Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Bút ký. Show all posts
Showing posts with label Bút ký. Show all posts

Wednesday, September 30, 2026

NĂM NGÀY XUÔI THEO SÔNG CÁNH HÒM - Phạm Xuân Dũng



Năm ngày xuôi theo 

sông Cánh Hòm

Phạm Xuân Dũng


Trong “gia đình” các dòng sông ở Quảng Trị, sông Cánh Hòm có vẻ khiêm nhường bên cạnh những chị em tên tuổi như Hiền Lương, Thạch Hãn.  Chính vì vậy, chúng tôi đã dành năm ngày đi theo dòng sông làm ký sự truyền hình để sẻ chia với khán giả. Làng Mai Xá, xã Gio Mai, là nơi hợp lưu của 3 con sông Quảng Trị: Thạch Hãn, Hiếu Giang và Cánh Hòm.

 

Sông Cánh Hòm đặc biệt, khác với những con sông còn lại ở tỉnh Quảng Trị. Sông tự nhiên thì Hiền Lương, Hiếu Giang, Thạch Hãn, Ô Lâu… riêng sông đào thì có Vĩnh Định được trang trọng khắc trên vạc đồng ở kinh thành Huế. Chỉ có Cánh Hòm một nửa trời sinh, một nửa người đào mà thành, nhưng nhân tạo lớn hơn thiên phú. Sông Cánh Hòm nằm gọn trong địa phận huyện Gio Linh, dài 11 km, nếu tính cả chi lưu độ dài phải gấp đôi, chảy qua các xã đồng bằng phía đông của huyện, tưới mát cho biết bao đồng lúa.

 


Sông Cánh Hòm chảy qua làng Rừng Sác, làng Nhĩ Thượng. Ảnh Phạm Xuân Dũng


Xưa chuyện khai sơn phá thạch, dời non lấp bể là đại sự trong thiên hạ, ít ra cũng là việc trọng của một vương triều. Dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Tần (1651), sông này đã được khai thông ít nhiều, nhưng phải đợi đến triều vua Minh Mạng thì việc lớn mới thành. Khi ấy triều đình mở một con đường thủy từ kinh sư theo Vĩnh Định ra đến Cửa Việt theo dòng Cánh Hòm gặp sông Bến Hải, thậm chí còn ra đến tận Quảng Bình cũng theo vẫn theo con nước, để bậc đế vương tuần du, thăm thú rồi nghỉ lại Cửa Tùng - nơi người Pháp nịnh đầm có lý khi xướng danh "nữ hoàng của các bãi tắm". Đầu thế kỷ hai mươi, vua Duy Tân có lần ra Cửa Tùng, tiếng là đi chơi để che mắt Pháp nhưng kỳ thực là tìm gặp những nhân sĩ yêu nước như cụ Khóa Bảo Nguyễn Hữu Đồng ở Cam Lộ để mật bàn quốc sự khởi nghĩa chống quân xâm lược. Việc lớn bất thành, cả vua lẫn tôi đều bị giặc Pháp giam vào ngục thất. Dấu tích vua chúa ngày xưa nay đã nhạt nhòa, nhưng thú vị là vẫn còn một địa danh đọc lên nghe rất Huế vì gắn liền với quân vương, ấy là cầu Bến Ngự thuộc xã Gio Mỹ, bắc qua sông Cánh Hòm chảy suốt thời gian, chở đầy ký ức.

 


Sông Cánh Hòm chảy qua làng Bách Lộc. Ảnh: Phạm Xuân Dũng


Hôm tôi về Mai Xá Thị, nhằm ngày rằm tháng Giêng, tức Tết Nguyên Tiêu, tận mắt chứng kiến nhiều sự lạ. Dân làng chỉ cho tôi cây ngô đồng cổ thụ như trong thơ Bích Khê, có mặt từ thời vua Tự Đức. Thời chiến loạn, mảnh bom đạn giắt đầy thân cây, tưởng đâu không qua khỏi, nhưng thật không ngờ vẫn sống xanh tươi cho đến hôm nay. Vào trong đình lại thấy thờ cả danh thần Trần Đình Ân, vốn là cụ Thượng làng Hà Trung của xã Gio Châu. Hỏi ra mới biết, xưa làng Mai Xá Thị dính vào một vụ đáo tụng đình đất đai oái ăm, may nhờ đại thần Trần Đình Ân thương dân nên tạo phúc giúp cho làng này thắng kiện, tìm được lẽ phải. Sau khi cụ Trần Đình Ân qua đời, bài vị của vị đại quan từ đó được nơi đây phụng thờ hương khói.

 


Sông Cánh Hòm, đoạn chảy qua làng Xuân Long, xã Trung Hải, huyện Gio Linh. Ảnh: Phạm Xuân Dũng


Lần theo con nước qua làng Lâm Xuân xưa, là làng chiếu nổi danh, để gặp một lão nông tri điền yêu đất đai như là máu thịt đời mình. Ông Trần Xuân Thắng, tuổi ngoại bát tuần nhưng dáng vẻ vẫn vững chãi, gương mặt tinh anh. Nhà ông như một bảo tàng nhỏ nông cụ, những vật dụng thiết thân với nhà nông như miếng cơm, manh áo hằng ngày. Tôi vốn không lạ gì với những vật dụng này, nhưng nghe ông Thắng say sưa giảng giải từ cày đến bừa, từ cuốc chỉa đến cuốc bàn, từ trang đến nát… lòng không khỏi khâm phục một hiện thân nhân văn và sinh động của văn minh lúa nước sống dọc theo sông Cánh Hòm.

 

Về Nhĩ Thượng thuộc xã Gio Mỹ  khi mùa lúa đang đến. Những cánh đồng trải dài trong nắng hạ, hứa hẹn một năm bội thu của nhà nông khi ruộng tắm mát nước sông Cánh Hòm, khám phá thêm nhiều bí ẩn kỳ thú của thiên nhiên. Ông Nguyễn Thành, vốn là trưởng thôn, vui vẻ dẫn chúng tôi ra thăm giếng cổ của làng. Chiều sâu của giếng chỉ khoảng hai gang tay, mà lạ chưa, nước hàng trăm năm nay không bao giờ vơi cạn, kể cả những năm hạn hán kỷ lục. Ông Thành vừa chỉ tay giới thiệu vừa nói không giấu nổi vẻ tự hào: “Giếng sâu chỉ chừng đó thôi nhưng nắng mấy cũng không bao giờ cạn, nước ngọt mát vô cùng. Dân làng lấy nước này nấu rượu vào những dịp cúng tế trang trọng”.

