Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, June 20, 2018

NHỮNG MẢNH ĐỜI BẤT HẠNH - Thơ - Ngô Hồng Trung



Kỷ niệm ngày về thăm cơ sở nuôi dạy trẻ mồ côi và những mảnh đời bất hạnh HỒNG QUANG, huyện Tân Thành, tỉnh BR-Vũng Tàu.

Ảnh từ FB Mái Ấm Hồng Quang.


NHỮNG MẢNH ĐỜI BẤT HẠNH

Tôi không tưởng nhiều mảnh đời bất hạnh
Bao sinh linh đỏ hon hỏn chuyền tay
Cháu chào đời vẫn tròn tháng, đủ ngày
Sao cam lòng gửi góc chùa, cổng chợ
Kẻ sinh thành chẳng mảy may... ruồng bỏ
Núm ruột của mình thành trẻ mồ côi
Mẹ cao bay, con “chiếu đất màn trời”
Tấm khăn quấn co ro không tình mẹ
Người đời đặt tên, gắn cho nguồn cội
Thoi thóp nhịp tim hoà phép nhiệm mầu!!

*
Chùa rộng cửa đón “Hồng Quang” đưa tới
Từ mẫu nâng niu nguồn sống qua ngày
Cháu quen dần vòng tay ấm, tựa vai
Người âu yếm dỗ dành trời trở gió
Nhịp tim khỏe nhờ cháo rau nhân thế
Môi điểm cười khách thăm viếng chiều hôm
Không điệu ru, thiếu cánh võng êm đền
Cô bác gần xa mở lòng thiện nguyện
Chuông chùa giục giấc ngủ tròn viên mãn
Ánh hào quang ấp ủ cả đêm dài

*
Mặc chưa hiểu gì cuộc sống trần ai!
Kẻ gieo hạt và nhẫn tâm tạo nghiệp
Cha ở đâu, mẹ làm gì không thiết
Thiện cảm người có ánh mắt từ tâm
Mõ chuông ngân đánh thức cả mộ phần
Và thẩm thấu trái tim thầy răn dạy
Tương lai chờ ngày tươi hồng sẽ tới
Nụ xoe tròn đọng lời dạy Ni,Tăng
Bước chân đi dẫm sỏi đá gập ghềnh
“Hỉ, nộ” giăng tròn bên “ai, ái, ố !”

*
Nguyện dâng hết những gì khi có thể
Bù thiên thần trót bất hạnh quanh ta

NGÔ HỒNG TRUNG
(21-6-2018)

READ MORE - NHỮNG MẢNH ĐỜI BẤT HẠNH - Thơ - Ngô Hồng Trung

YẾN - OANH 1 - 2 -/ Thơ Lê Kim Thượng


          
          Nhà thơ Lê Kim Thượng


YẾN - OANH    1 - 2 

1.
Tặng em một đóa hoa tươi
Ép vào trang vở, nhớ người mai sau
Tặng em con sóng bạc đầu
Ngàn năm ru mãi một câu thề nguyền
Vườn yêu rộn tiếng chim chuyền
Yến - Oanh, chim Sáo, chim Quyên sum vầy
Vòng tay đan chặt vòng tay
Mùi tình mê muội, đắm say hoang đường
Tuổi xuân khoe sắc, tỏa hương
Hương tình trinh nữ vấn vương nồng nàn
Yêu người, yêu lắm dung nhan
Thướt tha dáng liễu, cao sang trang đài
Tóc huyền óng ả buông dài
Nửa ôm ngực nhỏ, nửa cài vai êm
Nắng rơi trên mắt môi mềm
Ngọt tan hoa nắng trên rèm mi cong
Màu sen đỏ thắm môi hồng
Đôi con mắt liếc, mênh mông xuân thì
Nụ hôn khép lại mắt mi
Trăm con chim mộng bay đi về trời
Tiếng yêu ngưng đọng không lời
Lưng nghiêng áo mỏng, buông lơi vai trần
Vòng tay ôm riết châu thân
Mong manh sương khói, xa gần... Phù Dung
Tình trao không chút ngại ngùng
Đã yêu, yêu tới tận cùng... hoan ca...
2.
Cám ơn tình lỡ... tình xa
Cám ơn em đã cùng ta... một thời
Còn đâu tình mới, xuân tươi
Sẻ chia những tiếng khóc cười với nhau
Ô hay... tình rất nhiệm màu
Niềm vui vừa chín... mạch sầu đã tuôn
Mắt ai lệ đã khơi nguồn
Sẻ chia một nửa nỗi buồn tình tan
Có người trên bến Hàn Giang
Cô đơn một bóng, võ vàng tiếc thương
Em đi dệt mộng Uyên - Ương
Bỏ người ngây dại, bên đường lặng câm
Yêu người một lỡ... hai lầm
Tình bay sợi khói nhang trầm chát chua
Cuộc tình người thắng ta thua
Ngồi buồn xếp lá đếm mùa Thu qua
Tàu em khuất nẻo mù xa
Tôi làm ga nhỏ, quê nhà ngóng trông
“Trời mưa bong bóng phập phồng...”
Tình mong manh lắm... bềnh bồng vỡ tan
Vẫy tay từ tạ sang ngang
Bến sông có Kẻ lỡ làng đò đưa
Hai tay che những giọt mưa
Che đôi dòng lệ như vừa muốn rơi
Em về xứ lạ với người
Rượu hồng đưa tiễn môi cười mà đau
Biết đi đâu... biết về đâu?
Đường tình xẻ nửa... xa nhau, xa hoài...

