Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Thế Lộc. Show all posts
Showing posts with label Thế Lộc. Show all posts

Tuesday, May 9, 2023

ĐỌC TẬP THƠ “CHỈ LÀ HẠT BỤI” CỦA THẾ LỘC - Châu Thạch


Nhà thơ Thế Lộc

Nhà thơ Thế Lộc - Đà Nẵng vừa xuất bản tập thơ “Chỉ Là Hạt Bụi”. Châu Thạch tôi là một trong những người hân hạnh được tác giả tặng tập thơ trước khi nhà thơ tổ chức ra mắt.
 
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có bản nhạc “Cát Bụi”, trong đó có những ca từ ở đầu bài hát như sau: “Hạt bụi nào hoá kiếp thân tôi/ Để một mai vươn hình hài lớn dậy/ Ôi cát bụi tuyệt vời/ Mặt trời soi một kiếp rong chơi”. Vậy thì hạt bụi của Trịnh Công Sơn khi làm người, nó không còn nhỏ bé, không còn tầm thường nữa, mà lớn lên và mang sự vinh quang của mặt trời soi rọi để rong chơi trong kiếp nhân sinh.
 

Có lẽ “Chỉ là hạt bụi” của Thế Lộc cũng mang ý nghĩa đó. Nhà thơ có thể cho bản thân mình, hay đời mình, hay thơ mình “Chỉ là hạt bụi”, nhưng khi đọc thơ của ông tôi cảm nhận được hạt bụi đó đã thành con người của thời đại, hạt bụi đó đã có một cuộc đời đầy ý nghĩa và hạt bụi đó đã thành những vần thơ soi rọi một kiếp rong chơi đầy vẻ đẹp và vẻ sáng của văn chương
 
Thế Lộc tuổi trẻ không được sung sướng vì cha mất sớm nhưng mẹ của ông là niềm hảnh diện vô song cho ông vì mẹ đã “Gánh gồng mưa nắng đầy vơi/ Nuôi đàn con dại không lời thở than/Thân cò nắng gội mưa chan/Sớm khuya không quản gian nan dãi dầu”. Hạt bụi hoá thân Thế Lộc đã lớn lên nhờ sự tảo tần của mẹ, đã vào đại học, đã đi dạy, đã vào lính, đã đi tù cải tạo và làm công dân bình dị nửa đời người. Một đời như thế thì gian nan nhiều hơn sung sướng, nhưng với kiếp người, vẫn là một cuộc rong chơi, vì cuộc rong chơi càng thú vị nếu phải băng đồi lội suối, leo núi trèo non.
 
Hạt bụi hóa thân thành Thế Lộc đã mang lý tưởng hào hùng cho đời mình, và sự thật lý tưởng ấy đã thành hình trong một giai đoạn nào đó. Nhà thơ đã lấy Trương Phi, một anh hùng thời Tam Quốc để dựng lại hình ảnh của mình đã có một thời như thế. Bài thơ 16 câu, xin rút gọn còn 7 câu:
 
Vác xà mâu đứng giữa cầu
Hét to một tiếng mắt râu trợn trừng
Mấy mươi năm ông lẩy lừng
Chỉ trong gan tấc ông thành thiên thu
 
Tôi từ binh lửa mịt mù
Cũng giống ông chỉ ở tù mấy năm
…Tử như ông thân nhẹ hều
Sống như tôi, thân tựa bèo trôi sông
    (Uống rượu gạo nhớ Trương Phi)
 
Bài thơ “Uống Rượu Gạo Nhớ Trương Phi” không chỉ nói lên ý chí phấn đấu, tinh thần quật cường của một hạt bụi hoá thân thành Thế Lộc mà còn nói hộ cho hết thảy biết bao nhiêu hạt bụi hoá thân thành những con người hào hùng của một thời đại chiến tranh và hoà bình, đã phải chịu “Cuộc cờ hưng phế suy vong/ Kiếm cung bỏ dở tấm lòng mang theo”.
 
Thế rồi, cho dầu cuộc đời có trải qua bao nỗi nhọc nhằn, hạt bụi cũng làm người và Người viết hoa thật thụ, bởi hạt bụi đã giữ khí tiết trong mọi hoàn cảnh. Châu Thạch tôi đã vịnh Thế Lộc trong một bài thơ dài, xin trích ra đây vài câu thơ ngắn: “Râu hùm hàm én mày ngài/Không là Từ Hải cũng trai chiến trường”“Một thời uy dũng cân đai/Vẫy vùng cho thoả chí trai của mình”“Câu Thơ viết giữa chiến trường/hoả châu, đạn pháo, em thương chung dòng”“Cây cao gần áng mây vương/Người già gần với văn chương thượng thừa”. Ngẫm nghĩ “Chỉ là hạt bụi” mà thành Người như thế thì hạt bụi đó “Đã có một cuộc đời đầy ý nghĩa” như tôi đã viết ở trên.
 
Vậy thì “Chỉ là hạt bụi” hóa thân thành Thế Lộc có cuộc đời mang dáng dấp người hùng trong thời đại nhiễu nhương, sống có ý nghĩa vì luôn là cây đứng thẳng trong bão bùng. Bây giờ ta hãy xét xem qua “Chỉ là hạt bụi” đó đã có những vần thơ soi rọi một kiếp rong chơi như thế nào.
Ta hãy nghe Thế Lộc viết về yêu ở một thời trai trẻ của mình:
 
Xưa ta lính trận tiền phương
Yêu em chết bỏ như đường đạn bay
Tháng năm ta chiến chinh dài
Cuốn theo trận chiến đạn bay… quên đời
                              (Có còn ta trong Em)
 
Người lính trận “yêu em chết bỏ như đường đạn bay” là một tứ thơ mà tôi bắt gặp lần đầu tiên trong đời, nó mang trọn vẹn hình ảnh bất ngờ tuyệt đẹp mà phôi pha của tình yêu người lính.
 
