Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, January 11, 2013

XEM HÁT MIỀN QUÊ TÔI - truyện ngắn Kha Tiệm Ly


         
Nghe tiếng trống ba dùi một: Thùng thùng! Thùng! Thùng thùng, Thùng!... là tôi nôn nao cả người. Đó là tiếng trống “rao bảng” của gánh bầu Trình về hồi sáng mà thằng Tửng đã thông báo cho cả bọn chúng tôi hay. Mẹ đã hứa cho tôi tối được xem hát, nhưng với điều kiện là phải xắt và bầm xong một thúng chuối cây cho con ụt (heo)! Chuyện nầy không nặng mà cũng không nhẹ nhàng gì. Với con dao xắt mà thợ rèn rèn để chuyên dùng cho việc xắt chuối nên nó bén ngót; và nhờ cái cán dài tựa vào vế, nên cây chuối to đùng tôi chỉ khứa có sáu khứa là xong một lát, nhưng sao lần nầy tôi thấy ngán cái việc tầm thường nầy quá! Còn nửa thúng nữa mới xong, tôi định bỏ dao chạy ra xem (“rao bảng”), nhưng sợ mất thời gian mà trễ xuất hát. Đúng ra tôi muốn đến sớm để cùng lũ bạn chơi đùa và “ăn” nước đá nhận, chứ tới tối mới mở màn, thì làm sao trễ được? Phải chi có thằng Tửng lại, biểu nó phụ bằm thì hay biết mấy!

Từ “rao bảng” thời bây giờ ít được nhắc tới nên các bạn khó mường tượng được. Như vầy: Khi gánh hát vừa tới nơi thì có bộ phận trang trí sân khấu, …và một bộ phận đi … “rao bảng”!

Thường bầu hát mướn một cỗ xe ngựa, (loại phương tiện giao thông cao cấp thời ấy ở quê tôi), hai bên hông và sau xe được treo ba tấm bảng đề tên tuồng hát và hình ảnh ấn tượng nhất của vở tuồng được diễn tối hôm đó. Trên xe có một cái trống chầu và một người đánh trống, thường là người trong đoàn, nhưng đôi khi cũng là người tình nguyện ở lớp tuổi đàn anh của chúng tôi (để được đi xe ngựa và đựơc đánh trống chơi!). Sau xe ngựa là cả bọn chúng tôi… chạy bộ theo; dọc đường lại được các bọn khác tháp tùng, nên xe “rao bảng” cũng coi xôm tụ lắm.

Cứ hai tiếng nhặt, một tiếng khoan (Thùng thùng! Thùng!) theo bước chân ngựa thật chậm từ đầu làng đến cuối làng. Và như thói quen như nghe tiếng chuông cà rem; Nghe tiếng trống, thí ai cũng biết gánh hát về!

Tiếng trống xa dần,..Hồi sáng thằng Tửng nói tối nay hát tuồng Tôn Tẩn Hạ San tôi càng háo hức được xem. Tôi khoái chuyện nầy qua lời kể của mẹ tôi, nên lấy lại khí thế xắt cho xong nửa thúng còn lại. Để khích lệ tinh thần, mỗi lần khứa dao, tôi đọc thầm trong bụng: “Tôn -Tẩn - Hạ - San -Tôn -Tẩn - phực!”, đến “phực”, sáu khứa dao, là xong một lát chuối; lát mới tôi đếm lại từ đầu : “Tôn-Tẩn…..phực!”. được năm mười cái “phực” thì đã mỏi tay. Tôi kiên nhẫn thêm vài cái “phực” nữa thì thằng Tửng áo vắt trên vai, cổ lòng thòng chiếc ná thun, vốn là vật bất ly thân của nó; hổn hển hỏi tôi:

- Chưa rồi sao mậy?

Tôi mừng húm:

- Mầy phụ bầm với tao đi! Gần xong rồi!

Nó tự động lấy tấm thớt và con dao quen thuộc, ngồi cạnh tôi, hốt chuối ra bầm. Thao tác nhuần nhuyễn như đầu bếp chuyên nghiệp bầm thịt!

Trong bọn, tôi thích thằng Tửng nhất, vì nó xông xáo và hay giúp đở bạn bè. Nó lại có nhiều tài vặt mà bọn chúng tôi không có hoặc thua xa; như dám bơi qua lại con rạch cái hai lần khi nước chảy xiết, biết cỡi trâu, đặt lờ, bắt cá và leo cây như khỉ, còn gan dạ nữa! Đi chơi với nó không hề bị đói. Mùa vú sữa thì ăn vú sữa ở đinh, chùa. Các mùa khác thì…. chui rào hái trộm! Gần tết, khi ruộng vừa gặt xong, những chỗ nước đọng lại, nó chỉ huy chúng tôi đắp hầm bắt cá. Trong lúc chờ đợi cá nhảy vào, nó làm bẫy cò ke để bắt những con cò xấu số đang lặn hụp tìm mồi.

Được cá, nó bảo chúng tôi bứt gốc rạ khô, đốt lên rồi thảy cá lớn cá nhỏ vào. Chỉ một lát, mùi cá chín bốc lên ngậy cả mũi. Khều cá ra, lấy rạ chà sơ lớp cháy bên ngoài, để lộ lớp thịt vàng lươm…

Tôi dừng tay lại:

- Mầy rủ tụi nó chưa?

- Rồi! Làm lẹ đi!