                  Nha Trang, tháng 6. 2018
                      LÊ  KIM  THƯỢNG
…………

“...” Ca dao

READ MORE - YẾN - OANH 1 - 2 -/ Thơ Lê Kim Thượng

VĂN TẾ HỒN MA GIẶC PHƯƠNG BẮC - Lang Trương

 
    
                   Tác giả Lang Trương



VĂN TẾ HỒN MA GIẶC PHƯƠNG BẮC

Hỡi ơi !
Mưa phủ kín trời
Mây giăng ngập lối
Bản quán mịt mờ
Cố hương diệu vợi.
Thảm thiết quá, luân hồi trọn kiếp, phận cam đành sanh bắc tử nam
Não nùng thay, nhân quả mãn đời, số đã định sống mờ chết tối.
Hồn vơ vất bờ hoang bụi vắng, lập lòe đốm lửa ma trơi
Tiếng nỉ non bóng xế canh tàn, ai oán cung đàn quỷ đói.
" Sách trời định đất nào vua nấy ", quỷ tha hương gục mặt cúi đầu
Cương thổ phân bắc đó nam đây, ma viễn xứ còng lưng khụy gối.
Tuyên ngôn đành rành
Hịch truyền vang dội :
" Đánh cho để tóc dài
Đánh cho để răng đen
Đánh cho chúng phiến giáp bất hoàn,
Đánh cho chúng chinh luân bất phản
Đánh để sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ !"
Địa lôi nổ chuyển rung trời đất Bắc, xương tan thịt nát, máu Mãn Thanh lênh láng ruộng đồng
Hỏa hổ soi sáng rực núi sông Nam, mặt cháy da sôi, xác Rợ Hán mỡ màng cây cối.
" Gươm Đại Việt mài khuyết mòn đá núi", xông lên chém phứa, đếch thèm xem cổ giặc cứng hay mềm
"Voi An Nam uống cạn ráo nước sông", xốc tới đạp bừa, chớ cần biết đầu thù hôi hay thối.
Thảm thiết thay !
Nào những kẻ cậy tài thao lược, phải tay hào kiệt, mảnh nhung y chôn sấp liệm càng
Nào những người cậy trí kinh luân, gặp đấng hùng anh, đồ kim giáp xô nghiêng bó vội.
Cũng có kẻ tâm hùng chí tráng, không quen thủy thổ, đành bỏ mình dưới nắng lửa chang chang
Cũng có người vai rộng sức dài, chẳng thuộc địa dư, cam quăng xác dưới ao đầm lầy lội.
Cũng có kẻ mưu cầu danh lợi, lợi danh chưa tới số, phách đã tan bàng bạc áng mây bay
Cũng có người mộng rắp khanh hầu, khanh hầu chẳng đến tay, hồn đã rã hiu hiu làn gió thổi.
Kìa Chi Lăng Liễu Thăng cụt ngọn, đầu lăn lông lốc, nghĩa phu thê đứt gánh hẹn thề
Nọ Đống Đa Nghi Đống lìa trần, cổ thắt lửng lơ, đạo thần tử nghẹn lời trăng trối.
Như Nguyệt Bạch Đằng "sấm rền chớp giật", giáo gươm tua tủa, Hoằng Tháo Toa Đô về Địa Phủ dâng công
Xương Giang Bình Than "trúc chẻ tro bay", tên đạn bời bời, Lý Khánh Lương Minh xuống Âm Ty lãnh tội.
Nào những kẻ dân phu lao khổ, đói cơm lạt muối, chốn Cửu Tuyền còn thân gánh mình gồng
Nào những người nô dịch nặng nề, đồn nặng roi đau, nơi Chín Suối còn vai mang đầu đội.
Chết lăn lóc rừng hoang bể thẳm, phiêu dạt dật dờ mặc gió táp sương sa
Chết mỏi mòn núi hiểm sông thiêng, nổi trôi vất vưởng mặc mưa dầm nắng gội.