Sau đó, có lẽ có một ngày, khi đã trường đời, hạt bụi Thế Lộc gặp lại người xưa nào đó, tình yêu lai sinh, dục vọng cháy bỏng:
 
MÊ DƯỢC
 
Gặp em trùng mộng lai sinh
Cùng ta cạn chén rượu tình giao hoan
Xiêm y nửa mảnh ngỡ ngàng
Em lồng lộng trắng ta bàng hoàng say
 
Gối đầu lên đỉnh tuyết dày
Uống hương mê dược cay cay nồng nồng
Duỗi chân giữa chốn thinh không
Đê mê úp măt vào lòng thảo nguyên
 
Thanh tân nở nụ hiện tiền
Vô cùng thánh thể…giữa miền trần gian.
 
Tất cả phần thân thể của người nữ trong “Mê Dược” đều trở thành ngôn ngữ của đam mê. Vẻ đẹp của người nữ trong “Mê Dược” trở nên trong trắng và vĩnh viễn. Bài thơ còn tinh luyện ngôn ngữ thiên nhiên, ngôn ngữ thánh thiện lồng vào từng câu thơ làm cho hình tượng lõa thể trở nên đặc sắc. Bài thơ vỏn vẹn có mười câu, mỗi câu thơ gói trọn một ý. Toàn bộ bài thơ kết cấu một bố cục sít sao, chặt chẽ, cuốn hút người đọc vào cơn say tương giao giữa dục vọng và thiên tánh hòa quyện trong nhau.
 
Thơ Thế lộc thường mang đầy tâm trạng, tâm trạng về cuộc đời bất đắc chí, tâm trạng về những người thân ra đi, tất cả đem đến cho nhà thơ rất nhiều ưu tư, dằn vặt. Những nỗi ưu tư đó “Chỉ là hạt bụi” đem vào thơ, lúc nào cũng buồn thắm thiết. Riêng bài thơ dưới đây, nỗi buồn chẳng phải là không sâu, nhưng cái tư duy đổi mới làm cho hình ảnh người ra đi cao đẹp làm sao, hùng tráng làm sao và khiến cho tâm trạng người ở lại cũng vơi đi đau khổ khi nhìn qua bên kia thế giới cũng thấy có niềm vui
 
 
NGỰA VỀ GIỮA CHỐN BỤI MÙ
(Cho Dương Thế Kinh Luân)
 
Ngựa đã về chốn an nhiên
Hí vang rừng núi cửa thiền rộng thênh
Miên trường, sinh diệt mông mênh
Yên cương hạnh ngộ bồng bềnh thiên thu
 
Ngựa về giữa chốn bụi mù
Mưa tâm đã tịnh, nghìn thu rạng ngời
Nhịp chuông ai thả chơi vơi
Ngựa thiên cổ đã vể trời vãng sinh
 
Hình ảnh con ngựa dựng bờm tung vó phi nước đại khiến bụi mù tung lên cả một vùng là hình tượng oai phong, dũng mãnh và hùng tráng đã trở thành thông lệ cho bút pháp tranh ngựa từ ngàn xưa cho đến ngàn sau. Thế Lộc dùng hình ảnh nầy để miêu tả linh hồn con trai của mình đi về thế giới ngàn thu là một tư duy cách mạng, phá bỏ những câu thơ ai điếu bi luỵ từ xưa đến nay, nhưng vẫn bày tỏ được không những tình yêu vô bờ bến của một người cha đối với con mình, mà còn tôn vinh được hào khí của linh hồn con trai đi vào nơi vinh hiển. Cái hào khí nầy, cái phong độ nầy chắc chắn là hình ảnh tươi thắm khi con trai nhà thơ còn sống trên trần đời.
 
Ngoài những bài thơ tâm sự đời mình, thổ lộ vui buồn trần thế, bày tỏ tình yêu con người, thiên nhiên và suy nghiệm triết lý nhân sinh, Thế Lộc còn có những bài thơ đẹp như cánh bướm thánh thiện vờn bay quanh những đoá hoa tươi thắm như bài thơ sau đây có 16 câu, xin rút lại còn 10 câu. Bài thơ vừa bụi đời, vừa ngang tàng nhưng độc đáo bày tỏ tình yêu đơn phương:
 
Em thánh thiện ta nửa đời du đãng
Gặp bên đời ta chết đuối dung nhan
…Em thánh thiện trong ta vừa chớm nụ
Xin được làm hoa cỏ mọc trong vườn
 
…Em thánh thiện như con chim sâu nhỏ
Đậu giò lan ca hát khúc tình ca
…Ta mê em và ngu ngơ từ đó
Máu giang hồ ngừng lại mái nhà tranh
 
Ta chỉ ước thôi, mộng chắc chi thành
Đời du thủ mấy khi em nhìn xuống.
                                (Thánh Thiện)
 
Vậy mà tôi được biết, tại cái “du đãng”, cái “giang hồ”“Du thủ” đó, mà khi còn trai trẻ, lắm em hậu phương chết con tim vì chàng thi nhân lính chiến Thế Lộc.
 
Tập thơ “Chỉ là hạt bụi” dày gần 200 trang, có trên 150 bài thơ. Những dòng cảm nhận trên đây của tôi chỉ là sự cảm nhận vội vàng, ngắn gọn, đơn sơ về sắc hương của một vườn thơ mà người chăm bón là một thi nhân được ái mộ từ thời thanh xuân, đến nay vườn thơ chắc chắn nhiều hoa thơm cỏ lạ. Xin mời khách bốn phương có thể, hãy đi vào vườn thơ để đọc thơ của người tự xưng “Ta từ hạt bụi đánh rơi/Ngang qua cõi động/Thấm lời khóc thương”, để thấy tiếng thơ vang vọng những cung vui, cung sầu không chỉ của riêng tác giả mà còn của một thế hệ sinh ra cùng thế kỷ.
                                                     
Châu Thạch
 
READ MORE - ĐỌC TẬP THƠ “CHỈ LÀ HẠT BỤI” CỦA THẾ LỘC - Châu Thạch

Thursday, December 20, 2018

ĐỌC “UỐNG RƯỢU GẠO NHỚ TRƯƠNG PHI”, THƠ THẾ LỘC - Châu Thạch

   
             Nhà bình thơ Châu Thạch


ĐỌC “UỐNG RƯỢU GẠO NHỚ TRƯƠNG PHI”, THƠ THẾ LỘC
                                                                Châu Thạch

