Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Đỗ Tư Nghĩa. Show all posts
Showing posts with label Đỗ Tư Nghĩa. Show all posts

Tuesday, December 5, 2023

HAI ANH EM HỌ ĐỖ - Thơ Đỗ Tư Nhơn

 
  
            Hai anh em Đỗ Tư Nhơn, Đỗ Tư Nghĩa


HAI ANH EM HỌ ĐỖ
 
Anh em nhà họ Đỗ
Mồ côi cha từ nhỏ
Sống với mẹ, chị, bà
Thời chiến tranh gian khổ
 
Cùng mê say văn chương
Chọn sách gối đầu giường  
Phạm Công Thiện, Ý thức...    
Gạch chân đỏ nhiều trang 
 
Anh theo nghề gieo hạt  
Ươm mầm cho tuổi xanh    
Em miệt mài dịch thuật    
Minh triết của hiền nhân   
 
Thỉnh thoảng anh ghé thăm em    
Lưng chừng dốc Nhà Chung   
Căn phòng trọ trong hẻm  
Một mình sống an nhiên  
 
Rủ nhau ra ngồi quán  
Trước nhà thờ Chánh tòa   
Ly cà phê buổi sáng    
Ngồi lặng yên nhìn xa  
 
Từ lúc em giã biệt   
Vẫy tay chào trần gian  
Đà Lạt nghe trống trơn 
Anh bước đi cô tịch    
 
Hẹn một lần gặp lại   
Nơi sông suối cỏ lau   
Nắm chặt bàn tay nhau   
Tình anh em còn mãi.
 
Đỗ Tư Nhơn
Thị xã Quảng Trị, 4-12-2023.

  

 
        Chỗ ngồi năm xưa/Chỉ còn ghế trống/
        Em về cõi không/Anh buồn lệ ứa!

READ MORE - HAI ANH EM HỌ ĐỖ - Thơ Đỗ Tư Nhơn

Friday, July 7, 2023

ĐỌC “DỐC HOA VÀNG, NHỚ CẬU”, thơ Nguyễn Đại Hoàng - Châu Thạch


    
           Nguyễn Đại Hoàng đang phát biểu 
              tại diễn đàn Quán Văn                                       
 
          
DỐC HOA VÀNG - NHỚ CẬU
 
Tôi vẫn thấy- người về dốc thẳm
những mù sương Đà Lạt ngàn năm
những nụ cười im lặng xa xăm
những trang viết mang hồn đất nước…
 
Người ra đi – thơ còn xuôi ngược
để gởi tình yêu – gởi cuộc đời
những bài thơ tháng năm vẫn đợi
hoa quỳ vàng vời vợi cố nhân…
 
Hồn quê cũ mẹ hiền vương vấn
nếp nhà xưa mấy bận bâng khuâng
nhớ Nguyễn Hoàng - nhớ nắng Hải Lăng
mây trắng - nhớ tài hoa Quảng Trị
 
Tôi vẫn thấy người trên vạn lý
Hồ Xuân Hương lặng lẽ chiều buông
dốc hoa vàng
người đứng trong sương…
 
                            Nguyễn Đại Hoàng
 
 
ĐỌC “DỐC HOA VÀNG- NHỚ CẬU”, thơ Nguyễn Đại Hoàng 
                                                       Châu Thạch
 
Tôi chỉ mới biết nhà thơ Nguyễn Đại Hoàng gần đây. Tôi biết ông qua những bài tùy bút viết về thơ trên trang facebook có tên Anh Dung Hoang.
 
Phải nói tuy mới biết ông, nhưng tôi vô cùng ái mộ bởi bài viết của ông ngắn gọn, súc tích, chính xác và trí tuệ.
 
Hôm nay lại được đọc bài thơ ông viết để tưởng nhớ cậu ruột của mình, nhà thơ, nhà dịch giả, triết gia Đỗ Tư Nghĩa, cũng là một đồng môn mà tôi hằng cảm phục, khiến tâm hồn tôi như gặp, cảm xúc trong tôi như gần với cảm xúc trong thơ.
 
Chỉ cần đọc câu thơ đầu tiên “Tôi vẫn thấy - người về dốc thẳm” ta đủ tưởng tượng một khung trời buồn, một con dốc hút xa tầm mắt, và bóng người về mỗi lúc một hiện gần hơn.
 
Rồi thì “những mù sương Đà Lạt ngàn năm” định vị cho ta biết ngay, bóng người đi trong khung trời Đà Lạt sương mờ. Đà Lạt không sương mờ bây giờ, nó sương mờ từ ngàn năm trước.
 
Câu thơ kéo hình ảnh người đi như đi từ quá khứ xa xăm để về trên con dốc dài muôn dặm.
 
Từ hình ảnh người đi, tác giả cho ta liên tưởng ngay đến con người và sự nghiệp của con người đó.
 
“Những nụ cười im lặng xa xăm” phải chăng muốn mô tả bóng dáng của một hiền nhân suy tư trong im lặng và thỏa lòng với nụ cười chân thiện khi ngộ một vấn đề nan giải.
 
Đúng vậy, câu thơ “Những trang viết mang hồn đất nước…” cho ta biết người viết về những điều to lớn, ngang tầm đất nước, quê hương.
 
Vậy thì, đọc khổ thơ đầu, nếu nghĩ gần, ta thấy nhà thơ tả hình ảnh một người trí thức đi trên con dốc, dưới sương mờ Đà Lạt.
 
