Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Tạp bút. Show all posts
Showing posts with label Tạp bút. Show all posts

Thursday, August 13, 2026

ĂN THỊT, UỐNG MÁU CHÚA JESUS !?! – Bài viết của La Thuỵ



Nhiều bạn lương dân ngoại giáo trong vài dịp dự Thánh Lễ ngày Chúa nhật trong giáo đường Thiên Chúa giáo, khi nghe Linh Mục đọc

“Này là Mình Ta hãy cầm lấy mà ăn. Này là Máu Ta hãy nhận lấy mà uống. Vì Giao Ước này đổ ra cho muôn người. Hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Ta”.
Họ ngạc nhiên và trao đổi với nhau, thậm chí viết trên Face: “Tín hữu Công giáo ăn thịt uống máu Chúa, dễ sợ quá!”
 
Chúa Jesus thường được tuyên xưng là “mục tử nhân lành” (là người chăn chiên hết lòng yêu thương, am hiểu, bảo vệ và sẵn sàng hy sinh mạng sống cho đoàn chiên của mình, trái ngược hoàn toàn với kẻ chăn thuê chỉ vì lợi ích cá nhân mà bỏ chạy khi gặp thú dữ)

Nhưng ít lương dân ngoại giáo biết rằng rằng Chúa Jesus còn có danh hiệu “Chiên Thiên Chúa”.
Chúa Jesus chịu làm của lễ hiến tế giống như con cừu non trong Lễ Vượt Qua để cứu chuộc nhân loại.

Chúng ta quen thuộc với việc cúng bái gia tiên của người Việt lương dân ngoại đạo. Việc cúng bái gia tiên bằng các vật thực như bò, heo, gà, vịt của người Việt lương dân ngoại đạo là một nét đẹp văn hóa tâm linh lâu đời thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”. Bàn thờ gia tiên là nơi thiêng liêng để kết nối âm dương, nơi con cháu bày tỏ lòng hiếu kính và biết ơn đối với nguồn cội.
Sau khi cúng bái, các vật thực đã dâng lên bàn thờ gia tiên được dọn xuống cho con cháu và khách mời cùng thưởng thức.
 
Người Do Thái, người Ả rập nuôi chiên trên các đồng cỏ, để ăn thịt, lấy lông. Chiên để dâng lễ toàn thiêu. Người ta giết chiên tại Đền thờ từ buổi trưa trước lễ. Một con chiên vô tỳ tích được nướng lên để cả nhà cùng ăn.
Trong Cựu Ước cũng như các nghi lễ ngoại giáo cổ xưa, con vật bị hiến tế sau đó sẽ được ăn.
 

Sách Khải huyền cho biết Chúa Giêsu là Con Chiên bị đem đi làm thịt, là Con Chiên đã bị giết và máu Ngài tẩy sạch y phục của các thánh nhân, nhưng Ngài cũng là Đấng đã chiến thắng tử thần và Satan, Đấng hằng sống, Đấng thống trị trời và đất,
 
“Ðây Chiên Thiên Chúa, đây Ðấng xoá tội trần gian”.
Chiên Thiên Chúa (tiếng Latinh: Agnus Dei) là một tước hiệu dùng để chỉ Chúa Jesus trong Thiên Chúa giáo, xuất hiện trong Phúc Âm Gioan khi Gioan Tẩy Giả gọi Ngài là “Đấng xóa tội trần gian”. Danh hiệu này tượng trưng cho việc Chúa Jesus chịu hiến tế giống như con cừu non trong Lễ Vượt Qua để cứu chuộc nhân loại.
 
Trong bữa tiệc ly, Chúa Jesus đã thiết lập “Hy Tế tạ ơn” bằng Mình và Máu Người. Ta gọi “Hy Tế tạ ơn” bằng Mình và Máu  Chúa Jesus là “Hy tế Thánh lễ”
 
“Này là Mình Ta hãy cầm lấy mà ăn. Này là Máu Ta hãy nhận lấy mà uống. Vì Giao Ước này đổ ra cho muôn người. Hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Ta”
 
Máu và thịt của Chiên Thiên Chúa đã “hy sinh” vì tội lỗi của loài người được tín hữu Thiên Chúa giáo thọ lãnh để được nhận ơn cứu độ. Việc ăn thịt và uống máu Chúa Jesus không chỉ là sự việc tượng trưng mà chính là niềm tin  Thánh Thiêng của giáo dân.
 

Theo gốc từ Hán Việt “hy sinh” (犧牲), chữ hy (犧) là con vật có một màu thuần nhất dùng để cúng tế, còn chữ sinh (牲) vốn có nghĩa là gia súc (bò, dê, lợn) được dùng để làm lễ dâng cúng tế thần linh, trời đất.   
 
Từ nghĩa gốc đã nêu trên, hy sinh được hiểu rộng ra:
 
1/ Chết để người khác được sống.
2/ Chết khi đang làm nhiệm vụ
3/ Tự nguyện nhận thiệt thòi về phần mình để nhường lại ưu đãi cho người khác.
 
Bên cạnh từ “hy sinh”, chúng ta thường được nghe từ “hy tế”
Khi nói đến một hy tế, Huấn quyền sử dụng hạn từ sacrificium bằng tiếng Latinh, có nghĩa tiếng Việt là “hy lễ” hoặc “hy tế” hay “hiến tế” (lễ tế, lễ hy sinh).

Chúa Jesus chịu đóng đinh và chịu khổ nạn trên thập tự giá, để cứu chuộc nhân loại được coi như là cuộc hy tế và có ý nghĩa tâm linh lớn đối với người Thiên Chúa giáo.


Thầy Hoàng Đằng viết trên Facebook về việc cúng tế của người lương dân ngoại giáo:
 
“Tôi không tin mâm bàn đặt cúng người đã khuất có về ăn uống, nhưng tôi tin hồn thiêng của các Ngài sẽ chứng giám lòng thành, và ban phước huệ vào đồ cúng; sau đó, con cháu ăn uống đồ cúng đó, xem như hưởng phước huệ, mà người đời gọi là "thừa thần chi huệ”.
 
Chúa Jesus mang thân phận vô tội nhưng tự nguyện chịu chết trên thập giá để đền thay tội lỗi cho con người, chịu làm con chiên bị sát tế để làm “Của lễ đền tội”.
Máu và thịt của Người là lương thực hằng sống cho tín hữu qua hình bánh và rượu.    
Khi người Công giáo rước lễ, họ tin thực sự nhận lãnh Thịt và Máu Thánh Chúa Jesus để có sự sống đời đời.
 
Sau khi cúng tế cừu, dê, bò, heo, gà... dù là người lương hay tín hữu đạo Hồi, tín hữu Do Thái giáo đều ăn thịt những con vật đã cúng tế đó. Thế thì tín hữu Thiên Chúa giáo sao lại làm khác đi, họ cũng ăn thịt, uống máu con Chiên đã tự nguyện dâng mình làm của lễ hiến tế chứ !
 

Qua nghi thức truyền phép trong Thánh Lễ, bánh và rượu trở thành thực sự Mình và Máu Thánh Chúa Kitô  – Đấng được gọi là “Chiên Thiên Chúa” – chính là Bí tích Thánh Thể, là của lễ hy tế trên thập giá và là lương thực thiêng liêng nuôi dưỡng đời sống vĩnh hằng của người tín hữu.
                                                                                              La Thuỵ

READ MORE - ĂN THỊT, UỐNG MÁU CHÚA JESUS !?! – Bài viết của La Thuỵ

Sunday, April 30, 2023

TẢN MẠN VỀ RƯỢU NHO (8) – Nguyên Lạc

                                    (Kỳ 8)
 

Phần II
RƯỢU BRANDY
Rượu Brandy là tên gọi chung của các loại rượu mạnh (spirit) có 35-60 độ cồn (70-120 proof của Mỹ). Rượu Brandy là loại rượu được chưng cất (distill) từ các loại nước ép trái cây đã lên men, chủ yếu là nho, táo và các loại trái cây khác; rồi sau đó ủ trong thùng gỗ sồi (ít nhất là hai năm) để lên tuổi rượu.
Theo nghĩa rộng hơn, thuật ngữ rượu Brandy cũng biểu thị các loại rượu có được từ quá trình chưng cất bã trái cây – bã trái cây là những chất rắn dư thừa còn lại từ vỏ, lõi, hạt và thân của quả, sau khi ép nước cốt của trái cây – (tạo ra rượu brandy bã trái cây), hoặc rượu nghiền hoặc rượu vang của bất kỳ loại trái cây nào khác (rượu brandy trái cây). Những sản phẩm này còn được gọi là eau de vie (có nghĩa là “nước của sự sống”).
Rượu brandy đặt tên theo gốc tiếng Hà Lan “brandewijn”: có nghĩa là “burnt wine”, hoặc “distilled wine”. Xuất phát từ một thương gia Hà Lan gốc Đức tên là Den Helkenwijk, người chuyên buôn rượu chát từ Pháp sang Hà Lan. Ông đã sáng tạo ra cách chưng cất cách thủy rượu vang chát, hình thành nên một loại rượu mạnh hơn về nồng độ. Rượu có thể tích ít hơn sau khi được chưng cất vì nước được lấy ra khỏi nước rượu.
Rượu brandy được ngâm trong thùng gỗ nhằm cho phép oxy hóa nhẹ rượu, khiến nó ngấm màu của gỗ để trở thành màu hổ phách, cùng hấp thụ hương thảo mộc từ gỗ.
 