Đa số người Việt ta, dầu có chữ hay không có chữ, chẳng mấy ai không biết Trương Phi. Bởi Trương phi là một trong những danh tướng nhà Thục Hán thời Tam Quốc bên Tàu, được truyền tụng và được yêu mến, có ảnh hưởng sâu đậm trong dân gian. Trong tiêu thuyết Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa của La Quán Trung, nhân vật Trương Phi cùng Lưu Bị và Quan Vũ kết nghĩa huynh đệ, bái trời đất tại vườn đào. Trương Phi là em út trong ba người.
Đọc bài thơ “Uống Rượu Gạo Nhớ Trương Phi” của Thế Lộc không ai không biết nhà thơ mượn nhân vật Trương phi để gởi tâm sự của mình vào đó. Cái chữ “rượu gạo” cũng đã mang một hàm ý sâu xa rồi.
Ngày xưa Trương Phi uống rượu gì ta không biết, thế nhưng cũng dễ đoán được. Vì một người uống rượu như lưu linh, lại là một võ tướng ngoài sa trường thì không có mỹ tửu đâu đủ để uống cho say túy lúy, trừ ra là rượu gạo. “Rượu gạo” cũng mang tính dân tộc. Những anh hùng trong lịch sử nước ta, như Quang Trung chẳng hạn, cũng xuất thân từ giai cấp nông dân, mặc áo vãi, uống rượu gạo mà phất ngọn cờ đào làm nên lich sử vẽ vang cho đất nước.
Ngày nay, Thế Lộc dùng hai chữ “rượu gạo” trong thơ, một phần tỏ cái hào khí của mình cũng giống như người xưa vậy, một phần tỏ cái thân phận thường dân của mình trong cuộc sống thời nay, là cái thời mà bậc quyền thế, giới giàu sang chỉ uống toàn rượu ngoại đắt tiền.
Vào đề nhà thơ đã dựng lại một bức tranh thật hào hùng của người mãnh tướng năm xưa:

Vác xà mâu đứng giữa cầu

Hét to một tiếng mắt râu trợn trừng

Truyện xưa viết rằng: Trương Phi là người khẳng khái, bộc trực, rất nóng nảy. Trương Phi có võ nghệ siêu phàm, vô cùng dũng cảm. Trương Phi xử dụng vũ khí là một cây bát xà mâu dài 1,8 trượng, cưởi tuấn mã màu đen chân trắng. Ông thật sự là nỗi khiếp đảm của quân thù. Một lần, trên cầu Trường Bản, Trương phi đã quát mấy tiếng khiến Tào Tháo hoảng sợ mà lui binh. Khi ấy Trương Phi chỉ có vài mươi kỵ sĩ, còn Tào Tháo thì có trăm vạn hùng binh. Trong trận ấy Hạ Hầu Kiệt, một viên quan hầu Tào Tháo phải vỡ mật, chết đi vì hoảng sợ khi nghe tiếng hét của Trương Phi.
Nhà thơ Thế Lộc nhắc lại chuyện nầy để làm gì? Tác giả muốn dựng lại hình ảnh của chính mình đã có một thời như thế. Tất nhiên, để anh hùng như Trương Phi thì ngàn năm mới có một người. Thế nhưng, bất cứ người lính chiến nào, ở trong thời đại nào,  ở trong quân ngũ nào, nếu không là kẻ khiếp nhược thì cái tinh thân Trương Phi vẫn có luôn trong dòng máu nóng. Thế Lộc dựng hình ảnh Trương Phi đứng trên cầu Trương Bản năm xưa để tưởng nhớ lại chính mình, còn tưởng nhớ đến một lớp người đã khoác áo chiến binh, mang một bầu máu nóng, thẳng thắng, bộc trực, gan dạ và oai hùng trong thời binh lửa.
Thế rồi tiếp bốn câu thơ sau, Thế Lộc đem mình ra so sánh với Trương Phi:

Mấy mươi năm ông lẩy lừng
Chỉ trong gan tấc ông thành thiên thu
Tôi từ binh lửa mịt mù
Cũng  giống ông chỉ ở tù mấy năm

Như trên đã nói, Trương Phi là người rất nóng nảy. Cũng bởi tính nóng nảy đó, ông đã chuốc họa vào thân. Do nôn nóng việc báo thù cho Quan Vũ, người anh kết nghĩa vườn đào của Trương Phi bị Đông Ngô hại chết mà ông đánh đập quân sĩ, làm cho khiếp đảm những người dưới trướng. Một đêm, uống rượu ngủ say, Trương Phi bị  Trương Đạt và Phạm Cương, vì lo sợ Trương Phi sẽ chém đầu bởi không làm tròn phận sự mà Trương Phi giao phó, đã âm thầm sát hại, dùng dao đâm ông chết. Cái chết của Trương Phi thật là bi đát, bởi không chết trên sa trường, không da ngựa bọc thây, là điều hảnh diện của võ tướng, của mọi người chiến binh gan dạ.
Khi nhà thơ Thế Lộc nói “Cũng như ông” tức là tác giả tự cho mình tuy không chết, tuy chỉ ở tù mấy năm nhưng nỗi đau có khi, còn nhiều hơn Trương Phi thuở xưa nữa, vì không chết trên sa trường, không poncho bọc thây, không thỏa lòng chỉ vì xuôi tay theo định mệnh an bài. Thật thế, làm thân trai mang bầu máu nóng, kẻ ra đi vì lý tưởng non sông, người ra đi vì lý tưởng của riêng mình, chẳng một ai muốn mình buông vũ khi để vào tù. Thà chết quách như Trương Phi, không chịu khổ lụy tiếp theo, để “huy hoàng rồi vụt tắt / Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”. Thế Lộc đã nhấn mạnh điều đó trong hai câu thơ sau, hai câu thơ tuy không nói rõ, nhưng như có một chút gì ganh tỵ với Trương Phi,  như cho rằng Trương Phi đã thỏa lòng vì đã ngàn năm yên giấc:

Còn ông thì đã yên nằm
Cỏ xanh mộ chí trăm năm vĩnh hằng

Thế rồi khi rượu đã say, nhà thơ không nói mình rơi lệ, nhưng ta biết lòng nhà thơ rơi lệ:

Tôi với ông chưa hề quen
Nhưng khi uống rượu không ngăn nỗi lòng
Cuộc cờ hưng phế, suy vong
Kiếm cung bỏ dở tấm lòng mang theo