Đúng thế, nhưng nếu nghĩ xa hơn, ta sẽ thấy đàng sau những thước phim thực tế kía, có những ẩn ý sâu xa về thân phận, về cuộc sống âm thầm, ẩn dật, suy tư, lặng lẽ và miệt mài trên con đường đời, để đi tới lý tưởng mà Đỗ Tư Nghĩa, người cậu ruột của nhà thơ đã sống trên khung trời Đà Lạt sương mờ.
 
Qua khổ thơ thứ hai hiện rõ thêm việc làm và nhân cách của nhân vật trong thơ:
 
Người ra đi – thơ còn xuôi ngược
để gởi tình yêu – gởi cuộc đời
những bài thơ tháng năm vẫn đợi
hoa quỳ vàng vời vợi cố nhân…
 
Câu thơ “Người ra đi - thơ còn xuôi ngược” chứng tỏ người đó lao động trí óc suốt một đời.
 
Thành quả lao động trí óc của người đó dâng cho đời nhiều lợi ích đến nổi thơ vẫn còn xông xáo khi người ấy đã ra đi.
 
Di cảo của người ấy còn những bài thơ đẹp như “hoa quỳ vàng” vời vợi chờ cố nhân.
 
Cố nhân đây không phải chỉ là người tình, mà còn là tri kỷ từng gặp kiếp nầy, tri kỷ chưa gặp trong đời này nhưng có duyên từ kiếp trước, sẽ gặp trong thơ ở “Tam bách dư niên hậu” biết đâu.
 
Khổ thơ thứ hai làm cho sống động nhân vật trong thơ, dựng lên hình tượng cao thương trong tình yêu, trong cuộc đời, đem hoa quỳ Đà Lạt vào thơ bằng hình ảnh “Hoa quỳ vàng vời vợi cố nhân” làm hóa hình thơ của Đỗ Tư Nghĩa đẹp vô vàn trong khung trời Đà Lạt mộng mơ.
 
Khổ thơ thứ ba sơ lược tiểu sử đời người:
 
Hồn quê cũ mẹ hiền vương vấn
nếp nhà xưa mấy bận bâng khuâng
nhớ Nguyễn Hoàng– nhớ nắng Hải Lăng-
mây trắng - nhớ tài hoa Quảng Trị
 
Nhà thơ, dịch giả, triết gia Đỗ Tư Nghĩa để lại cho đời một gia tài văn chương, triết học đồ sộ, những bản dịch của ông quý giá cho đời.
 
Đọc tiểu sử đời ông không khác chi loài hoa Hoàng Lan, biểu tượng cho sức sống mạnh mẽ, tràn trề, tựa như ngôi sao tỏa sáng rực rỡ.
 
Ông viết và viết, mang đến cho đời niềm vui trí tuệ, cho diễn đàn văn học nước nhà những tác phẩm hữu ích cho đời.
 
Đỗ Tư Nghĩa sinh tại Quảng Trị, lớn lên từ ngôi trường Hải Lăng, trung học Nguyễn Hoàng Quảng Trị, sau đó trường đại học và trường đời.
 
Mẹ và quê chắc chắn ở trong con tim nhiều cảm xúc kia, tất nhiên nhớ mẹ, nhớ quê, nhớ ngôi trường là điều phải có.
 
Nhớ nắng Hải Lăng, mây trắng là hình ảnh của tuổi thơ với bầu trời của mình, nhớ tài hoa Quảng Trị là nhớ bạn bè thân thương trong tuổi học trò.
 
Đất Quảng Trị nghèo khó, nắng cháy mưa dầm nhưng người Quảng Trị rất tài hoa và phong nhã.
 
Qua khổ thơ thứ tư, tiếng thơ lắng xuống nhẹ nhàng, êm ái, hình ảnh nhạt nhòa, thơ mộng trong bầu trời trầm lắng, trong con dốc thăm thẳm nhưng đầy hoa vàng, làm cho người đi tồn tại kỳ vĩ trong khói trong sương:
 
Tôi vẫn thấy người trên vạn lý
Hồ Xuân Hương lặng lẽ chiều buông
dốc hoa vàng
người đứng trong sương…
 
“Vạn lý” có nghĩa là rất dài, còn có nghĩa là muôn dặm như Vạn Lý Trường Thành.
 
Vậy Nguyễn Đại Hoàng thấy cậu mình trên vạn lý là thấy hoài trong tâm tưởng, thấy hình ảnh tồn tại trong dòng sông ký ức của mình.
 
Nhà thơ nhớ cậu khi cậu đứng bên Hồ Xuân Hương, khi đi trong sương trên dốc hoa vàng.
 
Tất cả những hình ảnh thân thương đó không duy là nỗi lòng của người cháu nhớ cậu mà là bản trường ca truy điệu, đại diện cho nhân sĩ thời đại nầy nhớ thương một nhân sĩ đã ra đi khuất bóng dốc hoa vàng, còn chăng là ảo ảnh trong sương mờ Đà Lạt, ẩn hiện trong mắt thi nhân vì thương nhớ.
 
Bài thơ “Dốc Hoa Vàng- Nhớ Cậu” của Nguyễn Đại Hoàng viết về một ảo giác giữa mù sương Đà Lạt, ảo giác đó mang hình ảnh thật nằm sâu trong ký ức, hằn lên những kỷ niệm thân thương về một nhân vật tài hoa đi về trên con dốc có hoa vàng, bên cạnh Hồ Xuân Hương. Nhân vật đẹp như thơ và bài thơ như mộng!
 
Châu Thạch

READ MORE - ĐỌC “DỐC HOA VÀNG, NHỚ CẬU”, thơ Nguyễn Đại Hoàng - Châu Thạch

Saturday, March 25, 2023

GẶP NHAU GIỮA MÙA ĐẦU TIÊN – Thơ Trần Thoại Nguyên


 


GẶP NHAU GIỮA MÙA ĐẦU TIÊN
(Tặng anh Đỗ Tư Nhơn, anh trai của Bạn Vàng Đỗ Tư Nghĩa.)
 