 

Chúng tôi lại chèo ghe vào rừng Sác, một cánh rừng ngập mặn dọc theo sông Cánh Hòm - đoạn này dài đến 3 km, chạy dài lên đến cầu Bến Ngự mới dừng lại. Cần nói thêm rằng sau này, do làm thủy lợi vào thập niên 80 của thế kỷ trước, dòng nước đã thành dòng nước ngọt. Đây cũng là một nét độc đáo trong thay đổi địa chất thủy văn cần các nhà chuyên môn tìm hiểu. Vì cho đến nay vẫn chưa có một giải đáp khoa học về sự ra đời và phát triển của khu rừng kỳ lạ này. Chỉ biết rằng dù nước thay đổi nhưng cây cối vẫn thích nghi và xanh tốt như thường, như chẳng có chuyện gì xảy ra, thậm chí mới đây còn thu hút nhiều chim quý hiếm. Đây chính là lá phổi xanh điều hòa sinh thái cho ngôi làng Nhĩ Thượng, một báu vật trời cho từ ngàn đời nay cần được gìn giữ như chính ngôi nhà của mỗi gia đình. Anh Nguyễn Văn Mãi, người dân địa phương, vừa chèo ghe vừa nói: “Có được Sác này là quý giá nên bà con ở đây rất có ý thức giữ gìn.”

 


Dân chài làng Bách Lộc đánh bắt thủy sản trên sông Cánh Hòm. Ảnh: Phạm Xuân Dũng


Có thể khẳng định địa danh rừng Sác là độc nhất vô nhị ở Quảng Trị, vì ngay cả cù lao Bắc Phước với rừng cây ngập mặn như cây bần cũng không mang tên gọi như vậy. Cách gọi này làm ta nhớ đến ngay địa danh Rừng Sác ở hạ lưu sông Sài Gòn - Đồng Nai mà tên gọi chính thức là Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cần Giờ. Và nhân tiện, cũng cải chính sự nhầm lẫn có thể xảy ra với một vài người. Đó là thay vì gọi rừng Sác. Họ lại gọi nhầm thành rừng Sát. Hơn nữa, gọi rừng Sác nhưng lại không có loại cây nào gọi là cây Sác cả. Chuyện này cũng tạo nên những lý giải tốn nhiều giấy mực. Theo một học giả uy tín An Chi , thì sác được giảng là ”rừng nước mặn (ở gần biển)”. Tất cả đều có một nét nghĩa chung là ”rừng ngập ngụa”. Đây chính là nghĩa gốc của từ sác trong phương ngữ Nam Bộ.

 

Bên cạnh rừng ngập mặn nguyên sinh, Nhĩ Thượng còn có một rừng tràm tự nhiên với diện tích lên đến 10 ha nằm trên đồi cát cũng không xa cao điểm 31 thuộc hệ thống di tích của hàng rào điện tử Mcnamara. Rừng tràm trải rộng theo những cồn cát, địa hình cũng nhấp nhô, uốn lượn. Đi bộ vào rừng hay nhìn từ trên cao đều khiến người xem không khỏi ngạc nhiên. Đây cũng là một ân tứ của thiên nhiên. Vì ở những cồn cát, trảng cát được mệnh danh là tiểu sa mạc hay tiểu bán sa mạc trong thời tiết nắng lửa gió Lào, nếu không có những cỗ máy thiên nhiên xanh như rừng tràm thì ắt hẳn quá trình sa mạc hóa chỉ còn là chuyện thời gian. Được biết, cơ quan kiểm lâm địa phương đã bàn giao rừng tràm cho thôn quản lý. Kinh nghiệm thực tế cho thấy không ai giữ rừng nói riêng và tài nguyên khoáng sản nói chung bằng người dân bản địa.

 

Ông Nguyễn Thành đã thay mặt bà con mong mỏi như vậy. Ông còn nói thêm những lời chân tình gan ruột: “Nếu làm được du lịch để du khách về tham quan  giếng cổ, rừng Sác, rừng tràm, rồi lên cao điểm 31 và cả sông Cánh Hòm nữa thì tôi chắc chắn quê nhà sẽ đổi khác”.

 


Ngã ba sông, đoạn cuối sông Cánh Hòm đổ ra sông Hiền Lương. Ảnh: Phạm Xuân Dũng


Rong ruổi suốt mấy ngày trời, rồi cũng gặp chuyện hay sông Cánh Hòm ở làng chài Bách Lộc thuộc xã Trung Hải. Làng được hình thành vào thế kỷ 18. Theo lời kể ông Lê Viết Trinh, quá vãng đã xa lại về trong phút chốc. Thời ấy, ông tiền khai khẩn Trần  Hiếu năm Thiệu Trị thứ bảy (1847) đã tập hợp dân chài từ phá Tam Giang xứ Huế đến Bến Quan (Vĩnh Linh) quyết tạo dựng cuộc sống lâu dài. Họ nương náu theo sông Cánh Hòm, cũng rày đây mai đó, thường neo đậu đoạn eo làng Xuân Mỵ văn chương nức tiếng. Thấy vạn chài không một tấc đất cắm dùi, lênh đênh gian khó, bà con Xuân Mỵ thương tình đã nhượng lại hai mẫu đất giữa làng cho bà con ngư dân phơi lưới, lâu dần thành đất sinh cư tử táng. Tình nghĩa đồng bào đã làm nên một hiện tượng đặc biệt: làng Bách Lộc phái sinh từ làng Xuân Mỵ, hay như có người đã nói: làng mọc giữa làng. Khi tôi theo anh Trần Văn Sắt trên chiếc thuyền bủa lưới trên sông, mới biết thêm rằng bà con Bách Lộc xa xứ vào tận huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận, dù lo toan cơm áo, vẫn không nguôi nhớ về quê cũ. Họ đặt tên làng nơi đất mới là Bách Lộc. Vậy là có một núm ruột sông Cánh Hòm (Quảng Trị) an cư lạc nghiệp vùng cực nam Trung Bộ.

 


Dân làng Mai Xá Thị trước đình làng. Ảnh: Phạm Xuân Dũng


Hôm về làng Thủy Khê, xã Gio Mỹ, không còn dệt chiếu, mới hiểu thêm dâu bể của dòng sông. Ông Lê A, một bậc cao niên vừa bẻ những cọng cói còn sót lại bên sông xưa, thuyết minh về nghề trồng cói nay chỉ còn trong nỗi nhớ của những người lớn tuổi. Mắt ông sáng lên khi nhắc đến những ngày chưa xa lắm khi làng còn trồng cói. Nắng chiều chiếu rọi gương mặt, thời gian từng đường nét như điêu khắc dung mạo của một nhân chứng Cánh Hòm. Tự dưng lại nhớ mấy câu trong bài thơ "Sông Lấp" của cụ Tú Xương mà hoang mang da diết: “Sông kia rày đã nên đồng/ Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai/ Vẳng nghe tiếng ếch bên tai/ Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò..."