Kẻ lạc bước sơn cùng thủy tận, miệng hùm nọc rắn, bồng bế nhau Âm Cảnh dự phần
Kẻ sa chân vực thẳm ao sâu, nanh khái ngà voi, dắt díu chúng Diêm Đài phó hội.
Đi đường thủy, Hà Bá đưa đường
Đi đường bộ, Tử Thần dẫn lối.
Nghe tiếng trống lân lúc dập dồn lúc rộn rã, ngỡ tiếng trống công đồn mà tán đởm kinh tâm
Trông bóng trăng thu khi vằng vặc khi mập mờ, tưởng chiến thuyền nã đạn mà nát gan vỡ phổi.
Cốt nhục nào chẳng xót, thịt xương kia chất đống thành gò
Huyết lệ nào không cay, nước mắt đó tuôn tràn thành suối.
Thảm thiết bấy mẹ già cha yếu, canh thâu tựa cửa, ngóng tin con ruột héo gan mòn
Thê lương thay vợ dại con thơ, đêm vắng trở mình, trông bóng bố đầu bù tóc rối.
Hồi cố quốc lối xưa thăm thẳm, thảm trạng nước nhà tin tức không thông
Ngóng cố hương nẻo cũ mịt mờ, hiện tình quê quán đường truyền khó nối.
Tổ quốc các ngươi nay :
Hạng nô tài hèn hạ lại tiếm ngôi cửu ngũ, nghe cái tên thánh tởm thần kinh
Giống ca xướng vô loài lại ngồi ghế mẫu nghi, trông bản mặt ma hờn quỷ chối.
Múa lưỡi rêu rao thánh hiền chật đất, nào Trình nào Khổng, học tiền nhân trên lọc dưới lừa
Ngoác mồm lếu láo chánh đạo ngút trời, nào Lão nào Trang, dạy hậu thế trong gian ngoài dối.
Mặt nung núc như loài heo nọc, còng lưng dân một nắng hai sương
Mình lặc lè tựa lũ lợn sề, nguy mệnh nước ba chìm bảy nổi.
Tàn độc hơn cả loài quỷ dữ, Thiên An Môn xích nghiến lạnh lùng
Dã man hơn cả lũ ác ma, chùa Tây Tạng lửa thiêu nóng hổi.
Dẫu tu tròn chín kiếp cũng khó giải nghiệp căn
Dẫu giết sạch ba đời cũng khôn trừ tội lỗi.
Thương chúng ngươi kẻ trung người dũng, sa trường bỏ mạng, mà tông miếu từ đường chúng san phẳng, muôn nỗi xót xa
Xót chúng ngươi kẻ hiếu người hiền, chiến địa phơi thây, mà mồ mả tôn linh chúng quật nhào, vạn điều nhức nhối.
Việc lửa hương ai kẻ kẻ lo toan
Việc tế tự ai người đắp đổi ?
Nay:
Đạo sĩ ta ra lời hiệu triệu, Mãn Hán các ngươi sau trước sắp hàng
Lang Truong này phát lệnh xuất quân, Mông Khựa các ngươi dưới trên lập đội.
Kéo rốc về phương Bắc, vặn cổ thằng Bình cho dân an quốc thái, tôi chúa đồng lòng như thác đổ triều dâng
Tiến thẳng đến Trung Nguyên, lôi họng con Bành cho mỹ tục thuần phong, tướng sĩ đồng tâm tựa sóng gầm bão nổi.
Dặn con cháu chớ lầm đường lạc lối, hãy trông gương tổ phụ, chớ mê muội hung hăng mà mạng uổng thân vong
Nhắn hữu bằng cố mở trí khai tâm, hãy soi bóng ông cha, chớ ngu dốt hống hách mà đầu lìa máu xối.
Khai đạo nghĩa sống thù chết bạn, soạn lời văn giúp chuyển dạ ăn năn
Mở lòng nhân sinh dữ tử hiền, thảo bài tế giúp hồi tâm sám hối.
Cam lộ một bầu
Phóng tay cứu rỗi.
Thương thay !