Nửa thế kỷ đã già nua
Còn duyên nhau, gặp giữa mùa đầu tiên!
Hẹn nhau từ bữa sinh tiền
Đỗ Tư Nghĩa đã về miền Bồng Lai!
 
Bây giờ mới gặp nhau đây!
Đỗ Tư Nhơn hỡi! Sáng nay Hoa Vàng
Phạm Thiên Thư ngó nhìn sang
Cùng vui cười nói rộn ràng quán không!
 
Bây giờ tóc trắng như bông
Đỗ Tư Nghĩa! Nhắc Bạn! Lòng nhớ thương!
Trần gian ngọn gió vô thường
Bạn đi trước! Hẹn quán đường thiên thu!
 
Ở đây sương khói bụi mù
Vui từng khoảnh khắc theo phù hoa bay!
Chén tình rót uống hồn say
Cõi nhân gian mộng cỏ cây xanh bờ!
 
Gặp anh đây, tặng vần thơ
Chút tình lưu niệm giấc mơ cuộc đời!
Mai sau nhật nguyệt mù khơi
Còn xanh rêu đá mây trời nghìn thu.
 
Quán Hoa Vàng, sáng 27/9/2022.

BỤI ĐỜI THI SĨ Trần Thoại Nguyên

READ MORE - GẶP NHAU GIỮA MÙA ĐẦU TIÊN – Thơ Trần Thoại Nguyên

Sunday, November 27, 2022

NHỮNG KỶ NIỆM CÙNG ĐỖ TƯ NGHĨA - Đỗ Tư Nhơn

 

Những kỷ niệm cùng Đỗ Tư Nghĩa

ĐỖ TƯ NHƠN

 

LTS TC CỬA VIỆT: 

Nhà giáo, dịch giả Đỗ Tư Nghĩa người Quảng Trị, từng sinh sống và làm việc lâu năm ở Lâm Đồng. Sống lặng lẽ, song ông đã dịch nhiều tác phẩm văn học nước ngoài nổi tiếng đã được xuất bản; và còn nhiều tác phẩm dịch thuật ở dạng bản thảo, hoặc được đăng tải trên mạng. Một năm sau ngày mất của Đỗ Tư Nghĩa, thương tiếc người em tài hoa, nhà giáo Đỗ Tư Nhơn có bài viết gửi cho tòa soạn Cửa Việt.

Giờ đây Nghĩa đã về với tổ tiên, ông bà, thầy mợ nơi cõi vĩnh hằng sau 75 năm Bước lững thững qua trần gian một bận / Đã thấy sầu in vết dưới chân im (Bi khúc 1-1972 trong tập Gởi tình Yêu- Gởi Cuộc đời của Đỗ Tư Nghĩa). Những kỉ niệm với gia đình, bè bạn còn trong ký ức của những người thân,từng gắn bó kết giao tình cảm.

Ba chị em chúng tôi: Đỗ Thị Như Mai, Đỗ Tư Nhơn, Đỗ Tư Nghĩa vốn nguyên quán là làng Cui, Tuy Lộc, Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Bố chúng tôi vào Quảng Trị làm viên chức thừa phái dinh Tuần Vũ đóng tại Thành Cổ, nhưng mất sớm lúc tôi vừa lên ba, Nghĩa còn trong bụng mẹ.

 

Chân dung Đỗ Tư Nghĩa qua nét ký họa của Thanh Trí

Nghĩa cất tiếng chào đời ở làng ngoại Quảng Điền, Triệu Phong, Quảng Trị khi gia đình tản cư về đây, sống trong căn nhà của ông bà ngoại đã qua đời. Biết bao kỷ niệm giữa bom đạn chiến tranh, với những mùa mưa lụt nước mênh mông mà ba chị em chúng tôi cùng chịu đựng nơi miền quê này.

Khoảng 7,8 năm sau, gia đình tôi chuyển lên thị xã Quảng Trị, mẹ buôn bán kiếm sống nuôi con ăn học. Chúng tôi có chung kỷ niệm ấu thời. Từ lúc nhà ở gần trạm điện cho đến khi sống giữa làng Thạch Hãn cùng bạn bè chơi bi, đánh đáo, ù mọi, đánh căng và làm báo viết tay.

Những năm học trung học Nguyễn Hoàng, Nghĩa nổi tiếng giỏi Văn, Anh Văn. Tôi và Nghĩa đều yêu thích văn chương, sách báo. Khi quyển sách Ý thức mới trong văn nghệ và triết học của Phạm Công Thiện ra đời, anh em chúng tôi tìm mua cho mình mỗi người một tập, Nghĩa đọc kỹ, gạch đỏ những đoạn văn tâm đắc. Sau này chính Nghĩa cho biết đã chịu ảnh hưởng của Phạm Công Thiện khá đậm.

Mẹ của chúng tôi tần tảo, thương yêu các con vô cùng, mà chưa thể nào chúng tôi báo đáp thì mẹ đã qua đời. Đó là mùa xuân năm 1971, Tết đó, sau những ngày buôn bán cuối năm vất vả, mẹ tôi nhuốm bệnh. Vợ chồng tôi, Nghĩa, Thắng ở một bên giường mẹ lo lắng, rồi nhờ chị Định, y tá truyền nước biển. Ngày mồng một, mẹ tôi còn nhận biết, nhưng tờ mờ sáng mồng hai, mẹ ra đi không lời trăng trối. Anh em chúng tôi vô cùng buồn đau, thương tiếc. Ở tầm hồn Nghĩa, bắt đầu có sự hụt hẫng vì Đìu hiu trái đất đâu còn mẹ / Sông núi xanh còn ta lãng du (Bi khúc 3).

