Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Đỗ Tư Nghĩa. Show all posts
Showing posts with label Đỗ Tư Nghĩa. Show all posts

Sunday, September 13, 2026

NHỚ ANH ĐỖ TƯ NGHĨA: CÓ NHỮNG CƠN MƯA TRONG LÒNG PHỐ NHỎ - Bài viết của TRẦN NGỌC TRÁC

 

Nhà thơ, nhà giáo, dịch giả ĐỖ TƯ NGHĨA (1947 – 2021)


NHỚ ANH ĐỖ TƯ NGHĨA

CÓ NHỮNG CƠN MƯA TRONG LÒNG PHỐ NHỎ

Bài viết của TRẦN NGỌC TRÁC



Lời tác giả: 

Cách đây 5 năm, đúng vào ngày này (16.09.2021), Nhà thơ, nhà giáo, dịch giả Đỗ Tư Nghĩa – một người yêu Đà Lạt đặc biệt – đã trút hơi thở cuối cùng. Anh quyết định ở lại Việt Nam, ở lại với Đà Lạt và không chịu rời đi. Anh yêu Đà Lạt, anh yêu Việt Nam bằng một trái tim nồng cháy, và không ai có thể ngăn cản ý nguyện của anh. Xin được thắp một nén nhang thơm hướng về anh, và xin đăng lại bài viết về anh.

@

Khúc dạo đầu: Sương mù Đà Lạt & bóng hình kẻ ở lại

Tôi chưa bao giờ giấu giếm niềm tiếc nuối khi chứng kiến Đà Lạt ngày một phình to, mở rộng diện tích ra mãi tận những vùng ngoại ô xa xôi. Trong ký ức và tâm tưởng của riêng tôi, Đà Lạt vốn dĩ phải là cõi đi về riêng tư của bao lứa đôi hò hẹn, là chốn gửi gắm những lời tình tự ngọt ngào dưới hiên vắng, là đêm nằm nghe giọt mưa buồn rơi rụng trên mái tôn, và là những khoảng không lãng đãng trong sương buông mờ ảo. Đà Lạt trong bản chất sâu xa nhất của nó là sự tĩnh lặng, là niềm an ủi vỗ về gần gũi với những kẻ cô đơn, những tâm hồn ưa thích tìm về sự yên bình sâu thẳm trong suy nghĩ.

Biết bao nhiêu thế hệ văn nghệ sĩ lừng lẫy đã từng dừng chân ghé lại nơi này. Họ đến, hít thở làn sương lạnh, viết nên những giai điệu, những vần thơ hay những bức tranh để lại cho đời, rồi lại lặng lẽ thu vén hành lý ra đi. Với họ, Đà Lạt dường như chỉ là một quán trọ dừng chân trên chặng đường thiên lý. Mấy ai trong số những tài năng ấy chịu chọn mảnh đất cao nguyên gập gềnh này làm nơi định cư trọn đời?

Nhà thơ, nhà giáo, dịch giả Đỗ Tư Nghĩa chính là một ngoại lệ hiếm hoi và kiên định đến kinh ngạc.

Nhớ về anh, hình ảnh đầu tiên hiện lên trong tôi luôn là một vóc dáng thật đặc biệt: người thấp, gầy, bé nhỏ, tay chân khẳng khiu tưởng như chỉ một cơn gió núi thổi qua cũng đủ làm anh chao đảo. Thế nhưng, ẩn đằng sau cái dáng hình gầy guộc ấy lại là một đôi mắt sáng quắc tâm hồn và một nụ cười rạng rỡ, ấm áp đến lạ kỳ. Anh có rất nhiều bạn bè, nhưng phần lớn trong số đó là những tâm hồn đồng điệu trong giới văn nghệ sĩ - những con người biết trân trọng cái đẹp và sự chân thành thuần khiết ở anh.

@

1. Nguồn cội xứ Thanh & tuổi trẻ nặng nợ triết lý

Nhìn Đỗ Tư Nghĩa sống đạm bạc và gắn bó sâu nặng với sương giăng dốc mù Đà Lạt, ít ai biết rằng mạch nguồn gốc rễ của anh lại đằm thắm phù sa miền Trung nắng gió và trầm tích lịch sử gia phong. Theo lời người anh trai ruột của anh là Đỗ Tư Nhơn kể lại, nguyên quán gốc gác của gia đình anh vốn thuộc làng Cui, xã Tuy Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa.

Gia tộc anh vốn có truyền thống đạo lý thương người và hiếu học. Ông cố của anh ngày xưa làm chức quan Đề Lại đời Tự Đức thứ 13 - một bậc sĩ phu danh giá có uy đức trong vùng. Hiện nay, cụ cố vẫn được dân làng phụng thờ trang trọng tại đền Nghè Cáy - một di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh nổi tiếng từ xưa cho đến tận ngày nay. Dòng máu gia phong ấy theo bước chân người cha của anh là cụ Đỗ Nguyên Thiệu đi vào đất Quảng Trị năm 1938, đậu diplome, đảm nhận chức vụ thừa phái tại dinh Tuần Vũ đóng ngay trong lòng Thành Cổ Quảng Trị lịch sử.

Năm 1946, chiến tranh nổ ra, Việt - Pháp bắn nhau, rủi ro đến với gia đình, khi cụ thân sinh của anh đang nằm điều trị tại Bệnh viện Huế bị đạn pháo và trút hơi thở cuối cùng.  Lúc ấy, người anh trai Đỗ Tư Nhơn mới vừa tròn ba tuổi, còn cậu út Đỗ Tư Nghĩa vẫn đang nằm trong bụng mẹ. Đỗ Tư Nghĩa cất tiếng chào đời vào ngày 12 tháng 1 năm 1947 tại làng ngoại Quảng Điền, Triệu Phong, Quảng Trị giữa những ngày gia đình đang tản cư trôi dạt theo dòng chảy khốc liệt của chiến tranh.

Anh là con trai út trong một gia đình có ba anh chị em. Người chị cả là bà Đỗ Thị Như Mai, người anh kế là Đỗ Tư Nhơn, và anh - Đỗ Tư Nghĩa - cậu bé mồ côi cha từ trước khi nhìn thấy ánh mặt trời. Sự thiếu vắng bóng hình người cha từ thuở sơ sinh có lẽ đã sớm đúc kết nên ở Đỗ Tư Nghĩa một tâm hồn nhạy cảm, dễ tổn thương nhưng cũng tràn đầy khao khát tìm kiếm những giá trị tinh thần vĩnh cửu.

Những năm tháng tuổi trẻ học tập dưới mái trường Trung học Nguyễn Hoàng nổi tiếng ở Quảng Trị, Đỗ Tư Nghĩa sớm bộc lộ một tài năng thiên bẩm xuất sắc. Anh nổi tiếng giỏi đều cả môn Văn lẫn môn tiếng Anh, đồng thời mang trong mình niềm đam mê cháy bỏng với văn chương, báo chí. Anh tốt nghiệp Cử nhân triết học ở Trường Đại học Văn khoa Huế. Cũng giống như người anh trai Đỗ Tư Nhơn, Đỗ Tư Nghĩa mê đắm tập luận thuyết “Ý thức mới trong văn nghệ và triết học” của triết gia Phạm Công Thiện - tác phẩm đã làm chấn động toàn bộ giới trí thức trẻ miền Nam thời bấy giờ. Tư tưởng bùng nổ, phá chấp và rực rỡ nhiệt hứng triết lý của Phạm Công Thiện đã ăn sâu vào tiềm thức của Đỗ Tư Nghĩa, trở thành một bệ phóng tư tưởng ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ quá trình sáng tác thơ ca và tư duy dịch thuật của anh sau này.