Lang Trương
Trung Thu năm Bính Thân 2016. Tuyên hạ

READ MORE - VĂN TẾ HỒN MA GIẶC PHƯƠNG BẮC - Lang Trương

“CHỢ TÌNH” – VIÊN NGỌC BỎ QUÊN / Phạm Đức Nhì

  
             Tác giả Phạm Đức Nhì


CHỢ TÌNH” – VIÊN NGỌC BỎ QUÊN

Một Người Bạn Mới

Mấy tuần trước tôi nhận được email của một độc giả tên Phạm Lam Hà:

Qua bài anh bình thơ của bạn Ngọc Mai, tôi rất thích và Cảm Mến anh! Đã lâu tôi mới lại được đọc một bài bình thơ Công Bằng và Chân Thành như Anh. Tôi hỏi Ngọc Mai, biết anh cư trú ở Mỹ. Tiếc quá, tôi muốn liên lạc thường xuyên với anh để trao đổi, học hỏi thì có thể làm thế nào được?
Chúc Anh cùng gia đình luôn Vui Khỏe và Hạnh Phúc.” 

Thế rồi thư qua thư lại mấy ngày chúng tôi kết bạn Facebook. Nhờ hộp tin nhắn FB tôi gọi nói chuyện, biết anh là kỹ sư cầu đường về hưu, quê ở Hải Dương, sinh năm 1947. Anh rất vui vẻ, chân thật nên thỉnh thoảng trò chuyện đôi câu cũng không đến nỗi chán. Sau đó anh gởi cho tôi một bài thơ, có lẽ là ưng ý nhất, nhờ góp ý kiến. Tôi chân tình nhận xét ưu khuyết điểm của bài thơ để anh rút kinh nghiệm. Lần mò vào trang của anh trên FB tôi đọc được khá nhiều thơ văn trong đó bài thơ Chợ Tình có vóc dáng rất đặc biệt. Tôi lại bỏ ra mấy ngày để cùng anh trao đổi về hoàn cảnh ra đời của Chợ Tình và một số chi tiết độc đáo của nội dung bài thơ.

Vài Nét Về Chợ Tình

Chợ Tình trong bài thơ của Phạm Lam Hà chính là chợ Khau Vai, mỗi năm chỉ họp duy nhất một phiên vào ngày 26 tháng 3 âm lịch. Địa điểm thuộc huyện Mèo Vạc tỉnh Hà Giang.

Anh PLH cho biết thêm:

Vì là Chợ Tình nên người bán, người mua rất ít. Mục đích chính của phiên chợ là để cho gái trai đến tìm bạn tình, cho những người yêu nhau mà vì lẽ gì đó không lấy được nhau, đến tìm gặp người tình cũ (dù lúc ấy đã có vợ hoặc chồng). Họ có quyền vui chơi, tình tự và sống với nhau như vợ chồng dưới “tán ô xòe” được dựng “riêng một góc trời”. Cả vợ hoặc chồng đều có quyền gặp người tình cũ như vậy. Có biết, có thấy, có chạm mặt nhau cũng không ai ghen tuông gì. Quan niệm về tình yêu, tình dục và hôn nhân của họ, theo anh PLH, rất tự do và phóng khoáng, vượt xa những xã hội tự nhận là văn minh.

Anh cũng cho biết năm 1966  anh có sống và công tác ở Mèo Vạc, Hà Giang 6 tháng và có dự phiên chợ Khau Vai để tìm (và gặp) bạn tình. Anh viết bài thơ Chợ Tình vào năm đó (lúc 19 tuổi) và năm 2017 có “đánh bóng lại” chút ít để đưa lên Facebook.

Dưới đây là bài thơ của anh Phạm Lam Hà:


 CHỢ TÌNH

Lán lá chông chênh sườn dốc
lũ ngựa thả rông
nhởn nhơ gặm cỏ ven rừng

Chợ đông, rất đông
xênh xang áo váy đủ màu

chảo Thắng Cố (1) sôi 
vòng ngồi nêm chặt
ngả nghiêng chóe rượu khèn bè (2)

Gái, trai ngời rạng
ngực Thổ Cẩm (3) căng tròn
ô xòe (4) che nghiêng 

góc riêng giữa trời giữa đất


trời cứ xanh cao
núi xanh cao!

bóng núi từng chùm 
bầu trời rất lạ

Chợ đông, rất đông
người bán, người mua lại ít
mẹ xuống chợ gặp người yêu cũ
cha về hẹn bạn tình xưa
chẳng ghen tuông rình rập bao giờ


Chợ Khau Vai 
năm một lần mới họp
chợ một phiên 

tình nặng một đời.

