Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Giới thiệu tác giả. Show all posts
Showing posts with label Giới thiệu tác giả. Show all posts

Sunday, March 22, 2026

Chân dung văn học: VƯƠNG HOÀI UYÊN ĐI QUA THỜI GIAN BẰNG NHỮNG VẦN THƠ VÀ TRANG VĂN THẤM ĐẪM TÌNH NGƯỜI - Hoàng Thị Bích Hà


 

Vương Hoài Uyên

 

Có những văn sĩ sinh ra để viết, nhưng không phải lúc nào cũng được sống trọn vẹn với đam mê. Hành trình đời chị là hành trình của một người phụ nữ đi qua chiến tranh, qua biến thiên thời cuộc, qua những dâu bể riêng tư để rồi cuối cùng trở về trọn vẹn với văn chương. Nhà thơ, nhà văn Vương Hoài Uyên là một người như thế. Sự nghiệp văn chương của chị không ồn ào, không vội vã, mà âm thầm như dòng sông chảy dưới lòng đất, để rồi khi gặp được không gian tự do, nó tuôn trào thành những tác phẩm đầy sức hút.




1. Vương Hoài Uyên từ một cô giáo dạy Văn đến một cây bút văn xuôi sắc sảo, một nhà thơ rất “chất”.

Chị đến với thơ rất sớm. Trước 1975, thơ chị đã xuất hiện trên các tạp chí như Khởi Hành, Thời Nay, Tuổi Ngọc… Nghĩa là chị làm thơ từ hồi còn học sinh, sinh viên. Nhưng có một quãng thời gian các sáng tác của chị không xuất hiện vì một lý do riêng. Nhưng niềm đam mê văn chương chưa khi nào thôi khắc khoải, vẫn âm ỉ cháy như ngọn lửa nồng đượm dưới lớp tro. Và khi hoàn toàn tự do, được sống với niềm đam mê, chị bắt đầu xuất bản dồn dập, mãnh liệt như để bù đắp cho những năm tháng im lặng: Mùa trăng cũ (2009),Đèn thức cho ai (2014), Giọt nắng cuối ngày (2014), Ranh giới mong manh (2018), Khi loài gấu ngủ đông (2020), Điệu valse mùa cũ (2020), Điệu valse mùa cũ (2020), Miền gió gọi (2023). Một chuỗi tác phẩm dày dặn như thế cho thấy sức viết bền bỉ và nguồn cảm xúc chưa từng cạn. Qua sự nghiệp sáng tác của Vương Hoài Uyên, có thể dựng lên một chân dung văn học nhất quán: một tâm hồn lãng mạn, nhiều hoài niệm, giàu nữ tính, giàu nhân ái và mang nỗi buồn mang tên “thời gian”. Có thể thấy, ngay từ những sáng tác đầu đời, Vương Hoài Uyên đã bộc lộ khả năng cảm thụ sâu sắc văn học cổ điển và khả năng chuyển tải những cảm xúc phức tạp thành những vần thơ giàu nhạc tính.

2. Chị bước vào đời bằng bảng đen phấn trắng và bước vào văn chương bằng một vầng trăng không bao giờ tắt. Từ Quảng Ngãi, học hành, trưởng thành ở Huế, dạy học ở Đà Nẵng, đến sống tại Sài Gòn và cuối cùng là định cư tại Hoa Kỳ. Hành trình đời chị là hành trình của ký ức, của những mùa chia xa và của nỗi buồn được chưng cất thành thi ca.

Vương Hoài Uyên, tên thật Trần Thị Minh, quê ở Quảng Ngãi, ban đầu học Đại học Văn Khoa Sài Gòn. Khi chuyển ra Huế, chị vừa học Đại học Sư phạm vừa tiếp tục học Đại học Văn khoa. Năm 1972, tốt nghiệp thủ khoa ĐHSP, được chọn nhiệm sở, chị về dạy tại trường nữ THPT Hồng Đức, Đà Nẵng. Khi nghỉ hưu, chị sống tại TP.HCM (15 năm) và từ năm 2017 định cư ở Denver, Colorado (Hoa Kỳ) đến nay đã gần mười năm.

Quay ngược thời gian, từ cô sinh viên văn khoa & sư phạm xinh đẹp (quả thật chị có đôi mắt rất đẹp và buồn, bạn bè đồng trang lứa của chị cũng từng nhận xét như thế) trở thành cô giáo tận tụy với nghề, thương yêu học sinh đã in đậm trong tâm trí bao thế hệ học trò. Và chính môi trường ấy cũng nuôi dưỡng tâm hồn văn chương của chị, để rồi những bài thơ đầu đời ra đời từ những đêm trăng sáng trong vườn nhà, từ những rung động của tuổi "trăng tròn mộng mơ".

Nhưng cuộc đời không bằng phẳng như những trang sách. Chiến tranh, biến động, rồi những hoàn cảnh riêng bất khả kháng đã khiến chị phải tạm ngưng sáng tác trong một thời gian dài. Chị từng tâm sự với tôi — một người em cùng là dân học văn và cùng sở thích ham mê đọc sách. Chúng tôi có mối đồng cảm đặc biệt. Hơn ai hết, Vương Hoài Uyên hiểu nỗi đau của người nghệ sĩ khi không được sống với đam mê. Nhưng chị “cũng bắt chước mùa đông/ Tập bao dung trước nỗi đau cuộc đời bỏ lại.”

3. Thơ Vương Hoài Uyên -Miền ký ức của trăng, mùa và thời gian

Trong tập Mùa trăng cũ là một hành trình xuyên suốt từ tuổi mới lớn đến "hơn nửa đời người". Tự khúc I mang dấu ấn của “văn học một thời”. Hành trình văn chương của Vương Hoài Uyên là một sự tiếp nối bền bỉ. Bằng trải nghiệm sống của mình, chị biết lưu giữ quá khứ, trân trọng từng dấu ấn của tuổi trẻ. Chị không ngại đưa vào những bài thơ sáng tác từ 1966 đến 1980, với cách diễn đạt tươi mới, hồn nhiên nhưng không kém phần sâu sắc. Dù có người cho rằng “quá cũ”. Nhưng chính sự “cũ” ấy lại làm nên giá trị. Đó là giọng điệu văn học của một thời còn vang bóng, với cách diễn đạt trang trọng, tiết chế và đậm chất cổ điển.

"Muộn màng biết mấy chàng Kim/Mười lăm năm mới đi tìm cố nhân/ Biết Kiều trôi dạt phong trần/ Mà sao người vẫn cầm đàn nỉ non"

(Đọc Kiều)

Chị đối thoại với Truyện Kiều, nhưng thực chất là đối thoại với thân phận người phụ nữ. Thúy Kiều và Mị Châu hiện về như những biểu tượng của “tấm thân gái nỗi đau đời chìm nổi”. Đó cũng là sự đồng cảm với phận người: Chị nhìn vào văn học cổ điển (Kiều, Mị Châu) để xót xa cho thân phận "bên hiếu bên tình". Ở đây, ta nhận ra Vương Hoài Uyên không chỉ hoài niệm cá nhân mà còn ý thức sâu sắc về lịch sử và văn hóa dân tộc.

Những vần thơ viết về Mị Châu đầy ám ảnh:

"Này giếng Ngọc trong lành như nước mắt/ Hồn Mị Châu nghi ngút khói hương vàng/ Tấm thân gái nỗi đau đời chìm nổi/ Bên hiếu, bên tình một kiếp đa đoan"

(Bài ca xanh)

Nỗi nhớ trường xưa, bạn cũ thể hiện trong nhiều tập thơ của Vương Hoài Uyên. Hoài niệm là mạch nguồn xuyên suốt trong thơ. Từ “Mùa trăng cũ” đến “Miền gió gọi”, thơ chị là tiếng gọi của ký ức.

“Ơi bè bạn của thời xa xưa ấy/ Nay về đâu? Tan tác mấy phương trời/ Sông khô cạn cũng như người ly tán/ Ta níu làm sao được tháng năm trôi”

(Qua sông)

Vương Hoài Uyên viết về trường lớp, bạn bè, thầy cô với tất cả nỗi nhớ thương da diết. Những bài thơ (Tặng bạn học lớp 10 C Trung học Cường Để Quy Nhơn năm1966-1967) hay những vần thơ viết khi trở lại trường cũ đều chất chứa một nỗi niềm khôn tả:

"Trường cũ xa rồi thuở ra đi/ Bỏ lại sau lưng một khoảng trời thơ dại

Ta trở về đây nửa đời ngoảnh lại/ Chỉ thấy cuối chân trời một khoảng tím mênh mang"

(Nửa đời ngoảnh lại)

Chữ "tím mênh mang" trong thơ chị không chỉ là một màu sắc, mà còn là cả một không gian hoài niệm, nơi ký ức ùa về với tất cả những gì đẹp đẽ nhất của tuổi học trò. Màu “tím” ở đây cũng là màu tím của chiều tà, của hoàng hôn đời người, của nỗi buồn không thể gọi tên.

Và nỗi đau khi có bạn đã không còn hiện diện trên dương thế càng làm cho những vần thơ thêm phần thấm thía về sự hữu hạn của kiếp người.

"Trường cũ xa rồi bạn cũ ra đi/ Mỗi đứa dạt một phương trời xa lắc

Có đứa bây giờ nằm yên dưới đất/ Hơn nửa đời quay quắt nhớ trường xưa"

(Nửa đời bỗng nhớ)

Nỗi nhớ trường xưa, bạn cũ, mẹ già… trong những bài như: "Nghe tiếng trống bãi trường", "Nửa đời ngoảnh lại", tạo thành một “miền ấu thơ” bất khả hồi sinh.