I. LỊCH SỬ RƯỢU BRANDY
Nguồn gốc của rượu Brandy gắn liền với việc phát triển của kỹ nghệ chưng cất (distillation) rượu. Các thức uống có nồng độ cồn đã được biết đến từ thời cổ đại tại Hy Lạp và La Mã, và có lẽ đã có lịch sử từ thời Babylon cổ xưa. Loại rượu Brandy, như người ta biết đến vào ngày hôm nay, đầu tiên xuất hiện vào thế kỷ thứ 12 và trở nên phổ biến rộng rãi vào thế kỷ thứ 14.
Khởi thủy, rượu được chưng cất như một phương thức để bảo quản và cũng là cách để các nhà buôn rượu chuyển vận rượu được dễ dàng hơn, ít tốn kém hơn trong việc bị đánh thuế. Vì thuế đánh trên thể tích rượu: khi chưng cất rượu, nước được lấy ra, thể tích rượu giảm rất nhiều. Đánh thuế xong, qua trạm, rượu sẽ được trả nước ngược trở lại trước khi được tiêu thụ.
Người ta phát hiện rằng, khi rượu được giữ trong thùng gỗ, thì nước rượu thu được có chất lượng ngon hơn nước rượu nguyên thủy. Ngoài việc lấy nước ra khỏi nước rượu, việc chưng cất rượu cũng đưa đến việc tạo thành hay phân hủy các thành phần thơm trong rượu, trên căn bản đã thay đổi thành phần của rượu từ nước rượu gốc. Các thành phần không bốc hơi như màu rượu, đường trong rượu, và muối vẫn còn giữ nguyên sau khi chưng cất xong. Và kết quả là, mùi và vị của rượu sau khi chưng cất có lẽ hoàn toàn không giống như nước rượu ban đầu.
Có một điều, mang nhiều nét lịch sử về rượu Brandy ít người Việt biết đến, đó là vào buổi sơ khai, rượu Brandy là loại thức uống của giới nghèo ở nước Pháp. Bởi giới giàu sang chỉ uống loại rượu vang; và xác ép nho sau khi đã được sử dụng để làm rượu vang, có cái tên là Pomace, và các phẩm liệu nho vụn vặt trong việc sản xuất rượu sẽ được tái sử dụng để làm rượu Brandy. Hay nói cách khác, tiền thân của rượu Brandy ngày nay, và vẫn còn một số rượu Brandy được sản xuất theo cách này, được sản xuất lại từ cặn bã, xác ép trái nho đã được sử dụng, để làm ra loại rượu rẻ tiền cho người nghèo uống. Nhưng qua thời gian, và các quy trình sản xuất khác nhau, thì ngày nay, rượu Brandy đã trở thành một loại rượu đắc tiền trên thế giới, và có lẽ chỉ có giới giàu sang mới thưởng ngoạn các loại rượu Brandy nổi danh và đắt tiền.
 
II. VÀI NÉT VỀ RƯỢU NHO BRANDY
Rượu nho Brandy hay Brandy vang là một loại rượu được sản xuất bằng cách chưng cất nước rượu nho đã lên men, rồi sau đó đem ủ trong các thùng gỗ sồi (oak) để lên tuổi rượu. Brandy thường chứa 35–60% độ cồn (70–120 chứng nhận Hoa Kỳ).
Một số rượu Brandy được ủ trong thùng gỗ, một số được nhuộm bằng màu caramel để bắt chước tác động của quá trình tăng độ tuổi. Số khác được sản xuất bằng cách kết hợp cả quá trình tăng độ tuổi và phẩm màu. Nhiều loại rượu Brandy vang có thể tìm ra trên khắp nơi sản xuất rượu thế giới, nhưng loại nổi tiếng nhất là Cognac đến từ Tây Nam nước Pháp.
Nhiều người lầm tưởng là rượu Cognac và Brandy là hai loại rượu khác nhau. Thực sự chúng chỉ là một: Rượu Cognac là một nhánh của loại rượu Brandy, chúng được chưng cất từ trái nho trồng và thu hoạch tại vùng Cognac ở Pháp. Các loại rượu mang nhãn hiệu Cognac phải tuân theo đúng các quy trình sản xuất và pháp lý đặt ra cho loại rượu này, trong đó có bản quyền gốc nơi sản xuất là Cognac. Ngoài loại Cognac Brandy còn có nhiều loại Brandy nổi danh khác như Calvados Brandy, Armagnac Brandy, Brandy de Jerez, v.v… nhưng với giới sành rượu người Việt, các loại rượu với cái tên Cognac thì được biết nhiều nhất.
 
III. CÁC LỌAI RƯỢU BRANDY
Rượu Brandy ngoài việc được điều chế từ nho đã lên men, nó cũng được làm từ việc ủ các loại trái cây không phải là nho hoặc từ xác nho còn lại sau khi ép nước (còn gọi bằng cái tên riêng là Pomace). Do đó, có ba loại rượu Brandy chính: Rượu nho Brandy, rượu trái cây Brandy và rượu Pomace Brandy.
1. Rượu nho Brandy
– Được chế biến từ nước nho ép đã lên men rượu (nước nho ép chứ không có thịt hay vỏ quả nho), sau 2 lần trưng cất sẽ được lưu trữ trong thùng gỗ sồi thời gian dài để tăng mùi vị và màu rượu. Rượu Brandy nho rất được ưa chuộng, loại Brandy này phổ biến có mấy loại sau:
+ Brandy Mỹ: chủ yếu sản xuất ở Mỹ
+ Armagnac: Sản xuất ở Pháp, đây là loại Brandy cao tuổi nhất ở Pháp
+ Cognac: Sản xuất ở Pháp.
+ Brandy de Jerez: Sản xuất ở miền Nam nước Tây Ban Nha
+ Lourinhã: Chủ yếu thịnh hành ở Bồ Đào Nha
– Rượu nho Brandy của Mỹ gần như luôn được làm tại California. Các loại rượu nho Brandy Mỹ nổi danh bao gồm loại Christian Brothers, Coronet, E&J, Korbel, Paul Masson và J. Bavet.
– Rượu nho Brandy Armenia được sản xuất từ năm 1880′s và từ vùng đất ruộng Ararat nằm về phía nam của Armenia. Winston Churchill là người thích loại rượu Brandy vùng này. Loại rượu này được bày bán trên thị trường có độ tuổi rượu từ 3 cho đến 20 năm. Trong một hội chợ quốc tế diễn ra tại Pháp vào năm 1900, loại rượu Brandy này đã nhận được giải Grand-Prix và được chính thức gọi là rượu Cognac, một tên gọi đặc trưng cho một loại rượu Brandy, sau khi chuyên gia chuyên nếm rượu được bịt mắt để phân biệt loại rượu và đã không phân biệt được.
– Về rượu Armagnac brandy
Armagnac là một loại rượu brandy khác của Pháp cũng được bảo vệ bởi AOC. Nó được sản xuất ở vùng Armagnac của Gascony ở phía tây nam nước Pháp. Cũng giống như Cognac, cũng có một vài giống nho và các phương pháp sản xuất được quy định để tạo nên phong cách rượu mạnh này. Armagnac là rượu được lên men từ nho Colombard trộn với Ugni Blanc và được chưng cất một lần theo mô hình chưng cất dạng ống column stills. Sau đó rượu chưng cất được ủ ít nhất 2 năm trong thùng gỗ sồi Pháp: Gỗ sồi Limousin và Troncais là hai loại gỗ được sử dụng làm thùng để ủ Armagnac. Những loại gỗ này rất cần thiết trong việc mang đến hương vị mạnh mẽ cho rượu và giúp phân biệt nó với Cognac.
Rượu Armagnac là loại rượu chưng cất đầu tiên tại Pháp. Rượu Armagnac có một đặc tính đặc trưng: họ chỉ bán ra loại rượu với chất lượng rượu Vintage (Rượu Vintage là loại rượu được làm từ nho thu hoạch trong cùng một mùa nho, được giữ trong thùng cho đến khi nào đóng chai với nhãn hiệu ghi rõ ngày giữ và đóng chai – điều này khác với nhiều loại rượu pha trộn từ các nước rượu sản xuất trong nhiều năm khác nhau). Các tên rượu Armagnac nổi danh bao gồm Darroze, Baron de Sigognac, Larressingle, Delord, Laubade, Gélas và Janneau.
 