Cứ mỗi lần gánh hát về thì bộ mặt làng tôi coi xôm tụ lắm. Mới bốn giờ chiều mà mấy chị đã trưng bày các “cửa hàng” của mình: Bốn năm xề mía chặt khúc, mấy xề đậu phọng nấu. Tấp nập nhất là “cửa hàng” nước đá của chị Tuyết. Đó là một bàn chữ nhật khá cũ kỹ, ở trên để một bàn bào nước đá, cả chục cái ly và hai chai sirô. Chị liên tục bào đá, hứng vào một ly rồi ém chặt lại, sau đó xịt sirô vào, lật úp ly lại, lấy ra khối đá hình cái ly đượm màu sirô đỏ thắm, trao cho người mua, toàn là bọn trẻ lứa tuổi chúng tôi! Cứ thế chúng tôi mút! Mút liên tục (nếu không thì sirô theo đá tan ra thì uổng lắm).Tay nầy tê thì đổi qua tay kia, mút chừng nào khối đá còn một miếng nhỏ, chúng tôi bỏ tọt vào miệng nhai rào rạo! Món nầy gọi là “nước đá nhận”, xem ra rất thích hợp với chúng tôi, bởi vừa ăn, vừa chơi đùa được, lại tiện lợi là, sau khi ăn xong, hai môi đỏ đẹp như thoa son; hai tay sạch trơn, như vừa rửa vậy!
Không hiểu sao, cái món vừa ngon lành, vừa rẻ tiền, vừa tiện lợi như thế mà ngày thường các chị không bán, mà phải đợi đến gánh  hát về?

Gánh hát đêm đầu, người xem đông.

Vì diễn ở nhà lồng chợ, chợ làng tôi cũng như chợ huyện thời ấy chỉ là một dãy nhà nhiều căn liên tục, xung quanh không rào, không cửa (mới gọi là nhà lồng), nên gánh hát về phải lấy vải dày bao xung quanh, chỉ chừa một cái cửa để “bán vé”. Nói “bán vé” chứ vé viết gì đâu? Người bán “vé” luôn là bà bầu, tức là vợ của ông bầu gánh hát, kèm theo là con hay người trong đoàn mà bà tín cẩn. Cứ người lớn vô cửa thì ba đồng, con nít một đồng. Những đêm cuối, thì người lớn hai đồng, con nít vẫn giữ nguyên., bởi một đồng chỉ giá trị hai gói xôi! Tuy vậy, bà bầu cũng “du di”, thấy đứa nào sạch sẽ … như tôi (!), thì bà cho hai đứa một đồng! Bởi cái “du di” nầy mà xãy ra nhiều chuyện buồn cười:

- Sao hai thằng đó một đồng mà tôi với con tôi tới ba đồng ?

- Thi…thì tại hai đứa đó dễ thương.

- Vậy chớ con tôi dễ ghét lắm hả? Tui với nó hai đồng rưỡi  thôi!

- Bà vô  bốn người mà trả có hai đồng rưỡi, chắc chết tôi quá! Dắt một đứa, cõng một đứa, bồng một đứa….

Em bé không tính tiền mà!

- Thôi vô đi bà nội, rầu bà quá!

Hai anh em thằng Xoài thằng Mận là chuyên gia coi cọp. Chúng đợi ở cửa, lợi dụng lúc đông người, xô đẩy nhau, chúng chen vào. Mười lần cũng lọt được năm sáu, những lần còn lại  bị… kéo lổ tay, đuổi ra.

Tôi vốn nhát gan, nên mua “vé” đàng hoàng. Thằng Tửng nói với tôi:

- Mầy mua “vé”được rồi đó!

- Đợi một hồi cho bớt chen lấn rồi hãy vô.

- Đồ ngu! Mầy vô sau, đứng sau người ta, có nước… hửi đít họ chớ làm sao mà coi?

Rồi kéo tôi ra sau hông nhà lồng, chỉ vào một chỗ; nói:

- Lát nữa mầy vô, mầy lại cây cột nầy nghen!

Tôi ầm ừ, vì không phải lần đầu tiên tôi a tòng với nó. Nó dặn lại:

- Nhớ à nghen!

Vào cửa, vừa tới cây cột nó chỉ thì ở ngoài nó đánh vào vải “bịch, bịch”, biết ám hiệu, tôi nhìn quanh rồi giở vải cho nó chui vào. Chiến thuật nầy hiệu quả hơn của Xoài, Mận nhiều, vì hầu hết nó vô trót lọt! Nếu xui rủi bị phát hiện thì nó cũng không bị kéo lỗ tai; mà là tôi! Tôi khoái nó ở chỗ, dù có trót lọt hay không, hôm sau nó cũng đãi tôi một chầu đá nhận!

“Rạp hát” không có ghế ngồi cho khán giả, muốn ngồi ghế thì tự đem ghế nhà vào, thường là mấy bà già, còn hầu hết thì ai vô trước, đứng truóc, ai vô sau đứng sau. Còn vô sau mà muốn đứng trước thì cứ chen lấn! Mấy đêm đầu, người sát như nêm, mùi mồ hôi ngậy mũi, tiếng cãi cọ luôn xãy ra khi chờ đợi mở màn: “Mấy thằng quỷ nầy làm gì chạy tới chạy lui hoài vậy?” Một người bịt mũi: “Ai bỏ “bom nguyên tử” vậy ta?”. Mọi người vừa bụm miệng thì lại có tiếng: “Hùm… “trái” nầy còn ác liệt hơn nữa!”. Ai cũng cười rung cả bụng.  Một chị gái: “Lợi dụng hả?”. “Chật phải cho người ta đụng chớ? Sợ thì ở nhà đi!”