Đọc thơ Vương Hoài Uyên, người đọc dễ dàng nhận ra một giọng điệu buồn, nhưng không phải thứ buồn bi lụy, tuyệt vọng. Đó là nỗi buồn trong trẻo, có phần lãng mạn của người phụ nữ từng yêu, từng đau và từng vượt qua tất cả để sống tiếp. Chị chiêm nghiệm: "Trong ánh trăng huyễn hoặc đó là những vần thơ buồn nhiều hơn vui, đau khổ nhiều hơn hạnh phúc." Chị mượn lời Thúy Kiều "Tẻ vui âu cũng tính trời biết sao" để lý giải cho những vần thơ buồn nhiều hơn vui của mình. Đó là nỗi buồn của một trái tim luôn thao thức, từ tiếng gà trưa lẻ loi đến vầng trăng xế chiều.

Tình mẫu tử thiêng liêng trong thơ Vương Hoài Uyên. Hình ảnh người mẹ hiện lên thật giản dị mà lớn lao. Bài thơ "Gửi mẹ" làm rung động trái tim người đọc:

"Mẹ không còn nữa vườn xưa vắng/ Con về đứng lặng dưới hàng cây/ Lẻ loi một tiếng gà trong nắng/ Xao xác vườn hoang nắng cuối ngày"

Không cần những từ ngữ hoa mỹ, chỉ với hình ảnh "đứng lặng dưới hàng cây" "tiếng gà trong nắng", Vương Hoài Uyên đã vẽ nên bức tranh chiều tà đầy ám ảnh, nơi nỗi nhớ mẹ hòa vào không gian vắng lặng, xao xác.

Tập thơ “Đèn thức cho ai” - nỗi buồn của thi nhân đi qua yêu thương

Nếu “Mùa trăng cũ” là tiếng nói của tuổi trẻ và trung niên, thì “Đèn thức cho ai” là ánh đèn khuya của một thi nhân giàu trải nghiệm sống. Trong “Đèn thức cho ai”, người phụ nữ hiện lên với chờ đợi, yêu thương, hy sinh:

“Anh có về kẻo muộn mất mùa xuân

Em đếm ngày qua trong từng hơi thở”

Nhưng đồng thời cũng tự ý thức về nỗi cô đơn: “Đợi đông về chắc mùa đông hiểu thấu/ Ta ôm vai mình nhung nhớ một vòng tay” (Gõ cửa mùa đông)

“Anh bây giờ xa lắc/ Em vẫn là em xưa/ Về ngang con phố cũ/ Nhớ thương mấy cho vừa”. (Bây giờ nơi xa ấy)

Thơ chị đầy những câu hỏi không lời đáp: “Chẳng còn gì phải không anh?…

Nỗi buồn trong thơ chị bảng lảng khói sương. Đó là nỗi buồn của người đã đi qua những vui buồn, mất mát, nuối tiếc và thương đau.

Trong tập thơ "Đèn thức cho ai" chị tiếp tục viết về mẹ với những hình ảnh giản dị mà thấm thía:

"Mẹ ngồi khâu áo ngoài hiên/ Mũi kim khâu cả bao niềm đắng cay"

(Mẹ tôi)

Một câu thơ ngắn mà chứa đựng cả một trời thương nhớ - "Mũi kim khâu cả bao niềm đắng cay" - vừa tả thực công việc của mẹ, vừa ẩn dụ cho những nhọc nhằn, hy sinh mà mẹ đã trải qua.

Những bài như: "Muốn", "Mùa nhớ" cho thấy khát vọng ẩn náu và nữ tính trong thơ chị không bộc phát dữ dội mà mềm, sâu và thẳm.

"Muốn làm con ốc nhỏ/ Dạt trôi trên biển đời/ Chui sâu vào góc vỏ/ Nghe nỗi buồn chơi vơi”

Hai tập thơ “Ranh giới mong manh” “Khi loài gấu ngủ đông” mang triết lý của mùa đông và lòng bao dung.

Ở giai đoạn sau, giọng thơ chậm hơn, suy tư hơn.

Mùa đông trở thành ẩn dụ lớn: “Em cũng bắt chước mùa đông/ Tập bao dung trước nỗi đau cuộc đời bỏ lại/ Biết vùi lấp và chôn vùi mãi mãi/ Những tàn tro đời đã phủ lên mình"… Điều đáng quý ở Vương Hoài Uyên là sự bao dung, vị tha. Trong tập thơ "Khi loài gấu ngủ đông".“Bao dung” đó là từ khóa. Không oán trách, không bùng nổ, chị chọn cách vùi lấp tro tàn và sống tiếp. Chọn cách tha thứ cho những nỗi đau mà cuộc đời để lại.

“Miền gió gọi” là tiếng thơ của người sống xa quê hương. Định cư ở Mỹ, thơ chị mở thêm một không gian mới, mang thêm một tầng nghĩa mới: Trong “Miền gió gọi” và “Khi loài gấu ngủ đông”, ta bắt gặp Houston, Denver, Melbourne…

“Ôi Houston cho ta một chút nắng Sài Gòn…”/ “Trời Denver tháng chín lá chưa vàng”

Dẫu cuộc sống bên người thân, cũng có bạn bè, tuy nhiên, vẫn phảng phất nỗi buồn của người xa xứ. "Trong nắng vàng có chút gió mùa buôn buốt”

Trên những dặm đường du lịch hay thăm thú, mỗi địa danh đi qua đều để lại dấu ấn trong các sáng tác của Vương Hoài Uyên. Sự thú vị trước cảnh sắc quê người, sự ngỡ ngàng trước xứ lạ, liên tưởng đến quê hương, và cả nỗi nhớ của người xa quê đã đi vào thơ chị một cách tự nhiên, sâu lắng:

"Đất Meibourne/ Nào phải đất quê ta/ Sao nghe tiếng cu gù thân thuộc quá/ Ta chợt ngỡ mình không là khách lạ/ Mà ngỡ như mình đang ở giữa vườn xưa"

(Giã từ Meibourne)

Hay:

"Qua chợ Hồng Kông thấy tà áo dài tha thướt/ Chợt nao lòng như thấy bóng quê hương"

(Ơi Houston)

Những câu thơ như nỗi nhớ của người xa xứ, luôn kiếm tìm những mảnh nhỏ quê hương trong cuộc sống mới. Một chút nắng, một bóng áo dài, một tiếng cu gù cũng đủ làm nao lòng người lữ khách.

Denver, Houston, Melbourne… là những địa danh trên bước đường xê dịch, nhưng linh hồn vẫn quay về “vườn xưa”. Thơ chị không ồn ào về thân phận tha hương mà là nỗi chông chênh lặng lẽ: “Chợt thương mình như lữ khách lang thang.”

Ở đây, chân dung Vương Hoài Uyên hiện lên rõ nét: một người phụ nữ luôn mang quê hương trong ký ức.

Trong các tập thơ sau này, đặc biệt là "Ranh giới mong manh" "Khi loài gấu ngủ đông" “Miền gió gọi” Vương Hoài Uyên thể hiện một chiều sâu trí tuệ, chiều sâu nội tâm trong tư duy thơ. Đó là những chiêm nghiệm về cuộc đời, về tình yêu và về sự cô đơn của người nghệ sĩ.

Bài thơ “Muốn” trong tập “Đèn thức cho ai” thể hiện khát vọng được sống một cuộc đời khác, dù chỉ trong khoảnh khắc:

"Muốn làm hoa quỳnh nhỏ/Đời ngắn ngủi một đêm/Tỏa hương cùng mây gió/ Giấu nỗi buồn trong tim”

Hình ảnh “hoa quỳnh nhỏ” chỉ nở một đêm - đó là ẩn dụ cho kiếp người mong manh, nhưng vẫn muốn tỏa hương, vẫn muốn sống trọn vẹn dù chỉ trong phút giây ngắn ngủi.

Bài thơ “Trở lại Sài Gòn” trong tập “Đèn thức cho ai” có lẽ là một trong những bài thơ ám ảnh nhất của Vương Hoài Uyên. Chỉ với vài dòng ngắn ngủi, hiện lên sự thiếu vắng, tiếc nuối cả một đời với những mất mát của thời gian không thể bù đắp được.

“Chẳng còn gì/ Thời gian chẳng đợi ai/ Mọi thứ đều trôi về quá vãng

...

Sài Gòn hơn bốn mươi năm sau/ Cô gái ngày xưa giờ trở thành góa phụ/ Âm thầm đi qua những con đường xưa cũ/ Gọi thời gian về lại trái tim mình”

Thời gian trong thơ Vương Hoài Uyên là dòng chảy không cưỡng lại. Tình yêu, tuổi xuân, mái tóc, bạn bè — tất cả trôi về “quá vãng”. “Cô gái ngày xưa giờ trở thành góa phụ." Đó là sự chấp nhận quy luật nghiệt ngã của thời gian. Hình ảnh "cô gái ngày xưa” đi qua những con đường xưa cũ, âm thầm "gọi thời gian về lại trái tim mình" - đó là nỗi đau của người phụ nữ khi đối diện với quá khứ và hiện tại, khi tuổi trẻ đã qua, cha mẹ đã mất, chỉ còn lại những kỷ niệm và nỗi nhớ.