@

2. Mùa hè đỏ lửa, nhịp cầu Bảo Lộc & sứ mệnh dịch thuật

Năm 1971, người mẹ kính yêu - chỗ dựa tinh thần duy nhất còn lại của mấy anh em - qua đời. Mất mẹ, Đỗ Tư Nghĩa như mồ côi lần thứ hai. Rồi biến cố lịch sử dữ dội bùng nổ: “Mùa hè đỏ lửa” năm 1972 nhuộm đỏ cả dải đất Quảng Trị. Trong khói lửa mịt mờ của cuộc chiến, Đỗ Tư Nghĩa đã dốc hết sức lực đưa người bà nội già yếu vượt muôn dặm đèo dốc vào Đà Lạt, nương nhờ mái nhà của người cậu ruột để tìm kiếm một chốn bình an.

Sau đó, anh về Bảo Lộc nhận việc dạy học Anh ngữ và triết học tại trường trung học Bảo Lộc. Trong chín năm bền bỉ cắm cúi bên bục giảng nơi vùng đất cao nguyên Bảo Lộc mờ sương, anh đã gặp gỡ và bén duyên cùng chị Phạm Thị Hoài An - một cô giáo quê gốc Hải Phòng nhưng định cư ở Đà Lạt cũng đang sống xa nhà. Hai tâm hồn đồng điệu, cùng chung nghề nhà giáo và tình yêu tri thức, đã tìm thấy sự ấm áp bên nhau. Năm 1976, anh chị chính thức nên duyên vợ chồng và lần lượt đón chào hai đứa con thân yêu ra đời.

Đến năm 1981, Đỗ Tư Nghĩa cùng chị Hoài An được điều động chuyển công tác lên thành phố Đà Lạt, chính thức đứng trên bục giảng của trường Trung học Cơ sở Nguyễn Du. Chính từ cõi sương mù Đà Lạt này, ngọn lửa đam mê dịch thuật vốn ủ ấp bấy lâu trong anh đã bùng cháy mạnh mẽ, biến anh trở thành một trong những dịch giả uy tín và sung sức thời bấy giờ.

Ngay từ năm 1986 - thời điểm đất nước bắt đầu bước vào giai đoạn đổi mới, Đỗ Tư Nghĩa đã liên tục cho ra đời những công trình dịch thuật đồ sộ, phong phú về chủng loại và sâu sắc về chiều sâu triết lý. Mở đầu là tác phẩm thiếu nhi trong sáng “Khi bố còn thơ” của tác giả A. Raskin (anh dịch chung với người bạn thân Phan Thế Hưng), tiếp đó là tập truyện “Như cơn mưa bay đi”(S. Krutilin), tác phẩm trinh thám kinh điển “Những cuộc phiêu lưu của Sherlock Holmes” (Conan Doyler), tiểu thuyết hài hước sâu cay “Truyện phiêu lưu của Pickwick” của văn hào Charles Dickens, và cuốn sách truyền cảm hứng sống “Con đường tuổi trẻ” của học giả Daisaku Ikeda.

Không dừng lại ở đó, anh hợp tác cùng nhà văn, giảng viên Đại học Đà Lạt Phạm Quang Trung chuyển ngữ thành công tác phẩm “Dưới ánh trăng” của bậc thầy truyện ngắn Guy De Maupassant. Anh dấn thân vào những vùng không gian triết học và tâm linh thâm thẫm khi dịch “Cuộc đời của Luận sư Rajneesh Chandra” (tự truyện Osho), hai kiệt tác bất hủ của đại văn hào Lev Tolstoy là “Tự thú” và “Suy nghiệm mỗi ngày”; cuốn sách chữa lành “Tìm lại nụ cười” của Philip Martin, tư tưởng khắc kỷ trong “Nghệ thuật sống” của triết gia Epictetus, cùng các bộ tiểu sử danh nhân lừng lẫy như “Đời Tolstoy” của Romain Rolland, “Chuyện tình của các triết gia” của Andrew Shaffer, “Chuyện tình của các nhạc sĩ thiên tài” của Gustav Kobbé. Đặc biệt, anh còn cùng Nguyễn Văn Chức (cán bộ Đại học Đà Lạt) dịch tác phẩm kinh điển “Đời Beethoven” của Romain Rolland. Anh đã xuất bản 17 cuốn sách và còn 16 bản thảo khác chưa kịp trình làng.

Những cuốn dịch phẩm do anh cặm cụi chuyển ngữ không chỉ đạt độ chuẩn xác cao về ngôn ngữ mà còn tràn đầy văn phong hoa mỹ, mềm mại và giàu chất thơ. Mỗi cuốn sách ra đời đều được độc giả và giới nghiên cứu khắp cả nước đón nhận một cách nồng nhiệt, trở thành món ăn tinh thần vô giá chắp thêm niềm tin yêu để anh tiếp tục sứ mệnh dịch thuật âm thầm của mình.

@

3. Căn phòng trọ đường Nhà Chung (Đà Lạt), cõi thơ u hoài & lựa chọn ở lại

Thế nhưng, đằng sau những trang dịch phẩm lung linh tri thức và hào quang nghề nghiệp ấy lại là một đời riêng chứa chất đầy bi kịch và xót xa. Những khó khăn chật vật của đời sống kinh tế bao cấp thời bấy giờ đã tạo nên những rạn nứt silently nhưng sâu sắc trong đời sống gia đình. Tất cả những dồn nén, u uất và vết thương lòng không thể giãi bày đã được anh trút gạt vào những dòng thơ khắc khoải trong tập thơ “Gửi tình yêu – Gửi cuộc đời”.

Năm 1992, qia đình anh được bảo lãnh sang cư trí tại Mỹ, nhưng anh Đỗ Tư Nghĩa thấy không hợp nên chọn cách ở lại Việt Nam một mình, không phải anh không thương vợ con. Anh chọn ở lại Việt Nam, ở lại với cõi sương mù Đà Lạt đơn độc mà anh gắn bó cả cuộc đời.

Thời gian đó, nhiều người xung quanh nhìn hành động của anh với ánh mắt soi mói, thậm chí chua chát bảo anh là kẻ “khùng”, kẻ “lập dị” chẳng giống ai. Nhưng mặc cho mọi lời dị nghị hay sự hiểu lầm của thế thái nhân tình, Đỗ Tư Nghĩa vẫn bình thản mỉm cười. Anh biết rõ trái tim mình thuộc về đâu. Và thời gian trôi qua, khi nhìn lại chặng đường anh đã đi, tất cả mọi người - từ bạn bè cho đến người thân - đều công nhận quyết định ở lại Đà Lạt của anh là hoàn toàn đúng đắn với căn tính và sứ mệnh của một tâm hồn thuần thiết.

Sau khi chia tay vợ con, anh Đỗ Tư Nghĩa về ở nhờ nhà anh Nguyễn Diệp - một cán bộ tâm huyết của Ty Giáo dục tỉnh Lâm Đồng, đồng thời là nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa dân tộc thiểu số nổi tiếng (người đã có công lao to lớn góp phần biên soạn nên cuốn Tự điển Việt - K'Ho). Anh sống cùng anh Nguyễn Diệp trong khu tập thể của Ty Giáo dục một thời gian. Về sau, anh đến thuê một căn phòng trọ nhỏ nằm trên đường Nhà Chung.

Tôi đã có rất nhiều lần tìm đến thăm anh tại căn phòng trọ nhỏ bé ấy. Đó là một căn phòng trọ chật chẹp, ngột ngạt và bề bộn đến mức ngổn ngang. Hàng trăm, hàng ngàn cuốn sách từ triết học, văn học, ngôn ngữ đến lịch sử được anh chất đống khắp nơi, từ trên bàn, dưới sàn nhà cho đến góc tường, không hề được sắp xếp gọn gàng. Anh ngủ trên một chiếc ghế bố xếp đơn sơ, phẳng lì vết thời gian. Trên chiếc bàn làm việc ngập tràn bản thảo là một chiếc gạt tàn um đầy những mẩu thuốc lá cháy dở. Việc ăn uống của anh cực kỳ tạm bợ. Mỗi khi có khách hay bạn bè văn nghệ đến chơi, phòng trọ thậm chí không có đủ ghế ngồi, khách đành phải ngồi ghé tạm trên một chiếc ghế gỗ cũ kỹ, xông xênh.