Rượu Armagnac Brandy)
 
– Rượu Cognac sản xuất từ vùng Cognac tại Pháp, và được chưng cất 2 lần sử dụng nồi chưng cất. Các tên rượu Cognac nổi danh bao gồm: Martell, Camus, Otard, Rémy Martin, Hennessy, Frapin, Delamain và Courvoisier.

(Rượu Cognac Brandy)
 
– Brandy de Jerez là một loại rượu Brandy được sản xuất tại vùng trồng nho quanh Jerez de la Frontera tại miền Nam nước Tây Ban Nha. Rượu này được sử dụng tại một số rượu pha trộn Sherry, và cũng được bày bán riêng biệt. Loại rượu này được cầu chứng bảo vệ nguồn gốc rượu (PDO – Protected Designation of Origin). Phương thức sản xuất có 3 đặc tính: [1] Ủ trong thùng gổ Sồi của Mỹ với lượng chứa là 500 lít, mà trước đó có chứa loại rượu Sherry. [2] Sử dụng phương pháp ủ cổ truyền và lưu truyền nước rượu Criaderas và Soleras. [3] Phải được ủ tại vùng Jerez de la Frontera, El Puerto de Santa María, và Sanlúcar de Barrameda trong tỉnh Cádiz.
2. Rượu trái cây Brandy
Các loại rượu trái cây Brandy (Brandy hoa quả hay Rượu brandy mùi) được chưng cất từ các nước trái cây nói chung, ngoại trừ nho. Táo Apple, Plums, Đào Peach, Cherries, Eldberberries, Raspberries, Blackberries, và Apricots là những loại trái cây được sử dụng nhiều nhứt để làm rượu Brandy. Rượu Brandy trái cây thường chứa khoảng từ 40-45% nồng độ Alcohol. Những loại rượu brandy mùi thường được dùng để pha chế cocktail. Rượu brandy táo, mơ, cherry và đào là loại phổ biến nhất dùng để pha chế nhiều loại cocktail cổ điển (Cách pha chế coctail nói ở phần dưới: phần Phụ Lục)
Rượu Applejack là loại rượu trái cây Brandy làm từ táo Apple của người Mỹ.
Rượu Calvados là một loại rượu Brandy táo sản xuất tại vùng Lower Normandy của nước Pháp. Rượu này được chưng cất 2 lần từ nước men rượu táo.
Brandy táo thường có vị gắt hơn so với Brandy nho.
Rượu Damassine Brandy được làm bằng trái Prune từ vùng núi Jura Mountains ở Thụy Sĩ (Switzerland)
Rượu Dừa Coconut Brandy được làm từ sáp của hoa dừa.
3. Rượu Pomace Brandy
Rượu Pomace Brandy được sản xuất bằng cách lên men và chưng cất xác ép của da, hột, các nhánh nho còn lại sau khi ép lấy nước để làm rượu. Các loại rượu Pomace bao gồm:
Rượu Grappa của Ý, Rượu Marc của Pháp, Rượu Aguardente Bagaceira của Bồ Đào Nha, Rượu Orujo của Tây Ban Nha…
Loại Grappa của Italia và Marc của Pháp là hai điển hình của loại brandy này, chúng là loại Brandy được làm từ thịt quả, vỏ, thân và phần còn lại của quả nho sau khi đã ép lấy nước. Do đó có vị gắt nên phải thời gian ủ khá dài.
Brandy táo thường có thời gian lưu trữ trong thùng gỗ tối thiểu nên có hương vị nồng đậm và có mùi vị đặc trưng của loại nho được chế biến đã bị mất đi ở brandy ủ lâu năm trong thùng gỗ.
 
IV. CHƯNG CẤT VÀ Ủ RƯỢU BRANDY
 
1. Chưng cất rượu
Như được mô tả trong ấn bản tự điển bách khoa in vào năm 1728, phương pháp sau đây được sử dụng để chưng cất rượu Brandy:
Một bình chưng cất rượu được chế đầy nước rượu đến nửa bình và sau đó được nổi lửa đun nóng lên đến khi nào 1/6 dung dịch nước rượu trong bình được chưng cất, hay cho đến khi nào dung dịch chảy vào đồ chứa sau khi hơi rượu kết tụ lại có thể cháy hoàn toàn. Dung dịch này, chỉ được chưng cất một lần, được gọi là nước rượu (Spirit of wine) hay Brandy. Chưng cất thủy phân thêm một hay nhiều lần nữa, thì dung dịch rượu thu được sẽ được gọi là nước chỉnh rượu (Spirit of wine rectified). Lần chưng cất thứ hai được làm trong Balneo Mariae va trong một nồi chưng cất bằng thủy tinh, và nước rượu được chưng cất, tích tụ lại còn vào khoảng 1/2 thể tích ban đầu. Và việc làm này tiếp tục cho đến khi nào nhà làm rượu cảm thấy vừa ý để tạo ra thứ rượu Brandy cho họ.
Quy trình chưng cất rượu thường được diễn ra như sau:
Rượu với nồng độ rượu từ 8% cho đến 12% và nồng độ acid cao được nấu trong một nồi chưng rượu. Hơi cồn trong rượu, nước, và các mùi thơm khác nhau bốc hơi và được ngưng tụ lại trở thành dung dịch. Do bởi cồn và các thành phần có mùi thơm bốc hơi ở nhiệt độ thấp hơn nước, do đó độ cồn trong dung dịch ngưng tụ lại từ hơi nước trong quá trình chưng cất sẽ có nồng độ cồn cao hơn độ rượu nguyên thủy.
Sau một lần chưng cất, nước rượu một này, thường được gọi là rượu thấp (low wine), sẽ chứa khoảng 30% độ cồn (Ethanol) trong thể tích rượu. Nước rượu một này sẽ được chưng cất lần thứ hai. 1% phần rượu đầu của lần chưng thứ hai này, được gọi là nước rượu đầu (Head), có nồng độ rượu lên đến 83%, và có một mùi nồng rất khó ngửi, và do đó thường bị loại bỏ (nhưng trên thực tế, nước rượu đầu này thường được trộn lẫn với mẻ rượu sau để sử dụng lại). Chu kỳ chưng cất vẫn tiếp tục, và nước rượu kế có nồng độ khoảng 70% và thường được gọi là nước rượu tim (Heart), và đây chính là nước rượu sẽ được đưa ra thị trường với cái tên Brandy. Phần nước rượu thấp còn lại sau khi chưng cất, được gọi là nước rượu đuôi (Tail) sẽ được trộn vào mẻ rượu khác để sử dụng trong tương lai.
Chưng cất rượu không chỉ đơn thuần làm gia tăng nồng độ cồn trong rượu; nhiệt độ và vật liệu dụng cụ sử dụng trong việc chưng cất rượu (nồi đồng) cũng tạo ra nhiều phản ứng hóa học trong suốt quá trình chưng cất: các phản ứng hóa học này tạo sẽ ra nhiều thành phần thơm mới, thay đổi tương đối số lượng thành phần thơm trong rượu và thành phần phân hủy nước (Hydrolysis), như các chất Esters.
 
2. Ủ rượu
Rượu Brandy được sản xuất bằng 1 trong 3 cách ủ rượu sau đây:
– Không ủ gì cả: Hầu hết loại rượu Pomace Brandy và một số rượu trái cây Brandy không được ủ trước khi đóng chai. Và do đó, tạo được nước rượu trong và không màu sắc.
– Ủ trong một thùng gỗ: Nhiều loại rượu Brandy với màu vàng tự nhiên hay màu nâu là do được ủ trong thùng gỗ sồi. Một số loại rượu Brandy được bỏ màu đường Caramel để tạo màu sắc giống như màu ủ trong thùng gỗ.
– Ủ theo phương pháp Solera: Một số loại rượu Brandy, đặc biệt là sản xuất từ Tây Ban Nha, được ủ theo thệ thống Solera.
 