Bài thơ “Một mình với cỏ” thể hiện triết lý sống giản dị mà sâu sắc. Đó là phẩm chất của người phụ nữ từng đi qua chiến tranh, dâu bể, ly tan nhưng không đánh mất lòng nhân hậu. Có thể nói “Một mình với cỏ” là tuyên ngôn sống: Chị nhìn vào cỏ cây để thấy sự kiên cường. Đây là vẻ đẹp của sức sống vượt qua mọi trở lực.

“Vô tư như phận cỏ/ Dẫu đời không nâng niu/ Người khinh thường giẫm đạp/ Vẫn xanh trong bóng chiều”

Phận cỏ - nhỏ bé, khiêm nhường, nhưng vẫn xanh, vẫn sống, bất chấp “người khinh thường giẫm đạp”. Đó chẳng phải là hình ảnh của con người kiên cường. Trải qua bao thăng trầm, mất mát, vẫn giữ được tâm hồn trong sáng, vẫn “xanh trong bóng chiều". Hiện ra thân phận người phụ nữ mong manh mà đầy kiêu hãnh. Hoài niệm trong thơ Vương Hoài Uyên không chỉ là nhớ người, nhớ mẹ, nhớ trường xưa mà còn là nhớ chính mình của một thời đã mất.

Không gian xứ người trong thơ chị không chỉ là địa lý mà còn là tâm trạng. Đó là sự chênh vênh giữa quá khứ và hiện tại, giữa quê nhà và nơi ở mới.

Thơ chị vì thế mang sắc thái của một người “đứng giữa ranh giới mong manh” – giữa mùa đông và mùa xuân, giữa hiện thực và hồi ức, giữa còn và mất. Càng về sau, thơ chị càng tĩnh lặng và bao dung. Trong khi loài gấu ngủ đông, chị học cách sống lạc quan khi phải đi qua những thăng trầm dâu bể của đời người: “Mỏi mòn một kiếp rong chơi/ Dừng chân đứng lại nửa đời xuân xanh”.

Vương Hoài Uyên từng viết: "Ta mơ làm trò nhỏ / Theo cánh diều ngẩn ngơ" - có lẽ đó cũng là hình ảnh của thi nhân luôn mơ mộng, luôn bay bổng cùng những cánh diều văn chương, bất chấp tuổi tác, bất chấp không gian và thời gian. Và chúng ta, những người đọc, may mắn được cùng chị thả hồn theo những cánh diều ấy, để thấy cuộc sống này đẹp hơn, đáng sống hơn qua từng trang viết đầy yêu thương.

“Bao năm rồi trở lại/ Vắng đi bao nhiêu người/ Đời qua như nước chảy/ Bao nỗi niềm buông xuôi/ Một mình ta đứng đó/ Chơ vơ trong cõi đời/ Bạn bè giờ lưu lạc/ Đã xa rồi cuộc chơi”

(Vườn xưa)

Nhưng với Vương Hoài Uyên, “cuộc chơi” văn chương vẫn tiếp diễn. Ở tuổi xế chiều, giữa Denver xa xôi, chị vẫn viết, vẫn sáng tạo (cộng tác với những tờ báo của người Việt ở Mỹ như Tạp chí Trẻ (Dallas - Texas ), Văn học Việt ( Florida), Báo Người Việt, Phụ nữ California (California), "Newviettart.com ( Pháp )...và vẫn gửi về quê hương những vần thơ, trang văn thấm đẫm tình người. Đó là món quà vô giá mà chị dành tặng cho những ai yêu quý văn chương và trân trọng những giá trị nhân văn cao đẹp.

Trong 5 tập thơ của Vương Hoài Uyên có những vần thơ thiêng liêng dành cho mẹ, thơ về tình thầy trò, tình bạn và cả những nỗi cảm thông sâu sắc với những phận đời thời covid,… Nhưng dung lượng chiếm phần lớn là mảng thơ tình. Thơ tình của Vương Hoài Uyên rất ngọt ngào, lãng mạn, có chiêm nghiệm về thời gian và phận người.Thơ thấm đẫm nỗi niềm của một người đi qua đủ vui buồn của hạnh phúc và khổ đau, có nuối tiếc chia xa của mối tình dang dở. Ở đó có nghịch lý của yêu thương: “Dẫu vẫn biết thời gian không đủ rộng/ yêu một ngày mất một đời để quên” gợi cảm thức sâu sắc về độ dài của ký ức so với khoảnh khắc yêu thương.

Ở đó, thời gian không chỉ là bối cảnh mà còn trở thành lực lượng âm thầm thử thách trái tim. Thời gian trong thơ chị không đủ rộng để níu giữ, con người dường như sinh ra đã chậm trễ với chính hạnh phúc của mình. Hình ảnh mùa thu không chờ ai, tình cũng thế, gợi lên sự xa vắng và những lần lỡ hẹn định mệnh:

“Đâu phải chỉ lần này ta suốt đời chậm trễ/ Mùa thu đâu chờ ta và tình yêu cũng thế! Đã bao lần lỡ vuột khỏi tầm tay" (Đi về phía tàn phai).

Hình ảnh “suốt đời chậm trễ” cho thấy nỗi tự vấn, tiếc nuối trước những lần lỡ hẹn với hạnh phúc.

“Mùa thu đâu chờ ta và tình yêu cũng thế” là một cách so sánh giản dị mà thấm thía về sự tàn phai tất yếu.

Khi viết: “Người về cõi ấy xa xôi/để ta trôi giữa biển đời mênh mông” (Còn lại) , thơ chị chạm đến nỗi cô đơn tận cùng của chia biệt. “Em trở về cùng năm tháng đi qua/ chợt hoảng hốt khi trăng đời đã xế/ hồn đắng nghẹn trước bao điều dâu bể/ ngẩn ngơ tìm một nửa mảnh trăng xưa” (Mùa trăng cũ).

Khi một người “về cõi ấy”, người ở lại lạc lõng trôi giữa biển đời, một nỗi cô đơn bao trùm. Đến “Mùa trăng cũ”, thời gian hiện ra đầy ám ảnh qua hình ảnh “trăng đời đã xế”, khiến lòng người hoảng hốt và đắng nghẹn trước bao điều dâu bể.

Hình ảnh “một nửa mảnh trăng xưa” gợi khát vọng tìm lại phần yêu thương đã khuyết. Đây là một phát hiện đầy tính thơ, vừa là hiện thực của sự khuyết thiếu, vừa là khát vọng vĩnh cửu được hàn gắn. Hành trình tình yêu của chị ẩn chứa những mất mát, sự tan vỡ và những nỗi đau thầm lặng. Nhưng trên tất cả, giọng thơ vẫn giữ được sự dịu dàng, không oán trách, không hờn giận. Thơ buồn mà đẹp! Tổng thể, thơ tình Vương Hoài Uyên là tiếng lòng của một tâm hồn yêu tha thiết, chấp nhận thiệt thòi với một nỗi buồn trong veo và vẫn giữ được sự dịu dàng và nhân hậu trong cách nhìn về tình yêu.

4. Nếu thơ là miền nội tâm, nơi trú ngụ của cảm xúc, thì văn xuôi là đời sống cụ thể, là nơi Vương Hoài Uyên quan sát cuộc sống một cách sắc sảo và tấm lòng nhân hậu trước những mảnh đời.

Chị viết văn xuôi như một người lưu lại những gì mình chứng kiến, những số phận mình gặp gỡ qua cảm quan nghệ thuật của mình. Nhân vật trong truyện của chị phần nhiều là nam thanh nữ tú và học thức, là bạn bè, người thân, thầy cô, đồng nghiệp. Họ có thể tài hoa, nhan sắc, nhưng không phải ai cũng được cuộc đời ưu ái. Chiến tranh, biến động thời cuộc, những đổ vỡ trong tình cảm, những mất mát trong cuộc sống - tất cả đều hiện diện trong trang văn của chị.

Nhưng điều đáng quý nhất ở Vương Hoài Uyên là cách nhìn cuộc đời bằng đôi mắt yêu thương. Dù viết về những số phận bất hạnh, chị vẫn tìm thấy những tia sáng của lòng tốt, sự sẻ chia giữa con người với con người.

Hai tập truyện “Giọt nắng cuối ngày” & Điệu valse mùa cũ - Cái nhìn trực diện vào đời sống, hiện thực không tô hồng.