Mỗi lần ghé thăm, vì thương anh sống quá khép kín và ngột ngạt, tôi thường tìm cách “lôi” anh ra khỏi căn phòng trọ ấy để đi đến mấy quán cà phê ven đường cho thoáng đãng. Có khi tôi mời anh ra quán cà phê ngay bên bờ hồ Xuân Hương lộng gió, hay ghé quán cà phê của Hà Linh nằm trước Hotel Dalat Palace rợp bóng cây, nhìn ra mặt nước hồ Xuân Hương phẳng lặng như gương. Những buổi chiều như thế, có khi thêm các anh chị em văn nghệ sĩ đến từ Sài Gòn, Hà Nội, Đà Nẵng hay các nơi khác ghé thăm Đà Lạt, như: Nguyễn Nhã Tiên, Nguyễn Vô Biên, Tạ Vũ Dậu, Nguyễn Dương Quang, Tường Huy, điêu khắc gia Phạm Văn Hạng, Lê Duy Đoàn, Nhã Uyên... Cuộc hội ngộ lại trở nên vô cùng ấm áp.

Những khi trong túi có chút tiền nhuận bút hay tiền dạy học vừa nhận, Đỗ Tư Nghĩa lại hào hứng giành phần mời và chủ động trả tiền cho tất cả mọi người. Những lúc ấy, tôi nhìn gương mặt gầy gò của anh hồng hào, tươi tắn hẳn lên, đôi mắt lấp lánh niềm vui thơ trẻ. Anh trân trọng gửi tặng chúng tôi những cuốn sách dịch mới vừa xuất bản do các nhà xuất bản chính thức cấp phép, và cả những tập thơ do chính anh viết, được in ấn giản dị dưới hình thức lưu hành... nội bộ.

@

Thơ Đỗ Tư Nghĩa là một thế giới ngập tràn tâm trạng, đầy dằn vặt, âu lo và ẩn chứa những nỗi đau sâu thẳm trước thân phận con người và kiếp sống mông quạnh. Hãy nghe anh thốt lên những vần thơ đắng ngắt khi chứng kiến một nhành hoa dại bị chà đạp:

Chiều nay tôi thấy em ngã xuống

trên đất đen

tên con đường dốc đến Thánh đường

Chúa quay lưng

không thấy em

cả cuộc đời

vẫn bình yên

quay theo bánh xe đều đặn

Em chết đi

mùa Giáng sinh chưa kịp đến

em chưa kịp mặc áo vàng

ngửa cổ

chờ gió đến nâng niu...

Hay như trong bài thơ “Có những ngày”, anh đã phô bày trọn vẹn sự bế tắc, nỗi cô đơn ngập tràn và sự kinh ngạc cay đắng trước những nghiệt ngã vô lý của cuộc đời:

Có những ngày hồn tôi lênh đênh

như lá khô

chẳng biết chọn nơi nào đậu xuống

Có những ngày

tôi như con chuột nhỏ

chui rúc nơi những cống rãnh của cuộc đời

dù trên đầu tôi vẫn có trăng sao

dù quanh tôi

vẫn có lá cây xanh

và trên bàn tiệc cuộc đời

mỗi ngày

vẫn đổ tràn rượu đỏ

Có những ngày

hồn tôi như con gà đói thóc

chạy kiếm những hạt vàng

nhưng mùa gặt đã xa

chẳng còn hạt nào vương vãi!

Có những ngày

tôi kinh ngạc

Ôi cuộc đời đó ư?

Những chuỗi dài vô lý

những ràng buộc vô danh

những muộn phiền vô nghĩa...


Sống giữa một cõi đời đầy biến động và xô xát, Đỗ Tư Nghĩa vẫn giữ nguyên vẹn một phong cách sống khiến bất kỳ ai tiếp xúc cũng phải kính nhường. Anh tận tụy với công việc dịch thuật, miệt mài dạy Anh văn cho bất kỳ ai tìm đến muốn học, duy trì lối sống ăn chay trường thuần khiết và hút thuốc lá liên tục. Ở anh luôn toát lên một chút gì đó vô cùng rụt rè, e ấp. Anh tuyệt đối không bao giờ muốn to tiếng hay tranh chấp với ai, luôn lo sợ những thị phi hay vẩn đục đời thường sẽ làm đảo lộn cuộc sống tĩnh lặng mà anh dày công vun đắp. Anh sống lặng lẽ như một cái bóng, chỉ giao tiếp với những người bạn tri kỷ mà anh thực sự quý mến, và dành tình yêu thương vô bờ bến cho những đứa con thân thương gần gũi.

@

4. Những giờ phút rạng rỡ & Ngày hội ngộ đầm ấm

Trong ký ức của tôi về anh Đỗ Tư Nghĩa, là những buổi cùng nhau nhâm nhi ly cà phê ở một quán cóc nào đó của Đà Lạt, hoặc nghe anh nói về những cuốn sách anh vừa dịch từ các bản tiếng Anh, là những dịp hội ngộ ở vườn tượng của điêu khắc gia Phạm Văn Hạng và có một kỷ niệm thật đẹp và rạng rỡ, như một điểm sáng ấm áp xua tan đi cái lạnh giá thường nhật của đời anh. Đó là ngày họa sĩ Đinh Cường từ Mỹ trở về Việt Nam và mong muốn tổ chức một cuộc triển lãm tranh tại Đà Lạt. Các anh em nghệ sĩ thân thiết gồm họa sĩ Thân Trọng Minh, họa sĩ Hoàng Trọng Bân, họa sĩ Đinh Cường và điêu khắc gia Phạm Văn Hạng đã bàn bạc và thống nhất chọn Khách sạn Dalat Hoàng Gia của tôi nằm trên đường Nguyễn Chí Thanh, thành phố Đà Lạt làm không gian tổ chức sự kiện.

Tôi đã đứng ra hoàn tất mọi thủ tục xin cấp phép và nhanh chóng được Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lâm Đồng đồng ý tạo điều kiện. Cuộc triển lãm đã trở thành một cuộc hội ngộ nghệ thuật cực kỳ ý nghĩa, xúc động. Ngày khai mạc, khách đến tham dự đông nghịt, ngập tràn những lẵng hoa tươi thắm và những nụ cười hạnh phúc. Đan kẹt trong đám đông là bạn bè văn nghệ sĩ lặn lội đến từ Hà Nội, Đà Nẵng, Huế, Sài Gòn, Nha Trang, Phan Thiết... và cả những người bạn quốc tế.

Anh Đỗ Tư Nghĩa đã từng quen biết họa sĩ Đinh Cường qua những bức tranh và trao đổi thư tín. Khi còn ở Mỹ, Họa sĩ Đinh Cường đã viết bài thơ “Bài nhớ thân trọng điền trang  và Đỗ Tư Nghĩa” có những câu thơ “Người một mình trên Đà Lạt / Tháng này hay mưa chiều không / Mưa chiều qua rừng thông xanh / Qua hàng hiên nhà dưới dốc / Dốc rất sâu đi bước chậm / Mấy hòn đá xanh lởm chởm / Cửa mở nhìn ra vực sâu / Ám ảnh nào hôn hố thẳm / Người ở một mình ốm teo / Cứ ngồi dịch từng trang chữ / Và bài ngợi ca tình yêu / Người ở bên đồi gió hú / Đà Lạt mưa chiều buồn không / Tháng chín nơi này lá đổ / Mùa thu về, mùa thu về / Đỗ Tư Nghĩa ơi rất nhớ” (Virginia 21 Set 2011).