Một biến cố thứ hai “đã ném” Nghĩa và người dân Quảng Trị ra khỏi quê nhà, đó là mùa hè đỏ lửa năm 1972. Tất cả chạy loạn vào trại tạm cư Đà Nẵng - Quảng Nam. Nghĩa đưa bà nội vào Đà Lạt nương náu tại nhà người cậu ruột một thời gian rồi về Bảo Lộc dạy học. Tâm thức Nghĩa buồn đau vô vọng, đã gởi vào 4 bài Bi khúc được sáng tác vào năm này.

Suốt 9 năm dạy học tại Bảo Lộc đã để lại trong tâm hồn Nghĩa những kỷ niệm đẹp. Đó là mối tình với Hoài An, cô giáo Đà Lạt xa nhà. Năm 1976, lễ cưới được người cậu tổ chức cho Nghĩa - An đàng hoàng, chúng tôi không vào dự được chỉ gởi quà mừng.

Năm 1981, vợ chồng Nghĩa được chuyển lên dạy trường Nguyễn Du Đà Lạt, Nghĩa bắt tay vào việc dịch thuật. Cuộc sống mỗi lúc một khó khăn đã tác động vào tâm hồn Nghĩa, những bài thơ nhức nhói, trăn trở được viết vào năm 1983, 1984 sau này in vi tính thành tập thơ Gởi tình yêu - Gởi cuộc đời.

Đôi ba niềm vui đã đến, là khi các tập sách dịch được xuất bản từ năm 1986 như: Khi bố còn thơ, Như cơn mưa bay đi, Những cuộc phiêu lưu của Sherlock Holmes… Nghĩa đã gởi về cho chúng tôi và bạn bè với chữ ký tặng. Bạn bè chia sẻ niềm vui cùng Nghĩa qua những bức thư hồi âm.

Cuộc đời không phải bao giờ cũng yên ả, gia đình Nghĩa bỗng phải chia hai. Vào năm 1992, Nghĩa quyết định ở lại Việt Nam, để cho vợ và hai con sang Mỹ định cư theo diện gia đình vợ bảo lãnh. Chúng tôi góp ý, khuyên Nghĩa rất nhiều lần nên cùng đi với gia đình. Sau này nghĩ lại, chúng tôi thấy Nghĩa đúng.

Ban đầu, lúc vợ con ra đi, Nghĩa đến ở với anh bạn Nguyễn Diệp, trong khu đất Sở Giáo dục Đà Lạt. Một thời gian ngắn sau, Nghĩa về thuê căn phòng trọ gần nhà cũ hẻm số 19 đường Nhà Chung, cạnh nhà thờ Con Gà, ở đó suốt 30 năm cùng những chồng sách cũ, mới ngập cả phòng.

Sống một mình, dạy trẻ học tiếng Anh, ăn chay trường và tiếp tục dịch sách. Các anh chị và các cháu thông cảm hoàn cảnh Nghĩa đã hỗ trợ một ít trong một thời gian ngắn, trước khi liên lạc với vợ con. Nghĩa nhận được quà và tiền để chi phí cho cuộc sống, sách báo, máy tính để làm việc.

Rồi Nghĩa gửi một bức tâm thư cho Hoài An sau 10 năm xa cách. Nghĩa chân tình nói với Hoài An rằng: Nếu có một người đàn ông biết yêu thương An và hai con, có trách nhiệm với gia đình thì nên đồng ý. Còn về phần Nghĩa, bấy lâu quen cuộc sống độc thân, không bị ràng buộc khó sống chung trong một gia đình.

Sống Đà Lạt với hoa dã quỳ thơ mộng, nhưng cũng có lúc tâm hồn Nghĩa chợt nhớ quê cũ Quảng Trị, với bạn bè người thân một thuở gắn bó. Mùa xuân 2004, con gái đưa Nghĩa về thăm chúng tôi, cùng hưởng một cái Tết đoàn tụ, trong khói hương, tưởng nhớ tổ tiên, ông bà, thầy mợ. Rồi tôi và Nghĩa vào Huế thăm mộ bố chúng tôi ở chân núi Ngự Bình, gặp các bạn thời sinh viên… Lần này chúng tôi muốn Nghĩa ở lại quê nhà, để anh em cùng sống bên nhau lúc già yếu, bệnh tật. Nhưng độ 2,3 tuần Nghĩa cảm thấy buồn, nhớ Đà Lạt, hơn nữa trời lạnh quá làm Nghĩa bị mệt, phải chia tay Quảng Trị.

Tôi lên Đà Lạt thăm Nghĩa nhiều lần. Có năm, lên Trúc Lâm thiền viện thỉnh kinh sách, Nghĩa mua tặng tôi nhiều tập, đĩa CD giảng đạo của quý thầy. Nghĩa nghiên cứu sâu xa và thực hành về đạo Phật cho nên sau này dịch sách của các đạo sư, ni sư thật rõ ràng, chú thích rất bổ ích cho người đọc.

Vốn liếng triết học Đông Phương và Tây Phương cũng tạo cho Nghĩa niềm say mê khi chuyển ngữ các tác phẩm mang giá trị tư tưởng: Nghệ thuật sống, Suy niệm mỗi ngày, Kahlil Gibran, Phiếm thần luận

Chẳng bao lâu Nghĩa bị tai biến lần hai, tôi và con trai lên thăm vào 27 tháng chạp, chuẩn bị đón Tết Tân Sửu. Bệnh tình của Nghĩa nặng hơn, tuy mắt còn sáng, trí óc hiểu biết nhưng chân tay bị liệt, Nghĩa cảm thấy buồn vô vọng.