 

Khi đứng phía bắc cầu Bến Hải, ngắm nhìn ngã ba sông Cánh Hòm nhập vào con nước Hiền Lương, tôi chợt nhận ra rằng không chỉ nhân sinh mới cần bầu bạn mà thiên nhiên cũng luôn hướng đến sự giao lưu hòa hợp để khai thông huyệt đạo của mình. Những dòng nước dù mải miết quanh co, phiêu lưu tưởng chừng vô định rồi bằng một cách nào đó, cũng tìm đến với nhau, giang rộng vòng tay như người gặp được người…

 

 Phạm Xuân Dũng

https://vietnamnet.vn/nam-ngay-xuoi-theo-song-canh-hom-2281691.html

READ MORE - NĂM NGÀY XUÔI THEO SÔNG CÁNH HÒM - Phạm Xuân Dũng

Tuesday, September 1, 2026

EUGÈNE POILANE - NGƯỜI TRỒNG CÀ PHÊ ĐẦU TIÊN Ở KHE SANH - Bút ký của Nguyễn Hoàn

Nhà báo Nguyễn Hoàn



EUGÈNE POILANE 

- NGƯỜI TRỒNG CÀ PHÊ ĐẦU TIÊN Ở KHE SANH

Bút ký của Nguyễn Hoàn


Lâu nay, tôi có nghe nói đến chuyện ông Eugène Poilane, nhà thực vật học nổi tiếng người Pháp, đưa cây cà phê vào trồng ở Khe Sanh, Quảng Trị từ năm 1926. Năm 2026 là tròn 100 năm cây cà phê Khe Sanh được ông Eugène Poilane trồng xuống đất này. Duyên do là vậy, tôi bèn dành thời gian đi tìm dấu tích ông Eugène Poilane ở Khe Sanh và trong các tài liệu của Pháp, Hoa Kỳ.

 

Thời gian và chiến tranh đã xóa hết mọi dấu vết nhà cửa, sân kho cà phê… của ông Eugène Poilane ở Khe Sanh, chỉ còn lại những địa điểm mà việc xác định phải nhờ vào ký ức của những người cao tuổi. Theo người dân ở đây, những địa điểm này nằm ở vùng đất xung quanh hồ Khe Sanh, bên cầu Khe Sanh. Lên vùng đồi xanh thẫm cây rừng, vào một ngôi nhà trên đồi, tôi gặp bà Lê Thị Em, 92 tuổi, và chính là gặp đúng một trong những đầu mối mà tôi cần tìm. Bà chỉ tay ra vạt đất cao phía trước nhà rồi kể, mấy năm trước, người ta đến xúc đất ở đó lên xe để chở đi làm đường ở nơi khác, làm lộ ra phần mộ của ông Eugène Poilane.

 

Lúc đó, anh Võ Văn Chương, cháu ngoại của bà, đã bốc hài cốt ông Eugène Poilane để an táng ở vị trí mới cạnh đó, bên bụi tre. Theo hướng bà chỉ, tôi lẩn qua mấy hàng cây cao, vòng đi vòng lại mới tìm ra bụi tre và thấy mộ ông Eugène Poilane. Mộ không có nấm, nằm chìm với mặt đất, chỉ có hàng gạch xếp xung quanh mộ theo hình chữ nhật, trước mộ có đặt một cái bình và một cái dĩa nhưng không hương, không hoa, cho thấy đây là một ngôi mộ vắng chủ. Được bà Em cho biết, chị Hồ Thị Lựu (vợ anh Võ Văn Chương) đang mở quán giải khát bên bờ hồ Khe Sanh là người biết chuyện bốc mộ này, tôi tìm ra quán gặp chị. Tôi làm khách uống nước ngọt giải khát để vừa đỡ mệt, vừa tiện bắt chuyện với chị. Khi tôi hỏi chuyện bốc mộ ông Eugène Poilane, chị Lựu mở máy điện thoại di động của chị cho tôi xem ba tấm ảnh chụp cái tiểu sành đựng hài cốt ông Eugène Poilane. Do bị phân hủy bởi thời gian, hài cốt chỉ còn mấy mẩu xương ống, xương mụn, riêng một hàm răng giả gần như còn nguyên, có những chiếc răng mạ vàng. 

 


Ông Eugène Poilane (1888-1964), nhà thực vật học Pháp, người trồng cà phê đầu tiên tại Khe Sanh, Quảng Trị.


Thời điểm chụp được ghi ở góc bên phải ba tấm ảnh này là ngày 22.11.2021, cho biết ngày bốc mộ ông Eugène Poilane chính là ngày này, khoảnh khắc chụp là buổi trưa. Chị Lựu chia sẻ thêm: “Ông nội chồng tôi đã viết một bản chép tay về chuyện đời ông Eugène Poilane, giao cho vợ chồng tôi cất giữ, phòng khi có người cần hỏi đến”. Bất ngờ trước thông tin này, tôi nhờ chị dẫn đường tới nhà ông Võ Văn Thương, ông nội chồng chị ở khóm 3b, thị trấn Khe Sanh, chị vui vẻ nhận lời. Khi tôi và chị Lựu đến, lúc gần trưa, ông Thương đi vắng. Buổi chiều tôi lại tìm đến, ông Thương có nhà. Ông Thương nay đã 89 tuổi nhưng trông còn khoẻ và minh mẫn. Trong thời gian từ năm 1941 đến 1945, cha mẹ ông đã đến làm thuê trong đồn điền cà phê của ông Eugène Poilane. Ông đã sống với cha mẹ tại đồn điền này từ lúc ông mới 5 tuổi đến 9 tuổi. Khi lớn lên, không sống trong đồn điền này nữa, thỉnh thoảng, ông vẫn đến nhà ông Eugène Poilane chơi. Ông Thương là một nhân chứng sống hiếm hoi còn lại về cuộc đời ông Eugène Poilane cũng như về 100 năm cà phê Khe Sanh. Xem qua bản chép tay vắn tắt (non trang rưỡi giấy khổ nhỏ) của ông Thương viết về đời ông Eugène Poilane, tôi muốn ông Thương kể thêm những “ký ức sống” về chuyện người khởi nguồn cà phê Khe Sanh. 