Quê tôi trước sau có bốn gánh hát (chuyện hi hữu tại một xã nghèo thưa thớt dân cư), mà bầu Bời, bầu Trình là kỳ cựu nhất. Đào kép trong đoàn đa phần cũng là con em trong làng. Dẫu sống đời lang bạc, nhưng họ cũng ít nhiều ưu ái với nơi cắt rún chôn nhau. Hậu trường các gánh khác chúng tôi dễ gì được vào xem. Với các gánh nầy, chúng tôi vào thoải mái, miễn đừng lớn tiếng, phá phách, với đừng … ăn ổi chín là được! Lần đầu tôi cầm trái ổi chín rục, thơm lừng, vừa cắn một miếng thì chị Ẩn, đào chánh giật lấy. Tôi nhơ ngác: “ Ổi của em mà!”. “Biết rồi! Trái nầy em cho chị”. “Bộ chị có bầu hả? Sáng mai em hái cho chị.” Chị vò đầu tôi: “Không phải, nhưng ăn trước bàn tổ không nên, ông bầu thấy ổng quánh bây giờ”. Chị lại cười: “Ví (với) một lát, mấy em không được ăn me trước mấy ông thổi kèn nghe không?” Tôi ngơ ngác dạ dạ cho qua. Sau nầy mới biết, không cho ăn ổi vì sợ… ông tổ thích mùi ổi chín mà bỏ đi (về nhà người ăn ổi); còn không cho ăn me trước mấy ông thổi kèn vì sợ mấy ổng… thèm chảy nước miếng mà thổi không được! Từ đó, tôi còn nghe người lớn nói như vầy: “Ăn cướp không bao giờ cướp đồ (tài sản) của gánh hát!”. “Sao vậy?”. “Vì họ cùng một ông tổ mà ra, hồi đó ông tổ gánh hát bỏ nghề rồi đi … ăn cướp” (?) “Ối! Xa lơ xa lắc, giờ cướp đại, chết thằng tây nào?”. “Bậy! Nếu cướp của gánh hát thì bị quan bắt liền, hồi trước ổng thề như vậy”. “Ờ hén”. “Có ghe cướp, cướp nhằm ghe gánh hát mà không biết, chừng về thấy mấy cái rương toàn là âu ria, áo mão, hoảng hồn, đem trả không kịp!”

Khán giả đa số là bà già, ông già, các lớp đàn anh đàn chị chúng tôi, tức khoảng mười bảy mười tám tuổi, tuổi sắp có chồng, có vợ! Thời đó, nam mười tám, nữ mười sáu có chồng có vợ là chuyện thường tình. Lớp trên hai mươi, con cái đùm đề, ít ai đi coi. Tuổi trung niên còn ít nữa, không hiểu vì sao!

Có một khán giả rất đặc biệt là thằng Hợp (sau nầy là kép cải lương của anh sáu Triều), nó  ngồi một chỗ cũng rất đặc biệt: Dưới “bàn vua”. Đó là cái bàn chữ nhật như cái bua-rô của thầy giáo, không trải drap, phía sau là cái ghế đẩu, tượng trưng cho ngai vàng! Không hiểu sao, đêm nào cũng có cái bàn ấy đặt sát tấm màn phong cảnh tận cuối sân khấu, dù đêm đó không có vai vua cũng vậy!

Hợp ngồi xếp bằng dưới cái…. “long bàn” ấy. Áo luôn phanh ngực, lâu lâu quẹt mũi, nhìn xuống coi… khán giả, bởi mặt bàn che khuất tầm nhìn, làm sao coi đào kép?

Có gánh hát nào lại cho khán giả ngồi chỗ đó, ngoài gánh bầu Bời, bầu Trình? Ban đầu mở màn thấy nó ngồi, ai cũng cười dễ dãi, sau thành quen, xem như đó là ghế danh dự dành cho nó vậy!

Có lần vị vua nào đó lâm triều, vừa ngồi xuống  ngai (ghế đẩu), vua duỗi chân ra, đạp nhằm nó, vua “ý” một tiếng, làm “bá quan văn võ”(thường có bốn người - hai văn hai võ) cũng giật mình. Khán giả thì cười rần. Rồi đâu cũng vào đấy, vua làm việc vua, nó ngồi tiếp!

Lại lần khác, vua vỗ bàn quát: “Giáp sĩ đâu?”, cùng lúc ngoài rạp có tiếng tía nó gọi: “Hợp ơi, về biểu!”, nó lật đật “dạ” một tiếng thật lớn còn hơn cả tập thể gánh hát “dạ” trong hậu trường, rồi vội vàng đứng dậy, đội luôn cả “long bàn” trên đầu. Vua quan ngơ ngác, còn khán giả thì cười vỡ bụng.

Thế mà hôm sau, nó cũng không vắng mặt ở chỗ ngồi danh dự đó!

Cũng nên nói thêm, gánh hát không có máy đèn. Ánh sáng là chiếc đèn măng sông duy nhất được treo giữa sân khấu và hàng ghế đầu tiên của khán giả. Nói “hàng ghế”cũng đúng, vì dường như đêm nào cũng có một hai hàng ghế thượng hạng dành cho các cụ, dù ghế nầy do các cụ mang tới. Đó hàng ghế bất khả xâm phạm trong một điều luật bất thành văn: Các anh chị và lũ chúng tôi ở phía dưới, cãi cọ, chen lấn làm gì làm, tuyệt nhiên không ai dám lướt qua các hàng ghế trưởng bối đó. Các cụ dù vô sau, chỉ cần đưa ghế lên (cho dễ đi), là có hàng loạt tiếng nói :- “Tránh ra cho bác Bảy ( ông Ba, bà Hai…) đi cà tụi bây ơi!”.  “Cái thằng nầy lì quá, nói nãy giờ mà cứ giỡn hoài!”

Đó không phài là văn hoá kính lão, là điều đáng tự hào của quê hương tôi đó sao?

Về tuồng tích thì thừơng là những trích đoạn của các truyện Tàu mà cô Năm tôi thường đọc cho các người lớn trong làng nghe trong các buổi đám cưới, đám giỗ, hay những lúc nông nhàn, như “Phụng Nghi Đình”, “Tiết Đinh San cầu Phàn Lê Huê”,”Tôn Tẩn hạ San”, “Triệu Tử Long đoạt ấu chúa”, “Chiêu Quân cống Hồ”.…Thật tình, giờ tôi nhớ được nội dung những chuyện ấy là nhờ nghe cô Năm đọc, còn coi hát bội, tôi không nhớ gì hết ngoài mấy tiếng “tróc mã đề thương, ứ ư, ứ ư…”, bởi hát bội thường  “hát”chữ nho, hiểu đâu mà nhớ?!