Cuộc cờ thì có hưng có phế có suy vong là lẽ thường tình, nhưng thương cho người “kiếm cung bỏ dở” phải chịu bao điều đắng cay.
Từ sự cảm kích một danh tướng thưở xa xưa, nhà thơ đã chạnh lòng khi nhớ đến mình cũng đã từng mang ít hay nhiều hào khí như hào khí của Trương Phi. Bốn câu thơ cho ta tưởng tượng một cuộc đổi dời như nương dâu hóa biển và biết bao thân phận như bọt bèo trôi theo dòng lũ. Bốn câu thơ cũng gợi cho ta những tâm sự buồn thê thiết khi ai đó phải nhìn tận vào lòng mình để thấy “Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo/ Nền cũ lâu đài bóng tịch dương”.
Thế rồi bằng một sự so sánh, Thế Lộc đã đánh giá sự chết của Trương Phi và sự sống của mình rất khác nhau:


Tử như ông, thân nhẹ hều
Sống như tôi, thân tựa bèo trôi sông

Vâng đúng thế, chết đi thì “nhẹ  hều” còn sống thì phải mang nặng bao điều của cuộc sống. Điều đó là sự thật, và là sự thật đau lòng cho hàng triệu chiến binh đã buông tay súng vì bất đắc dĩ trước đây. Không cần phải kể lể, không càn phải thống kê, ai cũng biết rằng những người chiến binh đó khó mà vươn lên giữa đời như một thân cây  tươi tốt vì được bón hoa màu. Họ dầu ở đâu, thân cũng chỉ như “cánh bèo trôi” trên dòng sông đầy gềnh đầy thác!
Cuối cùng nhà thơ tỉnh người trong cơn say rượu gạo. Tỉnh người để thấy bão bùng nổi lên bốn phương, để nhớ người mẹ thân yêu mà mình hằng xa cách:

Nhìn trời chớp bể mưa đông
Chạnh thương cho mẹ chữ tòng theo cha.

“Lòng mẹ bao la như biển thái bình”. Đối với tác giả, cha là cuôc sống hiện tại, mẹ là của cái thời thanh xuân, còn trai trẻ. Mấy ai mà quên được thời trai trẻ của mình, nhất là cái thời ấy, anh ta được vẩy vùng như hình ảnh của danh tướng Trương Phi. Hai câu thơ cuối như một lời nhắn gởi thân yêu về qua khứ, cũng như một lời từ biệt quá khứ không hẹn ngày tái ngộ.
Ngày mẹ lấy chồng. phải từ bỏ một thời con gái, lìa bỏ cha mẹ anh em để tòng phu. Sự phân cách đó, không chỉ buồn một lúc cho người ra đi, mà ngược lại nó tồn tại hòai trong ký ức mỗi khi tưởng lại giây phút chia lìa. Thế Lộc dùng hình ảnh người mẹ ra đi, như một ẩn dụ để gián tiếp bày tỏ nỗi niềm sâu kín trong tận con tim. Tiếng kêu ấy như dòng nước mắt nuốt vào, hóa thành nỗi đau tinh thần, trở thành nan y trong suốt cả cuộc đời còn lại.
“Uống Rượu Gạo Nhớ Trương Phi” là một bài thơ bi hùng. Đọc bài thơ đó ta thấy hùng khí hiển hiện trong thơ, qua hình ảnh Trương Phi. Cũng qua hình ảnh Trương Phi tác giả phát họa được hình ảnh của chính mình một thời trai trẻ. Bài thơ có sự than thở tưởng như bi nhưng sự bi đó cũng nằm trong sự hào hùng, kể cả khi “kiếm cung bỏ dở” trong cuộc “hưng phế, suy vong”.

Đọc thơ, dầu người lớn tuổi đã trải qua chinh chiến hay người nhỏ tuổi ở thế hệ hòa bình, vẫn thấy cái tinh thần quật cường trong tâm hồn người chiến sĩ, dẫu họ thành hay bại trong cuộc cờ thế sự. Tuy họ sống âm thâm, nỗi lòng của họ mang theo cùng sự lãng mạn với chất Người hảo hán mà cha ông họ, thời đại họ đã giáo dục họ không bao giờ thay đổi.

                                                               Châu Thạch



                               Nhà thơ Thế Lộc


UỐNG RƯỢU GẠO NHỚ TRƯƠNG PHI

Vác xà mâu đứng giữa cầu
Hét to một tiếng mắt râu trợn trừng
Mấy mươi năm ông lẫy lừng
Chỉ trong gan tấc ông thành thiên thu

Tôi từ binh lửa mịt mù
Cũng giống ông chỉ ở tù mấy năm
Còn ông thì đã yên nằm
Cỏ xanh mộ chí trăm năm vĩnh hằng
Tôi với ông chưa hề quen
Nhưng khi uống rượu không ngăn nỗi lòng
Cuộc cờ hưng phế, suy vong
Kiếm cung bỏ dở tấm lòng mang theo

Tử như ông, thân nhẹ hều
Sống như tôi, thân tựa bèo trôi sông
Nhìn trời chớp bể mưa đông
Chạnh thương cho mẹ chữ tòng theo cha.

                                                Thế Lộc
                                            24. 04.2013

READ MORE - ĐỌC “UỐNG RƯỢU GẠO NHỚ TRƯƠNG PHI”, THƠ THẾ LỘC - Châu Thạch

Tuesday, December 5, 2017

ĐỌC“MÊ DƯỢC” THƠ THẾ LỘC - Châu Thạch

           
             
     Nhà bình thơ Châu Thạch


      ĐỌC“MÊ DƯỢC” THƠ THẾ LỘC
                                                            Châu Thạch

Nếu ai từng đọc bài thơ “Tranh Lõa Thể” của Bích Khê có những câu thơ như sau: “Dáng tầm xuân uốn trong tranh Tố Nữ/ Ô tiên nương! Nàng lại ngự nơi nầy”“Cho tôi nút một dòng sâm ngọt đậm/ Ôi lồ lộ một tòa hoa nghiêm động!/ Tôi run run hãm lại cánh hồn si” thì sẽ thấy da thịt mình căng lên vì cái ma lực huyền diệu cúa tranh lõa thể cám dỗ năm giác quan ta. Nhưng “Tranh Lõa Thể” của Bích Khê chưa phải là thứ mê dược vì chỉ nhìn bằng mắt mà chưa tiếp xúc bằng tay, chưa uống vào lòng cái hương vị Dâm thủy của nó. Đọc “Mê Dược” của Thế Lộc ta cảm nhận như chính mình được tắm mình trong thứ mê dược bởi thịt da nỏn nà, lôi cuống ta vào cơn mê ly của xác thịt.