Ông Thương kể ngọn ngành: “Năm 1926, ông Eugène Poilane đến trồng cà phê tại Khe Sanh. Nhà ông dựng sau quán nhà bà Hoa, bên cầu Khe Sanh hiện nay. Nhà 1 tầng, dài khoảng 80 m. Sau nhà có con suối chảy qua. Còn vạt đất nằm phía trên nhà bà Em hiện nay là địa điểm sân phơi cà phê và nhà kho của ông Eugène Poilane ngày trước. Ông có bà vợ đầu là người Pháp (tên là Mlle Yvonne Bourdeauducq – chú thích của người viết), có 3 con, 2 gái 1 trai. Hai con gái tên là Yvon Poilane và Yranh Poilane. Con trai tên là Félix Poilane, chết năm 1968 vì bị đạn pháo tại sân bay Tà Cơn. Ông và vợ đầu sau đó đã ly dị. Vợ thứ hai tên là Ba, quê ở Vĩnh Linh, Quảng Trị, có 2 con gái là Ma ghi (Marguerite) và Ty ty. Vợ thứ ba là bà Đặng Thị Nam (tài liệu của Pháp viết là Dong Thi Nam – chú thích của người viết), người Tày, người Thổ gì đó, ở ngoài Bắc, Lạng Sơn, Cao Bằng, có con trai tên là Răng, chơi với tôi hồi nhỏ, các con sau thì tôi không nhớ. Cuối đời, ông sống với bà Đặng Thị Nam tại đồn điền gần cầu Khe Sanh”. Từ lời kể của ông Thương về bà Đặng Thị Nam, sau đó, tôi đã liên hệ, đối chiếu khi đọc bài viết “Các loài cây ăn quả ở Đông Dương” của Eugène Poilane trên Journal d’agriculture tropicale et de botanique appliquée (Tạp chí Nông nghiệp Nhiệt đới và Thực vật học Ứng dụng, Pháp), số 11, tháng 11.1965 (bài có trong Thư viện học thuật Persée, Pháp: https://www.persee.fr), có đoạn, khi viết về cây mận, Eugène Poilane cho biết: “Vợ tôi – quê ở Thất Khê – nói rằng người vùng đó nhân giống mận bằng chồi rễ”, chứng tỏ, bà Đặng Thị Nam quê ở thị trấn Thất Khê, huyện Tràng Định (cũ), tỉnh Lạng Sơn."

Ông Thương kể tiếp: 

"Ngày 20.4.1964, ông Eugène Poilane bị bắn chết khi đang ngồi trong xe ô tô Citroën màu vàng của ông chạy trên đường 9. Ông là nạn nhân của chiến tranh. Ông bị bắn, có thể do bị nhầm là người Mỹ. Ông Thương lúc này 28 tuổi đã đi đưa tang ông Eugène Poilane, nhớ lại: “Tôi có đi theo đưa đám. Họ gánh đi, mình chạy theo. Quan tài ông ngoài là gỗ, trong là thiếc, hai lớp. Ông được an táng tại vườn gần nhà, gần cầu Khe Sanh. Sau khi đất nước thống nhất, con ông có về tìm mộ nhưng không tìm được. Ngày 24.12.2024, có người cháu của ông Eugène Poilane về gặp tôi. Tôi đưa người cháu này lên viếng mộ ông Eugène Poilane. Người cháu này đã thắp hương và lạy như người mình vậy đó”. 


Christian (phải) và ông Võ Văn Thương tại Khe Sanh, năm 2024

(Ảnh từ FaceBook của tác giả Nguyễn Hoàn)


Theo ông Thương chỉ dẫn, tôi đã đến chỗ vạt đất phía sau quán bà Hoa (232, Lê Duẩn, Khe Sanh), địa điểm nhà ông Eugène Poilane ngày trước. Chỉ thấy những hàng tre, những lùm cây xanh um tùm, những cây chuối mọc hoang và miên man cỏ dại. Dưới cây cầu bê tông nhỏ bắc ngang, con suối hoang vu chảy qua lặng lẽ tháng năm.

 

Ngoài nguồn ký ức nhân chứng sống và đi thực địa, tôi tìm thêm dấu tích về ông Eugène Poilane trong các tư liệu của Pháp và Hoa Kỳ. OpenEdition Journals là nền tảng xuất bản học thuật trực tuyến có uy tín tại Pháp, chuyên lưu trữ và phát hành các tạp chí khoa học đa ngành, trong đó có tạp chí Revue d’ethnoécologie (Sinh thái học nhân văn). Số 20 năm 2021 của tạp chí này đã đăng bài “Cuộc đời và sự nghiệp của Eugène Poilane (1888-1964)” của Ariadna Burgos và Benoît Carré. Số này còn đăng bài “Bối cảnh xã hội - văn hoá và sinh thái của rừng ngập mặn Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XX theo Eugène Poilane” của Ariadna Burgos, Benoît Carré, Françoise Aubaile-Sallenave và Sovanmoly Hul. Thư viện học thuật Persée, Pháp (đã dẫn trên) có lưu trữ một số bài viết về Eugène Poilane và bài viết của Eugène Poilane.

 

Trang web https://ncbg.unc.edu của Vườn Thực vật Bắc Carolina, thuộc Đại học Bắc Carolina, Hoa Kỳ đã đăng bài giới thiệu về các mẫu nấm và thực vật có mạch do Poilane thu thập, hiện được lưu giữ tại kho lưu trữ của Đại học Bắc Carolina… Theo các tư liệu này, ông Eugène Poilane sinh ngày 16.3.1888 tại Pháp, trong một gia đình nông dân rất nghèo. Ông đã sớm nuôi mộng về những cuộc phiêu lưu và khám phá thế giới. Dù thể trạng yếu, năm 19 tuổi, ông đã nhập ngũ, tham gia Trung đoàn pháo binh thuộc địa số 3 tại Toulon. Năm 1909, ông sang Nam Kỳ, làm việc tại Pháo đội số 7 miền núi, sau đó là tại Xưởng hỏa khí Sài Gòn.

 

Năm 1914, ông gia nhập một đơn vị hạ sĩ quan và nhận nhiệm vụ trồng thầu dầu. Thường xuyên đến Vườn Bách thảo Sài Gòn, năm 1918, ông đã có cuộc gặp gỡ “định mệnh” với Auguste Chevalier (1873-1956), một nhà thực vật học Pháp kỳ cựu sang Việt Nam để thành lập Viện Khoa học Sài Gòn. Nhận ra thiên hướng ưa quan sát và yêu thiên nhiên của Eugène Poilane, Auguste Chevalier đã xin cho Eugène Poilane được chuyển về làm việc tại Viện Khoa học Sài Gòn. Auguste Chevalier đã dạy Eugène Poilane cách thu thập mẫu thực vật, ghi chú chi tiết rồi gửi về Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Quốc gia Pháp ở Paris (MNHN) để xử lý, phân loại, đưa vào nghiên cứu. Từ năm 1919, Eugène Poilane trở thành nhà khảo sát thực vật, năm 1922 làm nhân viên kiểm lâm và từ năm 1928 làm cộng tác viên chính thức của MNHN.