Vài năm sau (khoảng năm 1959), các gánh hát bội của bầu Trình, bầu Bời dần dà ế khách, bị lép vế bởi các đoàn cải lương ở xa đến như Điền Viên, Kiếp Bướm, Ánh Sáng. Gánh bầu Trình phải diễn luôn cả suất ban ngày mà hầu như không đủ sống, bởi khán giả toàn là lũ nhí chúng tôi, mà tụ lại không bằng một gánh Sơn Đông mãi võ! Suất đêm là chính, lại bị  “sập dàn” hoài!(*), bởi cũng chỉ có đám chúng tôi vào coi, chỉ là ham vui, hơn là ham coi hát!

Cửa vé vắng tanh, thằng Mận, thằng Xoài không còn cơ hội “thừa nước đục thả câu”, còn tôi cũng không dám giở màn cho thằng Tửng chui vào. Thằng Hợp cũng tự động rời khỏi đít  “long bàn”. Các “cửa hàng” mía, đậu phọng đã dẹp tiệm, chỉ còn lại “cửa hàng” nước đá của chị Tuyết. Chị bào nước đá thư thả hơn, gọi tụi tôi là “cưng” chứ không là “tụi bây” như trước, và ly nước đá cũng cao hơn, sirô nhiều hơn!

Ban ngày tôi thường lân la vào hậu trường chơi, chị Ẩn nằm một mình trên võng, thấy tôi chị cười , khoe hai hàm răng đều đặn, không phấn son mà tôi thấy chị đẹp lắm, song trông chị buồn còn hơn khi chị đóng vai Chiêu Quân lúc rời xa đất Hán!

- Ủa? Sao có một mình chị ở đây vậy? Mấy anh đâu hết rồi?

Mắt “Chiêu Quân” nhoà lệ:

- Mấy ảnh đi bắt cá hết rồi, chị ở nhà nấu cơm.

- Sao hồi sáng không mua, bắt làm chi cho mệt?

Chị rời võng, đến thêm củi cho nồi cơm tổ bố. Có lẽ khói cay, làm mắt chị ươn ướt, đỏ hoe:

Hát ế quá đâu có tiền mua cá, em!

Hai giọt nước mắt chị rơi xuống, tôi chạnh lòng, vừa thương chị, vừa ân hận về việc đã bao lần a tòng với thằng Tửng giở vải để cho nó vào coi cọp. Chị lau nước mắt cười thật buồn, hỏi tôi:

- …Ổi nhà em có trái nhiều không?

- Có, có nhiều lắm. Sao chị bảo không nên ăn ổi chín chỗ này?

Chị vẫn cười buồn:

- …Chị muốn ăn ổi chua.

- Chị có bầu hả? Sao bụng chị nhỏ xíu vậy?

Chị hơi vui vì lời trẻ con của tôi; không đáp, chỉ gật nhẹ. Tôi nhanh nhẩu:

- Vậy chị chờ em chút nghe.

Rồi chạy vụt ra réo to:

- Tửng ơi Tửng! Tửng ơi Tửng! Về nhà tao chơi.

Chiều hôm ấy ông bầu đến từ giã bà con ở dãy ngã tư. Ông buồn hơn mọi ngày. Khi đến nhà thầy Tư (tiệm thuốc bắc) thì bà con cũng kéo đến. Chú chín chệch Xồi

- Tui tặng ông bầu hai ký lường (đường) táng uống lước (nươc). Chừng nào lảnh (rảnh) dìa (về) hát cho dui (vui).

Chú chín chệch Xồi sống ở làng đã lâu đời, có vợ Việt, ăn mắm sống nên không “nị,  ngộ” như các chú Tàu ở huyện.

Một lát chú Hai Cộc xách một xô cá từ mé triền lên:

- Mới tát đìa! Biếu anh Ba (ông bầu thứ ba) và anh em ăn lấy thảo.

Thằng Hợp vừa hít mũi vừa bưng một đĩa lớn bánh cam bánh cồng đầy ắp (chắc bán ế) lại, thưa:

- Má con nói biếu ông bầu ăn uống nước.

Thiếm tư quay quanh rồi nói:

- Ở đây cũng có bánh trái rồi…Hay là đứa nào mang qua nhà lồng cho mấy em ở bển. Đem cá của anh hai cho mấy em làm luôn thể, tối rồi.

Thầy Tư ngập ngừng nói với ông bầu:

- Hổm rày chắc vất vả lắm hả anh Ba?

- Thì anh thấy đó, cứ “sập dàn” hoài!

Chú Chệch Xồi:

- Hay là ông bầu dìa mua bán dí (với) tui, kiếm ăn lược lám  ló!(được lắm đó)

Mọi người ái ngại cho câu nói thiệt lòng của chú Chín. Nhưng ông bầu chỉ thở dài:

- Làm như cái “nghiệp” anh Chín ơi! Khi ế anh em cứ than thở đòi về làm ruộng, nhưng khi được bà con ái mộ thì quên hết! “Cái nghiệp” khó dứt lắm anh ơi. Như con tằm ăn dâu phải nhả tơ đền nợ dâu vậy.

Sáng hôm sau khi tôi định xách thêm bọc ổi chua và gói muối ớt cho chị Ẩn, thì thấy thằng Tửng bọc một áo xoài đứng ở trước cửa. Tôi trố mắt hỏi nó:

- Mày ăn cắp hả?

- Tao xin đàng hoàng. Tao nói xin cho chị Ẩn, thiếm Bảy bảo hái cho khá khá. Ăn cắp gì mà nhiều dữ vậy?

Khi chúng tôi đến, mọi người đang ăn cơm. Chị nắm tay chúng tôi, nghẹn ngào:

Cám ơn hai em nghen!