Hai mươi truyện ngắn trong Giọt nắng cuối ngày là những câu chuyện rất đời của cuộc sống, của phận người, của tình yêu. Có chuyện tình kết cục có hậu và cũng có chuyện tình dang dở để lại nhiều nuối tiếc. Bối cảnh không gian ở trong nước và ở hải ngoại qua góc nhìn của Vương Hoài Uyên. Đặc biệt, có những câu chuyện phản ánh đời sống người Việt nơi xứ người. Không ít cảnh đau lòng: mẹ chồng bị sỉ nhục, người cha già bị đuổi ra đường, người vợ bị bỏ rơi sau khi sang Mỹ. Chị không ngần ngại viết về những mảng tối của đời sống hải ngoại: sự bạc bẽo của con cái, sự tan vỡ của hôn nhân nơi xứ người. Tuy nhiên, giữa sự nghiệt ngã đó, chị luôn thắp lên ánh sáng của tình đồng hương, tình bạn. Nhân vật Lê và anh Khang sẵn sàng cưu mang người lạ. Vương Hoài Uyên không phán xét; chị quan sát, ghi nhận và để lòng nhân ái tự tỏa sáng. Truyện “Xuân muộn” cũng là một trong những truyện đầy ám ảnh, có nhiều tầng nghĩa nhưng triết luận cuối cùng là: “Của Caesar hãy trả cho Caesar”. Truyện “Biển bình yên” cho thấy một tấm lòng cô giáo chủ nhiệm luôn thương yêu, quan tâm đến học trò của mình, đặc biệt là những em có hoàn cảnh khó khăn. Trường hợp “Hải An”, em nữ sinh nghèo từ chỗ gia đình bất hạnh, cha chết, mẹ bỏ đi lấy chồng khác, anh trai phải bỏ học đi làm sớm để nuôi em. Cô dõi theo từng bóng dáng bé nhỏ của em đạp xe đi trong chiều gió rét, chỉ với bộ áo dài cũ “màu cháo lòng”, lòng cô xót xa. Cô luôn động viên để em có thêm điểm tựa tinh thần. Em đã nỗ lực cố gắng và trời đã không phụ lòng, em đỗ thủ khoa vào một trường đại học rồi du học Úc. Sau này gặp lại em, cô vui biết em thành công nhưng cũng thoáng chút buồn vì người anh trai của em đã bị bệnh nan y mất khi em chưa kịp báo hiếu. Còn người mẹ bỏ con, chị bảo: “Biết đâu đấy, khi Hải An có sự nghiêp trong tay bà ta lại chẳng quay về”. Chị không hài lòng với những người mẹ bỏ con mà đi lấy chồng và tôi cũng vậy. Đây cũng là thêm một nét đồng cảm sâu sắc của tôi với chị.

Giọng văn của Vương Hoài Uyên trong sáng, nhẹ nhàng, giàu chi tiết đời thực. Không bi kịch hóa nhưng đủ khiến người đọc nhói lòng.

Truyện ngắn "Tuyết lạnh bên trời" trong tập "Giọt nắng cuối ngày" là câu chuyện về lòng nhân ái giữa xứ người. Truyện kể về một người vợ được chồng bảo lãnh sang Mỹ, nhưng thực chất anh ta đã có người khác. Vừa đặt chân đến xứ lạ, cô nhận được đơn ly hôn. Bơ vơ, không người thân thích, không biết tiếng Anh, cô tìm đến người bạn gái cùng lớp cũ. Câu trả lời của người bạn thật giản dị mà ấm áp:

“Không sao, mày cứ đến đây ở với tao. Nhà tao rộng lắm, có phòng cho thuê. Nhưng mầy thì tao không lấy tiền thuê đâu. Còn chuyện như thằng chồng mầy bên này là “chuyện thường ngày ở huyện”, tao không ngạc nhiên tý nào đâu”.

Chi tiết nhỏ nhưng nói lên tất cả tình người giữa chốn phồn hoa đô hội. Giữa những mảnh đời bất hạnh, vẫn có những bàn tay dang rộng, vẫn có những trái tim biết sẻ chia.

Đặc biệt ấn tượng trong truyện ngắn này là những cảnh đời éo le mà tác giả ghi lại qua lời kể của nhân vật Lê:

“Trong chừng ấy năm ở xứ này, Kim từng thấy nhiều cảnh đau lòng khi một bà mẹ chồng mới chân ướt chân ráo sang Mỹ chơi nhà con trai, đã nghe con dâu phủ đầu bằng những lời lẽ cạn tàu ráo máng. Bà mẹ chồng mới đến nhà được một ngày, cô con dâu tiếp mấy cô bạn đến chơi đã nói những lời cay nghiệt: 'Bọn bây biết không mọi hôm nhà tao chỉ có một con chó coi nhà, hôm nay có đến hai con chó'. Bà mẹ ra khỏi nhà, lang thang ngoài công viên, cũng may gặp được người đồng hương tốt bụng giúp đỡ trở về Việt Nam.”

Hay câu chuyện về ông già bị con dâu “cầm chổi đập lên đầu, đuổi đi”, lang thang mấy hôm, được vợ chồng Lê và Khang cưu mang. Những mảnh đời ấy, dưới ngòi bút của Vương Hoài Uyên, không chỉ là câu chuyện để đọc mà còn là tiếng chuông cảnh tỉnh về đạo lý làm người, về cách đối xử giữa con người với nhau, đặc biệt là với những người già yếu, neo đơn.

Truyện ngắn “Chim mùa thiên di” có lẽ là một câu chuyện ám ảnh nhất kể về một mối tình. Câu chuyện Miên - Thụy là bản valse của thời gian. Một mối tình tưởng như “bọt bèo” lại kéo dài bốn mươi năm trong ký ức. Miên và Thụy yêu nhau từ thời sinh viên — cô học Sư phạm, anh học Y khoa. Rồi Thụy du học ở Mỹ, biền biệt không tin tức. Miên vì tự ái không hỏi han, nhưng hình bóng anh vẫn in đậm trong tim suốt thời con gái và cả sau khi lấy chồng.

“Đám bạn gái của Miên bực mình: 'Khiếp, người ta đã không đoái hoài đến mình, mà mình lại cứ nhớ người ta. Con cá mất bao giờ cũng là con cá to. Mày vứt cái mối tình bọt bèo ấy đi cho tao nhờ với.'

Đã gọi là mối tình thì không thể vứt như vứt một mảnh giấy lộn vào giỏ rác. Bao nhiêu bài thơ của Miên viết về mối tình mong manh ấy trong suốt thời con gái và cả sau khi lấy chồng. Hơn 40 năm dài như thế cho đến khi chồng Miên qua đời. Một lần đi Mỹ thăm con gái định cư ở đây, Miên cứ thầm mong biết đâu mình sẽ gặp lại Thụy”.

Cái kết có hậu: họ gặp lại nhau sau góa bụa và ly hôn và có những tháng ngày hạnh phúc bên nhau. Hạnh phúc đến không ồn ào mà như một ân huệ muộn màng, nhưng đó là một phần thưởng xứng đáng cho tình yêu. Ở đây ta thấy rõ quan niệm của tác giả: tình yêu chân thành không mất đi, chỉ ngủ yên.

Nhưng điều đáng nói là cách Vương Hoài Uyên xây dựng nhân vật Miên - một người phụ nữ vừa mạnh mẽ, vừa yếu đuối, vừa lý trí, vừa đa cảm. Hình ảnh "những bài thơ của Miên viết về mối tình mong manh ấy trong suốt thời con gái và cả sau khi lấy chồng" khiến người đọc liên tưởng đến chủ thể trữ tình - người cũng đã viết những vần thơ về những mối tình, những nỗi nhớ xuyên suốt cuộc đời mình. Chất liệu từ cuộc sống đời thực mà chị quan sát được hay từng trải nghiệm qua. Chuyện của chị có thể có bóng hình hay một phần đời tác giả, tạo nên sức lôi cuốn nhờ sự chân thực, không tô vẽ. Cách kể của chị nhẹ nhàng, không kịch tính, nhưng đầy sức lay động.

Văn xuôi của chị vì thế phảng phất chất lãng mạn cổ điển. Nhân vật phần lớn là người có học cùng thế hệ với chị, hay nói gần hơn là những người bạn bè chị em thân thuộc xung quanh chị có chiều sâu nội tâm. Những câu chuyện phản chiếu thế hệ của chính chị: đi qua chiến tranh nhưng vẫn giữ được nhân phẩm và học vấn. Văn của chị không lên án gay gắt. Chị quan sát bằng ánh mắt nhân hậu của một cô giáo tin vào sự tử tế còn tồn tại.

5. Phong cách nghệ thuật và những đóng góp cho văn học của Vương Hoài Uyên. 

Điểm nổi bật trong văn xuôi của Vương Hoài Uyên là giọng văn trong sáng, dễ hiểu, nhưng không hề đơn giản. Cách nhìn đời thấu hiểu nhưng không cực đoan. Chị viết bằng vốn sống phong phú, bằng kiến văn rộng mở của một người giàu vốn sông. Những câu chuyện của chị dù buồn đến đâu vẫn toát lên vẻ đẹp của tình người, của lòng nhân hậu. Nét buồn trong thơ chị không ủy mị mà mang vẻ thanh tao.

Có một điều đặc biệt trong văn Vương Hoài Uyên: dù viết về những điều bình dị nhất, những số phận éo le nhất, văn chị vẫn giữ được sự sang trọng và lãng mạn. Có lẽ điều này xuất phát từ tâm hồn của một người làm thơ, một cô giáo dạy Văn, luôn nâng niu cái đẹp, dù là cái đẹp trong tâm hồn con người hay cái đẹp trong ngôn từ.

Đọc Vương Hoài Uyên, dù là thơ hay văn xuôi, người đọc đều cảm nhận được tấm lòng nhân hậu của tác giả. Chị viết về những mảnh đời bất hạnh không phải để khơi gợi sự thương hại, mà để đánh thức lòng trắc ẩn, để nhắc nhở chúng ta về những giá trị nhân văn cao đẹp. Những nhân vật tốt bụng, những hành động sẻ chia trong truyện của chị như những điểm sáng trong bức tranh cuộc sống vốn nhiều mảng tối.

6. Vương Hoài Uyên - cô giáo dạy Văn tâm huyết, một nhà thơ lãng mạn, nhà văn tài hoa. 

Một cô giáo luôn nhớ về trường cũ, bạn xưa với những kỷ niệm đẹp đẽ. Một người mẹ yêu con và hy sinh tất cả cho con, người vợ đầy trách nhiệm với những mất mát không thể nguôi ngoai. Và ta thấy một nhà văn, nhà thơ luôn trăn trở với những số phận, những mảnh đời quanh mình. Chị là một “người gom nhặt những mảnh rời của thời gian”. Chị dùng thơ để an ủi chính mình và dùng văn xuôi để sưởi ấm cho những thân phận lạc lõng.