 

 Cà phê Khe Sanh


Đến Khe Sanh lần đầu năm 1918, Eugène Poilane bị mê hoặc bởi thảm thực vật tươi tốt ở đây và cho rằng đất đỏ ở đây tuyệt vời như đất ở Tuscany, nước Ý. Năm 1926, ông quay lại Khe Sanh để trồng những cây cà phê Chari đầu tiên xuống mảnh đất này. Ông đã đi nhiều nơi ở Việt Nam và Đông Dương để khảo sát, sưu tập thực vật và tìm hiểu hệ sinh thái rừng ngập mặn. Rất nhiều loài động thực vật đã được đặt theo tên ông: poilaneana, poilanei, poilanii và hai chi mới: Poilania (thuộc họ Cúc – Asteraceae) và Poilaniella (thuộc họ Thầu dầu – Euphorbiaceae). Theo cơ sở dữ liệu của MNHN, ước tính có 20 đến 30% mẫu vật trong bộ sưu tập của Eugène Poilane là tiêu bản định danh (types nomenclaturaux), tức là những mẫu chuẩn gắn liền vĩnh viễn với tên khoa học của các loài.

 

Trong một bản thảo do ông viết, ông bày tỏ rằng, Việt Nam là “đất nước mà tôi yêu quý và coi là của mình, tôi không còn là người Pháp, mà là người Đông Dương”. Ông từng thổ lộ rằng, khi lìa đời, ông muốn được chôn cất, với tư thế đứng thẳng, trên núi ở vùng Khe Sanh. Ông ngưỡng mộ Alexandre Yersin, bác sĩ, nhà vi khuẩn học và nhà thám hiểm người Pháp gốc Thuỵ Sĩ ở tinh thần say mê khám phá tự nhiên giống như ông: “Tôi biết khá rõ bác sĩ Yersin, người có tiếng là khắc khổ, tiết độ, mộc mạc và bền bỉ hiếm thấy, rất cứng rắn”.

 

Auguste Chevalier, người thầy của Eugène Poilane, đã đánh giá cao về học trò của mình: “Một trong những niềm tự hào của cuộc đời tôi là đã phát hiện ra con người can đảm này và biến ông thành người học trò xuất sắc của mình… Khi bắt đầu cộng tác với chúng tôi vào năm 1919, ông mới chỉ khoảng 30 tuổi, khỏe mạnh và đầy khí thế. Và quả thực, ba mươi năm sống tại Viễn Đông, trong đó có gần hai mươi năm liên tục băng rừng, leo núi, gần như không ngơi nghỉ, cũng không hề làm ông nản chí. Sốt rét và lỵ mạn tính cũng không thể cản bước ông.

 

Các chuyến đi của ông tổng cộng dài đến hàng chục nghìn cây số, phần lớn được thực hiện bằng đường bộ và thường là trong những vùng hiểm trở, đầy thú dữ như hổ, nơi mà chưa một nhà tự nhiên học nào từng đặt chân đến. Ông đã lần lượt thám hiểm toàn bộ Đông Dương: từ Nam Kỳ đến Cao Miên, từ An Nam, Lào đến Bắc Kỳ. Ông là một trong những người đầu tiên chinh phục đỉnh Phan-xi-păng (cao 3.200 m), điểm cao nhất Đông Dương, cũng như các dãy núi xung quanh. Năm 1935, ông đã từ Lào Cai đi bộ dọc theo biên giới Trung Hoa đến sông Mêkông, băng qua vùng “vô chủ” cực kỳ hiểm trở.

 

Những chuyến đi đó đã mang lại số lượng phát hiện thực vật vô cùng phong phú” (“Những khả năng phát triển cây ăn quả ở Bắc Đông Dương theo các cuộc thám sát và thử nghiệm của R. Miéville và E. Poilane, Ghi chú của ông Auguste Chevalier”, đăng trên tạp chí Revue de botanique appliquée et d’agriculture coloniale (tạp chí Thực vật học ứng dụng và Nông nghiệp thuộc địa), số 251-253, năm thứ 22, tháng 7-9 năm 1942, trang 363-391, bài có trong Thư viện học thuật Persée, Pháp).

 

Eugène Poilane đã để lại 50.000 tấm tiêu bản thực vật, hai sổ tay ghi chép thu thập được ghi chú cẩn thận (Poilane 1919, 1922), hai bản thảo: “Ghi chép của một người nông dân” (không ghi năm) dài 428 trang và “Hồi ký của tôi” (Poilane 1947-1950) dài 46 trang; chín quyển sổ học sinh viết tay (không ghi năm), nhiều thư từ, cùng các “buổi trò chuyện gia đình” được trình bày thành những câu chuyện nhằm nâng cao nhận thức cho người dân địa phương về cách xây dựng làng mạc hoặc phòng chống nạn cháy rừng.

 

Trong hồi ký của mình, Eugène Poilane đã bày tỏ niềm tôn kính đặc biệt dành cho thiên nhiên: “Người Công giáo tin vào một vị thần mà họ định danh, còn tôi ngưỡng mộ một tổ chức mà vì không biết rõ hơn nên tôi gọi là Bà mẹ thiên nhiên”. Gần trăm năm nay, kể từ ngày Eugène Poilane trồng lên những cây cà phê đầu tiên ở Khe Sanh, Bà mẹ thiên nhiên ở đây đã tạo nên hương vị cà phê Khe Sanh ngon nức tiếng trong nước và lan toả ra nước ngoài. Một chỉ dẫn địa lý đã được xây dựng cho cà phê Khe Sanh.

 

Năm 2026, tỉnh Quảng Trị tổ chức Lễ hội Vì Hòa bình lần thứ hai. Đây cũng là dịp tròn 100 năm hình thành và phát triển vùng cà phê Khe Sanh (1926 – 2026). Còn gì ứng hợp bằng việc đưa các hoạt động kỷ niệm 100 năm cà phê Khe Sanh vào chương trình khung của Lễ hội Vì Hòa bình, như một lời tạ ơn đối với Bà mẹ Thiên nhiên mà Eugène Poilane từng ngưỡng mộ; đồng thời ghi nhận những đóng góp của ông trong việc tìm kiếm, khảo nghiệm và hình thành vùng trồng cà phê ở Khe Sanh; tôn vinh những người trồng, chế biến, kinh doanh cà phê – những người đã chung tay phát triển cà phê trên “miền đất quả vàng” Hướng Hoá (cũ), làm nên thương hiệu cà phê Khe Sanh nức tiếng hôm nay. Đó là một thương hiệu không chỉ mang giá trị kinh tế mà còn chứa đựng ký ức lịch sử, sức sống của núi rừng và khát vọng hòa bình. Từ chiến địa khốc liệt năm xưa, Khe Sanh hôm nay đang trở thành điểm đến của hòa bình, hợp tác và phát triển. Vì thế, tour du lịch cà phê Khe Sanh đã chọn slogan mang thông điệp nhân văn sâu sắc: “Make coffee, not war” (Pha cà phê chứ không phải chiến tranh). Cà phê Khe Sanh, cà phê của hòa bình! Cà phê Khe Sanh, cà phê của thịnh vượng, mai này!