Khi chúng tôi về lại Quảng Trị, được tin Nghĩa bị dịch tràn màng phổi, phải thở ôxy, giữa lúc dịch Covid đang lan tràn. Con gái Nghĩa bằng mọi cách đã về bên bố giai đoạn cuối đời. Chúng tôi thường liên lạc với nhau để biết tình hình sức khỏe của Nghĩa, khi nguy kịch, khi tạm ổn.

Nhưng rồi Nghĩa đã trút hơi thở cuối cùng vào lúc 6 giờ 15 phút sáng 16/9/2021, bên cạnh con gái và 3 cháu điều dưỡng, ông cậu tu sĩ. Bạn bè, bà con, học sinh cũ gần xa đã đến phúng viếng, gởi vòng hoa chia buồn cùng gia đình.

Nghĩa là một con người quen sống thầm lặng, ít giao tiếp nhưng khi từ giã cõi đời lại được nhiều người thương tiếc về nhân cách, tâm hồn, sự khiêm tốn và tài năng qua các tác phẩm dịch và thơ để lại cho đời.

Nhà thơ Bùi Minh Quốc và nhóm “người hiền Đà Lạt” mà Nghĩa từng kính phục, đã gởi đến hai câu đối:

Xe thiên cổ đưa người về cực lạc

Chốn hồng trần bè bạn luống đau thương

Bình tro được đặt trên bàn thờ. Con gái tiếp tục phóng sinh, làm từ thiện. Sau 49 ngày, tro sẽ được rải trên hồ nước trong xanh Tuyền Lâm, dưới chân của thiền viện Trúc Lâm của Đà Lạt. Trong dịp này, cháu Diễm Thư, theo lời dặn của bố đã trao trọn vẹn tủ sách quý giá của bố cho Trần quốc Vĩnh - làm thư viện Đỗ Tư Nghĩa để thân hữu và con cháu yêu thích đến đọc để tâm hồn được thăng hoa, điều Nghĩa luôn mong muốn.

_________________

Một số sách dịch thuật văn học nước ngoài của Đỗ Tư Nghĩa đã xuất bản:

1. Những cuộc phiêu lưu của Sherlock Holmes (Conan Doyler), Nxb Sở VHTT Lâm Đồng, 1985.

2. Khi bố còn thơ (Araskin), Nxb Sở VHTT Lâm Đồng, 1986.

3. Như cơn mưa bay đi (S. Krutilin), Nxb Sở VHTT Lâm Đồng, 1986.

4. Dưới ánh trăng (Guy de Maupassant), Nxb Sở VHTT Lâm Đồng, 1986.

5. Truyện phiêu lưu của Pick Wick (Charles Dickens), Nxb Thuận Hóa - Huế, 1994.

6. Con đường tuổi trẻ (Daisaku Ikeda), Nxb Trẻ, 2005.

7. Cuộc đời của luận sư Rajneesh Chandra (tự truyện Osho), Nxb Trẻ, 2007.

8. Tự thú ( Lev Tolstoy), Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2007. 

9. Tìm lại nụ cười (Philip Martin), Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2009.

10. Kahlil Gibran - ngọn lửa vĩnh cửu (Barbara Young), Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2009.

11. Suy niệm mỗi ngày (Lev Tolstoy), Nxb Văn học & Khai Tâm, 2016.

12. Nghệ thuật sống (Epictetus), Nxb Văn học & Khai Tâm, 2016

13. Đời Tolstoy (Romain Rolland), Nxb Hồng Đức & Khai Tâm, 2017

14. Chuyện tình của các triết gia (Andrew Shaffer), Nhã Nam, 2018.

15. Chuyện tình của các nhạc sĩ thiên tài (Gustav Kobe), Nhã Nam, 2018.

16. Phiếm thần luận (Paul Harrison), Nxb Tri thức, 2018.

17. Đời Beethoven (Ramain Rolland), Khai tâm, 2021.

Ngoài ra còn gần 20 tác phẩm trong bản thảo, đăng trên mạng, chưa xuất bản.

ĐỖ TƯ NHƠN

Nguồn: Bài viết đăng trên Tạp chí Cửa Việt số 338, Đỗ Tư Nhơn gởi bản PDF qua Zalo.

READ MORE - NHỮNG KỶ NIỆM CÙNG ĐỖ TƯ NGHĨA - Đỗ Tư Nhơn

Thursday, September 15, 2022

TRÊN GIƯỜNG BỆNH NHỚ NGÀY TIỂU TƯỜNG CỦA ĐỖ TƯ NGHĨA (16/9/2022) TẠI ĐÀ LẠT - Đoàn Đức.

 
Vợ chồng Đức-Nhàn ghé thăm Đỗ Tư Nghĩa 
(ngày 10/3/2021 tại Đà Lạt)
 

Thân gởi Mylly con gái yêu của Nghĩa!
 
Rồi 10/3/2021 Chú Thím hẹn Bs Seiko đến thăm ba cháu.
Khi ba cháu muốn tựa đầu vào ngực chú. Chú nhớ đến các bạn đồng song với ba cháu, nên viết vài dòng kèm ảnh gởi cho họ.
 
Nghĩa ơi! Còn đâu màu cỏ úa. Con đường xưa chúng ta đi. Ngày hai buổi đến trường. Bảy năm ròng cùng lớp. Trường Nguyễn Hoàng Quảng Trị thuở thơ ngây.
 