Hôm ấy, anh Đỗ Tư Nghĩa vui lắm. Anh lững thững đi ngắm từng bức tranh, mắt lấp lánh niềm xúc động sâu sắc khi được gặp lại người anh yêu quý - họa sĩ Đinh Cường. Trong không khí đầm ấm ấy, những ly rượu vang ngoại nhập thơm lựng được nâng lên chúc mừng, làm cho đôi má gầy gò của bao nhiêu người, và đặc biệt là của Đỗ Tư Nghĩa, hồng lên rạng rỡ. Anh vui đến mức nói rất nhiều, cười rất nhiều, khác hẳn với dáng vẻ trầm mặc, ít lời hằng ngày khi anh em ngồi cà phê quán xá. Sau buổi khai mạc, anh còn cẩn thận gửi tặng tôi một số bức ảnh kỷ niệm mà ai đó đã chớp được khoảnh khắc tôi và anh đứng bên nhau rạng rỡ.

@

5. Đêm huyền diệu ở tư gia & một ngày trên hồ Tuyền Lâm (Đà Lạt) tro cốt gửi lại thinh không.

Thế rồi, quy luật nghiệt ngã của thời gian và tuổi tác cũng gõ cửa. Khi Đỗ Tư Nghĩa yếu dần và phải nằm trên giường bệnh, tôi cùng anh Nguyễn Văn Chức (cán bộ công tác tại Đại học Đà Lạt) thường xuyên ghé qua thăm, an ủi anh. Bên giường bệnh của anh luôn có mấy em điều dưỡng viên tận tụy túc trực chăm sóc ngày đêm. Dù cơ thể đã rất yếu, anh vẫn giữ được sự minh mẫn kỳ diệu, đôi mắt vẫn ánh lên tia nhìn ấm áp nhận ra từng người bạn quen thuộc ghé thăm.

Và rồi, điều gì đến cũng phải đến. Vào một buổi sáng tinh khôi, lúc 6 giờ 15 phút ngày 16 tháng 9 năm 2021, bên cạnh người con gái thân yêu Đỗ Hoài Diễm Thư, Đỗ Tư Nghĩa đã nhẹ nhàng trút hơi thở cuối cùng, khép lại một kiếp người thanh cao và trăn trở.

Ngày anh mất, bầu trời Đà Lạt bỗng trở nên vần vũ mây xám, những hạt mưa lác đác rơi nhẹ như giọt nước mắt của không gian tiễn đưa một tâm hồn thi sĩ, rồi trời lại nhanh chóng tạnh ráo.

Chúng tôi đã có một buổi tối trọn vẹn bên anh ở tư gia để ngày mai anh lên Đài Hỏa táng Hoàn Vũ Đà Lạt.

Một đêm ở tư gia, giữa không gian mênh mang, tiếng đọc kinh Phật rì rầm hòa cùng tiếng ngâm những bài thơ tiễn biệt cất lên tha thiết, lung linh.

Trong chính đêm huyền diệu tiễn đưa ấy, nhà sư Thích Nguyên Hiền (bút danh Nhất Thanh), nhà thơ Nguyễn Mậu Pháp, nhà giáo Nguyễn Văn Cam và chúng tôi lắng lòng nghe những dòng thơ tưởng niệm, những lời cầu kinh vang vọng trong không gian ấm cúng của một ngôi nhà xưa giữa lòng phố xá tĩnh lặng của Đà Lạt.

@

Một buổi sáng đẹp trời, đoàn người đưa tang theo anh vòng qua những con phố nơi anh Đỗ Tư Nghĩa một thời gắn bó, từng rảo bước đi qua từng ngõ nhỏ. Đà Lạt một ngày hoa rực nắng đưa tiễn người đi xa. Xe dừng lại ở Đài Hóa thân Hoàn Vũ Đà Lạt.  

Sau khi thực hiện nghi thức hỏa táng cho anh tại Đài hóa thân Hoàn vũ Đà Lạt, chúng tôi - đúng theo di nguyện lúc sống của anh - cùng người con gái Đỗ Hoài Diễm Thư và cháu trai (con của anh Đỗ Tư Nhơn) cẩn trọng thỉnh hũ tro cốt của anh về nhà, đặt lên bàn thờ trong suốt 49 ngày đêm để anh Đỗ Tư Nghĩa được nghe kinh Phật, được lắng lòng trong căn nhà yêu thương của mình.

@

Sau 49 ngày anh Đỗ Tư Nghĩa ra đi, anh Đỗ Tư Nhơn đã tập hợp tất cả các bài thơ, những tâm tư tình cảm anh em bạn bè, văn nghệ sĩ dành cho anh Đỗ Tư Nghĩa, qua cuốn sách “Về trong cõi Tịnh”. Đó là một tuyển tập thơ văn nhanh nhất, kịp thời nhất. Người đọc tìm thấy 10 bài thơ được trích từ cuốn thơ “Gửi tình yêu, gửi cuộc đời” của Đỗ Tư Nghĩa, hai bài thơ chuyển ngữ của nhà giáo, dịch giả Thân Trọng Sơn; đôi dòng tiểu sử cuộc đời và văn nghiệp của Đỗ Tư Nghĩa; là lá thư tâm tình của anh trai Đỗ Tư Nhơn, là lời thầm thì của con gái Đỗ Hoài Diễm Thư gửi cho bố; là tâm tư tình cảm của anh em văn nghệ sĩ, đồng nghiệp, bạn bè, đồng hương như Hồ Thị Tú, Nguyễn Nam Giao, Trần Thoại Nguyên, Lê Mậu Minh, Lê Đức Dục, Võ Cẩm, Nguyễn Thắng, Đoàn Đức, Nguyễn Mậu Pháp, Trần Ngọc Trác, Nguyễn Đình Hạnh, Nhất Thanh,Nguyễn Văn Quang,Võ Văn Luyện, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Nguyễn Đạt, Trần Kim Đoàn, Bạch Trọng Thạnh, Nguyễn Lương Tuấn, Vũ Bích Sơn, Trần Bích Hằng, Khang Hồ, Nguyễn Đại Hoàng, Đỗ Trầm Tư, Đỗ Nguyên Phương, Đỗ Nữ Minh Khai,Trần Quốc Vĩnh…

Cháu Đỗ Hoài Diễm Thư đã thuê một chiếc thuyền máy chở hũ cốt ra giữa lòng hồ mênh mông sông nước để làm lễ cầu nguyện. Đó là một ngày trên hồ Tuyền Lâm huyền diệu với mặt nước hồ phẳng lặng như gương, tro cốt anh đã gửi vào mây gió.

@

6. Một năm ngày trở về & dư âm bất tử

Nhà văn Nguyên Minh, Chủ biên tạp san Quán Văn đã dành gần 200 trang sách để tập hợp những bài viết, những cảm tưởng của anh em bạn bè, văn nghệ sĩ viết về nhà văn, dịch giả - mà anh gọi là “người chuyển ngữ” Đỗ Tư Nghĩa. Thay vì ghi tưởng niệm, anh chọn một tên sách lạ, gây sốc “Quán Văn số 92-12-2-22”.

Những gì có được trong “Về trong cõi Tịnh” của anh Đỗ Tư Nhơn, ấn phẩm “Quán Văn số 92” tiếp tục có thêm nhiều bài viết mới của rất nhiều bạn bè, văn nghệ sĩ, độc giả yêu quý anh.

@

Thấm thoát mà thời gian trôi qua thật nhanh. Đúng một năm sau ngày anh ra đi (16.09.2022), cháu Đỗ Hoài Diễm Thư - người con gái yêu quý của anh - từ nước ngoài đã đáp chuyến bay trở về Đà Lạt để tổ chức lễ giỗ đầu cho cha. Những người thân trong gia đình, một số người bạn tri kỷ của anh và chúng tôi lại có dịp tụ hội về đây, cùng nhau thắp nén hương thơm thành kính tưởng nhớ anh.