 Mê là gì?Mê là lâm vào tình trạng ức chế các giác quan, ham thích, say đắm, quên đi thực tế. Vậy mê dược là gì? tất nhiên là một thứ thuốc  đưa ta vào trong cơn mê như định nghĩa ở trên. Chỉ cái tựa đề “Mê Dược” của bài thơ đã cho ta ngay một cảm nhận khoái lạc. Cảm nhận đó hình như luôn luôn chờ đợi để trổi dậy trong thịt da . Bài thơ cho ta thấy “dược” ở đây là thân thể đàn bà. Thân thể nầy không phải là một bức tranh, nó bằng xương bằng thịt lõa thể trước mắt thi nhân với ngào ngạt hương hoa của nó. Câu thơ mở đầu “Gặp em trùng mộng lai sinh” cho ta biết hai người đã từng yêu nhau từ trước. Cả hai đều có ước vọng gặp nhau. Ước vọng đó cần thiết đến nỗi họ cho sự gặp nhau là “lai sinh” tức là sinh lại. Câu thơ nầy cũng cho ta biết họ gặp nhau không phải vì dục vọng. Họ gặp nhau vì tình yêu sâu đậm nên họ khao khát sự đoàn viên.
Câu thơ thứ hai “Cùng ta cạn chén rượu tình giao hoan” nhấn mạnh lại sự tinh tấn trong linh hồn họ. Họ giao hoan như là chung  chén rượu tình. Chén rượu tình ở đây tất nhiên chứa đựng có chia ly, có đau thương, có khoắc khỏai chờ mong. Nay họ cùng uống chén rượu để xóa đi tất cả bao chất chứa trong lòng thì sung sướng biết nhường bao. Sung sướng hơn nữa chén rượu tình ấy không phải là chén rượu thật mà là một sự hòa quyện cơ thể trong cuộc truy hoan.
Bây giờ ta hãy lén nhìn vào động hoa vàng của họ:

Xiêm y nửa mảnh ngỡ ngàng
Em lồng lộng trắng ta bàng hoàng say

Xiêm y chỉ còn nửa mảnh đã làm chàng ngỡ ngàng. Bức tượng lõa thể chưa lõa thể. Người con gái còn nằm nửa kín nửa hở là một sự khêu gợi, mời gọi hấp dẩn đến vô cùng. Thế rồi nhà thơ đưa tay gở nửa mảnh xiêm y còn lại. Thì “Em lồng lộng trắng ta bàng hoàng say”. Quả thật đây là một nghệ thuât tả chân không chỗ chê được. Từ chữ “ngỡ ngàng” qua chữ “ bàng hoàng” làm cho hình tượng người nữ trở nên sống động và diển đạt tâm lý chàng trai trong cuộc chính xác đến tuyệt vời. Để diển tả một tấm thân như thế ta hãy đọc nhà thơ Bích Khê viết:

Nàng ở mô? Xiêm áo bỏ đâu đây? 
Ðến triển lãm cả tấm thân kiều diễm. 
Nàng là tuyết hay da nàng tuyết điểm? 
Nàng là hương hay nhan sắc lên hương? 
Mắt ngời châu rung ánh sóng nghê thường; 
Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc.
                         ( Tranh Lõa Thể)

Ở đây tôi so sánh hai đoạn thơ không phải để phân định hay và dỡ nhưng muốn nói rằng chỉ bằng hai câu thơ, Thế Lộc cho ta hình dung được trong đầu một người đẹp như bức tranh trong thơ Thâm Tâm. Nhờ ở hai cụm từ “lồng lộng trắng” và “bàng hoàng say” mà hình ảnh lõa thể như nổi lên mồn một trước mắt, cho ta thấy trong tiềm thức một thân hình tuyệt đẹp.
Thế rồi cuộc giao bôi của hương tình đã đến hồi tuyệt diệu:

Gối đầu lên đỉnh tuyết dày
Uống hương mê dược cay cay nồng nồng

Thế Lộc đã dùng “đỉnh tuyết dày”để ví với đôi nhủ hoa của người con gái. Đọc thơ tôi nhớ ngay đến ngọn phú Phú Sĩ của nước Nhật. Cái đẹp của đôi nhủ hoa không chỉ là cái đẹp của xác thịt, nó còn có vẽ đẹp của thắng cảnh ẩn chứa trong đó sự thiêng liêng mà con người tôn sùng.
Nhà thơ còn diễn tả vị thơm của chất Dâm thủy trong đôi nhủ hoa là “hương mê dược cay cay nồng nồng” như là một thứ rượu ngon thanh khiết, kích thích thần kinh người đọc cảm thấy thèm ngay tức thì hương vị tuyệt vời đó. Đọc hai câu thơ nầy, người đàn ông nào cũng lâng lâng trong người vì dục tính nổi lên. Thứ dục tính đó như pha lẫn tinh hoa của sự thánh khiết làm cho sự khoái lạc trong ta thiên về phần hồn nhiều hơn là phần xác. Điều đó chính nhờ ở hai câu thơ gợi cho ta hình ảnh đỉnh núi với mùi thơm tinh khôi của rượu.
Thế rồi giờ phút đỉnh điểm của sự sung sướng đã đến, nhà thơ thả lỏng cho thân thể và linh hồn trôi trong sự bao la và bát ngát:

Duổi chân giữa chốn thinh không
Đê mê úp mặt vào lòng thảo nguyên

Vì sao là bao la? Vì “Duổi chân giữa chốn thinh không”. Vì sao là bát ngát? Vì “Đê mê úp mặt vào lòng thảo nguyên”. Hai câu thơ hóa hình em thành một nơi chốn bình an. Ta tưởng tượng nơi đó giữa hai bầu sửa là một thảo nguyên mượt mà ngút ngát có đồng cỏ xanh tươi mé nước bình tịnh và con người nằm nghe như mình trôi bồng bềnh trong cơn khoái lạc. Nhà thơ úp mặt vào đó để nghe mùi thơm da thịt khởi nguyên từ dòng sửa uyên nguyên thanh khiết trên thân thể nữ nhân.