(Còn tiếp nhiều kỳ)
 
Nguyên Lạc

READ MORE - TẢN MẠN VỀ RƯỢU NHO (8) – Nguyên Lạc

Saturday, April 8, 2023

“HOÀNH SƠN NHẤT ĐÁI, VẠN ĐẠI DUNG THÂN” – Hoàng Đằng


Tác giả Hoàng Đằng

Các điểm liên quan đến dinh chúa Nguyễn (1558 – 1626) trong địa bàn huyện Triệu Phong tỉnh Quảng Trị được xếp hạng “Di tích lịch sử quốc gia” vào năm 2018.
 
Baoquangtri.vn ngày 30/3/2023 đưa tin UBND tỉnh: “Phê duyệt nhiệm vụ lập quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi và phát huy giá trị di tích lịch sử quốc gia “Các điểm liên quan đến dinh chúa Nguyễn (1558 – 1626).”
 
“Thông qua quy hoạch này, xác định các nhóm dự án hoàn thành, nhóm dự án ưu tiên trong giai đoạn trung hạn 2023 – 2025, 2026 – 2030 và tầm nhìn đến 2050 …”
 
Trong đó, “… mục tiêu dài hạn là bảo tồn, tôn tạo, phục hồi các yếu tố mang thuộc tính lịch sử gốc của di tích, đồng thời tạo ra một không gian lưu niệm lịch sử nhằm tôn vinh, tưởng niệm về thời kỳ lịch sử các Chúa Nguyễn cũng như tạo ra một khu du lịch mang tính chất lịch sử - văn hóa để kết nối với các di tích lịch sử hiện có ở vùng phụ cận, làm đa dạng, phong phú hơn sản phẩm du lịch Quảng Trị…”
 
*
Như thế, không chóng thì chầy, tỉnh Quảng Trị sẽ có thêm “một khu du lịch mang tính lịch sử - văn hóa”.
 
Sự quan tâm của chính quyền đến vùng đất khơi nguồn sự nghiệp mở cõi phương Nam làm cho lòng tôi dậy lên mừng vui, khiến tôi tìm đọc những tài liệu liên quan.
 
Và khi đọc, tôi lại nảy ra trong trí đôi điều thắc mắc về một vài sự kiện lịch sử, trong đó, có câu sấm: “HOÀNH SƠN NHẤT ĐÁI, VẠN ĐẠI DUNG THÂN” (Một dãi Hoành Sơn – đèo Ngang, dung thân đến muôn đời).
 
*
 
Lời sấm trên, xưa nay, được cho là của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585), một đại nho thông thái không những văn chương mà còn cả lý số, khi Nguyễn Hoàng (1525 – 1613) cho người đến thỉnh ý trước khi vâng mệnh vua Lê chúa Trịnh vào trấn thủ Thuận Hóa năm 1558.
 
Wikipedia, ở mục “Nguyễn Hoàng”, có đoạn:
 
“ … Bàn mưu với bác họ là Nguyễn Ư Dĩ, Nguyễn Hoàng ngầm sai sứ giả tới hỏi Trạng Trình. Nguyễn Bỉnh Khiêm, người làng Trung Am, xứ Hải Dương, đỗ Trạng nguyên triều Mạc, làm đến chức Thái Bảo về trí sĩ, lúc đó đã có tiếng giỏi nghề thuật số. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nhìn cái núi non bộ ở trước sân mà ngâm lớn rằng: Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân, nghĩa là: Một dải núi ngang có thể dung thân muôn đời được. Khi sứ giả về thuật lại câu ấy, Nguyễn Hoàng hiểu ý ngay.”
 
Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, trong thời Nam – Bắc triều (1533 – 1592), sống và làm quan trong vùng do nhà Mạc (Bắc triều) cai trị (từ Ninh Bình trở ra) và rất được nhà Mạc ưu ái, trọng nể; bằng chứng là Ngài được phong tước Hầu (Trình Tuyền Hầu) rồi tước Công (Trình Quốc Công).
 
Còn Nguyễn Hoàng sống trong vùng do chúa Trịnh vua Lê (Nam triều) quản lý (từ Thanh Hóa trở vào).
 
Chúa Trịnh vua Lê và nhà Mạc là địch thủ của nhau, cai trị hai vùng riêng biệt. Làm sao có người từ vùng này sang vùng khác hỏi quốc sự với một vị quan lớn đang phục vụ chính quyền vùng ấy và rất được trọng dụng?
 
Tôi không tin việc Nguyễn Hoàng cho người ra thỉnh ý Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm trước khi vào Thuận Hóa năm 1558.
 
Có nguồn nói lời sấm trên là Nguyễn Hoàng nhận từ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm lúc cho người đến thỉnh ý trước khi về lại Thuận Hóa năm 1600.
 
Nguyễn Khoa Chiêm (1659 – 1736) trong “Nam triều công nghiệp diễn chí” viết:
 
“Năm Canh Tý, niên hiệu Hoằng Định năm đầu (1600), mùa hè, ngày mồng một tháng năm, hữu thừa tướng Đoan quốc công Nguyễn Hoàng thấy tình cảm đối xử của Bình An vương Trịnh Tùng ngày một thưa nhạt, phải tính kế giữ mình, nhưng không nghĩ ra cách gì, bèn sai người đem vàng bạc làm lễ vật đến biếu viên quan nhà Mạc đã hưu trí về làng là Trình quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm để hỏi kế giữ thân, Trình quốc công bèn lấy giấy bút viết tám chữ giao cho người tâm phúc của Nguyễn Hoàng đem về. Đoan quốc công Nguyễn Hoàng mở thư đọc thấy tám chữ: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung nhân” (Nghĩa là “Hoành Sơn một giải, dung thân muôn đời”). Đọc xong, Nguyễn Hoàng trầm ngâm nghĩ ngợi suốt cả một ngày mới chợt hiểu ra. Từ đó chỉ nghĩ cách tìm đường trở về trấn cũ.”
 
Chuyện Nguyễn Hoàng và đoàn tùy tùng từ Thuận Hóa ra Bắc rồi từ Bắc trở lại Thuận Hóa có nguyên cớ như sau:
 
Năm 1592, chúa Trịnh vua Lê từ Thanh Hóa ra đuổi nhà Mạc lấy lại Thăng Long. Năm 1593, Nguyễn Hoàng từ Thuận Hóa cùng đoàn tùy tùng ra Thăng Long mừng và ở lại giúp chúa Trịnh vua Lê dẹp tàn quân nhà Mạc, bình định lãnh thổ. Chúa Trịnh muốn giữ Nguyễn Hoàng ở lại đất Bắc, nhưng Nguyễn Hoàng không muốn và người ta đồn rằng Nguyễn Hoàng cho người hỏi ý kiến Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và được dạy: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân.”
 
Thông tin này cũng vô lý. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm mất từ năm 1585, trước khi mất, chắc chắn phải đau yếu nhiều năm, thân thể mệt mỏi, trí não không còn sáng suốt. Vậy thì chuyện Nguyễn Hoàng cho người vấn ý để trở lại Thuận Hóa năm 1600 không có tính thuyết phục.
 
*
 
“SỬ” là chuyện thật, diễn ra trong quá khứ, “SỬ KÝ” là chuyện xưa do con người thuật lại, ghi chép lại (ký: ghi chép).
 
Sử được chép lại phải qua lăng kính của sử gia. Do trình độ, do thiên kiến, do áp lực, do muốn tuyên truyền, sử gia đã xào nấu lịch sử, vì vậy, sử ký không bao giờ là thật hoàn toàn.
 
“Tận tín thư bất như vô thư” (tin vào sách hoàn toàn thà chẳng có sách còn hơn), tôi nghĩ là chuyện Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm khuyên Nguyễn Hoàng: “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân” là do đời sau bịa ra.
 
Bịa ra làm gì?
 
Khi giữa chúa Trịnh đất Bắc và chúa Nguyễn đất Nam “cơm hết lành, canh hết ngọt”, chúa Nguyễn tạo ra giai thoại để tuyên truyền việc dựng riêng cơ đồ ở Đàng Trong là do Trời định qua lý số từ ông thầy giỏi là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.
 