Sau lễ cúng, tất cả chúng tôi lại cùng nhau đi ra bờ hồ Tuyền Lâm. Giữa làn sương mờ ảo chập chờn trên mặt nước, chúng tôi lặng lẽ vọng về phía lòng hồ sâu thẫm - nơi tro cốt của anh đã tan vào sóng nước đại ngàn - để tưởng nhớ về Đỗ Tư Nghĩa: một nhà thơ, nhà giáo, dịch giả tài hoa, một con người đáng kính trọn đời giữ cho mình một trái tim trong suốt giữa cõi nhân gian.

                                                                     Đà Lạt 14.IX.2026

 TRẦN NGỌC TRÁC

(Đỗ Tư Nhơn gởi đăng.)

READ MORE - NHỚ ANH ĐỖ TƯ NGHĨA: CÓ NHỮNG CƠN MƯA TRONG LÒNG PHỐ NHỎ - Bài viết của TRẦN NGỌC TRÁC

Tuesday, December 5, 2023

HAI ANH EM HỌ ĐỖ - Thơ Đỗ Tư Nhơn

 
  
            Hai anh em Đỗ Tư Nhơn, Đỗ Tư Nghĩa


HAI ANH EM HỌ ĐỖ
 
Anh em nhà họ Đỗ
Mồ côi cha từ nhỏ
Sống với mẹ, chị, bà
Thời chiến tranh gian khổ
 
Cùng mê say văn chương
Chọn sách gối đầu giường  
Phạm Công Thiện, Ý thức...    
Gạch chân đỏ nhiều trang 
 
Anh theo nghề gieo hạt  
Ươm mầm cho tuổi xanh    
Em miệt mài dịch thuật    
Minh triết của hiền nhân   
 
Thỉnh thoảng anh ghé thăm em    
Lưng chừng dốc Nhà Chung   
Căn phòng trọ trong hẻm  
Một mình sống an nhiên  
 
Rủ nhau ra ngồi quán  
Trước nhà thờ Chánh tòa   
Ly cà phê buổi sáng    
Ngồi lặng yên nhìn xa  
 
Từ lúc em giã biệt   
Vẫy tay chào trần gian  
Đà Lạt nghe trống trơn 
Anh bước đi cô tịch    
 
Hẹn một lần gặp lại   
Nơi sông suối cỏ lau   
Nắm chặt bàn tay nhau   
Tình anh em còn mãi.
 
Đỗ Tư Nhơn
Thị xã Quảng Trị, 4-12-2023.

  

 
        Chỗ ngồi năm xưa/Chỉ còn ghế trống/
        Em về cõi không/Anh buồn lệ ứa!

READ MORE - HAI ANH EM HỌ ĐỖ - Thơ Đỗ Tư Nhơn

Friday, July 7, 2023

ĐỌC “DỐC HOA VÀNG, NHỚ CẬU”, thơ Nguyễn Đại Hoàng - Châu Thạch


    
           Nguyễn Đại Hoàng đang phát biểu 
              tại diễn đàn Quán Văn                                       
 
          
DỐC HOA VÀNG - NHỚ CẬU
 
Tôi vẫn thấy- người về dốc thẳm
những mù sương Đà Lạt ngàn năm
những nụ cười im lặng xa xăm
những trang viết mang hồn đất nước…
 
Người ra đi – thơ còn xuôi ngược
để gởi tình yêu – gởi cuộc đời
những bài thơ tháng năm vẫn đợi
hoa quỳ vàng vời vợi cố nhân…
 
Hồn quê cũ mẹ hiền vương vấn
nếp nhà xưa mấy bận bâng khuâng
nhớ Nguyễn Hoàng - nhớ nắng Hải Lăng
mây trắng - nhớ tài hoa Quảng Trị
 
Tôi vẫn thấy người trên vạn lý
Hồ Xuân Hương lặng lẽ chiều buông
dốc hoa vàng
người đứng trong sương…
 
                            Nguyễn Đại Hoàng
 
 
ĐỌC “DỐC HOA VÀNG- NHỚ CẬU”, thơ Nguyễn Đại Hoàng 
                                                       Châu Thạch
 
Tôi chỉ mới biết nhà thơ Nguyễn Đại Hoàng gần đây. Tôi biết ông qua những bài tùy bút viết về thơ trên trang facebook có tên Anh Dung Hoang.
 
Phải nói tuy mới biết ông, nhưng tôi vô cùng ái mộ bởi bài viết của ông ngắn gọn, súc tích, chính xác và trí tuệ.
 
Hôm nay lại được đọc bài thơ ông viết để tưởng nhớ cậu ruột của mình, nhà thơ, nhà dịch giả, triết gia Đỗ Tư Nghĩa, cũng là một đồng môn mà tôi hằng cảm phục, khiến tâm hồn tôi như gặp, cảm xúc trong tôi như gần với cảm xúc trong thơ.
 
Chỉ cần đọc câu thơ đầu tiên “Tôi vẫn thấy - người về dốc thẳm” ta đủ tưởng tượng một khung trời buồn, một con dốc hút xa tầm mắt, và bóng người về mỗi lúc một hiện gần hơn.
 
Rồi thì “những mù sương Đà Lạt ngàn năm” định vị cho ta biết ngay, bóng người đi trong khung trời Đà Lạt sương mờ. Đà Lạt không sương mờ bây giờ, nó sương mờ từ ngàn năm trước.
 
Câu thơ kéo hình ảnh người đi như đi từ quá khứ xa xăm để về trên con dốc dài muôn dặm.
 
Từ hình ảnh người đi, tác giả cho ta liên tưởng ngay đến con người và sự nghiệp của con người đó.
 
“Những nụ cười im lặng xa xăm” phải chăng muốn mô tả bóng dáng của một hiền nhân suy tư trong im lặng và thỏa lòng với nụ cười chân thiện khi ngộ một vấn đề nan giải.
 
Đúng vậy, câu thơ “Những trang viết mang hồn đất nước…” cho ta biết người viết về những điều to lớn, ngang tầm đất nước, quê hương.
 
Vậy thì, đọc khổ thơ đầu, nếu nghĩ gần, ta thấy nhà thơ tả hình ảnh một người trí thức đi trên con dốc, dưới sương mờ Đà Lạt.
 
Đúng thế, nhưng nếu nghĩ xa hơn, ta sẽ thấy đàng sau những thước phim thực tế kía, có những ẩn ý sâu xa về thân phận, về cuộc sống âm thầm, ẩn dật, suy tư, lặng lẽ và miệt mài trên con đường đời, để đi tới lý tưởng mà Đỗ Tư Nghĩa, người cậu ruột của nhà thơ đã sống trên khung trời Đà Lạt sương mờ.
 
Qua khổ thơ thứ hai hiện rõ thêm việc làm và nhân cách của nhân vật trong thơ:
 
Người ra đi – thơ còn xuôi ngược
để gởi tình yêu – gởi cuộc đời
những bài thơ tháng năm vẫn đợi
hoa quỳ vàng vời vợi cố nhân…
 
Câu thơ “Người ra đi - thơ còn xuôi ngược” chứng tỏ người đó lao động trí óc suốt một đời.
 
Thành quả lao động trí óc của người đó dâng cho đời nhiều lợi ích đến nổi thơ vẫn còn xông xáo khi người ấy đã ra đi.
 
Di cảo của người ấy còn những bài thơ đẹp như “hoa quỳ vàng” vời vợi chờ cố nhân.
 
Cố nhân đây không phải chỉ là người tình, mà còn là tri kỷ từng gặp kiếp nầy, tri kỷ chưa gặp trong đời này nhưng có duyên từ kiếp trước, sẽ gặp trong thơ ở “Tam bách dư niên hậu” biết đâu.
 