Rồi ngày hạ hết cấp. Khi đậu xong Tú Tài toàn phần. Minh, Thắng, Nghĩa ba đứa cùng vào Đà Nẵng, ghé bãi biển Nam Ô. Bên bờ đá sóng vỗ. Chụp lại tuổi thanh xuân. Khuôn mặt ngời rạng rỡ. Một thời trai hoài bảo.
 
Rồi đến tình Văn Khoa Đại Học. Những giờ nghe giảng triết. Nghĩa, Hạnh, Minh cùng Tuấn. Bên bóng hồng Như Ngân. Nghĩ cuộc đời thơ mộng. Hiện sinh cùng hiện tại giữa cõi đời này. Đó là phút huy hoàng vô hạn. Bốn năm rồi cũng hết. Chia tay dù không nói. Lẳng lặng chỉ nhìn nhau. Trời mai đầy ước hẹn. Sá gì chút bận lòng.
 
Cánh chim bay tung cánh bạt ngàn.
Ai ngờ con chim nhỏ về đậu. Bảo Lộc khuất sương mù.
Cầm phấn vẽ cuộc đời.
Vòng đầu hay vòng cuối.
Tận cùng hay khởi điểm?
Hữu thể và hư vô.
Hãy hỏi Heidegger mà Nghĩa học.
 
Nay lên thăm bạn. Trên chiếc giường hiu quạnh. Bạn đang tìm hình bóng cũ. Bóng người hay bóng ta. Trong trí nhớ mịt mù. Tìm đâu tìm làm chi?
 
Nay nghe đời réo gọi. Tìm giấc ngủ thần tiên. Ai rồi cũng một lần ra đi một mình. Ra đi là hết rồi. Nghĩa ơi biết còn nhớ hay quên! Nghĩa ơi trên giường bệnh, đầu muốn tựa vai Đức. Như níu kéo thuở ngày xưa. Thắng, Minh, Hạnh ơi! Nghiêng vai cho Nghĩa tựa một lần, lần đầu cũng là lần cuối.
 
Đức viết hộ cho cả 5 đứa:
 
Dù cho lửa tắt hương nồng,
Đài hoa héo nụ đừng buồn bạn ơi.
Xa nhau đưa tiên một lời,
Quan san nẻo ý như ngồi bên nhau,
Rời đi không nắm được tay,
Không lời giã biệt, chỉ hàng lệ mau.
Sá gì một cuộc thiên thu,
Ngàn sau tái ngộ biết còn hay không.
                                                                                 
Đoàn Đức                                                                
Thứ Tư, 14/9/2022


READ MORE - TRÊN GIƯỜNG BỆNH NHỚ NGÀY TIỂU TƯỜNG CỦA ĐỖ TƯ NGHĨA (16/9/2022) TẠI ĐÀ LẠT - Đoàn Đức.

Saturday, November 27, 2021

ĐỖ TƯ NGHĨA & TẬP THƠ ĐỂ LẠI - Hồ Sĩ Khang

 


ĐỖ TƯ NGHĨA & TẬP THƠ ĐỂ LẠI

 Hồ Sĩ Khang


        Những ngày này, trên facebook của một “ông lão rất thân’’ 78 tuổi , tôi thấy xuất hiện nhiều bài thơ. Các bài này, ông đã tự mình ngồi gõ lại trên máy tính. Tôi cũng đã phát hiện một lỗi chính tả trong khi đọc, và kín đáo nhắc ông.

 Đó là những bài thơ của em trai ông làm cách đây lâu lắm rồi.

 Trong tập thơ của người em, ông đã tự mình lựa ra và lần lượt chép lại.

Hình ảnh một ông lão cặm cụi gõ chữ như “mổ cò”, chậm chạp từng dòng một mới thấy thương cảm làm sao!

Lần trước mỗi lần nhớ em, ông chỉ đăng những tấm hình thôi.

Nhưng lần này, tự nhiên thấy ông lần mò ngồi gõ lại. Tôi linh cảm một điều gì đó.

Và chăm chú xem mấy câu thơ mở đầu:                                       

      “Có một đêm

       Giữa mùa quỳ vàng Đalat    

       Tôi thức giấc giữa khuya sâu                                        

       Và bỗng nhiên              

       Tôi nghĩ đến cái chết của mình…”

       

Tự nhiên khi đọc đến đây, tôi nghẹn lại. Chung quanh tôi, không gian như chùng xuống. Có một cảm giác rất lạ trong tôi.

Những bài thơ này, em trai ông: anh Đỗ Tư Nghĩa sáng tác năm 1983, nhưng cũng có bài làm từ năm 1972.

Tôi cũng không nhớ đây là lần thứ mấy, tôi đọc tập thơ này. Vì cứ mỗi lần đọc, tôi lại bị các câu chữ trong thơ anh níu chặt tâm hồn.

Hương vị của Triết học phảng phất gần hết tập thơ.

Cứ mỗi bài, tôi lại nhận ra một suy nghiệm mới rất minh triết mà không phải tự nhiên ai cũng cảm nhận được trong đời thường. Nó là kết tinh của những trải nghiệm và trí tuệ lắng sâu trong mỗi lần nhắm mắt thiền niệm.

 Người đọc ngoài việc được mở ra một tầm trí huệ, còn được đánh thức trái tim đã lỡ để ngủ quên.

Tác giả đã nhìn thấu mọi khía cạnh các sự việc trong đời.