Hoàng Đằng
05/4/2023
 
READ MORE - “HOÀNH SƠN NHẤT ĐÁI, VẠN ĐẠI DUNG THÂN” – Hoàng Đằng

Sunday, February 26, 2023

MẸ VÀ CON GÁI TRONG VẤN ĐỀ GIÁO DỤC GIỚI TÍNH – Vũ Thị Hương Mai



Đối với con gái, người mẹ là người thích hợp nhất để dạy con về giới tính. Đứa con trai vẫn có thể thổ lộ với mẹ những điều thầm kín, nhưng đứa con gái sẽ khó nói với cha về những sự thay đổi khi đến tuổi dậy thì. Sẽ là thiếu sót của người mẹ nếu không giải thích trước cho con, hoặc ít nhất cũng là vào lúc này, để con biết trước hiện tượng thay đổi sinh lý của cơ thể. Nhiều bạn gái lần đầu tiên thấy kinh đã rất hốt hoảng tưởng mình mắc bệnh là do không biết chuyện gì đang xảy đến bên trong cơ thể. Đối với con gái, đến tuổi này thường nhạy cảm và kín đáo hơn. Đến tuổi này, con trai thích được bố mẹ nhìn mình và cư xử với mình như một người đàn ông. Con gái cũng có tâm lý muốn trở thành người lớn, nhưng với mẹ dường như vẫn có cảm giác mình bé bỏng và thích được mẹ vỗ về, nũng nịu. Điều đó sẽ có cơ hội cho mẹ con gần gũi nhau hơn, nhưng nếu người mẹ thờ ơ sẽ là khoảng cách càng xa dần trong tình cảm của cô con gái mới lớn. Ngay từ nhỏ, con gái vẫn thường quấn quýt mẹ hơn, lớn lên vẫn vậy, tuy nhiên chúng đã bắt đầu có khoảng riêng của mình về tình yêu nam nữ. Nhất là các em gái ở tuổi 15 - 18 tuổi, những rung cảm đầu đời rất mãnh liệt, các em thậm chí dám hy sinh vì người con trai mình yêu thích. Tâm trạng khá thất thường, không ổn định, có khi đang nóng nảy, phóng túng rồi lại nhút nhát, ủy mị được ngay. Đặc biệt, ở tuổi này, các em gái rất ưa làm dáng, thích mình đẹp hơn các bạn gái khác trong mắt các chàng trai. Nếu người mẹ tinh tế, có thể nhận ra những sự thay đổi đó ở con gái mình. Nhưng không nên mắng chửi và tách chúng khỏi những người bạn trai. Vấn đề là người mẹ phải hết sức tế nhị trong vấn đề giới tính, tình dục, tình yêu khi giảng giải cho con gái: người mẹ cần phải giúp con gái mình nhận thức đúng đắn về tình yêu. Tình yêu chân chính trước tiên là sự thông cảm, hiểu nhau trong tâm hồn, là sự hòa hợp giữa hai trái tim, là sự gắn kết và sở hữu tinh thần lẫn nhau. Nhưng ở lứa tuổi này, tình yêu của các em chưa thể đạt đến chân lý đó, nó mới chỉ là những cảm nhận đầu tiên chưa sâu sắc, mới chỉ là thích mà chưa phải là yêu. Nếu giữ gìn được tình cảm này cho đến những năm sau, rất có thể sẽ phát triển nó thành tình yêu chân chính thực sự. Đó là điều khó khăn đối với các em, nhưng trách nhiệm đó một phần thuộc về người mẹ. Quan niệm của người mẹ về bố hay về đàn ông nói chung có ảnh hưởng mạnh mẽ tới thái độ của con gái. Chính vì thế, người mẹ có ảnh hưởng rất đến việc định hướng và giáo dục con về vấn đề giới tính. Người mẹ không nên giấu giếm những gì liên quan đến giới tính mà ở lứa tuổi này, các cô gái đã có đủ sự nhận thức để hiểu về nó. Quan trọng là cách giáo dục của người mẹ như thế nào để con gái nhận thấy đâu là đúng, đâu là sai và ở tuổi các em nên và không nên làm những việc gì. Hơn ai hết mẹ là người cần giải thích cho con gái hiểu cái quý giá nhất về phẩm hạnh của người con gái là chữ “trinh”. Người mẹ cần phải chia sẻ với con gái thiên chức làm mẹ, cho con gái hiểu điều đó cao quý và thiêng liêng như thế nào và luôn phải giữ gìn. Hãy cho con gái biết về vấn đề tình dục và hôn nhân gia đình bằng hình ảnh của chính gia đình mình. Có một gia đình hạnh phúc, hòa hợp thì người phụ nữ đóng vai trò quan trọng hơn cả. Còn người cha là người gánh vác trách nhiệm trụ cột gia đình, người cha sẽ phải vất vả hơn ngoài xã hội để lo kinh tế gia đình. Còn người mẹ tuy cũng gánh vác trách nhiệm ngoài xã hội, song chăm sóc gia đình cũng quan trọng không kém. Hạnh phúc cần sự chịu đựng thực sự, cần sự chung thủy, cần tôn trọng tình cảm của bản thân và gia đình.
 
Nhận thức và trải nghiệm về giới trong thời kỳ này có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống gia đình sau này của con. Người mẹ cần trang bị cho con gái những kiến thức cơ bản cần thiết về vấn đề giới tính, tình dục. Cho con một sự nhận thức đúng đắn về giới tính là lường trước mọi sự nguy hiểm đối với con. Con gái sẽ ý thức được trách nhiệm với bản thân, biết tự bảo vệ mình. Cũng như với con trai, người mẹ cần ý thức giáo dục giới tính cho con gái ngay từ khi còn nhỏ. Giáo dục sớm về giới tính có thể tạo ra cảm giác tự nhiên giữa mẹ và con gái khi đề cập đến vấn đề giới sâu sắc ở tuổi dậy thì. Có thể, ở tuổi này, người mẹ nên giáo dục giới tính, tình dục cho con gái bắt đầu từ hiện tượng kinh nguyệt. Để con gái thấy rằng đó không phải là cái gì dơ bẩn, mà rất quan trọng đối với người phụ nữ. Việc làm vợ, sinh con cũng sẽ bắt đầu từ đó. Dạy con gái biết cách giữ gìn vệ sinh trong những ngày kinh nguyệt. Hãy nói với con gái cảm giác của mẹ thời ở tuổi con cũng vậy, chia sẻ bí mật với con gái, lắng nghe tâm sự của con gái, để con gái thấy rằng thời kỳ dậy thì là mở đầu niềm vui khi mình bắt đầu làm người lớn. Cũng cần phải giải thích cho con hiểu, nếu có quan hệ trước hôn nhân và khi còn đi học thì các em sẽ tự chuốc lấy đau khổ suốt đời và đánh mất tương lai tốt đẹp của mình. Ngoài ra, quan hệ tình dục trước hôn nhân còn có nguy cơ mắc các bệnh về đường sinh dục và sự nguy hại của bệnh AIDS.
 
Quan niệm về giới tính mà các em gái hình thành khi ở thời kỳ này sẽ ảnh hưởng sâu sắc tới hạnh phúc và hành vi của chúng. Thông qua sự hướng dẫn, dạy dỗ thân tình của người mẹ sẽ giúp con gái hiểu rằng, thân thể của chúng chỉ thuộc về chúng, chúng phải chịu trác nhiệm về nó. Biết trân trọng thân thể của mình, biết yêu lấy chính mình, hiểu được tình cảm của mình các em gái sẽ biết cách ứng phó với mọi tình huống, có cách nhìn nhận nghiêm túc về vấn đề tình yêu, quan hệ tình dục thật nghiêm túc.
 
Giáo dục giới tính cho con gái một cách thẳng thắn, chân thực và nghiêm túc chính là bước chuẩn bị an toàn cho hạnh phúc gia đình sau này của con gái mình.
 
VŨ THỊ HƯƠNG MAI
 
Địa chỉ: Khu tập thể Tổng công ty 319, Long Biên - Hà Nội.
Email: huongmai8081@yahoo.com.vn
 
READ MORE - MẸ VÀ CON GÁI TRONG VẤN ĐỀ GIÁO DỤC GIỚI TÍNH – Vũ Thị Hương Mai

Wednesday, February 22, 2023

NHẠY CẢM GIỚI TÍNH Ở TUỔI MỚI LỚN – Vũ Thị Hương Mai



Thanh thiếu niên bước vào thời kỳ phát dục, hình dáng cơ thể, tâm sinh lý, nội tiết đều dần dần biến đổi. Lại chịu ảnh hưởng của các nhân tố xã hội khác khiến họ bắt đầu nhạy cảm về “giới tính”. Họ bắt đầu thích tìm hiểu qua sách báo, phim ảnh những vấn đề liên quan đến giới tính trong tiểu thuyết, nhìn thấy những cặp tình nhân ôm ấp nhau trong công viên trên phim, một bức ảnh gợi tình trên trang báo, một đoạn miêu tả về sinh hoạt giới tính trong tiểu thuyết, nhìn thấy những cặp tình nhân ôm ấp nhau trong công viên… đều gợi cho họ tự nhiên có ý thức về giới tính nhưng không hiện hữu rõ ràng mà còn rất mông lung, mờ ảo.
 