Khổ thơ thứ hai làm cho sống động nhân vật trong thơ, dựng lên hình tượng cao thương trong tình yêu, trong cuộc đời, đem hoa quỳ Đà Lạt vào thơ bằng hình ảnh “Hoa quỳ vàng vời vợi cố nhân” làm hóa hình thơ của Đỗ Tư Nghĩa đẹp vô vàn trong khung trời Đà Lạt mộng mơ.
 
Khổ thơ thứ ba sơ lược tiểu sử đời người:
 
Hồn quê cũ mẹ hiền vương vấn
nếp nhà xưa mấy bận bâng khuâng
nhớ Nguyễn Hoàng– nhớ nắng Hải Lăng-
mây trắng - nhớ tài hoa Quảng Trị
 
Nhà thơ, dịch giả, triết gia Đỗ Tư Nghĩa để lại cho đời một gia tài văn chương, triết học đồ sộ, những bản dịch của ông quý giá cho đời.
 
Đọc tiểu sử đời ông không khác chi loài hoa Hoàng Lan, biểu tượng cho sức sống mạnh mẽ, tràn trề, tựa như ngôi sao tỏa sáng rực rỡ.
 
Ông viết và viết, mang đến cho đời niềm vui trí tuệ, cho diễn đàn văn học nước nhà những tác phẩm hữu ích cho đời.
 
Đỗ Tư Nghĩa sinh tại Quảng Trị, lớn lên từ ngôi trường Hải Lăng, trung học Nguyễn Hoàng Quảng Trị, sau đó trường đại học và trường đời.
 
Mẹ và quê chắc chắn ở trong con tim nhiều cảm xúc kia, tất nhiên nhớ mẹ, nhớ quê, nhớ ngôi trường là điều phải có.
 
Nhớ nắng Hải Lăng, mây trắng là hình ảnh của tuổi thơ với bầu trời của mình, nhớ tài hoa Quảng Trị là nhớ bạn bè thân thương trong tuổi học trò.
 
Đất Quảng Trị nghèo khó, nắng cháy mưa dầm nhưng người Quảng Trị rất tài hoa và phong nhã.
 
Qua khổ thơ thứ tư, tiếng thơ lắng xuống nhẹ nhàng, êm ái, hình ảnh nhạt nhòa, thơ mộng trong bầu trời trầm lắng, trong con dốc thăm thẳm nhưng đầy hoa vàng, làm cho người đi tồn tại kỳ vĩ trong khói trong sương:
 
Tôi vẫn thấy người trên vạn lý
Hồ Xuân Hương lặng lẽ chiều buông
dốc hoa vàng
người đứng trong sương…
 
“Vạn lý” có nghĩa là rất dài, còn có nghĩa là muôn dặm như Vạn Lý Trường Thành.
 
Vậy Nguyễn Đại Hoàng thấy cậu mình trên vạn lý là thấy hoài trong tâm tưởng, thấy hình ảnh tồn tại trong dòng sông ký ức của mình.
 
Nhà thơ nhớ cậu khi cậu đứng bên Hồ Xuân Hương, khi đi trong sương trên dốc hoa vàng.
 
Tất cả những hình ảnh thân thương đó không duy là nỗi lòng của người cháu nhớ cậu mà là bản trường ca truy điệu, đại diện cho nhân sĩ thời đại nầy nhớ thương một nhân sĩ đã ra đi khuất bóng dốc hoa vàng, còn chăng là ảo ảnh trong sương mờ Đà Lạt, ẩn hiện trong mắt thi nhân vì thương nhớ.
 
Bài thơ “Dốc Hoa Vàng- Nhớ Cậu” của Nguyễn Đại Hoàng viết về một ảo giác giữa mù sương Đà Lạt, ảo giác đó mang hình ảnh thật nằm sâu trong ký ức, hằn lên những kỷ niệm thân thương về một nhân vật tài hoa đi về trên con dốc có hoa vàng, bên cạnh Hồ Xuân Hương. Nhân vật đẹp như thơ và bài thơ như mộng!
 
Châu Thạch

READ MORE - ĐỌC “DỐC HOA VÀNG, NHỚ CẬU”, thơ Nguyễn Đại Hoàng - Châu Thạch

Saturday, March 25, 2023

GẶP NHAU GIỮA MÙA ĐẦU TIÊN – Thơ Trần Thoại Nguyên


 


GẶP NHAU GIỮA MÙA ĐẦU TIÊN
(Tặng anh Đỗ Tư Nhơn, anh trai của Bạn Vàng Đỗ Tư Nghĩa.)
 
Nửa thế kỷ đã già nua
Còn duyên nhau, gặp giữa mùa đầu tiên!
Hẹn nhau từ bữa sinh tiền
Đỗ Tư Nghĩa đã về miền Bồng Lai!
 
Bây giờ mới gặp nhau đây!
Đỗ Tư Nhơn hỡi! Sáng nay Hoa Vàng
Phạm Thiên Thư ngó nhìn sang
Cùng vui cười nói rộn ràng quán không!
 
Bây giờ tóc trắng như bông
Đỗ Tư Nghĩa! Nhắc Bạn! Lòng nhớ thương!
Trần gian ngọn gió vô thường
Bạn đi trước! Hẹn quán đường thiên thu!
 
Ở đây sương khói bụi mù
Vui từng khoảnh khắc theo phù hoa bay!
Chén tình rót uống hồn say
Cõi nhân gian mộng cỏ cây xanh bờ!
 
Gặp anh đây, tặng vần thơ
Chút tình lưu niệm giấc mơ cuộc đời!
Mai sau nhật nguyệt mù khơi
Còn xanh rêu đá mây trời nghìn thu.
 
Quán Hoa Vàng, sáng 27/9/2022.

BỤI ĐỜI THI SĨ Trần Thoại Nguyên

READ MORE - GẶP NHAU GIỮA MÙA ĐẦU TIÊN – Thơ Trần Thoại Nguyên

Sunday, November 27, 2022

NHỮNG KỶ NIỆM CÙNG ĐỖ TƯ NGHĨA - Đỗ Tư Nhơn

 

Những kỷ niệm cùng Đỗ Tư Nghĩa

ĐỖ TƯ NHƠN

 

LTS TC CỬA VIỆT: 

Nhà giáo, dịch giả Đỗ Tư Nghĩa người Quảng Trị, từng sinh sống và làm việc lâu năm ở Lâm Đồng. Sống lặng lẽ, song ông đã dịch nhiều tác phẩm văn học nước ngoài nổi tiếng đã được xuất bản; và còn nhiều tác phẩm dịch thuật ở dạng bản thảo, hoặc được đăng tải trên mạng. Một năm sau ngày mất của Đỗ Tư Nghĩa, thương tiếc người em tài hoa, nhà giáo Đỗ Tư Nhơn có bài viết gửi cho tòa soạn Cửa Việt.

Giờ đây Nghĩa đã về với tổ tiên, ông bà, thầy mợ nơi cõi vĩnh hằng sau 75 năm Bước lững thững qua trần gian một bận / Đã thấy sầu in vết dưới chân im (Bi khúc 1-1972 trong tập Gởi tình Yêu- Gởi Cuộc đời của Đỗ Tư Nghĩa). Những kỉ niệm với gia đình, bè bạn còn trong ký ức của những người thân,từng gắn bó kết giao tình cảm.

Ba chị em chúng tôi: Đỗ Thị Như Mai, Đỗ Tư Nhơn, Đỗ Tư Nghĩa vốn nguyên quán là làng Cui, Tuy Lộc, Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Bố chúng tôi vào Quảng Trị làm viên chức thừa phái dinh Tuần Vũ đóng tại Thành Cổ, nhưng mất sớm lúc tôi vừa lên ba, Nghĩa còn trong bụng mẹ.

 

Chân dung Đỗ Tư Nghĩa qua nét ký họa của Thanh Trí

Nghĩa cất tiếng chào đời ở làng ngoại Quảng Điền, Triệu Phong, Quảng Trị khi gia đình tản cư về đây, sống trong căn nhà của ông bà ngoại đã qua đời. Biết bao kỷ niệm giữa bom đạn chiến tranh, với những mùa mưa lụt nước mênh mông mà ba chị em chúng tôi cùng chịu đựng nơi miền quê này.