Hà Giang 1966
Hải Dương 2017

Chú Thích: 

1/ Món ăn rất được ưa thích của dân miền núi, nguyên liệu là lục phủ, ngũ tạng của trâu, bò, dê, lợn, ngựa v.v, cộng với gia vị đặc biệt của dân địa phương, ăn nóng rất ngon.
2/ Một loại nhạc cụ của người Thái và người Dao 
3/ Một loại vải dệt bằng sợi “Lanh” có “cài hoa văn” đủ màu sắc 
4/ Một kiểu lều che 3 mặt đơn giản 




"Chảo 'Thắng Cố' sôi
vòng ngồi nêm chặt"

Tứ Thơ:

Quang cảnh một phiên “Chợ Tình” có tên gọi Chợ Khau Vai ở huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang.

Nói Thêm Về Tứ Thơ:

Ca dao Việt Nam có bài Trèo Lên Cây Bưởi Hái Hoa được Phạm Duy phổ nhạc rất hay. Dưới đây là đoạn sau của bài ca dao:

Ba đồng một mớ trầu cay,
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng,
Như chim vào lồng như cá cắn câu.
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ?
Chim vào lồng biết thuở nào ra?

(Trèo Lên Cây Bưởi Hái Hoa, ca dao)

Đây là hoàn cảnh của phụ nữ không lấy được người mình yêu. Bị trói buộc như cá cắn câu, như chim vào lồng. Nhiều trường hợp lấy được người yêu thích nhất (trong số bạn tình), sau khi chung sống một thời gian mới biết là không hợp, muốn cựa quậy tìm đường thoát nhưng ràng buộc đã quá chặt. Phía nam giới tuy có dễ dàng hơn một chút nhưng ngoài chuyện tình cảm và con cái, cái giá để hủy bỏ một cuộc hôn nhân - về phương diện tài chánh, xã hội, đạo đức, tôn giáo - trong nhiều trường hợp, quá cao nên cũng đành cam chịu. Những bài thơ của TTKh là một minh chứng hùng hồn.

Ở các nước Âu Mỹ quan niệm về tình yêu và hôn nhân có phóng khoáng hơn nhưng chế độ một vợ một chồng cũng là nền tảng căn bản. Và trong đời sống vợ chồng, những cuộc hôn nhân xé nát tim người cũng không phải là ít. Tôi đã thấy trên sách báo, truyền thanh truyền hình, trong tòa án và cả thực tế ngoài đời biết bao cảnh tình bi đát vì không tìm ra lối thoát. Bi kịch hôn nhân của Thái Tử Charles và Công Nương Diana là một thí dụ điển hình.

Hôn nhân kiểu “xã hội văn minh” được dây nhợ của luật pháp, tôn giáo, đạo đức, cách hành xử xã hội … trói chặt, bao kín trong suốt chiều dài của lịch sử nhân loại, đã trở thành một cái cũi vô hình giam hãm tâm hồn con người. Từ lúc sinh ra cho đến lúc trưởng thành con người được giáo dục, “thuần hóa” để tình nguyện chui vào cái cũi ấy (và nhiều cái cũi khác nữa).

Tình yêu kiểu Chợ Tình (Khau Vai) tuy chưa phải là câu trả lời rốt ráo cho vấn nạn hôn nhân, nhưng ít ra, theo tôi, cũng là một gợi ý để những tâm hồn phóng khoáng tự cảnh tỉnh rồi mạnh dạn đặt những bước chân khai phá hầu tìm một hướng đi mới cho cuộc sống vợ chồng.

Hình Thức:

Thoạt nhìn tôi đã khoái vóc dáng của bài thơ. Không còn dính dáng gì đến các thể thơ truyền thống, bỏ xa thơ mới, vượt qua thơ mới biến thể. Số chữ trong câu, số câu trong bài biến đổi tùy tiện, thoải mái, không theo một quy luật nào. Với hình thức thơ này tác giả giành lại gần như trọn vẹn quyền tự do của thi sĩ khi phóng bút.

Ngôn Ngữ Thơ:

Rất bình dân mà lại rất cao siêu. Bình dân vì đó là ngôn ngữ đời thường, không có những từ mang tính triết lý, học thuật, vượt quá trình độ thưởng thức của người yêu thơ trung bình. Dĩ nhiên, vì viết về nếp sống từ vùng rừng sâu, núi cao của dân tộc thiểu số nên có vài từ địa phương, nhưng chỉ cần liếc qua phần chú thích là độc giả sẽ hiểu ngay. Cao siêu vì các con chữ kết hợp với nhau một cách tài tình thành những bức tranh thơ sinh động, tuyệt đẹp. Tôi có thể đơn cử 3 bức tranh thơ:

1/ 

Bằng 3 câu thơ mở đầu thi sĩ Phạm Lam Hà đã vẽ bức tranh đầu tiên của Chợ Tình:

Lán lá chông chênh sườn dốc
lũ ngựa thả rông
nhởn nhơ gặm cỏ ven rừng

Có 2 đìểm đặc biệt về kỹ thuật thơ trong đoạn thơ này:

     a/ Thi Hóa Thân Thành Họa: Ngôn ngữ thơ đã hoàn toàn tan biến để hóa thân thành một bức tranh thơ sống động.

     b/ Thủ pháp Show, Don’t Tell (gợi, không kể): Với bức tranh trên, độc giả, với khả năng liên tưởng của mình sẽ nhận ra một nét lạ đầu tiên của Chợ Tinh; Nhiều người cỡi ngựa đến dự phiên chợ độc đáo này. Tác giả không nói mà chỉ cung cấp dữ kiện (gợi ý) để độc giả tự suy ra.

2/

Và tác giả tiếp tục ra tài thơ của mình qua bức tranh thứ hai: 

Chợ đông, rất đông
xênh xang áo váy đủ màu
chảo Thắng Cố sôi
vòng ngồi nêm chặt
ngả nghiêng chóe rượu khèn bè

Bức tranh vẽ cảnh một quán ăn của người miền núi, người ngồi nêm chặt quanh chảo Thắng Cố sôi bốc khói, ngả nghiêng với chóe rượu khèn bè. Phía sau, xa xa một tí, “xênh xang áo váy đủ màu”, người đi, kẻ lại đông đúc. Chữ “nêm” rất “gợi” và đắt, làm đẹp và mạnh nghĩa cho cả câu và đoạn thơ. Ngôn ngữ thơ ở đây rõ ràng quá, câu cú đơn giản, chặt chẽ quá; tất cả đã tan hết, hòa nhập vào bức tranh sinh động, không cần và cũng không thể giải thích gì thêm nữa.

3/

Đoạn kế tiếp và bức tranh thứ ba:

Gái, trai ngời rạng
ngực Thổ Cẩm căng tròn
ô xòe che nghiêng
góc riêng giữa trời giữa đất

Bức tranh vẽ cảnh gái trai mặt mũi tươi vui, ngời rạng, mặc áo vải Thổ Cẩm, ngực căng tròn đầy sức sống; xa xa những chiếc ô xòe che nghiêng (kiểu lều che kín 3 mặt) như đứng riêng một góc trời (để tình nhân đến tình tự, ân ái). Đây là bức tranh rất gợi tình và sexy một cách kín đáo, nghệ thuật.

Bàn Thêm Về Hai Chữ “rất lạ”

Đoạn thơ kế tiếp có nhóm hai chữ làm cho độc giả kỹ tính và người bình thơ phân vân. Đó là nhóm chữ “rất lạ” ở cuối đoạn.

Trời cứ xanh cao
núi xanh cao!
bóng núi từng chùm
bầu trời rất lạ

Trước hết tôi xin bàn về cái dở của nhóm chữ “rất lạ” này. Nếu nó được thay bằng một chữ (hoặc nhóm chữ) khác thích hợp – trong ngữ cảnh này chắc là không khó khăn lắm - đọan thơ sẽ thành một bức tranh thơ vẽ cảnh mênh mông hùng vĩ của những chùm núi được trời xanh bao phủ, cho thấy vẻ đẹp cảnh “ngoại biên”, cuối tầm mắt của thi sĩ ở khu vực Chợ Tình. Nhóm chữ “rất lạ” không “tan”, không hòa nhập vào trong tranh mà trồi lên làm “cộm mắt” người thưởng ngoạn.

Nhưng nhóm chữ “rất lạ” không phải vô tích sự mà cũng có đóng góp khá quan trọng trong việc thể hiện tứ thơ. Cái hình tượng (chưa phải là bức tranh) núi trời bao la “rất lạ” ấy rất hợp để đưa tâm hồn độc giả đến với những thông tin “rất khác thường” của phiên Chợ Tình một cách trơn tru, thoải mái hơn (nối tiếp ngay sau đó).

Có thể thi sĩ không nghĩ đến nên vô tình để “vuột” bức tranh thơ thứ tư. Cũng có thể ông biết nhưng vẫn cứ dùng nhóm chữ “rất lạ” để có sự chuyển đoạn hợp lý, hợp tình, suôn sẻ. Tôi nghiêng về “giả thuyết” thứ hai – nghĩa là nhà thơ của chúng ta đã chọn lựa một cách tính toán. Tuy hơi tiếc, nhưng trên trang thơ của mình thi sĩ là Vua nên tôi chấp nhận cúi đầu tuân phục trước quyền uy tối thượng của Ngài.