Có lần tôi nghĩ về những quả bong bóng với nhiều sắc màu cuốn hút trong bài thơ anh viết. Quả bóng rồi sẽ đến lúc bị vỡ, nhà thơ đã ngộ ra những điều đơn giản sâu sắc nhất: tính vô thường của vạn vật, câu kết thúc bài thơ, anh viết như một lời khuyên trong kinh sách: hãy buông xả mọi ham muốn dục vọng trên đời.

          “…Thôi đừng tiếc những gì em sẽ mất

         Em hãy biết mỉm cười

         Khi bóng vỡ

        Trên tay..”

Hôm nay, thấy “ông lão “ ngồi chép thơ của người em, chép cả những lời vọng lại của bạn bè, người thân.

Tôi lặng lẽ đi tìm tập thơ …

****


Nỗi đau trong tháng ngày tâm linh khủng hoảng đã vô tình giúp cho nhà thơ viết nên những câu thơ xoáy sâu vào tận lòng người.

Đó là những bài thơ anh phải trả giá bằng một sự đọa đày tâm hồn bị tổn thương rỉ máu. Vì có ai biết rằng:

          “ có khi viết xong một bài thơ

             hồn tôi như thân cây trụi lá

            đứng chơ vơ lạnh dưới sương chiều

            Có khi viết xong một bài thơ

            tôi như người say

            như người chết đuối

            như bóng ma

           trở lại dương trần…” 

(Có khi viết xong một bài thơ).

Trong thơ anh, luôn là một sự khắc khoải, ray rứt về cuộc đời, số phận và bao điều đang xảy ra.

Với anh, tất cả đều đáng được suy nghĩ.

Cứ tưởng những mẫu chuyện, những hình ảnh ấy rất đỗi bình thường, nhưng rồi khi đọc thơ anh, ta mới nhận ra đằng sau đó là một bài học triết lý cao cả.

Bài học ấy khuyên ta buông bỏ các ham muốn trên đời.

Bài học ấy giúp ta nhìn được nhưng lẫn khuất mà mắt người bị vùng u tối che mất. Bài học ấy có khi nhắc một đôi tình nhân nhận ra những nụ hôn không còn mang hương vị tình yêu.

Bài học ấy cũng bày cho ta biết phải làm gì khi một ngày trái tim “gõ nhầm một căn nhà kín cửa”,

và còn rất nhiều bài học nữa…

Cứ mỗi bài thơ, chúng ta lại được tỉnh thức và chiêm nghiệm lại cuộc đời…

* Một cây quỳ vàng trên lối về giáo đường quen thuộc, chiều nay bị ai đó đốn ngã, anh chợt thấy đớn đau, xót xa vì nhận ra cuộc đời “đâu cần cái đẹp”, đâu cần những “bông hoa vàng vô dụng”. Chỉ anh mới có những cảm thức rất từ bi, khi nghĩ rằng một loài cây cũng là một linh hồn cần được nói lời vĩnh biệt trước lúc chết.

(Vĩnh biệt cây hoa quỳ vàng)

*Khi nhìn một người con gái đi lấy chồng có mấy ai nghĩ: họ lấy chồng vì điều gì? Tự bản thân nhà thơ đã trở thành một người “thống kê nguyên nhân” trong câu chuyện này. Và cái bất ngờ là một kết quả:

             “Đã có bao nàng con gái đi lấy chồng

             Vì đã chọn Tình Yêu”

                 (Có những nàng con gái đi lấy chồng)

*Có một lần nhà thơ ngồi uống cà phê trên dốc cao trước cổng chợ Đà Lạt, nhìn dòng người tất bật ra vào chợ để mưu sinh, tất cả những khuôn mặt thể hiện sự căng thẳng của họ trong cuộc sống. Tự nhiên anh chợt nghĩ: “Phải chăng đời chỉ có những bữa ăn.” Liệu có ai còn chút thời gian “để cười, để khóc, để lắng nghe tiếng đập trái tim mình.” Vậy là bài thơ “Có ai đủ thời gian để sống” ra đời. Chỉ đơn giản vậy thôi, mà cho đến hôm nay, tôi vẫn thấy bao nhiêu người còn lam lũ, gấp gáp cả ngày đêm, kiếm tìm tiền bạc, cơm áo. Họ đã không kịp lắng nghe nhịp đập của trái tim và quên luôn cả phần hồn của chính mình.

*Có bài thơ như là một giai đoạn đắng cay cùng cực của anh. Nhà thơ phải đem bán những tác phẩm của mình để có tiền ăn cho những ngày đang sống. Nhưng nhà thơ không bán được bài thơ nào để mua nổi một ổ bánh mì.

Người đọc cảm thấy sự chua xót cho những năm tháng ấy, khi nhà thơ thốt lên trong tuyệt vọng:

             “Nhà thơ ơi

              Thời vàng son của anh đã mất

               Như dấu chân trên cát đã phai rồi”

                            (Nhà thơ và mẫu bánh mì )

* Đôi mắt Đỗ Tư Nghĩa không chỉ là một chiếc máy ảnh phản ánh lại y nguyên sự vật mà còn mang ánh sáng đến cho những điều còn tăm tối. Đôi mắt ấy có khi như một tia chiếu tiên tri số phận con người. Trong bài thơ “khi tôi nhìn một nàng con gái đẹp”, anh đã có một câu kết thúc rất độc đáo. Câu kết thúc mà tất cả các người con gái đẹp phải nhíu mày suy nghĩ: sắc đẹp hay tình yêu mới là hạnh phúc vĩnh viễn trên đời .