Thời kỳ dậy thì là thời kỳ manh nha giới tính, nên có những biểu hiện đặc biệt nhạy cảm về “tính”. Sự phát dục tâm lý giới tính thời kỳ này thường phải qua ba giai đoạn, đó là: thời kỳ phân cảm giới tính mà xa lánh người khác giới; thời kỳ cảm tình với người khác giới và thời kỳ luyến ái lãng mạn.
 
Khi ở vào thời kỳ xa lánh người khác giới, rất nhạy cảm với sự khác biệt giới tính. Họ xa lánh nhau, có thái độ lạnh nhạt với đối phương. Thậm chí thời tuổi nhỏ chơi rất thân với nhau, nhưng đến giai đoạn này, họ không còn chơi với nhau vô tư như trước, mà đã biết ý tứ mình nam, là nữ, có sự khác biệt về giới tính thì phải giữ gìn, “nam nữ thụ thụ bất thân”.
 
Qua thời kỳ xa lánh, chuyện sang thời kỳ cảm tình. Lúc này giữa nam và nữ hình như có sức hút nội tại khiến họ muốn xích lại gần nhau hơn. Trong sâu thẳm tâm hồn, họ nuôi thành giấc mơ lãng mạn, mong được người đó hiểu và tôn trọng mình, chọn làm “ý trung nhân”. Trong sinh hoạt tập thể, biết tìm cách để người khác giới chú ý đến mình, không thích bị chỉ trích, phê bình trước mặt người khác giới, nhất là người mình thích. Trên cơ sở cảm tình tốt có thể phát triển thành tình yêu. Thường thì trong thời kỳ này, tự bản thân không biết người khác giới đó có tình cảm với mình không, nhưng nếu phải nói ra thì không dám và rất xấu hổ. Chính vì thế mà thấy mình đau khổ. Do sức ép của dư luận xã hội, gia đình, họ không dám đem ý nghĩ yêu đương để thổ lộ. Dù cho như vậy cũng không thể ngăn nổi tình cảm dành cho người khác giới và mong được tìm hiểu về người đó. Đặc trưng của giai đoạn này là tình yêu tập trung vào người khác mà mình thích, còn sự quan tâm dành cho người khác giảm đi rõ rệt. Chỉ thích có cơ hội được tiếp xúc riêng với người mình thích, không thích tụ tạp đám đông, tình bạn vì thế có phần thu hẹp lại.
 
Tình yêu ở lứa tuổi này rất nồng cháy nhưng nông nổi, bồng bột. Lúc nào cũng muốn gặp người mình thương nhớ và sao nhãng cả việc học hành. Có lúc rõ ràng rất thích, rất muốn gặp người đó, nhưng do lòng tự trọng và hoàn cảnh khách quan mà đã vô tình hay cố ý tỏ ra không mặn mà hoặc làm ra vẻ né tránh. Vì thế mà sinh ra nỗi khổ tâm về tình yêu.
 
Càng kìm nén, tình cảm càng mãnh liệt. Đó là tâm lý mâu thuẫn, trái ngược. Một biểu hiện tâm lý đặc trưng ở lứa tuổi mới lớn. Khi sự kìm nén ấy xung đột với quy luật sinh vật học, do thiếu sự hướng dẫn chính xác và năng lực tự điều tiết, nó khiến con người ta rơi vào cảnh buồn phiền, lo lắng. Kết quả là hình thành một trạng thái đối kháng giữa dục vọng sinh học với quy phạm xã hội nên sinh ra nhạy cảm giới tính.
 
Vấn đề nhạy cảm giới tính tuy là một biểu hiện tâm lý tự nhiên khi đến tuổi dậy thì. Nhưng nếu nó chỉ dừng lại ở mức độ cảm tính và sau đó lại trở về trạng thái cân bằng về tâm lý thì cha mẹ không đáng lo ngại. Nhưng nếu quá đà, ảnh hưởng đến việc học tập thì lại trở thành vấn đề đòi hỏi cha mẹ có biện pháp ngăn chặn kịp thời.
 
Vậy thì cha mẹ phải làm thế nào để dự phòng được nhảy cảm giới tính đi quá xa khi con mình đến tuổi dậy thì. Có lẽ, biện pháp hữu hiệu nhất là giáo dục giới tính trực tiếp cho con ngay từ khi chưa bước vào giai đoạn này. Những kiến thức cơ bản về giới tính như di tinh, mộng tinh ở con trai; kinh nguyệt ở con gái; vấn đề kết hôn, sinh con… cần được giáo dục một cách nghiêm túc cho con ngay từ khi con mới lên 10 tuổi. Như vậy, khi con bước vào giai đoạn biến đổi tâm sinh lý ở tuổi dậy thì sẽ không phải đối mặt một cách mơ hồ với những vấn đề thuộc về giới tính. Cho nên, muốn xử lý tốt vấn đề nhạy cảm giới tính ở lứa tuổi dậy thì, các bậc phụ huynh cần phải tiến hành giáo dục con cái từ 3 phía: thứ nhất là kiến thức cơ bản về sinh lý giới tính; thứ hai đặc trưng tâm lý của con thời dậy thì; thứ ba là giáo dục ý thức xã hội và đạo đức về giới tính.
 
Khi có vấn đề về nhạy cảm giới tính, nhưng do tâm lý khép kín các em rất ít thổ lộ với cha mẹ, người lớn, chúng cứ để mặc nó tự nhiên phát tiết và tăng trưởng trong sự ức chế, hoặc chúng chỉ có thể tâm sự với cuốn nhật ký, hoặc hạn hữu lắm chúng mới thổ lộ với bạn bè thân. Chính vì vậy cần phải luôn để mắt, quan tâm đến con mình để xử lý kịp thời những vấn đề quá đà của con liên quan đến giới tính.
 
 
VŨ THỊ HƯƠNG MAI
Địa chỉ: Khu tập thể Tổng công ty 319, Long Biên - Hà Nội.
Email: huongmai8081@yahoo.com.vn
 
READ MORE - NHẠY CẢM GIỚI TÍNH Ở TUỔI MỚI LỚN – Vũ Thị Hương Mai

Tuesday, January 31, 2023

TẢN MẠN VỀ RƯỢU NHO (1) – Nguyên Lạc

                                   (Kỳ 1)

Theo chữ tượng hình của Trung Quốc, chữ rượu là Tửu 酒 gồm 2 bộ ghép nhau: bộ Thuỷ 氵 – là nước, ghép với bộ Dậu 酉 – là rượu lên men. Vậy Tửu có nghĩa là rượu lên men được cất bằng nước mà thành.
 
Nhiều nhà nghiên cứu khoa học trên thế giới cho rằng Rượu là một phát minh vĩ đại của con người, sau Lửa.
Chưa có bằng chứng khoa học nào biết được chính xác thời gian, nhưng có một điều chắc chắn là rượu đã có từ rất lâu, ngày càng phát triển và trở thành nét văn hóa độc đáo không thể thiếu của nhân loại. Các bằng chứng khảo cổ học đầu tiên về sản xuất rượu, nguồn gốc của rượu được tìm thấy cách vài nghìn năm trước công nguyên. Tại các địa điểm: Iran (5000 năm trước Công nguyên), Hy Lạp (4500 năm trước Công nguyên), Cộng hòa Armenia (4100 năm trước Công nguyên)… đây là nơi mà các nhà máy rượu lâu đời nhất được phát hiện.
Trên thế giới, không có đất nước nào mà không có rượu. Rượu tồn tại, đồng hành cùng nhân loại.
 