 

NGUYỄN HOÀN

Nguồn:

https://vanhocsaigon.com/but-ky-cua-nguyen-hoan-eugene-poilane-nguoi-trong-ca-phe-dau-tien-o-khe-sanh/

Được tác giả cho phép đăng lại.

READ MORE - EUGÈNE POILANE - NGƯỜI TRỒNG CÀ PHÊ ĐẦU TIÊN Ở KHE SANH - Bút ký của Nguyễn Hoàn

Saturday, July 11, 2026

ĐÈO SA MÙ BÊN TRƯỜNG SƠN TÂY - Đình Nhu



ĐÈO SA MÙ BÊN TRƯỜNG SƠN TÂY

Đình Nhu

 

Trên nhánh Tây của đường Hồ Chí Minh đoạn Khe Gát-Khe Sanh có một con đèo được coi là cao nhất, hiểm trở nhất và cũng ngoạn mục nhất, nằm cách Khe Sanh gần 30 cây số về phía bắc và cách Khe Gát khoảng 200 cây số về phía nam.

 Đó là Sa Mù, cao hơn 1400 m!

Tầm đầu những năm 2000, khi tuyến này đang thi công mình đã lên đây. Nhớ mãi cuộc trò chuyện trong mây với anh em công nhân, cách chục mét chỉ thấy bóng, không rõ mặt: “Bọn em ở đây 3 tháng chưa thấy mặt trời, 3 tháng quần áo giặt không khô.”




Bây giờ quay lại, khi Huế, Đông Hà nóng 36-37 độ thì lên đây giảm còn 23 độ, mát như đang ở Sa Pa hay Đà Lạt vậy…

Xin nói thêm rằng, cũng như đoạn qua hầm A Roàng từ A Lưới (Huế) đi Thạnh Mỹ (Đà Nẵng), thời chiến tranh, ô tô không thể vượt Sa Mù bởi núi quá cao và hiểm trở, chỉ là lối mòn cho người gùi cõng, còn xe cơ giới thì phải vòng sang đất Lào mấy chục cây số.

Chiếu theo Hiệp định Giơ-ne-vơ (1954), sông Sê-băng-hiêng làm giới tuyến phía tây Trường Sơn nên huyện Hướng Hoá phần lớn nằm ở bờ nam, chỉ có xã Hướng Lập cắt ra miền Bắc. Cũng như giới tuyến sông Bến Hải bên đông Trường Sơn, huyện Vĩnh Linh phần lớn nằm ở bờ bắc, chỉ xã Vĩnh Liêm cắt vào miền Nam. Có lẽ vậy mà dù cũng nằm trên Trường Sơn nhưng người Quảng Trị không nói “lên” mà là “ra” Hướng Lập - Cù Bai. Mãi đến những năm 1990, vùng đất bên kia đèo Sa Mù vẫn là nơi xa xôi cách trở nhất của tỉnh Quảng Trị.

Mình nhớ hồi đó, mỗi khi có ca cấp cứu. dù là dân bản hay lính đồn, thì bộ đội biên phòng đều gọi xe Gat-66 của Sở chỉ huy chạy từ Đông Hà lên, trên này thì cử anh em khiêng người lội qua sông Sê-băng-hiêng, vượt đèo Sa Mù mà chạy bộ về. Nhiều bữa xe từ Đông Hà (cách gần trăm cây số) đã tới chờ dưới chân đèo rồi mà cáng vượt Sa Mù vẫn chưa đến. Cũng có những khi cáng chưa qua hết Sa Mù thì bệnh nhân đã tắt thở. Còn trúng khi mưa lũ thì đành bó tay…

Ngày ấy, các đoàn công tác quan trọng ra Hướng Lập - Cù Bai đều phải “mượn” đường bạn Lào mà đi, vô cùng bất tiện.

Chỉ đến cuối những năm 1990, khi Bộ trưởng Quốc phòng Đoàn Khuê, Đại biểu Quốc hội tại Quảng Trị, mấy lần thực địa Cù Bai thì mới cho đầu tư đoạn đường tuần tra cơ giới vượt Sa Mù. Con đường này về sau trở thành một đoạn trong nhánh Tây của đường Hồ Chí Minh ngày nay.




Giờ đèo Sa Mù bên Tây Trường Sơn là một cung phượt hấp dẫn không chỉ với giới trẻ mà cả với lớp già như mình. Ở đó không chỉ có thiên nhiên hoang sơ, hùng vĩ mà còn biết bao địa danh huyền thoại của một thời cha ông xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước.


Đình Nhu

https://www.facebook.com/dinh.nhu.3720


READ MORE - ĐÈO SA MÙ BÊN TRƯỜNG SƠN TÂY - Đình Nhu

Monday, March 17, 2025

ĐƯỜNG VÀO THỊ XÃ VÙNG BIÊN - Bút ký Vĩnh Thông

 Có thể thấy, Tịnh Biên là chốn hội tụ của tất cả những gì tích cực lẫn tiêu cực, thiện lẫn ác, đẹp lẫn xấu - “thánh địa” của các tín đồ tôn giáo nhưng “chiến địa” của những tù nhân bị đi đày. Người Việt, Khmer, Hoa, Pháp tìm đến với những mục đích khác nhau, nhưng đều có những vai trò nhứt định trong tiến trình lịch sử của xứ sở nầy. Tất cả trở thành người thiên cổ, nhưng họ đã để lại cho đời sau một Tịnh Biên - vùng biên giới bình yên vững chải ở cuối trời Tây Nam.