Ăn cơm xong mọi người lỉnh kỉnh gánh gồng xuống ghe. Tôi và Tửng đứng trên bến. Chị vò đầu chúng tôi rồi xuống sau cùng:

- Mấy em ở lại rán học giỏi nghe. Lần sau chị về chị bao mấy em coi hát khỏi mua vé.

Thằng Tửng coi bộ sượng sùng vì lời chị. Tôi nói:

- Chừng nào chị về nhớ ẵm em bé về chơi nghen.

Ghe rời bến, chị yếu ớt vẫy tay. Ghe đi xa, chúng tôi nhìn đến khuất bóng mới thôi. Tôi ngó qua Tửng, nó ngượng ngùng quẹt nước mắt. Lần đầu tiên tôi thấy nó khóc. Và lần cuối cùng tôi gặp chi Ẩn./.

KHA TIỆM LY
khatiemly@gmail.com

READ MORE - XEM HÁT MIỀN QUÊ TÔI - truyện ngắn Kha Tiệm Ly

Trần Ngộ - CHÙM THƠ NHỚ TẾT


TẾT NHỚ NHÀ

Nụ mai hé vàng trước ngõ
Bên song én liệng xuân về
Hoàng hôn bao trùm xóm nhỏ
Mưa phùn thấm lạnh đường quê

Tựa cửa mòn mắt mẹ đợi
Đêm nằm nhớ đứa con xa
Màu tóc cha giờ bạc trắng
Thương con mấy tết vắng nhà

Khuya nay rừng thông gió thổi
Gác riêng thức trắng lòng ta
Đìu hiu nằm chờ đón tết
Đôi mắt ướt nhẹp lệ nhòa

Cung trầm gõ nhịp thời gian
Thì thầm niềm riêng bao nỗi
Vần thơ giao thừa chưa cạn
Đã nghe pháo nổ khắp làng
Mồng 1 Tết Mậu Ngọ 1978


CẢM XUÂN

Mậu thìn xuân vừa sang
Long thiên đổ mưa vàng
Mát chung muôn sinh vật
Thắm đượm khóm mai vàng

Nước non đầy hứa hẹn
Dân tộc nức tiếng cười
Mậu thìn tết nguyên đán
Ấm lòng dạ muôn người

Trẻ thơ nô đùa giỡn
Thanh nữ mặc lòng khoe
Aó xanh vàng hồng tím
Con chim hót đầu hè

Xuân mừng lên một tuổi
Cụ lão bà thêm năm
Em tôi nhiếu áo mới 
Ba mươi mốt tuổi đời

Mồng 1 tết Mậu Thìn



CỐ QUÊN

Xuân đã qua rồi ta cố quên
Cô em gái nhỏ ở làng bên
Ngây thơ tà áo màu sim tím
Đi lễ đầu năm vái trước đền

Mồng 1 tết Canh Ngọ 1990
READ MORE - Trần Ngộ - CHÙM THƠ NHỚ TẾT

huongnamhuynh - DẤU VẾT MỘT THỜI



                                            
Em về, đâu có xa xôi,
Phải chăng em ở trong tôi vĩnh hằng?

²                                             ²
²

Em về, đâu có xa xôi,
Mai đào vẫn thế đây rồi hương xuân.
Nhớ xưa yêu, đắm đuối, cuồng,
Điên trong ân ái – thẹn thuồng – ngất ngây.

²                                             ²
²

Em về, đâu có xa xôi,
Lời yêu ước hẹn bên đời có em.
Nụ hôn cháy bỏng môi mềm,
Vẫn còn lưu dấu êm đềm – mùa xuân.

²                                             ²
²

Em về, đâu có xa xôi,
Bến xe-buyt cũ, ta ngồi đợi ta.
Thẫn thờ từng chuyến xe qua,
Nắng xuân yếu ớt buồn nhoà mắt ai.

²                                             ²
²

Em về, đâu có xa xôi,
Còn đây kỷ niệm núi đồi Huyện Hiên.
Dấu chân đôi, khắp mọi miền,
Vòng tay ấm, ánh trăng hiền, biển xa.

²                                             ²
²

Em về, đâu có xa xôi,
Cửa Tùng đêm ấy bồi hồi còn đâu.
Dòng sông ngã bóng cây cầu,
Gio Linh, Bến Hải - nỗi sầu riêng ta.

²                                             ²
²

Em về, đâu có xa xôi,
Đông Hà, Quảng Trị chẳng thôi gió Lào.
Hãi Lăng bụi cát rì rào,
Con đò Mỹ Chánh dấu nào chưa phai.

²                                             ²
²

Em về, đâu có xa xôi,
Hương Giang, Lê-Lợi-Số-Hai vẫn còn.
Đem thời gian phủ lối mòn,
Vẫn không xoá nổi dấu son cuộc tình.

²                                             ²
²

Em về, đâu có xa xôi,
Hải Vân mây nước buồn trôi một mình.
Xuân Thiều ghi dấu chân xinh,
Bà Nà phong cảnh hữu tình cho ai ?

²                                             ²
²

Em về, đâu có xa xôi,
Xuân vui nhộn, ta mồ côi với đời.
Phố Điện Biên đã một thời,
Một thời yêu, nhớ một thời đáng yêu.

²                                             ²
²

Em về, đâu có xa xôi,
Hội An khuất lấp một thời kiêu sa.
Ta về đâu chỉ có ta,
Có em đâu đó chiều tà tịch liêu.

²                                             ²
²

Em về, đâu có xa xôi,
Sông Hoài-Phố Hội-Em-Ta-Vĩnh Hằng.
Bến sông, bãi biển, vầng trăng,
Con đò, đồi cát, chị Hằng ngẩn ngơ.

²                                             ²
²

Em về, đâu có xa xôi,
Quế Sơn vẫn núi với đồi sánh vai.
Nhớ đêm trăng ngũ, sao phai,
Nhớ em, nhớ cả đêm dài…thâu đêm...