Cuối cùng nhà thơ thánh hóa thứ mê dược của người nữ lâu ngày vắng bóng đàn ông hay chưa hề biết mùi đàn ông như một nữ thanh tân trong lần đầu và tạo cảm giác diệu kỳ thăng hoa.

Thanh tân nở nụ hiện tiền
Vô cùng thánh thể... giữa miền trần gian.

Bây giờ mê dược không còn là mê dược nữa. Từ chữ “mê” là dục vọng của con người, nhà thơ bước qua phạm trù của đức tin. Hai câu thơ kết chỉ ở phần khái niệm của niềm tin cho ta một cảm nhận về cái thân thể người nữ đó lôi cuốn con người đến với nó bằng thiện tâm, không bằng dục tính. Chữ “thánh thể” ở đây không viết hoa nên không phải là thân thể của một thánh nhân, nhưng nó đươc nhà thơ thánh hóa , thần cách nó qua cảm nhận sự tình khôi của thân thể người nữ khi tiếp xúc với nó.
Bài thơ “ Mê Dược” thần hóa lạc thú của nhà thơ trong cuộc truy hoan. Người nữ trong thơ có “thiên tính nữ”. Thiên tính nữ là gì? Ví như  Thúy Vân, Thúy Kiều trong truyện kiều đẹp “Mai cốt cách, tuyết tinh thần” là một vẽ  đẹp ngang với hoặc hơn thiên nhiên. Vẽ đẹp đó có phẩm chất của Trời ban cho, nổi trội hơn vẽ đẹp phàm trần, mặc dầu vẽ đẹp nào cũng do Trời ban tặng. Người nữ trong “Mê Dược” cũng vậy. Dưới con mắt trần tục nhà thơ “ngỡ ngàng” rồi “bàng hoàng say” lúc ban đầu khi gở xiêm y cô gái. Thế nhưng, khi nhập cuộc truy hoan, nhà thơ không cảm nhận nó bằng dục tính của mình mà cảm nhận nó bằng “thiên nhiên tính” tiềm tàng trong cơ thể khi ví thân thể em với đỉnh  núi tuyết dày, với thảo nguyên, với chốn thinh không. Rồi từ thiên nhiên tính đó nhà thơ bước qua sự cảm thụ của thần tánh khi kết luận  em  “Vô cùng thánh thể…giữa miền trần gian”
Tất cả phần thân thể của người nữ trong “Mê Dược”đều trở thành ngôn ngữ của đam mê. Vẽ đẹp của người nữ trong “Mê Dược”trở nên trong trắng và vĩnh viễn. Bài thơ còn tinh luyện ngôn ngữ thiên nhiên, ngôn ngữ thánh thiện lồng vào từng câu thơ làm cho hình tượng lõa thể trở nên đặc sắc. Bài thơ vỏn vẹn có mười câu, mỗi câu thơ gói trọn một ý. Toàn bộ bài thơ kết cấu một bố cục sít sao, chặc chẻ, cuốn hút người đọc vào cơn say tương giao giữa dục vọng và thiên tánh hòa quyện trong nhau. 

                                                               Châu Thạch



                             Nhà thơ Thế Lộc


MÊ DƯỢC

Gặp em trùng mộng lai sinh
Cùng ta cạn chén rượu tình giao hoan
Xiêm y nửa mảnh ngỡ ngàng
Em lồng lộng trắng ta bàng hoàng say
Gối đầu lên đỉnh tuyết dày
Uống hương mê dược cay cay nồng nồng
Duổi chân giữa chốn thinh không
Đê mê úp mặt vào lòng thảo nguyên
Thanh tân nở nụ hiện tiền
Vô cùng thánh thể ... giữa miền trần gian.
                                       
                                              THẾ LỘC
                                             03.12.2017

READ MORE - ĐỌC“MÊ DƯỢC” THƠ THẾ LỘC - Châu Thạch

Tuesday, February 23, 2016

NGỰA VỀ GIỮA CHỐN BỤI MÙ - thơ Thế Lộc





NGỰA VỀ GIỮA CHỐN BỤI MÙ
  *Gởi con Dương thế Kinh Luân

Ngựa đã về chốn an nhiên
Hí vang rừng núi cửa thiền rộng thênh
Miên trường, sinh diệt mông mênh
Yên cương hạnh ngộ bồng bềnh thiên thu
Ngựa về giữa chốn bụi mù
Mưa tâm đã tịnh, nghin thu rạng ngời
Nhịp chuông ai thả chơi vơi
Ngựa thiên cổ đã về trời vãng sanh.

21.02.2016
Thế Lộc
READ MORE - NGỰA VỀ GIỮA CHỐN BỤI MÙ - thơ Thế Lộc

Friday, December 4, 2015

TRẦN GIAN ƠI NHỚ VÔ CÙNG - thơ Thế Lộc




TRẦN GIAN ƠI NHỚ VÔ CÙNG

Xin lỗi, tôi phải quay lưng
Giả từ ngày tháng quá chừng đau thương
Cõi trần này vốn vô thường
Mới thấy đã mất, mới vương đã lìa
Thế gian nhiều chuyện hơn thua
Sao tôi phải gánh mấy mùa thương đau!...
Cố nhân, nếu phải xa nhau
Thì cho tôi hẹn kiếp sau trùng phùng
Trần gian ơi, nhớ vô cùng
Những người bạn cũ có chung hướng đời.