ĐƯỜNG VÀO THỊ XÃ VÙNG BIÊN

Bút ký Vĩnh Thông


    Tháng 4 năm 2023, An Giang có thêm một thị xã mới: Tịnh Biên. Đây là thị xã biên giới thứ hai của tỉnh, cùng với Tân Châu đã trở thành thị xã vào năm 2009, nếu không nói xa hơn là Châu Đốc trước khi trở thành thành phố vào năm 2013 đã từng là thị xã biên giới. Song, Tịnh Biên là một trường hợp rất khác biệt. Bởi, không như Châu Đốc và Tân Châu vốn là phố thị truyền thống từ buổi đầu khai phá, Tịnh Biên thuở ban sơ được xem như chốn “sơn cùng thủy tận” cuối trời Tây Nam đất nước. Có lẽ ít ai ngờ, chốn ấy lại trở thành đô thị sung túc và giàu tiềm năng phát triển trong tương lai.


Tác giả Vĩnh Thông

    Nằm trong vùng Thất Sơn, Tịnh Biên hiện nay là địa phương có nhiều núi nhứt ở An Giang, với 19 núi trong tổng số 37 núi trên địa bàn tỉnh (trong khi đó hai huyện kế cận là Tri Tôn có 7 núi và Thoại Sơn có 9 núi). Có lẽ, đây cũng là đơn vị hành chánh cấp huyện có nhiều núi nhứt ở Tây Nam Bộ. Ngoài núi Cấm được nhiều người biết đến là ngọn núi cao nhứt đồng bằng sông Cửu Long với độ cao 716 mét, thị xã còn sở hữu nhiều ngọn núi nổi tiếng khác như núi Trà Sư, núi Kéc, [1] núi Dài Năm Giếng, núi Đất, núi Cậu, núi Phú Cường (Tà Béc), núi Bà Đắt, núi Bà Đội Om, núi Voi (Bà Khẹt)… Đặc điểm đó cũng là một trong những lý do khiến Tịnh Biên được khai phá trễ hơn các nơi khác ở phương Nam. Bởi, trong mắt những lưu dân vốn quen thuộc với đồng bằng, vùng đồi núi là một khung cảnh lạ lẫm, bí ẩn, nguy hiểm…

        Bên cạnh đó, thiên nhiên quá khắc nghiệt. Mùa nước nổi, mấy hòn núi cứ như cũng nổi lên trơ trọi giữa biển nước mênh mông không thấy bến bờ. Khi những nơi đất thấp đã bị ngập, cư dân chỉ có thể co cụm trên các đồi núi cao ráo, nhưng nơi ấy lại không thuận lợi cho canh tác nông nghiệp. Đến mùa khô, những cánh đồng cỏ dại cằn cỗi trải bạt ngàn dưới chân núi như vô tận, thiếu nước trở thành thực trạng triền miên. Giai thoại dân gian về ngọn núi Bà Đội Om đã phần nào phản ánh tình cảnh nầy. Câu chuyện đại khái là một người phụ nữ hằng ngày đội cà om [2] trên đầu, lên núi tìm nước suối mang về cho gia đình sử dụng vào mùa khô, về sau hóa đá. Có thể nói, những điều kiện thời tiết của Tịnh Biên ngày xưa quả đúng như câu nói mà dân gian Việt Nam thường ví von: “Chó ăn đá, gà ăn sỏi.”

    Đâu chỉ vậy, từ thời mở cõi, vùng biên địa nầy thường xuyên bị giặc Xiêm sang đánh phá. Năm 1757, vua Chân Lạp là Nặc Tôn cắt vùng đất Tầm Phong Long dâng cho chúa Đàng Trong là Nguyễn Phước Khoát, trong đó có địa bàn An Giang ngày nay. Đến năm 1867, An Giang bị Pháp chiếm. Vậy mà trong 110 năm ấy, An Giang có ba lần bị giặc Xiêm gây chiến, mà Tịnh Biên là chiến trường ác liệt, đó là vào các năm 1771 - 1772, 1883 - 1884, 1842 - 1845. Phải chăng, cái tên Tịnh Biên được ra đời từ ước mơ của tiền nhân về một vùng biên giới bình yên?

    Với địa hình hiểm trở, thời tiết khắc nghiệt, thường xuyên bị giặc giã, lại gặp nhiều thú dữ… như vừa nêu, vùng đất nầy không phải là ưu tiên hàng đầu của lưu dân trong quá trình khai phá phương Nam. Trái lại, đó là lựa chọn sau cùng, khi không còn nơi nào khác tốt hơn. Người tìm đến xứ Bảy Núi rất phức tạp. Có người thiện, đó là những cao nhân thoát tục, ẩn sĩ lánh đời, tìm kiếm “thánh địa” để tu hành. Có kẻ ác, đó là những tướng cướp, giới giang hồ, thành phần chống triều đình, tìm kiếm nơi hoang vu đóng “bản doanh”. Ở giữa hai thái cực đó là những nông dân lầm than, lâm vào cảnh khốn cùng, đành phó mặc cho cuộc thế đẩy đưa. Thậm chí, đây cũng là nơi triều đình thi hành án biệt xứ dành cho những phạm nhân mắc tội đày ra biên ải. Tóm lại, cư dân đi khẩn hoang theo quy luật “đất lành chim đậu”, trong khi đó Thất Sơn thật sự là “miền đất dữ”!

    Quả vậy, trong các thư tịch vào triều vua Gia Long, chúng ta không tìm thấy tên thôn ấp ở vùng Thất Sơn được ghi chép, mặc dù vẫn ghi nhận là có dân cư sinh sống ở nơi đây. Thời điểm nầy, lưu dân phần lớn khai phá dọc theo hai bên bờ sông Tiền và sông Hậu. Dãy đồi núi hoang dã phía biên giới Tây Nam vẫn là nơi sơn lam chướng khí mà ít có ai dám bén mảng tới. Năm 1824, kinh Vĩnh Tế ra đời, nối Châu Đốc với Hà Tiên, trong đó có một phần lớn đi ngang qua vùng Thất Sơn. Từ đây, ghe thuyền tấp nập ngược xuôi, góp phần đưa miền biên viễn dần trở nên bớt hoang vu, dân cư bắt đầu tìm đến lập nghiệp.

    Dưới triều vua Minh Mạng, trên địa bàn tương ứng với thị xã Tịnh Biên ngày nay, một số thôn ấp đầu tiên đã xuất hiện như Nhơn Hòa, Vĩnh Thạnh, An Thạnh, An Nông, Phú Cường, Vĩnh Trung. Năm 1839, phủ Tịnh Biên [3] thuộc tỉnh Hà Tiên được thành lập, bao gồm hai huyện là Hà Âm (bờ Bắc kinh Vĩnh Tế) và Hà Dương (bờ Nam kinh Vĩnh Tế). Năm 1842, dưới triều vua Thiệu Trị, phủ Tịnh Biên sáp nhập vào tỉnh An Giang.