Khoảng 7,8 năm sau, gia đình tôi chuyển lên thị xã Quảng Trị, mẹ buôn bán kiếm sống nuôi con ăn học. Chúng tôi có chung kỷ niệm ấu thời. Từ lúc nhà ở gần trạm điện cho đến khi sống giữa làng Thạch Hãn cùng bạn bè chơi bi, đánh đáo, ù mọi, đánh căng và làm báo viết tay.

Những năm học trung học Nguyễn Hoàng, Nghĩa nổi tiếng giỏi Văn, Anh Văn. Tôi và Nghĩa đều yêu thích văn chương, sách báo. Khi quyển sách Ý thức mới trong văn nghệ và triết học của Phạm Công Thiện ra đời, anh em chúng tôi tìm mua cho mình mỗi người một tập, Nghĩa đọc kỹ, gạch đỏ những đoạn văn tâm đắc. Sau này chính Nghĩa cho biết đã chịu ảnh hưởng của Phạm Công Thiện khá đậm.

Mẹ của chúng tôi tần tảo, thương yêu các con vô cùng, mà chưa thể nào chúng tôi báo đáp thì mẹ đã qua đời. Đó là mùa xuân năm 1971, Tết đó, sau những ngày buôn bán cuối năm vất vả, mẹ tôi nhuốm bệnh. Vợ chồng tôi, Nghĩa, Thắng ở một bên giường mẹ lo lắng, rồi nhờ chị Định, y tá truyền nước biển. Ngày mồng một, mẹ tôi còn nhận biết, nhưng tờ mờ sáng mồng hai, mẹ ra đi không lời trăng trối. Anh em chúng tôi vô cùng buồn đau, thương tiếc. Ở tầm hồn Nghĩa, bắt đầu có sự hụt hẫng vì Đìu hiu trái đất đâu còn mẹ / Sông núi xanh còn ta lãng du (Bi khúc 3).

Một biến cố thứ hai “đã ném” Nghĩa và người dân Quảng Trị ra khỏi quê nhà, đó là mùa hè đỏ lửa năm 1972. Tất cả chạy loạn vào trại tạm cư Đà Nẵng - Quảng Nam. Nghĩa đưa bà nội vào Đà Lạt nương náu tại nhà người cậu ruột một thời gian rồi về Bảo Lộc dạy học. Tâm thức Nghĩa buồn đau vô vọng, đã gởi vào 4 bài Bi khúc được sáng tác vào năm này.

Suốt 9 năm dạy học tại Bảo Lộc đã để lại trong tâm hồn Nghĩa những kỷ niệm đẹp. Đó là mối tình với Hoài An, cô giáo Đà Lạt xa nhà. Năm 1976, lễ cưới được người cậu tổ chức cho Nghĩa - An đàng hoàng, chúng tôi không vào dự được chỉ gởi quà mừng.

Năm 1981, vợ chồng Nghĩa được chuyển lên dạy trường Nguyễn Du Đà Lạt, Nghĩa bắt tay vào việc dịch thuật. Cuộc sống mỗi lúc một khó khăn đã tác động vào tâm hồn Nghĩa, những bài thơ nhức nhói, trăn trở được viết vào năm 1983, 1984 sau này in vi tính thành tập thơ Gởi tình yêu - Gởi cuộc đời.

Đôi ba niềm vui đã đến, là khi các tập sách dịch được xuất bản từ năm 1986 như: Khi bố còn thơ, Như cơn mưa bay đi, Những cuộc phiêu lưu của Sherlock Holmes… Nghĩa đã gởi về cho chúng tôi và bạn bè với chữ ký tặng. Bạn bè chia sẻ niềm vui cùng Nghĩa qua những bức thư hồi âm.

Cuộc đời không phải bao giờ cũng yên ả, gia đình Nghĩa bỗng phải chia hai. Vào năm 1992, Nghĩa quyết định ở lại Việt Nam, để cho vợ và hai con sang Mỹ định cư theo diện gia đình vợ bảo lãnh. Chúng tôi góp ý, khuyên Nghĩa rất nhiều lần nên cùng đi với gia đình. Sau này nghĩ lại, chúng tôi thấy Nghĩa đúng.

Ban đầu, lúc vợ con ra đi, Nghĩa đến ở với anh bạn Nguyễn Diệp, trong khu đất Sở Giáo dục Đà Lạt. Một thời gian ngắn sau, Nghĩa về thuê căn phòng trọ gần nhà cũ hẻm số 19 đường Nhà Chung, cạnh nhà thờ Con Gà, ở đó suốt 30 năm cùng những chồng sách cũ, mới ngập cả phòng.

Sống một mình, dạy trẻ học tiếng Anh, ăn chay trường và tiếp tục dịch sách. Các anh chị và các cháu thông cảm hoàn cảnh Nghĩa đã hỗ trợ một ít trong một thời gian ngắn, trước khi liên lạc với vợ con. Nghĩa nhận được quà và tiền để chi phí cho cuộc sống, sách báo, máy tính để làm việc.

Rồi Nghĩa gửi một bức tâm thư cho Hoài An sau 10 năm xa cách. Nghĩa chân tình nói với Hoài An rằng: Nếu có một người đàn ông biết yêu thương An và hai con, có trách nhiệm với gia đình thì nên đồng ý. Còn về phần Nghĩa, bấy lâu quen cuộc sống độc thân, không bị ràng buộc khó sống chung trong một gia đình.

Sống Đà Lạt với hoa dã quỳ thơ mộng, nhưng cũng có lúc tâm hồn Nghĩa chợt nhớ quê cũ Quảng Trị, với bạn bè người thân một thuở gắn bó. Mùa xuân 2004, con gái đưa Nghĩa về thăm chúng tôi, cùng hưởng một cái Tết đoàn tụ, trong khói hương, tưởng nhớ tổ tiên, ông bà, thầy mợ. Rồi tôi và Nghĩa vào Huế thăm mộ bố chúng tôi ở chân núi Ngự Bình, gặp các bạn thời sinh viên… Lần này chúng tôi muốn Nghĩa ở lại quê nhà, để anh em cùng sống bên nhau lúc già yếu, bệnh tật. Nhưng độ 2,3 tuần Nghĩa cảm thấy buồn, nhớ Đà Lạt, hơn nữa trời lạnh quá làm Nghĩa bị mệt, phải chia tay Quảng Trị.

Tôi lên Đà Lạt thăm Nghĩa nhiều lần. Có năm, lên Trúc Lâm thiền viện thỉnh kinh sách, Nghĩa mua tặng tôi nhiều tập, đĩa CD giảng đạo của quý thầy. Nghĩa nghiên cứu sâu xa và thực hành về đạo Phật cho nên sau này dịch sách của các đạo sư, ni sư thật rõ ràng, chú thích rất bổ ích cho người đọc.

Vốn liếng triết học Đông Phương và Tây Phương cũng tạo cho Nghĩa niềm say mê khi chuyển ngữ các tác phẩm mang giá trị tư tưởng: Nghệ thuật sống, Suy niệm mỗi ngày, Kahlil Gibran, Phiếm thần luận…

Chẳng bao lâu Nghĩa bị tai biến lần hai, tôi và con trai lên thăm vào 27 tháng chạp, chuẩn bị đón Tết Tân Sửu. Bệnh tình của Nghĩa nặng hơn, tuy mắt còn sáng, trí óc hiểu biết nhưng chân tay bị liệt, Nghĩa cảm thấy buồn vô vọng.