²                                             ²
²

Em về, đâu có xa xôi,
Mà sao nhớ thế, đứng ngồi không yên.
Nhớ Thăng Bình, nhớ Bình Nguyên,
Chim bay về tổ, chiều nghiêng ngỡ ngàng.

²                                             ²
²

Em về, đâu có xa xôi,
Đường lên Tiên Phước núi đồi dọc ngang.
Hoa Mua sắc tím rộn ràng,
Bây giờ vẫn thế – còn mang nặng tình.

²                                             ²
²

Em về, đâu có xa xôi,
“Mimosa”, ngát hương đời, ngát hương.
Phải không em – “Đóa vô thường”
Tam kỳ đêm ấy vấn vương suốt đời.

²                                             ²
²

Em về, đâu có xa xôi,
Vị đời vẫn ngọt, đâu rồi cố nhân.
Nước sông Trà Khúc xanh ngần,
Đêm Quảng Ngãi, vị lâng lâng vẫn còn...

²                                             ²
²

Em về, đâu có xa xôi,
Phải chăng em ở trong tôi vĩnh hằng?

hnh
READ MORE - huongnamhuynh - DẤU VẾT MỘT THỜI

VALENTINE QUÊN - truyện ngắn Thanh Trắc Nguyễn Văn

Tác giả THANH TRẮC NGUYỄN VĂN

1. Mình quen nhau vào một ngày Valentine, ngày mà em và anh cùng dự buổi họp mặt của một người bạn thân. Qua sự đùn đẩy của bạn bè hai đứa mình bị dồn lại phải ngồi cạnh nhau. Hầu hết đám bạn hôm ấy đều đã có đôi có cặp, chỉ riêng trong nhóm chỉ cỏn em và anh vẫn cô đơn... Em vẫn còn nhớ rất rõ lúc đó anh bận một chiếc áo sơ mi trắng sọc xanh rất hợp thời trang và khá đẹp trai! Dù ngồi bên em nhưng anh chỉ nhìn em vài cái lấy lệ rồi thản nhiên cười đùa trước sự châm chọc của bạn bè. Em vừa tự ái vừa ngạc nhiên: Không hiểu sao một người có ngoại hình khá, có thể dễ dàng quyến rũ các cô gái như anh, lại vẫn thích lối sống cô độc một mình? Tàn tiệc, trước khi chia tay, em hỏi tên anh rồi tự giới thiệu tên em là Quỳnh Như. Anh nghe một cách miễn cưỡng, khẽ cười mỉm rồi bỏ đi. Em hiểu, em hoàn toàn chắng có gì để anh đáng phải lưu tâm và đáng nhớ cả...

2. Mình yêu nhau cũng vào một ngày Valentine, sau khi anh đã ngỏ lời với em và tặng cho em một tấm thiệp Valentine có in hình hai trái tim buộc bởi một sợi dây ruy băng nơ màu hồng. Sau này anh vẫn thường luôn miệng gọi ngày kỷ niệm đáng yêu của hai đứa là ngày Valentine hồng.

Năm đó em về nhận nhiệm sở tại trường và gặp lại anh sau ba năm cứ ngỡ là mình sẽ không bao giờ có dịp còn gặp lại. Khi biết hai đứa cùng đồng nghiệp là nhà giáo, em đã cười ra nước mắt. Thông tin về nhau mù mờ cũng đúng thôi, vì khi cùng ngồi cạnh nhau có đứa nào chịu nói với nhau câu nào đâu? Với lại theo lời nhỏ Mai, em ruột của em, thời gian trước em vẫn còn rất gầy và rất xấu nên anh có chê cũng phải! Khi về trường em mới bắt đầu “trổ mã” phổng phao để thật sự trở thành một thiếu nữ, và khi diện vào chiếc áo dài cô giáo em lại càng xinh đẹp nhiều hơn...

Do tổ chuyên môn chưa phân công kịp nên em tạm thời được cử làm giám thị và thường phải ngồi trực ở phòng giám thị. Thế là các thầy giáo trẻ trong trường cứ rảnh là cứ xuống tập trung tại phòng giám thị, khiến căn phòng người ta nói trước kia vẫn thường vắng lặng nay bỗng trở nên nhộn nhịp hẳn lên! Trường em về là một trường lớn của thành phố nên có rất nhiều phòng học và có rất nhiều giáo viên. Các thầy giáo trong trường vẫn thường nói đùa phòng giám thị dạo này là phòng “hot” nhất của trường, là nơi các Sơn Tinh và Thủy Tinh thường xuống “tranh tài đấu trí” với nhau để giành mỹ nhân. Em lúc đầu cũng hơi buồn cười và có chút tự hào, nhưng càng về sau em càng quí trọng tình cảm của các thầy giáo trong trường đã dành riêng cho em.

Này là thầy Lộc vừa dạy vừa tự học nên mới có thêm bằng thạc sĩ toán. Thầy Lộc còn khá trẻ, cũng là một trong những giáo viên dạy giỏi của trường. Nghe nói lúc trước gia đình thầy Lộc rất nghèo, khi còn là sinh viên thầy Lộc vừa học vừa phải đi làm thêm, có khi bán vé số, có khi rửa chén bát cho các tiệm phở để có tiền ăn học. Nay tuy đã thành danh, dạy thêm có rất nhiều học trò theo học, nhưng thầy Lộc chắc vẫn còn nhớ thuở hàn vi nên rất khiêm tốn. Thầy lúc nào cũng biết nói đùa và biết dừng câu nói đùa đúng lúc. Trong các thầy, theo em thầy Lộc rất vui tính và cũng dễ gần gũi nhất.