               “Hỡi nàng con gái đẹp

                nụ hoa hồng bạc mệnh của trần gian

                em biết chăng

                dù trái tim em thiết tha

                em vẫn phải khổ đau

                vì khó gặp Tình yêu

                giữa cuộc đời này”

* Một lần nữa ta lại thấy đôi mắt của nhà thơ thật sáng suốt, bao dung khi anh quan sát những giọt nước mắt của nhiều con người. Với anh, nước mắt biểu hiện cho nhiều trạng thái: có những giọt nước mắt tủi buồn, thất vọng và có những giọt nước mắt mừng vui, hạnh phúc. Nhưng thật lạ khi anh nhận ra:

Nỗi sợ hãi lớn nhất là khi con người biến thành vô cảm, khi không còn nước mắt để rơi.

          “Tôi vẫn sợ hãi những giọt nước mắt

            của sự chết

            của nỗi sầu

            của những trái tim tan vỡ.

            Nhưng tôi càng sợ hãi

            những đôi mi khô

            những trái tim đá lạnh…”


50 bài trong tập thơ là năm mươi trạng thái, khoảnh khắc, trải nghiệm .

Những buồn đau, cô đơn và biến động cuộc sống;

Những hình ảnh, câu chuyện, sự kiện đọng lại trong cuộc đời;

Những nơi anh từng lang thang : ngôi chùa có chú tiểu chờ cửa trong đêm vắng, căn phòng người bạn dưới chân cầu thang tối tăm…

Và còn rất nhiều điều khác nữa…

Tất cả tạo nên một thứ “nguyên liệu cảm xúc” được anh khắc họa một cách rất riêng, in dấu di chứng tâm linh khủng hoảng của anh trong những ngày tháng ấy .

Tinh hoa của những bài thơ đó là màu sắc cùa Phật giáo, của Triết học, của những suy niệm về cuộc đời, và của một bề dày kiến thức uyên sâu.

Tôi là một hậu sinh, một đứa em đọc thơ anh và chỉ viết lại những cảm nhận yêu thương về một người mà tôi rất quý mến từ khi còn nhỏ.

Thơ anh là máu thịt, là hơi thở của anh.

Vậy mà mỗi lần đọc nó, tôi luôn nghe được nhịp đập trái tim mình.

*****


Nhưng chưa hết, trong tập thơ có một điều gì đó cứ ám ảnh suy nghĩ của tôi.

Liệu có phải đây là lời di ngôn viết sớm. Vì rất nhiều lần trong thơ, anh nhắc đến cái chết.

Những ngày gần đây, dịch bệnh đã trở thành thảm họa, trên một trang facebook của một người không quen, viết về những masoeur có tấm lòng từ tâm, đến các bệnh viện giúp người bị nhiễm dịch, phụ việc cho các hộ lý, y tá , bác sĩ…Họ đã làm mọi thứ để xoa dịu nỗi đau.

Nhưng có một công việc tôi xúc động nhất là lúc họ lần chuỗi hạt Mân côi nguyện cầu cho những sinh linh đang hấp hối giữa cô đơn tuyệt vọng.

Trong thơ anh, tôi nghe như có tiếng người sắp sửa từ biệt cuộc sống, chờ được nghe lời kinh phó tâm hồn.

          “Ôi! một ngày ai khóc mộ ta xanh?” (Bi Khúc IV)

      Và còn một điểm nữa, đó là có nhiều loài chim được nhắc trong thơ anh: có khi là chim họa mi hót trong đêm, khi là một loài chim đứng co ro lặng im trong tuyết trắng, khi là một con chim “điên” hót trên cành cây khô giữa buổi trưa nắng cháy, có khi chính là người nhạc sĩ thiên tài Beethoven mà anh gọi là con chim họa mi vĩ đại…

Riêng anh ví mình như con chim “hót một lần, trước khi vỡ cổ”. Đây là loài chim Thorn chỉ có trong truyền thuyết. Nước Úc có bà văn sĩ dựa vào truyền thuyết này đặt tên cho một cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của mình: Tiếng chim hót trong bụi mận gai. (The Thorn Birds).

Ta hãy lắng nghe lời giã từ vĩnh biệt:

        “Xin gởi lại cho Người

         Tiếng hát của tôi

         như một loài chim

         hót lên một lần trước khi vỡ cổ…

         Này đây, những bài thơ

         mai này tôi chết đi

         xin gởi lại Tình Yêu

         xin gởi lại Cuộc Đời”


Tôi nhìn tập thơ: “Gởi tình yêu- Gởi cuộc đời” trên tay, những tờ giấy in trắng đen bắt đầu úa màu. Tập thơ này do một người cháu đánh máy bằng vi tính, ấn loát đơn giản, chân chất như chính tâm hồn anh. Nó chỉ dành để tặng người thân, bạn bè và được tôi cất hơn 20 năm rồi.

“Gia tài sách” của anh, tôi may mắn còn giữ nhiều. Đó phần lớn là những quyển sách nổi tiếng mà anh đã dịch. Những quyển đó đã trở thành thương phẩm trên thị trường, được trình bày và in ấn rất đẹp. Nhưng với tôi, tập thơ này mới là một kỷ vật xa xưa tôi trân quý nhất.

Bỗng tôi chợt nghĩ: tại sao không in lại tập thơ để lại này cho thật đẹp, để nhớ mãi “tiếng hát” lẻ loi của anh rung ngân trên dòng sông tâm thức.

Trong giây phút ấy, tôi liên tưởng hình ảnh một người đàn ông trên giường bệnh, nén cơn đau, ôm ấp tập thơ vào lồng ngực, như đang lắng nghe hơi thở của chính mình…

                                                                 Hồ Sĩ Khang


READ MORE - ĐỖ TƯ NGHĨA & TẬP THƠ ĐỂ LẠI - Hồ Sĩ Khang