RƯỢU TRONG NHẠC:
Bài nhạc chúc xuân này chắc hẳn ai cũng biết:
“Ngày xuân nâng chén ta chúc nơi nơi/Mừng anh nông phu vui lúa thơm hơi
Rượu hân hoan mừng đôi uyên ương/Xây tổ ấm trên cành yêu đương/Nào cạn ly, mừng người nghệ sĩ/Tiếng thi ca nét chấm phá tô thêm đời mới…
Hãy chúc ngày mai sáng trời tự do…/ Muôn người hạnh phúc chan hoà”
(Ly rượu mừng – Phạm Ðình Chương)
 
RƯỢU TRONG THƠ:
 
Dục phá sầu thành tu dụng tửu
Tuý tự tuý đảo sầu tự sầu
(Vịnh sầu tình – Nguyễn Công Trứ)
 
Muốn phá thành sầu phải dùng rượu,
(Nhưng) Say tự say gục, (mà) sầu vẫn cứ sầu.
 
Hay:
 
Cảnh đời gió gió mưa mưa
Buồn trông, ta phải say sưa đỡ buồn
Rượu say, thơ lại khơi nguồn
Nên thơ rượu cũng thêm ngon giọng tình
Rượu thơ mình lại với mình
Khi say quên cả cái hình phù du
Trăm năm thơ túi rượu vò
Nghìn năm thi sĩ, tửu đồ là ai?
(Thơ rượu -Tản Đà)
 
Hay:
 
Say đi em, say đi em
Say cho lơi lả ánh đèn
Cho cung bậc ngả nghiêng điên rồ xác thịt
Rượu, rượu nữa, và quên, quên hết
…
Em ơi lửa tắt bình khô rượu
Ðời vắng em rồi say với ai!
(Đời vắng em rồi say với ai – Vũ Hoàng Chương)
 
Thơ “Trung niên thi sĩ”:
Uống xong ly rượu cuối cùng
Bỗng nhiên chợt nhớ đã từng đầu tiên
Uống như uống nước ngọc tuyền
Từ đầu tiên mộng tới phiền muộn sau
Uống xong ly rượu cùng nhau
Hẹn rằng mai sẽ quên nhau muôn đời…
…
Một tập thơ sầu ngâm sảng sảng
Vài nai rượu kếch ních tỳ ty
Chết về Tiên Bụt cho xong kiếp
Đù ỏa trần gian! sống mãi chi
(Thi tập Như sương – Bùi Giáng)
 
Và bài thơ rượu buồn sau đây:
 
Rượu mời ta rót cho ta
Bạn gần không tới bạn xa chưa về
Rót nghiêng năm tháng vào ly
Mắt nheo bóng xế tay che tuổi buồn
Rót đầy băng giá cô đơn
Rót thao thức nhớ, rót hờn giận quên
Thôi, đừng. Thôi hãy nằm yên
Ngủ ngoan đi nhé cơn điên thuở nào
Rót ta với bóng cùng nhau
Ngất ngư rót mãi tỉnh vào cơn say
(Đêm cuối năm uống rượu một mình – Thanh Nam)
 
RƯỢU TRONG VĂN:
 
Mời đọc trích đoạn lý thú này, của thi sĩ Trần Mộng Tú: “Nước mắt của rượu”:
 
[… Tôi lắc khẽ phần rượu trong ly, chiếc ly thủy tinh mỏng, trong suốt và rộng miệng, nhìn mầu đỏ bám vào thành ly rồi trôi nhè nhẹ xuống đáy ly, ngẫm nghĩ: những người có tâm hồn tài tử đã văn chương hóa, gọi là: “Nước mắt của rượu” (wine tears). Những giọt nước mắt hồng, thật là đẹp!
Tôi nhớ một câu thơ trong bài Chào Nguyên Xuân của Bùi Giáng: “Xin chào nhau giữa làn môi/ Có hồng tàn lệ khóc đời chửa cam…” mang ra đọc lúc này là đúng nhất.
Thật ra, người sành rượu chỉ nhìn sự đậm đặc của những giọt lệ rượu này có thể đoán được độ cồn của nó.
Nhưng tôi thích hương thơm và màu sắc của rượu nho. Màu đỏ của rượu nho đẹp và thơ mộng. Rượu nho gây cảm hứng cho thơ hay nói một cách khác: thơ ở trong rượu nho.
Tôi nhớ một thi sĩ Nhật nào đó đã nói: “Thơ là rượu bốc hơi”. Và thi sĩ người Tô Cách Lan, Robert Louis Stevenson cũng cùng một ý tương tự: “Rượu là thơ đóng chai (Wine is bottled poetry.)
Thấy chưa! Hai thứ đó phải đi với nhau.
Đối với tôi, hai cái quý nhất của rượu nho là hương thơm và mầu sắc, nó đẹp như những vần thơ. Một câu thơ hay khi đọc lên ta có cảm tưởng ngửi được hương thơm của thơ và nhìn thấy mầu của câu thơ ửng hiện.
Thi sĩ, văn sĩ Việt cũng mang rượu vào văn chương nhiều lắm. Và họ đã cho ta thấy từ ngày trước thi sĩ đã đặt phụ nữ ngang hàng với rượu hay cũng vì phụ nữ mà rượu thêm say. Nhờ đó ta thấy đúng là: Rượu, thơ, tình yêu và phụ nữ đã đi chung với nhau trong nhiều chặng đường của đời sống. Hay nói một cách khác những thứ này cùng có một sức quyến rũ như nhau và làm cho đàn ông hệ lụy.
Nói về thơ và rượu thì vô cùng tận. Có thể viết đến cả trăm trang giấy cũng không đủ, tôi nhớ câu nói chơi chữ của ông Thi sĩ lừng lẫy người Pháp, Charles Baudelaire:“Người yêu là một chai rượu, vợ là một cái chai đựng rượu” (Sweetheart is a bottle of wine, a wife is a wine bottle). Nó khác nhau ở chỗ chai rượu chắc chắn là có rượu trong đó, uống nó cho ta ngây ngất. Còn chai đựng rượu chưa chắc đã đựng rượu, nó có thể dùng để đựng một thứ khác như nước lạnh, dấm,…hoặc chai không.
Mặc dù câu ví von này nghe hay nhưng hơi bất công, bạc bẽo với vợ. Cái chai rượu thành chai không cũng do chàng uống hết chứ ai.
Đẹp nhất vẫn là hình ảnh của “Những giọt nước mắt hồng” ai đó đã hình dung ra khi nhìn những giọt rượu nho đỏ lăn nhè nhẹ từ thành ly xuống đáy.
Như cả một câu thơ đang từ từ trôi xuống, như những giọt lệ của một mối tình.
Nhớ không em những giọt rượu trên môi
đã để lại trong anh những giọt nước mắt hồng
em có về xin cúi nhặt những mảnh thủy tinh
trái tim anh, chiếc ly đã vỡ…]
(Trần Mộng Tú)
 
RƯỢU TRONG TIẾU LÂM:
 
Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu
Thoại bất đồng tâm bán cú đa
 
Dịch nghĩa
 
Gặp người tri kỷ ngàn ly rượu cũng thiếu
Nói chuyện không hợp nửa lời cũng nhiều
 
– “Thoại bất đồng tâm bán cú đa”:
Xạo hoài ông thần, xưa rồi. Bây giờ phải “ngôn” như thế này:
 
“Thoại bất đồng tâm… cũng hổng sao”
(Nói chuyện không hợp… cũng hổng sao)
- Đây là “châm ngôn” của các ông bán hàng (Dealer) nhờ đó các ông thần này mới “móc túi” người được, phải không?
– “Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu”:
Thiên là trời, “bôi thiểu” nói lái là “biểu thôi”:
“Thiên bôi thiểu” là “trời biểu thôi” phải không? Uống rượu nhiều, không thôi sẽ hao tổn tiền bạc, có hại cho sức khoẻ, và nhiều khi còn toi mạng vì lái xe, vì ngộ độc, vì “chết trên lưng ngựa” phải không các ông thần? Đừng “thiên bôi thiểu” nữa nha.
 