Này là thầy Quang, giáo viên dạy thể dục, tuổi chừng ba mươi. Thầy Quang rất giỏi chuyên môn và giỏi tiếng anh. Thầy Quang đã nhiều lần được cử làm trọng tài bóng chuyền cho nhiều giải quan trọng trong nước và ngoài nước. Thầy Quang cũng là đương kim vô địch bóng bàn và đương kim vô địch quần vợt của quận nhà. Em đã nhiều lần theo các cô giáo trong trường đi xem và cổ vũ thầy Quang thi đấu. Em rất thú vị khi biết khi đánh bóng bàn thầy Quang đánh bằng tay trái, còn khi đánh quần vợt thầy Quang lại đánh bằng tay phải! Mỗi tay đánh một môn, để không bị lẫn lộn làm hư kỹ thật của tay, thầy Quang mỉm cười giải thích khi em tò mò hỏi.

Này là thầy Quý, hai mươi sáu tuổi, giáo viên dạy môn sinh. So với các thầy cô khác trong trường, thầy Quý có vẻ không khá giả. Quần áo đi dạy thầy bận thường cũ kỹ, nhưng rất sạch sẽ và phẳng phiu. Gặp em thầy Quý có vẻ ngại, ít nói. Cũng như nhiều giáo viên nam chưa vợ khác, thầy Quý cũng thường xuống phòng giám thị nhìn lén em. Nhưng không giống như mọi người, thầy Quý xuống phòng giám thị chỉ là để ngồi và lặng im soạn giáo án! Em rất quí thầy Quý vì biết thầy có rất được nhiều học sinh quí mến. Tuần trước nhờ đọc một tờ báo em mới biết thầy Quý đã từng nhặt được hai lượng vàng miếng trong một cái giỏ xách bị đánh rơi bên lề đường. Dù biết người bị rơi mất vàng là người rất giàu có thầy Quý vẫn trả lại. Và hơn thế nữa thầy vẫn kiên quyết không nhận một lượng của người chủ khi bà ta có nhã ý tặng để đền ơn.

Này là thầy Phong, là giáo viên dạy hóa nhưng lại là một nhà thơ, có tên trong Hội nhà văn của thành phố đàng hoàng. Thầy đã gần bốn mươi tuổi nhưng vẫn chưa có vợ. Nói chuyện với thầy Phong thật thú vị. Còn nhớ buổi đầu gặp thầy Phong, em nói với thầy em có nghe nhiều người trong trường gọi thầy là nhà thơ? Thầy Phong mỉm cười bảo nhà thơ là danh hiệu bây giờ nhiều người rất dễ tự xưng nhất. Ai cũng có thể xưng là nhà thơ được. Nhưng danh hiệu nhà thơ không phải là mình tự xưng cho mình, không phải là của bạn bè gọi cho mình mà phải để độc giả phong tặng cho mình, thế mới xứng đáng là nhà thơ! Ngoài ra nhà thơ cũng phải là người cần có bản lĩnh nữa... Em hỏi bản lĩnh gì? Thầy lẳng lặng viết tặng cho em một bài thơ tình có hai từ “quỳnh như”, là tên của em, được ghép rất khéo léo trong bài thơ rồi bỏ đi. Tuần sau, thầy đến phòng giám thị tặng em một tờ báo vừa in bài thơ đó! Một tháng sau thầy Phong lại đến tặng em một tuyển tập thơ, mở ra lại thấy bài thơ thầy viết tặng em đã được tuyển vào tuyển tập! Khỏi phải nói em “tâm phục khẩu phục” thầy Phong sát đất luôn!

Và còn rất nhiều thầy nữa, mỗi người mỗi vẻ... Nhưng không hiểu sao em vẫn cứ ngong ngóng chờ đợi một người vẫn chưa thấy xuống phòng giám thị bao giờ. Người đó chính là anh. Tuy ba năm trước anh đã chẳng thèm ngó ngàng gì đến em, khiến em vừa buồn vừa tủi phận, song hình bóng của anh thỉnh thoảng vẫn cứ phảng phất trong giấc ngủ của em.

Từ ngày em về trường, mình vẫn thường chạm mặt nhau nhưng anh vẫn cứ thích “làm ngơ” mỗi khi em đi qua. Sau này, chắc có lẽ do ảnh hưởng của “tin đồn” về cô giáo trẻ Quỳnh Như mới về trường, anh mới chịu mon men xuống phòng giám thị rồi làm quen với em. Nhiều người trong trường đã rất bất ngờ khi thấy em nhận lời đi ăn tối với anh quá dễ dàng và cũng thật quá nhanh. Thế là mình yêu nhau...

3. Em chia tay anh cũng vào ngày Valentine, đúng vào ngày mình chính thức yêu nhau tròn được một năm. Khi đó mình đã làm lễ hỏi được ba tháng và chỉ còn năm tháng nữa thôi là sẽ làm lễ cưới...

Trong thời gian làm người yêu của anh, em luôn rất tự hào về anh. Có một lần anh hướng dẫn cho hai cô giáo sinh trẻ đẹp. Hai cô này đi khoe với mọi người anh đúng là một người giáo viên mẫu mực và có tâm. Hai cô kể có một lần họp với anh tại phòng giáo viên, một trong hai cô chỉ vì lỡ miệng gọi học trò là “tụi nó”, lập tức bị anh nghiêm mặt nhắc nhở ngay. Theo anh, đã là người thầy thì phải biết tôn trọng học trò. Có tôn trọng các em, các em mới tôn trọng mình. Dù có mặt hay vắng mặt học sinh đi nữa cũng không được gọi các học sinh của mình là “tụi nó”! Và còn nhiều chuyện khác nữa khiến mọi người, trong đó có em, càng lúc càng ngưỡng mộ anh nhiều hơn. Nhưng điều làm em bực mình nhất chính là chuyện dù đã hết đợt thực tập, hai cô giáo sinh vẫn thường kiếm cớ về “thăm học sinh” để có dịp lại quấn quít bên anh...