Khi chúng tôi về lại Quảng Trị, được tin Nghĩa bị dịch tràn màng phổi, phải thở ôxy, giữa lúc dịch Covid đang lan tràn. Con gái Nghĩa bằng mọi cách đã về bên bố giai đoạn cuối đời. Chúng tôi thường liên lạc với nhau để biết tình hình sức khỏe của Nghĩa, khi nguy kịch, khi tạm ổn.

Nhưng rồi Nghĩa đã trút hơi thở cuối cùng vào lúc 6 giờ 15 phút sáng 16/9/2021, bên cạnh con gái và 3 cháu điều dưỡng, ông cậu tu sĩ. Bạn bè, bà con, học sinh cũ gần xa đã đến phúng viếng, gởi vòng hoa chia buồn cùng gia đình.

Nghĩa là một con người quen sống thầm lặng, ít giao tiếp nhưng khi từ giã cõi đời lại được nhiều người thương tiếc về nhân cách, tâm hồn, sự khiêm tốn và tài năng qua các tác phẩm dịch và thơ để lại cho đời.

Nhà thơ Bùi Minh Quốc và nhóm “người hiền Đà Lạt” mà Nghĩa từng kính phục, đã gởi đến hai câu đối:

Xe thiên cổ đưa người về cực lạc

Chốn hồng trần bè bạn luống đau thương

Bình tro được đặt trên bàn thờ. Con gái tiếp tục phóng sinh, làm từ thiện. Sau 49 ngày, tro sẽ được rải trên hồ nước trong xanh Tuyền Lâm, dưới chân của thiền viện Trúc Lâm của Đà Lạt. Trong dịp này, cháu Diễm Thư, theo lời dặn của bố đã trao trọn vẹn tủ sách quý giá của bố cho Trần quốc Vĩnh - làm thư viện Đỗ Tư Nghĩa để thân hữu và con cháu yêu thích đến đọc để tâm hồn được thăng hoa, điều Nghĩa luôn mong muốn.

_________________

Một số sách dịch thuật văn học nước ngoài của Đỗ Tư Nghĩa đã xuất bản:

1. Những cuộc phiêu lưu của Sherlock Holmes (Conan Doyler), Nxb Sở VHTT Lâm Đồng, 1985.

2. Khi bố còn thơ (Araskin), Nxb Sở VHTT Lâm Đồng, 1986.

3. Như cơn mưa bay đi (S. Krutilin), Nxb Sở VHTT Lâm Đồng, 1986.

4. Dưới ánh trăng (Guy de Maupassant), Nxb Sở VHTT Lâm Đồng, 1986.

5. Truyện phiêu lưu của Pick Wick (Charles Dickens), Nxb Thuận Hóa - Huế, 1994.

6. Con đường tuổi trẻ (Daisaku Ikeda), Nxb Trẻ, 2005.

7. Cuộc đời của luận sư Rajneesh Chandra (tự truyện Osho), Nxb Trẻ, 2007.

8. Tự thú ( Lev Tolstoy), Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2007. 

9. Tìm lại nụ cười (Philip Martin), Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2009.

10. Kahlil Gibran - ngọn lửa vĩnh cửu (Barbara Young), Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2009.

11. Suy niệm mỗi ngày (Lev Tolstoy), Nxb Văn học & Khai Tâm, 2016.

12. Nghệ thuật sống (Epictetus), Nxb Văn học & Khai Tâm, 2016

13. Đời Tolstoy (Romain Rolland), Nxb Hồng Đức & Khai Tâm, 2017

14. Chuyện tình của các triết gia (Andrew Shaffer), Nhã Nam, 2018.

15. Chuyện tình của các nhạc sĩ thiên tài (Gustav Kobe), Nhã Nam, 2018.

16. Phiếm thần luận (Paul Harrison), Nxb Tri thức, 2018.

17. Đời Beethoven (Ramain Rolland), Khai tâm, 2021.

Ngoài ra còn gần 20 tác phẩm trong bản thảo, đăng trên mạng, chưa xuất bản.

ĐỖ TƯ NHƠN

Nguồn: Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 338, Đỗ Tư Nhơn gởi bản PDF qua Zalo.

READ MORE - NHỮNG KỶ NIỆM CÙNG ĐỖ TƯ NGHĨA - Đỗ Tư Nhơn

Thursday, September 15, 2022

TRÊN GIƯỜNG BỆNH NHỚ NGÀY TIỂU TƯỜNG CỦA ĐỖ TƯ NGHĨA (16/9/2022) TẠI ĐÀ LẠT - Đoàn Đức.

 
Vợ chồng Đức-Nhàn ghé thăm Đỗ Tư Nghĩa 
(ngày 10/3/2021 tại Đà Lạt)
 

Thân gởi Mylly con gái yêu của Nghĩa!
 
Rồi 10/3/2021 Chú Thím hẹn Bs Seiko đến thăm ba cháu.
Khi ba cháu muốn tựa đầu vào ngực chú. Chú nhớ đến các bạn đồng song với ba cháu, nên viết vài dòng kèm ảnh gởi cho họ.
 
Nghĩa ơi! Còn đâu màu cỏ úa. Con đường xưa chúng ta đi. Ngày hai buổi đến trường. Bảy năm ròng cùng lớp. Trường Nguyễn Hoàng Quảng Trị thuở thơ ngây.
 
Rồi ngày hạ hết cấp. Khi đậu xong Tú Tài toàn phần. Minh, Thắng, Nghĩa ba đứa cùng vào Đà Nẵng, ghé bãi biển Nam Ô. Bên bờ đá sóng vỗ. Chụp lại tuổi thanh xuân. Khuôn mặt ngời rạng rỡ. Một thời trai hoài bảo.
 
Rồi đến tình Văn Khoa Đại Học. Những giờ nghe giảng triết. Nghĩa, Hạnh, Minh cùng Tuấn. Bên bóng hồng Như Ngân. Nghĩ cuộc đời thơ mộng. Hiện sinh cùng hiện tại giữa cõi đời này. Đó là phút huy hoàng vô hạn. Bốn năm rồi cũng hết. Chia tay dù không nói. Lẳng lặng chỉ nhìn nhau. Trời mai đầy ước hẹn. Sá gì chút bận lòng.
 
Cánh chim bay tung cánh bạt ngàn.
Ai ngờ con chim nhỏ về đậu. Bảo Lộc khuất sương mù.
Cầm phấn vẽ cuộc đời.
Vòng đầu hay vòng cuối.
Tận cùng hay khởi điểm?
Hữu thể và hư vô.
Hãy hỏi Heidegger mà Nghĩa học.
 
Nay lên thăm bạn. Trên chiếc giường hiu quạnh. Bạn đang tìm hình bóng cũ. Bóng người hay bóng ta. Trong trí nhớ mịt mù. Tìm đâu tìm làm chi?
 
Nay nghe đời réo gọi. Tìm giấc ngủ thần tiên. Ai rồi cũng một lần ra đi một mình. Ra đi là hết rồi. Nghĩa ơi biết còn nhớ hay quên! Nghĩa ơi trên giường bệnh, đầu muốn tựa vai Đức. Như níu kéo thuở ngày xưa. Thắng, Minh, Hạnh ơi! Nghiêng vai cho Nghĩa tựa một lần, lần đầu cũng là lần cuối.
 
Đức viết hộ cho cả 5 đứa:
 
Dù cho lửa tắt hương nồng,
Đài hoa héo nụ đừng buồn bạn ơi.
Xa nhau đưa tiên một lời,
Quan san nẻo ý như ngồi bên nhau,
Rời đi không nắm được tay,
Không lời giã biệt, chỉ hàng lệ mau.
Sá gì một cuộc thiên thu,
Ngàn sau tái ngộ biết còn hay không.
                                                                                 
Đoàn Đức                                                                
Thứ Tư, 14/9/2022


READ MORE - TRÊN GIƯỜNG BỆNH NHỚ NGÀY TIỂU TƯỜNG CỦA ĐỖ TƯ NGHĨA (16/9/2022) TẠI ĐÀ LẠT - Đoàn Đức.