Ngoài ra 2 câu:

Trời cứ xanh cao
núi xanh cao

trong đó câu thứ hai bị “cắt” mất một chữ thành thử như người chân dài, chân ngắn, bước đi khập khiễng, mất cân đối; đọc lên như nghe ca sĩ hát sai nhịp. Đáng tiếc là việc “cắt một chữ” này chẳng đem lại lợi ích gì cho đoạn thơ cũng như bài thơ hết.

Đoạn Thơ Cung Cấp Thông Tin “Rất Khác Thường”

Chợ đông, rất đông
người bán, người mua lại ít
mẹ xuống chợ gặp người yêu cũ
cha về hẹn bạn tình xưa
chẳng ghen tuông rình rập bao giờ

1/

Chợ đông, rất đông
người bán, người mua lại ít

Người đến Chợ Tình ăn mặc đẹp như đi dự một lễ hội, dĩ nhiên, không phải để mua bán mà vì một chữ Tình (viết hoa). Đây đó cũng có những quán:

chảo Thắng Cố sôi
vòng ngồi nêm chặt
ngả nghiêng chóe rượu khèn bè

nhưng mục đích chỉ để hỗ trợ, vun đắp chữ Tình - tạo khung cảnh, cơ hội để bạn tình, người yêu cũ ăn uống, vui chơi, chuyện trò, tâm sự.

2/

mẹ xuống chợ gặp người yêu cũ
cha về hẹn bạn tình xưa
chẳng ghen tuông rình rập bao giờ

Đây cũng là một điểm khác biệt giữa Chơ Tình và những phiên chợ bình thường khác. Mức độ tự do vượt bậc trong việc tìm người yêu ở Chợ Tình đã cho phép mọi người tham dự đạp đổ cái hàng rào cấm kỵ được canh giữ nghiêm ngặt ở xã hội bên ngoài. Lòng chung thủy được xem là đức tính, là nét đẹp, là điều kiện tối cần thiết cho cuộc sống vợ chồng, nhưng mặt trái của nó đã bóp nát không biết bao nhiêu triệu trái tim lầm lỡ. Quan niệm cho phép “gặp người yêu cũ, hẹn bạn tình xưa” để trao trọn cả thể xác lẫn tâm hồn cho nhau, dù chỉ một ngày mỗi năm, theo tôi, rất nhân bản và đáng ngưỡng mộ.

Đoạn Kết Của Bài Thơ

Chợ Khau Vai
năm một lần mới họp
chợ một phiên
tình nặng một đời.

Tác giả đưa vào đoạn cuối của bài thơ 2 chi tiết:

Tên Chợ Tình là chợ Khau Vai và mỗi năm chỉ họp một lần. Sau đó ông rất khéo léo kết thúc bài thơ bằng 2 câu:

chợ một phiên
tình nặng một đời

“Tình nặng một đời” ở đây không phải là sự trói buộc của hôn nhân mà là “sợi dây tình” cho phép những kẻ yêu nhau, dù hoàn cảnh trái ngang đến đâu chăng nữa, mỗi năm cũng có một ngày được sống trọn vẹn cho nhau, và cứ thế, đến hết một đời. Với sự hỗ trợ của 2 câu trước đó, 2 câu kết đã gói trọn hồn cốt của bài thơ, để lại trong lòng độc giả một ấn tượng mạnh mẽ.

Vần:

Nhìn qua cách dàn trải chữ nghĩa về mặt hình thức tôi không nghĩ là tác giả chủ ý gieo vần. Có lẽ vì ông chú tâm quan sát, ghi nhận để “thu” hết quang cảnh Chợ Tình vào bài thơ nên “quên” luật thơ. Cả bài thơ 25 câu mà chỉ có 2 lần gieo cước vận (vần cuối câu):

1/
lũ ngựa thả rông
nhởn nhơ gặm cỏ ven rừng  
2/
cha về  hẹn bạn tình xưa
chẳng ghen tuông rình rập bao giờ

và 2 lần có yêu vận (vần lưng):

1/
ô xòe che nghiêng
góc riêng giữa trời giữa đất
2/
chảo Thắng Cố sôi
vòng ngồi nêm chặt

Riêng 2 chỗ yêu vận, do nhịp điệu thay đổi, hiệu ứng tính nhạc rất cao nên dù ít vần, bài thơ đọc vẫn cứ trơn tuột, tứ thơ vẫn chảy thành dòng từ đầu đến cuối. Món chè Chợ Tình ngọt không phải do đường mà do “chất ngọt” tự nhiên từ nguyên liệu (ở đây là cấu trúc câu thơ).