Đọc thơ văn Vương Hoài Uyên, ta thấy một người đàn bà từng trải, từng đau, từng mất, nhưng vẫn giữ được tâm hồn trong trẻo, nhân hậu. Dù viết về đổ vỡ, chị không cay nghiệt. Dù viết về cô đơn, chị vẫn mở lối cho hy vọng.

Nhưng trên hết, Vương Hoài Uyên là một tấm gương về lòng yêu văn chương và sự kiên trì theo đuổi đam mê. Có một thời gian phải tạm ngưng sáng tác, nhưng niềm yêu thích văn chương vẫn âm ỉ cháy trong tâm hồn. Và khi có cơ hội, chị đã “bung lụa” - một sự bùng nổ đầy mạnh mẽ. Hành trình văn chương của chị là hành trình của một người phụ nữ vượt qua bao thăng trầm để được sống với đam mê, để cất lên tiếng nói của mình. Từ "Mùa trăng cũ" đến "Miền gió gọi", từ "Giọt nắng cuối ngày" đến "Điệu valse mùa cũ", mỗi tác phẩm là một mảnh ghép của tâm hồn chị, là những trăn trở, những suy tư, những yêu thương và cả những mất mát.

 

Chân dung văn học của chị là chân dung của người nghệ sĩ chân chính: tài hoa, nhân hậu và luôn khát khao được cống hiến cho văn chương, cho cuộc đời. Chị hiện lên với vẻ nhân hậu đài các nhưng vô cùng gần gũi. Đó là sự kết hợp giữa tâm hồn nhạy cảm của một thi sĩ và cái nhìn bao dung của một người mẹ, một nhà giáo.

Chị thuộc thế hệ phụ nữ trí thức miền Trung: đi qua dâu bể cuộc đời có loạn lạc, li tán và chia xa, nhưng vẫn giữ được sự thanh cao trong tâm hồn và tình yêu cháy bỏng với văn chương. Vương Hoài Uyên không phải là nhà thơ cách tân ồn ào, cũng không phải cây bút hiện thực gai góc. Chị là người gìn giữ một vẻ đẹp cổ điển: trăng, mùa, tiếng trống trường, hàng cây vườn cũ, mối tình không trọn. Hành trình chị sống và viết từ Quảng Ngãi, Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn đến Hoa Kỳ là một hành trình dài, nhưng sợi dây gắn kết lại chính là văn chương. Chị viết để “gọi thời gian về lại trái tim mình”.

Saigon, ngày 25/02/2026

Hoàng Thị Bích Hà

  

READ MORE - Chân dung văn học: VƯƠNG HOÀI UYÊN ĐI QUA THỜI GIAN BẰNG NHỮNG VẦN THƠ VÀ TRANG VĂN THẤM ĐẪM TÌNH NGƯỜI - Hoàng Thị Bích Hà

Tuesday, March 3, 2026

CHU VƯƠNG MIỆN VỚI NIỀM KHẮC KHOẢI TÂM LINH - Tạp văn Nguyễn Nguyên An


Nhà thơ Chu Vương Miện
 


Nhà thơ Nguyễn Đức Tùng – Vancouver – Canada vừa viết trên Tạp chí Sông Hương số 246 (2009) Mục Tác giả tác phẩm và dư luận: “Khoảng từ năm 1970, xuất hiện nhiều tác giả trẻ, một số mặc áo lính, trên các báo, nhất là ở các địa phương. Một số chưa có thời gian để in tác phẩm của mình. Tôi nhớ những tên tuổi như Y Uyên, Ngô Kha, Luân Hoán, Trần Hoài Thư, Trần Dzạ Lữ, Chu Vương Miện… Bắt  đầu thành một dòng chảy khác, mà người chinh phục tôi nhất là Phan Nhật Nam.” Với riêng tôi, tôi yêu Ngô Kha & Chu Vương Miện (CVM).
 
CVM tên thật là Nguyễn Văn Thưởng, sinh năm 1941 tại Kiến An (miền Bắc), anh cầm bút từ những năm 1960, thơ anh đã đăng trên nhiều Tạp chí tại Sài Gòn: Thời Nay, Bách Khoa, Văn Học, Tiền Phong. Trước 1975, đã có 5 tác phẩm được ấn hành:
 
Đêm đen 20 tuổi (thơ) 1964
Tiếng hát Việt Nam (thơ) 1965
Trường Ca Việt Nam (thơ) 1967
Lời Phản Kháng (thơ) 1967
Phía Mặt Trời Mọc (tập truyện) 1969
 
Được ghi tên trong từ điển văn học của Thanh Tùng, Khai Trí xuất bản năm 1973 tại Sài Gòn. Ra hải ngoại, anh tiếp tục viết thêm những tác phẩm:
 
Đất Nước (thơ) 1985
Bằng Hữu (thơ) 1987
Văn Học Dân Gian (truyện) 1988
Tác Phẩm, Tác Giả (biên khảo) 1988
Đất Nước (thơ, tái bản) 1997
Văn Học Dân Gian (thơ, tái bản) 1999
 
Những tác phẩm của anh trước 1975 tôi chưa được đọc nhiều nhưng khi đọc tác phẩm gần đây, tôi xin ngả mủ chào CVM bởi sức sáng tạo bền bỉ, văn chương láp lánh mùi thiền và sự thông thái lịch sử, giỏi Hán Nôm của anh, mặc dù tạm trú hải ngoại, trái tim thường trú Việt Nam, anh luôn chất ngất nỗi buồn xa xứ và sắp bước vào tuổi “Thất thập cổ lai hy” anh vẫn nặng nợ văn chương, vẫn vắt óc cày trên cánh đồng chữ nghĩa phù du như một lực điền làm nên một dòng thơ văn tư tưởng khắc khoải phương Tây. Anh viết nhiều, post trên các trang web uy tín trong ngoài nước. Tôi xao lòng trước: “… đại hào kiệt cũng chết/ đại thiên tài theo sau/ nhìn tượng Trần Hưng Đạo/ Trần Thủ Độ nơi nào?/ …ngàn năm mây vẫn trắng/  thênh thang cõi đi về…/ còn mỗi ta sống sót/ bồng bênh bèo trên ao…/ vũng đời trò vân cẩu/ hết hợp rồi lại tan/ nghênh ngang uy quyền đó/ chết chả nấm mồ chôn?/  công hầu phù danh cả/ chuyện ngàn năm mây bay/ đó là chuyện thường ngày… ” (Văn Tế Bà Chúa Nôm).
 
Dù là tạp văn cũng thấm đầy huyền sử, với giọng thủng thẳng, CVM viết:
 
“Hai ngừơì trung niên, không phân rõ là nhà quê hay quan võ, đi thuyền từ bến đò Rừng phiá Quảng Yên, qua Thuỷ Nguyên, lên bộ  rồi ngươì trước kẻ sau, không đi thẳng lên huyện núi Đèo [Dẹo] cách khoảng mươi cây số, mà rẽ về lối tắt bên phải đi vào làng Trúc động và Mai Động, cách sông Bạch Đằng chừng non cây số, cách làng Phục Lễ, Phả lễ ba cây số, hai người nhìn ngắm, hai bên đuờng quê, một bên đuờng trồng toàn là trúc tầm vồng, cây thẳng đuột, ruột đặc, gọi là làng Trúc động, còn bên cạnh trồng toàn là cây bương lồ ồ nên gọi là làng Mai động, trúc bương mọc khít khao làm hàng rào vườn nhà, rất kín đáo muốn vào nhà là phải đi qua ngõ, ngừơi cao hơn móc trong tuí áo ra một tờ giấy nhỏ, đọc qua loa rồi như tình cờ rẽ vào một nhà bên làng Trúc động, trước sân thấy có hai cha con , đang ngồi đan lưới cá, ngươì cha vào khoảng bốn chục, ngươì con vào khoảng hai chục, thấy có nguời lạ vào nhà, nguời cha dừng tay đứng lên hỏi khách:
 
-Thưa hai tôn ông, ghé làng chài thăm? có điều chi? cần dậy bảo?
Người cao nóí:
 
- Chả dấu gì Bác, chúng tôi nhàn rỗi không có việc chi? nghe đâu làng này ngày xưa sứ quân Đỗ Cảnh Thạc có lập một cơ ngơi, để về hưu dưỡng, và nghe đâu hậu duệ cuả ngài còn truyền cho tới bây giờ? Nên nhân tiện có công chuyện đi ngang qua đây ghé  kính viếng thăm và thắp nén vài nén nhang để hiếu kính sứ quân, để tỏ rõ tấm lòng cuả kẻ hậu bối?
 
Ngừơì chủ nhà bèn chắp tay xá hai ngừơi:
 
-Đa tạ, hai tôn ông có lòng ghé thăm, vậy xin hai tôn ông theo kẻ dân giã này vào viếng miếu tổ tiên cuả chúng tôi?
 
Nguời con trai làng chài đi trước, quét trước sơ sài phiá trong và ngoài miếu, còn nguời cha thì thắp nhang  đưa cho hai nguời trung niên,  chỉ có nguời cao là đứng vái bốn vái, còn ngừơi đứng sau chỉ chắp hai tay mà thôi, nguời cao khấn:
 
- Bổn tướng là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, vì công vụ nên ghé kính thăm sứ quân, nếu anh linh còn đây, khí thiêng sông nuí còn đó, mong sứ quân hiển linh chỉ bảo cho bổn vương  đôi điều, giữ nuớc và cưú nước?...”
 