Em vẫn nhớ mãi những ngày Valentine định mệnh đó. Ngày mình lần đầu gặp nhau, ngày anh ngỏ lời yêu em và rồi cũng là ngày em chia tay anh. Anh vẫn gọi chung với một cái tên là ngày Valentine hồng với những lời thật hoa mỹ. Còn đối với riêng em, em đặt tên rất dễ nhớ cho từng giai đoạn một: Ngày Valentien nhớ, ngày Valentine yêu và ngày Valentine quên...

Tiệc đã tàn, buổi tiệc tổ chức tại nhà một người bạn cũ của anh, do uống rượu hơi nhiều nên nhiều bạn bị say ngồi không còn vững. Lúc đó em biết anh vẫn còn tỉnh táo không hề say. Một là vì anh rất khôn ngoan luôn tìm cách uống ít hơn những người khác. Uống ít để quan sát xem và nghe người ta nói gì về mình khi người ta ngỡ mình không còn tỉnh, anh vẫn thường nói với em như vậy. Hai là anh có bí quyết riêng, anh vẫn thường uống một chút dầu ăn trước khi nhập tiệc (dầu ăn có tác dụng làm giảm khả năng hấp thụ rượu vào cơ thể). Ba là tửu lượng của anh cũng rất cao. Cha của anh là một vị quan chức cao cấp trong nghành giáo dục, nhà của anh luôn được người ta tặng cho những loại rượu ngoại đắt tiền quí hiếm. Mấy chai rượu mang tiếng là “mua ở nước ngoài về” ở buổi tiệc này chẳng có nghĩa lý gì đối với anh cả.

Lác đác đã có nhiều bạn nam ói mửa ra cả chén bát. Nhiều bạn nữ thấy gớm tỏ ý không muốn dọn dẹp. Lập tức anh hùng hồn tuyên bố:
- Mấy bạn nữ cứ để đó đi, mình bảo con Như nó dọn cho!
- Được không đó ông? Ông lấy quyền gì mà bắt bà Quỳnh Như bả dọn?
- Quyền là chồng sắp cưới có được không? Ông bà ta có câu: “Dạy con từ thuở còn thơ. Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về”. Ngay từ bây giờ phải dạy dỗ nó từ từ, cho con vợ tôi nó hiểu thế nào là “chồng chúa vợ tôi” chứ!

Lập tức một tràng pháo tay vỗ rào rào tán thưởng. Em từ nhà vệ sinh đi lên nghe trọn câu nói của anh mà chạnh lòng! Tuy vẫn có nhiều bạn nữ giúp em cùng dọn dẹp và rửa đống chén bát đáng ghê tởm đó, nhưng nước mắt em lúc nào cũng muốn chực trào ra. Không được gọi học trò là “tụi nó” vì gọi như vậy là thiếu tôn trọng học trò. Vậy gọi người yêu và cũng là vợ sắp cưới của mình là “con” và “nó” thì sao? Gọi như vậy có thật sự là tôn trọng nhau không? Với lại cưới vợ là để cùng chia sẻ, cùng yêu thương nhau, có phải đâu cưới vợ là để biến vợ thành ôsin, để có cái quyền sai vặt nhằm thỏa mãn cái “tôi” ích kỷ của mình trước mặt bạn bè?

Mẹ em mất sớm. Em và nhỏ Mai từ nhỏ sống chung với cha và bà nội. Bà nội từ đó nghiễm nhiên trở thành người mẹ tinh thần của em. Theo lời bà nội kể lại, ông nội em ngày xưa rất thích bóng đá. Cầu thủ ông ái mộ nhất là cầu thủ T. Còn bà nội em thì lại thích cải lương. Nữ nghệ sĩ mà bà yêu thích nhất chính là nữ nghệ sĩ cải lương B. Cả hai người đều là những người nổi tiếng trước năm 1975 và cũng đã từng có thời gian yêu nhau tha thiết. Nhưng cầu thủ bóng đá và nghệ sĩ cải lương sống vào thời đó thường bị xã hội khinh rẻ. Cầu thủ luôn bị xem thường, chỉ là một loại “quần đùi áo số”; còn nghệ sĩ cải lương cũng không khá gì hơn, cũng chỉ là một thứ “xướng ca vô loài”. T và B hiểu rất rõ điều đó. Họ yêu nhau và cùng thỏa thuận với nhau, chàng không bao giờ được vào rạp xem nàng hát cải lương. Nàng lý giải, nàng không muốn chàng phải nghe người ta nói “con B bữa nay hát hay quá”! Còn nàng cũng sẽ không bao giờ đến sân vận động xem chàng đá bóng, nàng cũng không muốn nghe người ta vỗ tay và hét với nhau “thằng T đang đi bóng kìa”! Tình yêu của họ đẹp vì họ không những biết yêu nhau mà còn biết tôn trọng nhau nữa. Còn anh?...

Quyết định hủy hôn của em gặp sự phản đối quyết liệt của của cả hai họ nhà trai và nhà gái. Cha em bảo em là con nhỏ điên, làm xấu hổ cho cả gia đình. Nhỏ Mai thì bảo em quá cố chấp, quá tự ái. Chỉ riêng có bà nội là thông cảm với em. Bà nói bà vẫn luôn cho rằng quyết định của em là đúng.

Xa anh rồi, em vẫn đau và vẫn nhớ... Nhưng em vẫn cứ tin rồi một ngày không xa em sẽ tìm được một người yêu em chân thành. Và người ấy sẽ không bao giờ gọi em là “con” trước mặt mọi người như anh đã từng gọi...

THANH TRẮC NGUYỄN VĂN
Tên thật: Nguyễn Văn Tạo, 
giáo viên trường PTTH Võ Thị Sáu, 
95 Đinh Tiên Hoàng, Quận Bình Thạnh tp.HCM
ĐT: 0913 115 094
thanhtracnguyenvan@thotre.com



READ MORE - VALENTINE QUÊN - truyện ngắn Thanh Trắc Nguyễn Văn