01.12.2015

THẾ LỘC
READ MORE - TRẦN GIAN ƠI NHỚ VÔ CÙNG - thơ Thế Lộc

Thursday, November 19, 2015

LÒNG MẸ - thơ Thế Lộc

Tác giả Thế Lộc

Thế Lộc

LÒNG MẸ

Em rất đẹp cuối năm Đệ Nhị bốn "*"
Ta gã trai làng xuống phố dự thi
Như Nai vàng ngơ ngác chốn kinh kỳ
May mà được có em cười nửa nụ ...
Như chim Vành Khuyên tìm nơi cư trú
Đậu môi em và chết giữa cuộc tình
Em cho ta mật ngọt đến điêu linh
Ôi, em gái của trường Phan Thanh Giản
Tình em cho như dòng sông mùa cạn
Ta gã si tình chết khát giữa mùa yêu
Vụng dại cuộc tình, thi cử chẳng bao nhiêu
Ta chết đứng trong ngày em pháo nổ
Cũng tại ta, gã thư sinh xa phố
Sống hiền hòa chất phác người nhà quê
Lòng rưng rưng chân lại cứ quay về
Quỳ xuống cạnh mẹ già ôm mặt khóc
Lòng bao dung mẹ buồn lên mái tóc
Thương thằng con thi rớt vướng lụy tình
Ta đã phụ Người vất vả mưu sinh
Ôi, lòng mẹ bao giờ ta trả được !...
Rồi từ đó, theo dòng đời xuôi ngược
Không tin thư qua những tháng năm dài
Mẹ ở nhà chờ đợi nặng hai vai
Ta quyết chí trở thành người hữu dụng
Mười một năm sau
Kinh qua nhiều gian khổ thương đau
Trên chuyến tàu quay lại
Con thành danh, nhưng ... mẹ đã lìa đời
Con không còn thấy mẹ nữa mẹ ơi
Con bất hiếu khấu đầu xin tạ tội.

Đà Nẵng, 14.11.2015
TL
READ MORE - LÒNG MẸ - thơ Thế Lộc

Tuesday, November 10, 2015

MÙA HOA CẢI - thơ Thế Lộc




MÙA HOA CẢI

Em có nghe
Tiếng mưa trong từng câu thơ tôi viết
Em có nghe
Ly biệt trong từng bước thu về
Chiều bên sông hiu hắt xóm làng quê
Cau lã ngọn gục đầu buồn tê tái
Em ra đi mấy mùa không trở lại
Để thu này xao xác tiếng gà trưa
Để lá vàng quay quắc nhớ thương vừa
Ôi mùa cũ, cải vàng khoe sắc thắm
Thế rồi ...
Em ra đi bỏ tình đang say đắm
Mảnh trăng thề còn  một nửa bên tôi
Một nửa bên em theo vận nước nổi trôi
Đi biền biệt mấy mùa không trở lại
Nhớ ngày xưa ... trước vườn, bên vồng cải
Em xâu chùm hoa cải làm cô dâu
Tôi thẩn thờ đứng lặng những lo âu
Ai biết được chuyện gì trong dâu bể ...
Rồi từ đó
Em ra đi
Ngày tháng cũng qua đi
Vườn cải cũng lụi tàn
Đâu còn nữa hoa cải vàng ngày cũ
Em có nghe tiếng thơ trong mưa lũ
"Khúc Phượng cầu hoàng" tim tôi tình tự
Rót cạn dòng giọt máu chảy qua thơ
Ôi tình em, con nước chảy xa bờ
Nhớ da diết, sắc vàng chùm hoa cải.

06.11.2015

THẾ LỘC
READ MORE - MÙA HOA CẢI - thơ Thế Lộc

Monday, August 17, 2015

KHI CÔ HÀNG XÓM TRỞ VỀ - Thế Lộc, Thy Lệ Trang, Như Thu, Sông Thu




KHI CÔ HÀNG XÓM TRỞ VỀ

Ngày cô hàng xóm theo chồng
Tôi buồn úp mặt trên dòng sông quê* 
Vườn xưa mất dấu trăng thề
Đàn xưa lỗi nhịp ủ ê tiếng đàn
Thương trầu xanh đã úa vàng
Để hoa cau rụng ngỡ ngàng lối đi
Nhủ lòng quên mối tình si
Hơi đâu tiếc nuối xuân thì người dưng
Mà sao... chân bước ngập ngừng...
Mà sao... mưa vẫn... rưng rưng... giọt sầu...
Gắng quên nào có bao lâu
Lại tìm thư cũ nát nhầu… xót xa!
Rồi mơ sống dưới mái nhà
Lệ đâu giọt vắn giọt sa não nề!
Chiều nay nghe tiếng em về
Tim yêu đánh thức bến mê rộn ràng
Bồi hồi niềm nhớ chứa chan
Tình si vẫn mãi dâng tràn trong tôi... 
Nhịp tim rộn rã bồi hồi
Như mê như tỉnh đứng ngồi không yên
Bền đò tìm đến nhiều phen
Ngập ngừng chân bước xuống... lên... mấy lần
Rộn ràng... rồi lại phân vân
Tình xưa em có dành phần cho tôi?
Tóc thề nay đã búi rồi?
Hương nồng đã gửi cho người trăm năm?
Nghẹn ngào tôi đứng chôn chân
Lục bình tím ngắt dòng sông đợi chờ...

Thế Lộc, Thy Lệ Trang, Như Thu, Sông Thu

*"Qua nửa đời phiêu dạt, con lại về úp mặt vào sông quê."
(Khúc Hát Sông Quê, nhạc và lời Nguyễn Trọng Tạo.)
READ MORE - KHI CÔ HÀNG XÓM TRỞ VỀ - Thế Lộc, Thy Lệ Trang, Như Thu, Sông Thu

Friday, August 7, 2015

DÒNG ĐỜI - Tản mạn của Thế Lộc

     
Thy Lệ Trang và Sông Thu



*Gởi Thy Lệ Trang và Sông Thu.