Đọc Địa Cọc Bạch Đằng, ta càng tôn kính lòng yêu nước của Hưng Đạo Vương và hiểu ngọn nguồn trận Bạch Đằng manh nha thế nào. Lại càng quý sự rốt ráo sử Việt cùng tài tái hiện cốt cách nhân vật của CVM. Không chỉ thế, CVM còn thông thuộc truyện kiếm hiệp Kim Dung, dã sử tiểu thuyết Trung Quốc. Chẳng hạn:
 
“Quách Tĩnh đọc xong mật hàm cuả Mông Kha gưỉ cho mình, có điều hiểu ngay, có điều hiểu lờ mờ, và có điều không hiểu hẳn, bèn đưa ngay tấm mật hàm cho  Hoàng Dung, đọc lại cho rõ, để hai nguơì cùng bàn luận, để tìm cách đối phó nếu có chuyện bất thưòng xẩy ra? Hoàng Dung đọc thì hiểu ngay, tóm tắt lại như sau:
 
- Hãn ông Nội tức Thành Cát Tư Hãn làm Hãn đuợc mươì năm, thì truyền ngôi lại Hãn cho Bác Oa Loa Đài, Hãn Bác làm đuợc mươì năm thì truyền lại cho Hãn Cháu  Mông Kha, Cháu làm Hãn được muơì sáu năm, bây giờ bưóc sang năm thứ mười bẩy, cháu vẫn duy trì tình trạng đất nước Mông Tống  y như cũ, nhưng đa số tướng lãnh duới quyền có đưa kiến nghị lên cho cháu, một là đánh tới nơi tới chốn, thắng hay là bại cho oanh oanh liêt liệt, hai là rút quân về đại mạc, cho giải giới ,giải ngũ,  chăn dê cưù như cũ, chứ cứ cù cưa cù nhầy kéo daì cuộc chiến gần 40 năm rồi, nhân sự mệt mỏi và chán nản lắm lắm, vậy cháu kính gửi mật hàm này đến Kim Đao phò mã và Hoàng Dung bang chủ, báo trưóc sáu tháng để chuẩn bị, đầu tháng bẩy năm sau, cuộc chiến thư hùng giữa Mông Cổ và Đại Tống sẽ xẩy ra, tấm lòng thì dài, nhưng chữ nghiã có giớí hạn, kính mong Kim Đao Phò mã và Hoàng Bang chủ liệu định…”. (Mông Kha).
 
Nói về thơ, tôi cảm nhận vài bài anh post trên vanchuongviet.org bởi lẽ CVM viết nhiều thể tài và bài viết của tôi trong phạm vi giới hạn, không thể ôm đồm nhận định xuyên thấu văn chương CVM. Nhưng dù văn hay thơ, nhà thơ CVM cũng bật lộ cốt cách ngang tàng Bắc Hà, với cái cay đắng mùi đời lên câu chữ một cách triết lý. Cứ hãy trải lòng mình vào (Chuyện Thơ) sẽ rõ “ý tại ngôn ngoại” của CVM tiềm ẩn trong câu chữ gập gềnh: “Bàn chuyện thơ nó y như vầy/  anh đến trước ở quán cóc/ là nhà thơ cổ điển/ kêu 1 ly cà phê sữa đá/ chờ lâu quá đành uống tạm /1 ly cà phê đen nóng/ tất tả đi ngay?/ để lại trên bàn ly cà phê  sữa đá/ cho anh làm thơ tân cổ điển/ anh đương đại đến thì uống cà phê đá/ anh hậu hiện đại uống trà đá/ anh sau hậu hiện đại uống trà nóng/và anh sau chót múc nước lạnh uống/ ngoài bờ sông?/ Con trâu nằm nhai cỏ/ Bá Nha đi người không?/ vừa đập xong cổ cầm/ tử ký không còn nữa?/ đàn toàn dang với dở/ con chim bay trên trời/ con chim đậu dưới đất/ còn ta ngồi nơi đây?/ muốn khóc/ không khóc được ?/ toàn cười?/ còn duyên kẻ đón người đưa/ hết duyên ngồi gốc cây dừa chờ rơi?/ trúng đầu thời kể như toi?/ ra ngoài thời miệng còn cười mí nhau?/ còn duyên noí chuyện đẩu đâu?/ hết duyên toàn những bã trầu nhả ra/ nhìn mình mà ngỡ người ta ?/ nhìn người ta ngỡ là hoa móng bò?/ thì thôi nhá miếng chả giò?”
 
Và,  thơ mới của CVM “Ngạc Nhiên”
 
Con quạ nói tiếng người rất sõi/ làm con cú mèo? ngạc nhiên/ bầy/ bồ câu đang mổ thóc ngoài hiên/ không thấy người chỉ nghe con quạ nói?/ đang nhìn trời định bay chơi?/ bỗng dưng con quạ gọi ?/ vườn vui thế này? mà muốn bay đâu?/ quạ trong lồng tre đen thẫm 1 mầu/ từ mắt mỏ đuôi giống cục than hầm chín ?/ cũng là chim ăn thóc người véo von cái miệng/ lúc tiếng người lúc tiếng quạ chen nhau/ trên nóc đống rơm 1 lũ sáo trâu/ đang lầm lũi kiếm ăn từng hạt thóc/ ánh mặt  trời vừa nhô lên/ trên cánh đồng mùa gặt
 
Đọc thơ CVM tôi cứ thấy đau đau làm sao ấy. Thơ của anh chất ngất một buồn xa xứ, như có ngọn lửa âm ỉ ngún cháy, nỗi hoài cố hương ấy cứ dằn vặt tâm can thi sĩ. Niềm khắc khoải tâm linh bật lên trong anh như căn bệnh trầm kha, chữ nghĩa chán chường mọi thứ và mọi thứ đều vô nghĩa. Ở Mỹ hay ở hải ngoại người ta thờ ơ hết thẩy, họ sống thực dụng thì sá gì thơ văn Việt bọt bèo xa xôi, các thế hệ sau chả quan tâm gì tiếng Việt, thậm chí có người mù tiếng Việt, trong khi đó họ thông thạo tiếng người, vì nhu cầu cuộc sống họ đành lòng quên lãng cội nguồn. Anh là một trong những người còn làm thơ văn trên đất khách, còn làm kiếp tằm ép xác nhả tơ vì con chữ quê nhà; anh là người giữ lửa đáng trân trọng. Có nhiều thi sĩ nổi tiếng thời trẻ, lớn lên họ im tiếng? Có lẽ họ đã thỏa nguyện, CVM ở tuổi 68 vẫn lặng lẽ chống chỏi với cơn đau trần thế một cách dũng cảm để viết và viết… Viết đến đây tôi ứa nước mắt vì sức chịu đựng và làm việc của anh. Tôi xin khép lại trang viết này để khởi một lời nguyện chân thành lên không trung: “Cầu anh mạnh khỏe để gom sức viết tặng đời” và mời bạn đọc cùng tôi chia sẻ niềm khắc khoải tâm linh cùng nhà thơ Chu Vương Miện – google.com/“chuvương miện”/Enter
                                                     

Huế, ngày 21 tháng 8 năm 2009                                                             Nguyễn Nguyên An

*
NGUYỄN VĂN VINH (N.N.A) - Hộp thư 042 Bưu điện, Huế
- E.mail: nguyenan009@gmail.com  Tel: 0914457805

 


READ MORE - CHU VƯƠNG MIỆN VỚI NIỀM KHẮC KHOẢI TÂM LINH - Tạp văn Nguyễn Nguyên An

Friday, October 31, 2025

CON TẰM NHẢ TƠ KHÔNG BIẾT MỆT MỎI - Nguyên Lê - Lê Thi gởi đăng



CON TẰM NHẢ TƠ KHÔNG BIẾT MỆT MỎI


Xin trân trọng giới thiệu cùng quý bạn đọc đôi nét về nhà văn:  Kim Quyên. 

Tên thật: Huỳnh Kim Hường (bút danh Kim  Quyên). Sinh ngày 09/09/1953 tại xã Mỹ Hạnh Đông, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.  

Quê gốc Nam Bộ (Tiền Giang) và hiện đang sinh sống tại TP Hồ Chí Minh.  

Học vấn: Tốt nghiệp Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, khoa Nga văn; trước đó tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm Tiền Giang, khoa Anh văn.  

Nghề nghiệp chính: Giáo viên ngoại ngữ; sau đó hoạt động văn chương, viết văn.  

Là hội viên của Hội Nhà Văn Việt Nam (từ khoảng năm 2000) và hội viên của Hội Nhà Văn TP.HCM.   

Nhà văn Kim Quyên lớn lên trong miền Nam, trải qua nhiều giai đoạn: học hành, nghề giáo viên, rồi dấn thân vào sáng tác văn chương với mối quan tâm sâu sắc tới quê hương Nam bộ, sông nước Cửu Long và đời sống người dân nơi này. Mỗi tác phẩm của chị mang hơi thở quê hương đậm nét Nam bộ, gần gũi thân thương mộc mạc.

                 

Sự nghiệp sáng tác:

Kim Quyên khởi viết từ khá sớm: có thơ và truyện ngắn đăng báo từ năm 1973. Bà viết đa dạng thể loại: gồm tiểu thuyết, truyện ngắn, tản văn, bút ký, thơ.  

 

Một số tác phẩm tiêu biểu: 

Nụ hôn đắng (tiểu thuyết, 1990) – Nxb Sở Thông tin – Văn hóa Tiền Giang.  