RƯỢU TRONG GIAO TIẾP XÃ HỘI:
 
Rượu đã xuất hiện từ lâu trong đời sống của người Việt và trở thành một nét văn hóa trong văn hóa Việt. Mặc dù chưa có một cuốn sách chuyên khảo nào bàn về văn hóa rượu. Nhưng nhìn chung, rượu đã hiện hữu trong cuộc sống của người Việt từ lâu, những tác dụng và ảnh hưởng của rượu đến con người đã được biết tới từ rất sớm. Trong nghi lễ của người Việt, nghi lễ dâng rượu đã trở thành phổ biến, mang tính chất bắt buộc và hết sức thiêng liêng. Từ nghi lễ gia đình đến những nghi lễ ở cộng đồng làng xã hoặc quy mô quốc gia, dân tộc chúng ta không thể bỏ qua nghi lễ dâng rượu cúng các vị thần linh, tiên tổ. Trong quan niệm dân gian, chúng ta cũng thường nghe nói: “Vô tửu bất thành lễ”. Điều đó chứng tỏ rằng rượu đã hằn sâu trong tâm linh, tín ngưỡng người Việt. Rượu dùng để dâng cúng thần linh vào những ngày lễ Tết, rượu cũng được sử dụng trong những dịp hội làng, những ngày lễ tổ. Rượu (cùng với cau trầu) là lễ vật bắt buộc khi cưới hỏi. Kể cả trong sinh hoạt thường ngày, chén rượu để kết giao, để tìm bạn tri kỷ, giúp cho ta vơi đi những nỗi sầu nhân thế.
 
Hoàng đế Pháp Napoléon Bonaparte từng nói: “Khi chiến thắng bạn xứng đáng được thưởng một chai Champagne. Khi thất bại thì bạn thực sự cần đến nó”.
 
– RƯỢU TRONG THẦN THOẠI HY LẠP:
 
                       (Ảnh Dionysus: thần rượu nho)
 
Dionysus (Thần thoại La Mã gọi là Bacchus) là vị thần Rượu Nho. Thần chính là con trai của thần Zeus và công chúa người trần Semele, con gái vua Cadmus sáng lập ra thành Thebes.
Khi có thai với thần Zeus, công chúa Semele nghe theo lời xúi giục của nữ thần Hera (vợ của thần Zeus) nài nỉ xin Zeus cho nàng nhìn thấy dung nhan thật của vị Thần oai quyền nhất vũ trụ. Nàng Semele có lẽ đẹp thật, nhưng cũng ngốc thật. Tin ai không tin, lại đi tin Hera, vợ chính thức của thần Zeus – nữ thần quyền năng nhất Olympus – và Hera “rạng danh” nhất cũng là nhờ tính ghen của mình.
 
Vì không thể thuyết phục được Semele, thần Zeus đã lộ rõ sức mạnh và quyền uy của mình và hiện nguyên hình là vị thần Sấm Sét, hào quang cũng như sấm chớp của ông sắp sửa thiêu cháy Seleme – đang nằm trên giường háo hức muốn nhìn thấy dung nhan thật của người yêu – bởi vì nàng chỉ là người trần, làm sao chịu nổi. Ngay lúc đó, thần Zeus đã kịp thời đưa đứa bé ra khỏi bụng nàng, rồi khâu vào đùi của mình. Và thế là một thời gian sau, Dionysus được sinh ra từ đùi của cha mình.
 
Để tránh cơn ghen tuông của Hera, thần Zeus đem giao đứa bé cho các nữ thần Thời Khắc và Sơn Thủy nuôi dưỡng ở thung lũng Nyse (nơi ngày xưa thần Zeus cũng đã được chăm sóc nuôi lớn ở đây khi mới chào đời). Cậu bé được đặt tên là Dionysus, và sống vui vẻ giữa các nàng tiên cho đến khi thành một chàng trai khoẻ mạnh.
 
Một ngày nọ, các tiên nữ đi hái nho về, cho tất cả vào chậu lớn. Dionysus trong lúc với tay lên lấy đồ ở trên giá, chàng vô tình giẫm vào chậu nho và làm nát khá nhiều nho. Chàng không biết nên làm thế nào, liền giấu lại trong hang rồi ra về. Vài ngày sau, chàng quay trở lại thì thấy có một mùi rất thơm toả ra từ chậu nho bị giẫm nát hôm trước. Khi uống nước nho vào thì có cảm giác sảng khoái và nước cũng rất ngon. Dionysus rất thích thứ nước đó và đặt tên nó là rượu nho. Chàng quyết định sẽ làm cho cả thế giới phải tôn vinh nó.
 
Dionysus đi khắp nơi, đi đến đâu, ngôi làng nào ông cũng đều chỉ dạy cho người cách trồng nho và cất rượu, đem lại cho loài người sức mạnh và niềm vui sảng khoái. Dần dần, rượu nho được sử dụng cho các bữa tiệc, mọi tầng lớp giai cấp đều yêu thích loại rượu này. Đến cả các vị thần cũng đã chú ý đến rượu nho và tài năng của Dionysus được công nhận, ông được cha, là thần Zeus đón về đỉnh Olympus và trở thành một trong 12 vị thần trên đỉnh Olympus. Trong số 12 vị thần này, thần Dionysus là người có tầm ảnh hưởng lớn đối với đời sống tinh thần của người Hy Lạp cổ đại.
 
– TRUYỀN THUYẾT XỨ BA TƯ (IRAN):
 
Theo truyền thuyết, một ông vua xứ Ba Tư đã vô tình để quên các chùm nho trong một vại sành, trên nắp có đề chữ “Độc dược”. Một bà vợ kế của vua, vì bị ruồng bỏ, đã quyết định tự kết liễu đời mình. Bà tìm ra chiếc vại sành nói trên và lấy nước nho ra uống, lầm tưởng đó là độc dược. Bà không những không chết mà còn cảm thấy sảng khoái: Rượu vang đã ra đời như vậy theo truyền thuyết.
 
*
Trước khi vào bài, mời độc giả đọc trích đoạn này cho vui:
 
“Rượu có từ hồi nào? Có người cho rằng rượu có từ thời đá mài (neolithic). Nhằm nhò gì, mới đây (1975), người ta còn phát hiện cả tỉ tỉ rượu trong đám mây ở trung tâm dải Ngân Hà, có điều thiên tửu vô biên này cách trái đất chừng 30.000 năm ánh sáng. Còn tôi, tôi nghĩ khác, đơn giản mà chắc ăn hơn, có cỏ cây hoa quả là có rượu. Chẳng phải những trái cây chín mọng sẽ lên men rượu đó sao?
 
Vậy ai là người uống rượu đầu tiên? Có người dựa vào Kinh Thánh để nói rằng, đó là ông Noah thoát nạn trên một con tàu trong trận Đại hồng thủy, đã tình cờ chế được rượu nho và uống say bí tỉ. Tôi cũng nghĩ khác luôn. Chính ông Adam là người đầu tiên uống rượu. Adam nghe lời xúi (dại) của bà Eva ăn trái cấm, gây biết bao phiền toái cho con cháu đời sau. Cái này Kinh Thánh chép, chứ không phải tôi bịa.
 
Nhưng tôi cứ tự hỏi, một đấng trượng phu dám cắt phăng cái xương sườn của mình để đổi lấy niềm hoan lạc lứa đôi như ngài Adam, tổ tiên loài người, chẳng lẽ lại nghe lời đàn bà xúi bẩy? Dù gì thì Adam cũng là đứa con đầu tiên của Thượng đế đâu dễ gì nhẹ dạ như thế. Vườn Địa đàng đầy hoa thơm cỏ lạ, trái cây mơn mởn… Eva chắc (chắn) đã chuốc rượu cho Adam (lả lơi mời mọc Adam ăn trái chín lên men). Khổ thân ngài Adam, ngà ngà rồi thì trái cấm cũng như trái… xoài, đâu còn ngán ai nữa mà không dám ăn. Tôi ngờ rằng Kinh Thánh chép thiếu đoạn này, hay tam sao thất bổn gì đó.
 
Con cháu Adam muôn đời sau vẫn không rút ra được bài học của tổ tiên, uống rượu là cứ phụ nữ kè kè bên hông…”
(Huynh đệ tương phùng ba chén rượu – Vũ Thế Thành)
 
Chí lý! Tui bái phục sư phụ Vũ, đúng là lời vàng tiếng ngọc, “uống rượu là cứ phụ nữ kè kè bên hông”! Nhưng Rượu và Sắc phải luôn đi đôi với nhau chớ, do đó mới có thành ngữ Tửu Sắc, phải không?
 
* * *
Rượu nho được làm từ quả nho. Từ nước ép quả nho, khi ủ ta được rượu Vang (tiếng Pháp: Le vin), chưng cất ta được rượu Brandy. Tác giả sẽ lần lượt cung cấp vài điều cơ bản về rượu Vang và rượu Brandy.
Mời các bạn bước vào “khu vườn Rượu nho” rồi thưởng thức “Cam lồ thủy”.
 
(Còn tiếp nhiều kỳ)
 
Nguyên Lạc

READ MORE - TẢN MẠN VỀ RƯỢU NHO (1) – Nguyên Lạc