Hơn nữa, Chợ Tình ngay phần đầu, đã có đến 3 bức tranh thơ, ở đó ngôn ngữ đã tan biến nên ý đã có thể đi thẳng vào hồn mà không phải dừng lại để qua trạm “gạn đục khơi trong” của lý trí.


Cảm Xúc

Cảm xúc tầng 1:

Khoái cảm có được do tiếp xúc với các con chữ (ngôn ngữ thơ) và câu thơ - trong bóng đá là kỹ thuật cá nhân của cầu thủ. Như đã nói ở trên, ngôn ngữ thơ của Chợ Tình vừa bình dân vừa cao siêu, cấu trúc câu giản dị, dễ hiểu. Độc giả nào thấy được cái siêu của các con chữ tượng hình, lắp đặt trong một cấu trúc câu đơn giản – đơn giản đến mức tự tan biến để trở thành những bức tranh thơ - sẽ rất thích thú. Cũng có thể so sánh với việc xem bóng đá bắt gặp khả năng chận bóng, đi bóng, chuyền bóng, sút bóng - không rê dắt, màu mè nhưng lại rất hiệu quả - của cầu thủ.

Cảm xúc tầng 2:

Khoái cảm, rung động có được do thế trận câu chữ mạch lạc, hợp lý – trong bóng đá là đấu pháp toàn đội ăn ý. Thế trận câu chữ của Chợ Tình đơn giản nhưng mạch lạc dễ hiểu. Đặc biệt đoạn kết rất “gợi”; câu “tình nặng một đời” cho người đọc cái cảm giác bồi hồi, sung sướng khi mường tượng trước mắt chính mình và người tình cũ (thật hoặc tưởng tượng) đang sóng vai đi giữa Chợ Tinh.

Cảm xúc tầng 3:

Người đọc theo dòng chảy của tứ thơ cảm được sự đồng tình một cách thích thú của tác giả với quan niệm rất phóng khoáng về tình yêu và tình dục của người dân địa phương. Hơn nữa, thi sĩ bước vào khung cảnh Chợ Tình không phải như một người bàng quan mà là với tâm trạng xôn xao, háo hức của một chàng thanh niên 19 tuổi, vừa tò mò trải nghiệm một nét văn hóa mới lạ, vừa nhập cuộc, đem chính trái tim của mình ra “thử thời vận” với tình duyên.

Chính vì vậy, khác với Ông Đồ của Vũ Đình Liên (cũng có 4 bức tranh thơ), bên dưới 3 bức tranh thơ của Chợ Tình (và mấy đoạn thơ sau đó), độc giả cảm thấy một luồng hơi nóng tỏa ra, không phải từ các con chữ mà từ đâu đó giữa hai hàng kẻ. Đó là thứ cảm xúc cao cấp nhất - cho khoái cảm nhiều nhất, đặc biệt nhất - của thơ.

Có điều ở đây tác giả nặng về chuyển tải thông điệp (về phiên Chợ Tình) nên mặc dù đoạn kết gây ấn tượng mạnh mẽ, cảm xúc vẫn chưa đến mức cao trào để tạo hồn thơ.

Kết Luận

Ngoài khuyết điểm nhỏ “cắt một chữ”, Chợ Tình là bài thơ thành công về nhiều mặt. Tứ thơ chuyển tải một thông điệp, một nét văn hóa rất lạ, rất đẹp, rất nhân bản về tình yêu và hôn nhân. Về hình thức, Chợ Tình đã vượt qua thơ mới biến thể, nghĩa là đã đi trước rất nhiều thi sĩ nổi tiếng đương đại; vần rất ít mà vẫn có vị ngọt tự nhiên giúp tứ thơ chảy thành dòng thông thoáng, đặc biệt ngôn ngữ đơn giản đến mức ảo diệu, đã vẽ lên 3 bức tranh thơ sinh động.

Được anh Phạm Lam Hà mời đến “nhà” chơi, thấy viên đá nằm lăn lóc trên mặt bàn, tôi tò mò cầm lên phủi bụi rồi lấy mảnh khăn giấy (napkin) lau qua một lượt. Thật lạ lùng! Nó tỏa ra ánh sáng lung linh nhiều màu rất đẹp. Xem xét kỹ hơn thì biết đó là viên ngọc đã bị ông chủ bỏ quên suốt 50 năm.

League City 16 tháng 6 năm 2018
Phạm Đức Nhì
READ MORE - “CHỢ TÌNH” – VIÊN NGỌC BỎ QUÊN / Phạm Đức Nhì