Nước rút (tập truyện ngắn, Nxb Trẻ, 1997)  

Người dưng khác xứ (tập truyện ngắn, Nxb Văn nghệ TP.HCM, 2004).

Món ăn khoái khẩu Nam bộ (tạp bút, 2004)  

Ngã ba sông (thơ, 2006)  

Sài Gòn hào hoa (tản văn, 2011)  

Món ngon miền Tây (tạp văn, 2013)  

Quê ngoại (tập truyện–ký, Nxb Hội Nhà Văn, 2013)  

Đi biển một mình (tập truyện ngắn, Nxb Văn hóa – Văn nghệ, 2015)  

Tình không biên giới (tiểu thuyết, Nxb Hội Nhà Văn, 2017)  

Thành phố bên sông (tiểu thuyết, Nxb Văn hóa – Văn nghệ, 2019)  

 

 Nét đặc trưng trong văn chương của Kim Quyên:

Viết nhiều về miền Nam, về quê hương Nam bộ – sông nước, con người, chuyển đổi xã hội.  

Ngòi bút dung dị nhưng thấm đẫm nhân tình — tức là nhẹ nhàng, gần gũi nhưng có chiều sâu.  

Bà từng chia sẻ: “Văn chương không chỉ là món ăn tinh thần… mà còn góp phần không nhỏ vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước.”  


Những giải thưởng và ghi nhận: 

Kim Quyên đã nhận được nhiều giải thưởng và ghi nhận trong hành trình sáng tác của mình. Dưới đây là một số tiêu biểu:

-Huy chương “Vì sự nghiệp Văn học – Nghệ thuật Việt Nam” năm 2004.  

-Giải thưởng bút ký của Hội Nhà Văn Việt Nam năm 2008.  

-Giải thưởng của Bộ Giao thông Vận tải (năm 2015) cho tác phẩm viết về đề tài giao thông.  

-Giải thưởng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (năm 2016) cho tập truyện ngắn “Đi biển một mình”.  

-Giải thưởng Giải thưởng Mekong (giải của 6 nước Đông Nam Á) cho tiểu thuyết “Tình không biên giới” năm 2017.  

-Giải Khuyến khích trong đợt trao giải “sáng tác, quảng bá tác phẩm văn học nghệ thuật báo chí chủ đề ‘Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh’ giai đoạn 2015-2020” cho tiểu thuyết “Thành phố bên sông”.  

 

Văn chương của Kim Quyên được giới phê bình đánh giá là “dù không to tát nhưng có sức lay động rất lớn”, đặc biệt vì sự chân thành, gần gũi và mang hơi thở nhân bản.  

 

Bà xuất phát từ một hoàn cảnh không hoàn toàn thuận lợi (hậu chiến, giáo viên, gia đình…) nhưng vẫn kiên trì viết, dấn thân với chữ nghĩa, đây là một điểm đáng khâm phục. Bà có rất nhiều kinh nghiệm sống nên bài viết, câu chuyện của bà như người trong cuộc, hóa thân vào số phận nhân vật.

 

Qua các tác phẩm viết về Nam bộ, về sông nước miền Tây, bà góp phần giữ gìn và tôn vinh vùng đất, con người miền Nam, đồng thời phản ánh biến động xã hội, lịch sử và những số phận cá nhân trong đó.

 

Sự nghiệp của bà là một minh chứng cho việc người viết văn không chỉ “viết cho mình” mà còn “viết cho đời”, viết để thể hiện tình yêu, trách nhiệm với quê hương và con người.

 

Nhà văn Kim Quyên như con tằm văn chương nhả tơ không biết mệt mỏi, cường độ làm việc của bà là một tấm gương cho lớp trẻ học tập . Tuy tuổi gần “ Nhân sinh thất thập..” nhưng vẫn cho tác phẩm ra đời đều đặn, và đang thai nghén nhiều kịch bản, tiểu thuyết. Ngoài thời gian viết bà đang giúp đỡ nhiều sinh viên viết luận văn thạc sĩ, nghiên cứu văn chương, hay hướng dẫn cho nhiều cây viết trẻ đam mê nghiệp văn chương . Bà được tặng thưởng nhiều huân, huy chương cao quý, và đã đóng góp một phần không nhỏ cho nền văn học nước nhà. Xin kính chúc nhà văn nhiều sức khỏe và cho độc giả nhiều tác phẩm có giá trị.

 

Nguyên Lê- Washington. 

 (Ảnh:  Nhà văn Kim Quyên)

Gởi từ: thivanle1569@gmail.com

READ MORE - CON TẰM NHẢ TƠ KHÔNG BIẾT MỆT MỎI - Nguyên Lê - Lê Thi gởi đăng

Monday, October 13, 2025

GIỮA HOANG MẠC TINH THẦN, TÌM LẠI TÂM KINH - Trần Kiêm Đoàn




GIỮA HOANG MẠC TINH THẦN 

TÌM LẠI TÂM KINH 

  

Mùa Nobel đang nở rộ với các giải thưởng danh giá nhất trong nhiều lĩnh vực chuyên môn như Vật Lý, Hóa Học, Y Khoa, Văn Chương, Hòa Bình đang lần lượt được công bố. Sự thú vị tuyệt vời trong mùa phát giải Nobel là hầu hết người trúng giải đều thật sự xứng đáng là những nhân vật tinh hoa thời đại. Giải Nobel Văn Chương năm nay đang xoáy vào đề tài “hoang mạc tinh thần” hay “sa mạc vô tâm”... nói đến thân phận con người giữa vòng xoáy của sự cô độc trong cơn tuyệt vọng gần như tận thế của tâm hồn. Trước nỗi tuyệt vọng đầy cuồng nộ của phương Tây và nhẹ nhàng hơn ở phương Đông mình thử làm người cưỡi ngựa xem hoa, đi tìm vài giọt sương Thu trong cơn khát cháy... 

 

 Ảnh của Janos Marjai/EPA. (https://www.upi.com/Top_News/World-News/2025/10/09/stockholm-hungarian-laszlo-Krasznahorkai-nobel-prize-literature/3631760015489/)

Khôi nguyên Nobel Văn chương 2025  

Giải thưởng văn chương cao quý nhất thế giới – giải Nobel Văn học – năm 2025 đã được viện Hàn lâm Thụy Điển công bố. Người thắng giải là nhà văn Hungary László Krasznahorkai (LK).  Anders Olsson, chủ tịch Ủy ban Nobel, đã đưa ra lời nhận định về tầm nhìn tiên tri của nghệ thuật: 

“Vì sự nghiệp sáng tác đầy sức cuốn hút và mang tầm nhìn tiên tri của ông – ngay giữa cơn kinh hoàng tận thế, vẫn khẳng định sức mạnh cứu rỗi của nghệ thuật.” 

 

Và Olsson nhìn về khía cạnh văn chương: 

László Krasznahorkai là một đại văn hào mang phong cách sử thi của truyền thống Trung Âu, nối dài từ Kafka đến Thomas Bernhard, đặc trưng bởi chủ nghĩa phi lý và sự phóng đại mang tính bi hài. Tuy nhiên, ông không chỉ dừng ở đó; ông còn hướng về phương Đông, tiếp thu một giọng văn tĩnh lặng, chiêm nghiệm và tinh tế hơn, thể hiện chiều sâu của tâm linh và suy tưởng trong thế giới hỗn loạn.

Tác phẩm xuất bản đầu tay của Krasznahorkai là  The Melancholy of Resistance (phản kháng trầm luân).  Tác phẩm này, ra đời năm 1989, là một ẩn dụ về xã hội Đông Âu tan rã, nơi niềm tin tập thể mất dần, người dân rơi vào một sự hoang vu tâm hồn với tinh thần trống vắng tột cùng như viễn khách trên chính quê hương của mình giữa cõi đi về không định hướng. 

Khái niệm “hoang mạc tinh thần” (spiritual dessert) lan tỏa trong suốt cả bốn tác phẩm đưa tác giả lên đài danh vọng văn chương. Krasznahorkai viết nó như hành giả tụng kinh thiền hành giữa tận thế: ngôn từ dài, xoắn, tối, nhưng mang sức gợi về khả năng hồi sinh của tâm hồn – rất gần với tinh thần “vô minh dẫn tới giác ngộ” trong Phật học.

Tuy Krasznahorkai có lối hành văn rất khác thường so với văn chương truyền thống với câu văn có cấu trúc rắc rối, dài lê thê, dồn dập và nội dung diễn đạt đen tối, u sầu, nhưng Anders Olsson - Chủ tịch Ủy ban Nobel – đã ca ngợi “ Văn xuôi của Krasznahorkai đã phát triển theo hướng cú pháp trôi chảy. Các câu dài, quanh co không có dấu chấm tạo nên thương hiệu của ông. Krasznahorkai là nhà văn sử thi vĩ đại..." Và cũng chính László Krasznahorkai từng nói với Guardian: "Nếu có độc giả nào chưa đọc sách của tôi, tôi không thể gợi ý cho họ bất cứ điều gì để đọc. Thay vào đó, tôi khuyên họ hãy ra ngoài, ngồi xuống đâu đó, chỉ im lặng như đá. Rồi họ sẽ gặp được người đã đọc sách của tôi". Lời tự bạch “tâm vô sở trụ” nầy làm người ta nhớ thi hào Nguyễn Du với kinh Kim Cang trong lần đi sứ cuối đời: Ngã độc Kim Cang thiên biến linh. Kim Cang vô tự thị chân kinh – (Kim Cang ta đọc nghìn lần. Kim Cang thật sự tự thân không lời.)


