chị kể: "Sau nhiều năm tháng đi xa, về lại nơi chôn nhau, cắt rốn chị nghẹn ngào trước cảnh quê nhà hoang tàn, đổ nát. Ngay từ những giây phút ấy, chị chợt hiểu rằng mình đã mắc nợ với quê hương, mắc nợ với những người đã khuất, món nợ mà đời chị chẳng dễ gì trả nổi. Từ đó, chị đã dồn hết tâm lực của mình vào các vai diễn về đề tài chiến tranh với khát khao trả món nợ tâm linh cho xứ sở. Các hình tượng nhân vật được chị thể hiện đã để lại những dấu ấn sâu đậm trong lòng người xem khắp cả nước.


Trong khuôn khổ bài viết nhỏ này, người viết không thể nào kể hết những gương mặt nghệ sĩ tài hoa là con dân của làng quê Tùng Luật. Những con người tài hoa ấy đã chung tay vào với lịch sử nghệ thuật của nước nhà, họ miệt mài xây dựng ngôi nhà chung ấy để rồi họ không còn là của riêng cái làng ven biển Tùng Luật nữa, không là của cái tỉnh Quảng Trị khốn khó ấy nữa, mà họ là của chung đất nước này.


Ngày dần trôi, tôi đi trên con đường quê thẩm nắng, làng Tùng Luật vẫn yên bình trong tiếng gió lao xao và sóng biển từ phía khơi xa vẫn vọng về réo rắt. Những bờ tre quanh làng như thể xanh hơn với cánh đồng nom cũng thêm trù phú. Mọi cảnh đã khác nhiều so với một thời quá vãng cực nhọc, gian nan... Nhặt lên chiếc lá từ mảnh đất bazan đỏ thắm dưới chân mình, tôi như nghe thấy từng lời thì thầm của đất. Những người dân của làng Tùng Luật muôn đời vẫn thế, họ lặng lẽ chắt chiu cho đời những hạt phù sa nghệ thuật, để chăm bẳm cho vườn hoa chung ấy mãi mãi đẹp tươi.


P.B.B.T

READ MORE - PHAN BÙI BẢO THI - NƠI SINH THÀNH NHỮNG NGƯỜI NGHỆ SĨ TÀI HOA

Friday, September 12, 2008

PHAN BÙI BẢO THI - CHÙM THƠ



Quê cha ở làng Văn Phong, Triệu Sơn, Triệu Phong, Quảng Trị.
Sinh ở quê mẹ làng Văn Xá, Hương Trà, Thừa Thiên.
Hiện sinh sống ở Đà Nẵng






Vỗ cánh chiêm bao



Ta ngồi lại với đêm sâu

Còn em thay áo làm dâu với người

Vô tình một phiến tình rơi

Ta đau trọn một kiếp đời như mơ


Chiều chiều tưới rượu lên thơ

Xênh xang hồn lạc cuối bờ tiêu tao

Này chim xưa ở phương nào?

Mà nghe cánh vỗ chiêm bao thật buồn


Hôm nào nắng hắt lên sương

Mưa xuân rắc những nốt buồn xuống tim

Con đường Long não lặng im

Em nay tít tắp cuối miền căm căm


Bao nhiêu tháng bấy nhiêu rằm

Con trăng mấy độ vỡ tan mất rồi

Vú hồng thẹn với môi tươi

Ta nay tít tắp cuối trời dửng dưng


Say lang thang phố lưng chừng

Câu thề trót rụng thôi đừng nhặt lên

Biết từ trong mắt buồn em

Bóng thơm thảo ấy lá ken kín rồi


Đừng ta sẽ khóc mất thôi

Hãy như dương thế còn người khổ đau

Mai kia tháng ấy ngày nào

Ta thành đom đóm gọi nhau quay về.






Đêm trở gió



Đêm trở gió

Quê người quạnh quẽ

Những đám mây xám ngắt quay về

Tôi cuộn tròn tấm thân như con sâu róm đói

Thò đôi mắt ngờ nghệch về phía thẳm đen của đêm


Những hạt mưa như sợi thừng mang trái tim của sói

Trói chặt tôi vào gấc mơ tôi

Những chiếc lá rào bay như câu kinh sám hối

Nuối tiếc buổi chiều say trong đơn côi


Tôi úp mặt vào chiếc gối bông mẹ may mùa đông trước

Tìm chút nắng vàng trong khoảng sân quê

Khát khao tiếng cười lũ cào cào châu chấu

Khao khát làn roi mẹ đánh cuối chiều

Đêm trở gió




Đêm trở gió

Những mặt người bạc thếch

Hú gọi nhau bằngtiếng gọi con người

Tôi cuộn tròn tấm thân như con sâu róm đói

Rũ phiến râu buồn về phía xa khơi


Đêm trở gió

Mưa chém lên hồn tôi trăm nghìn vết chém

Những vết chém có khuôn mặt buồn như ký ức loài dơi

Tôi cuộn tròn tấm thân như con sâu róm đói

Mơ giấc mơ thật dài về những đứa em tôi


Chúng vẫn hồn nhiên chạy dọc triền nắng gió

Hát vang khúc đồng dao mùa xuân

Tìm những túi trứng dế mèn trong từng búi cỏ

Một sáng mang về ánh mắt bâng khuâng


Đêm trở gió

Quê người quạnh quẽ

Ký ức nghìn năm vội vã quay về

Tôi cuộn tròn tấm thân như con sâu róm đói

Gặm nhấm nỗi buồn rũ nợ đam mê.





Mỗi ngày con ra phố bằng chiếc mặt nạ




Những chiếc lá bay như những tín điều

Trong khuôn ngực gầy con nghìn nghìn sợi máu

Dở khóc dở cười chua chát phiêu diêu


Bao nhiêu bụi một ngày đổ lên đầu thành phố?

Con hỏi con rồi tự nhủ an bài

Lêu bêu hài nhi

Đoạn trường gái goá

Lịch sử đứng buồn ngắm cánh thơ bay


Mỗi ngày con ra phố bằng hai cánh tay

Và chiếc lưỡi an nhiên cùng bè bạn

Nhưng cuộc sống nào có giản đơn phép toán

Mỗi ẩn phương trình như mỗi câu thơ


Mẹ ơi!

Thơ là nước mắt

Thơ là nụ cười

Thơ là máu của lặng im cay đắng nhất

Kết dính triệu năm thuỷ tổ con người


Mỗi ngày con ra phố bằng một lớp son môi

Để mụ mị phía tím bầm sự thật

Lúc say nhất là lúc con buồn nhất

Bởi biết mình có tội với Nhân dân.


Sài gòn, 08.1993
PBBT

baothy.vnweblogs.com

READ MORE - PHAN BÙI BẢO THI - CHÙM THƠ