     Đọc NHỮNG NGÀY VUI HỘI NGỘ phần 2 của Thy Lệ Trang, lòng tôi xôn xao, buồn vui lẫn lộn, mới đó mà đã nhớ, mới đó mà đã buồn.  Cuộc sống của người nghệ sĩ buồn nhiều hơn vui, thi hào Lamatine trong bài khóc Hồ "Vui sao khắc đán buồn sao niên tràng";  cái u buồn và nhớ nhung không duyên cớ đã tạo cho tôi thành người thơ để tải nỗi buồn cho gió mang đi. Trong thế giới cô đơn, tôi cũng đã vui, đã buồn, đã  nhớ nhung và hoài niệm, hoài cổ, lúc nào cũng ưu tư, trăn trở dằng dặc trong tim,  nỗi niềm dồn ứ của những lần hội ngộ bất chợt, những cuộc chia ly bất ngờ đã tạo cho tôi nỗi bàng hoàng thảng thốt trong cuộc đời.  Một hình ảnh mới gặp, một chiếc bóng thân quen hay môi cười nửa nụ cũng làm cho tôi hạnh phúc, cái hạnh phúc trăm năm trong cõi người.
      Em cho ta nửa nụ cười
      Ta đem lồng kính ươm tươi cuộc đời
      Em cho ta có nửa lời
      Ta đem làm gió dậy trời đất bay
Ôi, cái hạnh phúc bao la của người đã tiêu dùng gần hết quỷ thời gian nơi cõi tạm là TÌNH BẠN, dù xa hay gần, dù thân hay sơ. Không có gì cô đơn muộn phiền trong tuổi già bóng xế bằng khi không có bạn để hàn huyên và trải lòng.
      Bảy mốt năm tựa vó câu
      Còn bao năm nữa lên tàu ra đi
      "Sinh hữu hạn, tử vô kỳ "
      Biết là như thế nên chi rất buồn.
Cái buồn trăm năm của kiếp người là thế đó. Có ai trong cõi đời này mới sinh ra đã cười, dù là nụ cười duyên hay cười sung sướng được chen chân một chỗ đứng.
      Tôi đã gặp Thy Lệ Trang và Sông Thu trong buổi chiều tắt nắng của ngày hè oi nồng. Quán cà phê ven đường ở Đà Nẵng về đêm ồn ào xe cộ, cái bản tính tĩnh lặng của tôi không còn nữa, tôi hòa cùng niềm vui của lần gặp ban đầu, chuyện trò như cố nhân lâu ngày gặp lại, tâm tình người nghệ sĩ như đã quen nhau từ kiếp nào, gặp là đồng cảm, là trải lòng qua thơ phú và cũng bịn rịn lúc chia tay để đêm về mất ngủ. Tôi nghiêng người lấy cây đàn treo trên tường, bất chợt nhìn gói quà trên bàn viết, tôi cảm nhận được nỗi lòng của người xa xứ, có thể với tôi là kỷ vật qua thơ, tôi cất giữ để "Còn chút gì để nhớ để quên".
      Cảm ơn em gói quà trao
      Của người ly xứ làm nao lòng người
Hương vị và hơi hướm của đất lành chim đậu,  làm buâng khuâng nỗi nhớ ngày xưa của người nơi cố quận. Tiếng leng keng của anh bán kẹo kéo, tiếng guốc khua trong đêm của chị bán hột vịt lộn, gợi trong tôi bao nỗi niềm hoài cổ mà Thy Lệ Trang đã đánh thức, bất chợt làm tôi quay quắc nhớ nhung.
Ôi, ngày xưa ...  ngày xưa
      Cái ngày xưa ấy nay đâu !
      Mình tôi ngồi lại bên cầu nhớ thương
      Nước trôi thăm thẳm viễn phương
      Người đi còn có vấn vương quê nhà
Người xa xứ nhớ nhung quê nhà và người ở lại, nhưng người ở lại cũng buâng khuâng nhớ nhung không duyên cớ,  không biết nhớ gì, thương gì khi chiều xuống và khi nghe tiếng vạc kêu đêm lạc lõng giữa trời khuya buồn muốn khóc.
        Tiếng chuông báo giờ công phu của Bồ Đề Thiền Viện vọng lại làm tôi chợt tỉnh và ý niệm buông bỏ nỗi buồn không duyên cớ và viết một bài thơ về tình bạn của những người mới quen trong lần hội ngộ đầu tiên chợt đến.
         Buồn Vui, Sắc Tướng lìa buông
         Nhưng sao lòng cứ luôn luôn ôm ghì
Cảm ơn người bạn mới gặp Thy Lệ Trang, Sông Thu và những người bạn văn nghệ đã cho tôi tìm lại được tình người, tình bạn sau bao năm xa vắng.

Đà Nẵng, 07.08.2015

Thế Lộc
READ MORE - DÒNG ĐỜI - Tản mạn của Thế Lộc

Wednesday, August 5, 2015

NGỰA HOANG CỔ TÍCH - NGẪU HỨNG ĐÊM TRĂNG... - thơ Thế Lộc và Thy Lệ Trang




NGỰA HOANG CỔ TÍCH

Xa em từ thủa hồng hoang
Ta như con thú lạc đàn thiếu hơi
Mù tăm giữa chốn đất trời
Liu xiu mấy bận giữa đời ca xang
Nắng mưa giun dế giao hoan
Mình ta vò võ tình tang tang tình
Tưởng rằng trong kiếp tồn sinh
Đôi con ngựa lạc rũ tình đường mây
Nào hay nắng gác mái tây
Phượng Hoàng chiếc bóng lất lây chiều tà
Quán đời ngửa mặt trông ra
Thấy cơn mưa đổ xót xa tuổi trời
"Một chút riêng tư" ta mời
Uống chung rượu hợp phà hơi tình nồng
Cồn khô gió đợi mưa trông
Ngựa hoang sãi vó hí mong Nguyệt cầm.

THẾ LỘC


BÀI HỌA

NGẪU HỨNG ĐÊM TRĂNG...

Từ trăng rụng giữa đồi hoang
Chim rừng lẻ bạn gọi đàn khàn hơi
Đêm hoa, pháo nổ vang trời
Em về gấm trải mộng đời xênh xang
Từ trong giòng lệ trùng hoan
Cung đàn đã lỗi nhịp tang tính tình
Mai sau đời có hồi sinh
Van trời đừng thả sợi tình theo măy
Từ khi hạc khuất lầu tây
Rằng người có biết gió lay nguyệt tà?
Bên rèm trúc lạnh nhìn ra
Dường như có bóng ai xa cuối trời
Từ em theo tiếng gọi mời
Bên chồng vẫn nhớ men hơi môi nồng
Dối lòng chẳng ngóng, chẳng trông
Mà nghìn khuya vẫn chờ mong Dạ cầm!
                             Thy Lệ Trang


READ MORE - NGỰA HOANG CỔ TÍCH - NGẪU HỨNG ĐÊM TRĂNG... - thơ Thế Lộc và Thy Lệ Trang