Hoang mạc tinh thần và một thoáng Tâm Kinh

Sự “hoang mạc tinh thần” là hậu quả của văn minh lý trí bởi con người biết rất nhiều cách sống, nhưng quên mất ý nghĩa của sự sống. Sự tuyệt đối hóa lý trí khiến con người cô độc, hoài nghi và lạc hướng giữa vô vàn thông tin nhưng thiếu minh triết. Đây là bối cảnh mà Kafka, Beckett, Bernhard và nay Krasznahorkai đã diễn tả cái trống rỗng của hiện hữu trong thế giới mù Tâm. Khuynh hướng tìm về Phật lý là con đường trở lại “Tâm nguyên”.

Khi con người ý thức rằng mọi nỗ lực bên ngoài không còn cứu rỗi được sự bế tắc bên trong, họ quay về tìm đạo lý nội tâm. Phật lý – với nguyên lý Duyên khởi, Vô ngã, Vô thường và Trung đạo –  chính là phản đề của hoang mạc tinh thần:

Duyên khởi chỉ ra rằng mọi hiện tượng tương liên, phá vỡ cô đơn của “cái tôi biệt lập”.

Vô ngã giúp ta thoát khỏi chấp thủ, cái gốc của khổ đau. 

Trung đạo mở lối quân bình giữa hư vô và cực đoan, giữa cảm xúc và lý trí.

Từ đó, Phật lý trở thành “dòng suối mát” tưới tẩm hoang mạc tâm linh, giúp con người nhận ra rằng: cứu rỗi không đến từ bên ngoài mà từ sự tỉnh thức nội tâm.

 

Khi nghệ thuật trở thành con đường giác ngộ

Với Krasznahorkai, nghệ thuật không chỉ là phản ánh hiện thực mà là phương tiện để trở về với im lặng là gốc của chính mình, nơi con người chiêm nghiệm sự tan rã của thế giới và sự tồn sinh của Tâm. Giữa khi đó, trong “hoang mạc tinh thần”, người nghệ sĩ đi tìm thể tánh – bản lai diện mục chính mình – là hành trình trở về với bản thể của sáng tạo, nơi chữ nghĩa chỉ còn là hơi thở và tư tưởng trở thành vắng lặng vô ngôn.

Để so sánh “sự chiêm nghiệm về tâm lý hoang mạc” và cách “giải quyết” (nếu có) bằng thiền định hay quan niệm nhân sinh giữa hai thế giới Đông Tây, trước hết ta cần làm rõ cách hiểu “tâm lý hoang mạc” (desert psychology / desert mind) trong ngữ cảnh triết học, tâm lý, rồi xem mỗi tác giả hoặc tư tưởng mà ta so sánh diễn đạt nó ra sao và họ có giải pháp hay hướng đi nào để tự mỗi người hướng tâm, khai trí.

 

1. “Tâm lý hoang mạc” –  khái niệm và hình ảnh

Khái niệm “hoang mạc” (desert, emptiness, wasteland) thường mang tính biểu tượng: cô lập, khô cằn, mất chiều sâu gắn kết, nơi mọi cấu trúc quen thuộc bị bóc trần.  Trong tâm lý học, nó cũng có thể ám chỉ trạng thái nội tâm rỗng không, hoang mang, tuyệt vọng, mất mát liên kết tinh thần, nơi “không có chỗ bám”. 

Nếu xem “tâm lý hoang mạc” là hình ảnh hay ẩn dụ cho trạng thái tinh thần nơi con người hoang mang đối diện với vô nghĩa, thì ta có thể xem thử có chăng một giải pháp để “cứu chữa” tâm lý bế tắc cùng cực này.

Thử tìm một nhân vật đối ứng với nhà văn Krasznahorkai trong hai thế giới Đông – Tây; có lẽ Thiền sư Thích Nhất Hạnh là một trong những hình ảnh tiêu biểu.

Trong văn chương hiện đại, László Krasznahorkai, là kẻ lữ hành lang thang giữa hoang mạc ấy.

Trong đời sống tâm linh hiện đại, Thiền sư Thích Nhất Hạnh là người gieo hạt trên cánh đồng khô cằn, chỉ ra con đường trở về.

 

2. Thích Nhất Hạnh: từ “hoang mạc” đến chánh niệm và giao cảm

Mặc dù Thầy Nhất Hạnh không dùng cụm từ “tâm lý hoang mạc” thường xuyên như một khái niệm chính thống, nhưng trong nhiều bài giảng và sách viết, ta thấy rõ Thầy nhìn thấy những vùng “cằn cỗi” nội tâm – những tâm lý sợ hãi, cô đơn, tổn thương – và dẫn dắt con người ra khỏi nó bằng chánh niệm, thiền định, lòng từ bi và “interbeing” (tương thuộc).

Thầy nhấn mạnh rằng, nhiều khổ đau nội tại không đến từ hoàn cảnh bên ngoài mà từ cách mình không lắng nghe, không hiểu mình là chính. Do vậy, nếu biết lắng nghe và hiểu được cảm xúc nội tại của chính mình sẽ làm vơi đi niềm đau nỗi khổ đang đè nặng trong ta (Listening to and understanding our inner sufferings will resolve most of the problems we encounter.)

Tức thị rằng vùng đất “hoang mạc” (nỗi khổ, sầu muộn, cảm giác bị bỏ rơi) cần được lắng nghe hơn là đàn áp, tự áp chế.

Thầy Nhất Hạnh nói về chánh niệm (mindfulness) như một năng lượng, một con đường, không chỉ một phương tiện: (Mindfulness is not a tool … True mindfulness is a path, an ethical way of living.)

Chánh niệm giúp người ta “ở với” khổ đau, nhìn rõ chúng mà không phản ứng tự động, từ đó có thể chuyển hóa.

Lắng nghe, nói lời thương yêu – ái ngữ – (deep listening, compassionate speech) là một phần của nghệ thuật chữa lành: vấn đề nội tâm không tách rời cộng đồng – để vượt hoang mạc, người ta cũng cần trà trộn, giao cảm, lắng nghe người khác.

Quan niệm “interbeing” (tương thuộc) là mấu chốt: mọi sự sống liên đới, không có cái tôi độc lập tuyệt đối. Khi ta cảm thấy “cô độc trong hoang mạc”, Thầy Nhất Hạnh sẽ nhắc nhở rằng cái tôi cô độc đó vốn là ảo tưởng; trong khi ta thực sự “liên-hữu” với mọi người và mọi sự vật.

Và trong thực hành: tâm nằm trong hơi thở, bước đi, ăn uống – mọi hành động đời thường đều là dịp để thực tập chánh niệm – khơi lại tương thuộc và chữa lành những vùng “cằn cỗi” trong lòng.

Vậy, “giải quyết hoang mạc tâm linh” theo Thầy Nhất Hạnh không phải bằng việc thoát khỏi nó ngay lập tức, mà bằng cách bước vào nó trong chánh niệm, lắng nghe, mở rộng lòng từ bi để nhận ra rằng ta không thực sự đơn độc, đó là tiến trình dần hồi sinh mạch kết nối với mình, với người, với sự sống.

 

3. Krasznahorkai: cái hoang mạc nhân sinh và hư vô kéo dài bất tận

Khác với nhà thiền, Krasznahorkai là nhà văn hiện đại/ hậu hiện đại và cách “chiêm nghiệm” của ông là thông qua văn chương – mô tả trạng thái, giọng nói, cấu trúc câu – chứ không đề xuất một phương pháp giải quyết rõ ràng. Ở ông, ta dễ thấy “tâm lý hoang mạc” ở cấp độ nhân sinh: sự kiệt quệ của ý nghĩa, sự cạn kiệt của thời gian, sự căng thẳng giữa khát vọng và thực tại bất định. 

Có thể nói: Thích Nhất Hạnh là người chữa lành hoang mạc; Krasznahorkai là người làm cho ta thấy nó rõ mồn một và để ta tự mang nó trong mình. 

Thích Nhất Hạnh là tâm ảnh phương Đông – mở đường thoát khỏi “sa mạc” bằng việc buông bỏ, hòa tan, an trú. 

Krasznahorkai là ảo ảnh của phương Tây – dấn thân vào “sa mạc” để nhìn tận cùng vô nghĩa, để nghệ thuật còn lại như “bằng chứng con người từng tồn tại”. 

Tuy hai hướng khác nhau, cả hai gặp nhau ở điểm cốt lõi: 

“Không ai có thể thật sự thoát khỏi hoang mạc nếu chưa đi xuyên qua nó.” 

Thích Nhất Hạnh đi qua bằng hơi thở; Krasznahorkai đi qua bằng chữ nghĩa.

Một người “đem nước từ bi tưới mát”, người kia “giữ lại tro than của nhân loại để soi vào đó ánh sáng.” 

Có chăng ánh sáng của Krasznahorkai là ánh sáng của trí tuệ và nghệ thuật phát ra từ bóng tối của tuyệt vọng. Sự giao thoa đầy lý tính của phương Tây về trí tuệ và nghệ thuật là một hứa hẹn “giải phóng hoang mạc tinh thần” thấp thoáng đâu đó cuối đường hầm. Mong rằng, thế hệ Trí tuệ Nhân tạo và khoa học công nghệ sẽ giúp phát ra tia sáng. 

Sacramento mùa Thu 2025 

Trần Kiêm Đoàn

trankiemdoan@gmail.com

READ MORE - GIỮA HOANG MẠC TINH THẦN, TÌM LẠI TÂM KINH - Trần Kiêm Đoàn