    Để quy tụ dân cư về sinh sống ở vùng đồi núi hoang vu nầy, triều vua Tự Đức có những chính sách khuyến khích khẩn hoang, hình thành đồn điền. Đặc biệt, những tù nhân được đưa đến An Giang khai khẩn như một hình thức xử phạt, nhưng nhờ vậy góp phần vào công cuộc sản xuất lúa gạo, đồng thời là thành phần đắc lực khi biên giới có chiến sự. Sau gần hai thập kỷ, số thôn ấp và số dân cư gia tăng rõ rệt, tình hình sản xuất nông nghiệp phát triển hơn, sản lượng lúa cũng nâng cao.

    Ngoài ra, một phong trào khẩn hoang khác rất đáng chú ý, đó là trại ruộng của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương. Tôn giáo bản địa nầy ra đời ở An Giang vào năm 1849 do Đoàn Minh Huyên (Đức Phật Thầy Tây An) sáng lập. Ông rao giảng thuyết Tận thế, khi đó đời Hạ nguơn chấm dứt, hội Long Hoa được mở ra ở Thất Sơn để thiết lập đời sống mới Thượng nguơn. Năm 1851, ông và các đại đệ tử hướng dẫn tín đồ đến khai hoang dưới chân núi Kéc với mô hình trại ruộng, đó là nơi các tín đồ vừa canh tác, vừa tu hành. Từ đây, hai ngôi làng đã ra đời là Hưng Thới và Xuân Sơn, năm 1890 sáp nhập thành Thới Sơn đến nay.

    Ngoài người Việt (Kinh), người Khmer và người Hoa cũng là những chủ thể văn hóa của Tịnh Biên. Người Khmer đã định cư lâu đời ở Tịnh Biên và hiện nay chiếm gần 30% dân số toàn thị xã. Dọc theo những cung đường vòng quanh thị xã, chúng ta sẽ bắt gặp những ngôi chùa Khmer lộng lẫy nối tiếp nhau, góp phần tô điểm cho hương sắc văn hóa vùng Thất Sơn. Bên cạnh đó, nhiều địa danh ở Tịnh Biên bắt nguồn từ tiếng Khmer như hồ Ô Tức Sa, kinh Tha La, núi Tà Béc, doi Bà Khẹt, đường Cà Hom, ấp Mằng Rò… Đặc biệt, người Khmer đã mang đến vùng biên giới An Giang một thực hành văn hóa độc đáo mà không nơi nào có được, đó là hội Đua bò Bảy Núi - Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

    Người Hoa ở Tịnh Biên xưa đa phần thuộc nhóm Triều Châu (Tiều), xen lẫn một số ít thuộc nhóm Khách Gia (Hẹ). Họ cư trú đông đảo ở chợ Nhà Bàn [4] và chợ Tịnh Biên, sống bằng nghề buôn bán nhỏ, ẩm thực, thuốc Bắc… Ngày nay, dù di tích của người Hoa ở Tịnh Biên không còn nhiều, nhưng văn hóa của họ đã để lại những dấu ấn không hề nhỏ trong dòng chảy văn hóa địa phương. Chẳng hạn lễ Thanh minh hằng năm, con đường từ Nhà Bàn vào Tịnh Biên luôn tấp nập những đoàn người tay xách nách mang nào nhang đèn, hoa quả, nào trà bánh, rượu thịt… Khi đó, những sườn núi trở nên tấp nập hẳn, đối lập với khung cảnh cô tịch thường ngày, người chết và kẻ sống dường như hội tụ trong một không gian vừa linh thiêng, huyền ảo, vừa ấm cúng, chân tình.

    Năm 1867, người Pháp đến. Dĩ nhiên mục đích của họ là khai thác thuộc, tuy vậy để phục vụ cho công việc đó, họ đã xây dựng nhiều công trình có ích lợi cho dân sinh. Đó là điều mà chúng ta không thể phủ nhận. Theo ghi nhận của người Pháp, khi họ đến, vùng Bảy Núi có một số tuyến đường mòn có thể đi xe ngựa như Nhà Bàn - Nhơn Hưng, Nhà Bàn - Tịnh Biên, Nhà Bàn - Vĩnh Trung - Tri Tôn, Tịnh Biên - Ba Chúc… Sau đó, chúng được họ tiếp tục nâng cấp. Trong đó, con lộ huyết mạch Núi Sam - Nhà Bàn được thi công vào năm 1893. Tất cả những tuyến đường nầy đến nay đều là tuyến đường quan trọng của thị xã Tịnh Biên.

    Đặc biệt, Pháp xây dựng một công trình thủy lợi quan trọng trên kinh Vĩnh Tế mà ngày nay hiếm còn ai biết đến, đó là bửng Cây Mít. “Bửng” là từ địa phương, có nghĩa là đập ngăn nước. Cây Mít là địa danh, có người nói là vùng đất có nhiều mít, lại có người cho rằng nói trại từ Cai Mít là ông Cai tên Mít ở trong làng, còn bản đồ do Pháp vẽ năm 1878 ghi địa danh nầy là “Cai Mich”. Một công trình tương tự cũng được xây dựng trên đoạn kinh Vĩnh Tế qua huyện Giang Thành (tỉnh Kiên Giang), đó là bửng Đầm Chít.

    Bửng Cây Mít có tác dụng ngăn nước mặn từ Hà Tiên chảy ngược về vào mùa khô và xả bớt nước sông Cửu Long ra biển Tây vào mùa nước nổi. Ở đây, bửng chắn lại dòng chảy của kinh, bên dưới lắp những cánh cửa có thể chuyển động. Bờ bên kia, họ đào thêm một dòng nước nhỏ hình cung, để ghe xuồng di chuyển qua dòng nước phụ nầy. Tuy nhiên giờ đây, tất cả chỉ còn là phế tích, với trụ đá lớn đổ vỡ sát mé kinh, và bao thứ gì khác nữa nằm dưới lòng nước, như câu thơ của Bà Huyện Thanh Quan: “Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt / Nước còn chau mặt với tang thương.”

    Hai trăm năm đi qua, có lẽ không là gì so với chặng đường hàng ngàn năm của đất nước. Song với ngần ấy thời gian, miền cương thổ Tịnh Biên đã trải qua nhiều biến động. Thử vẽ lại bức tranh vùng núi đồi Thất Sơn thời xa xăm, chúng ta thấy vài con đường mòn, dăm nóc nhà thưa thớt, xung quanh là rừng rậm hoang vu, thú dữ có thể xuất hiện bất cứ lúc nào, giặc ngoại xâm thường xuyên lăm le biên giới… Nhìn chung, bao hiểm nguy từ thiên nhiên luôn rình rập trước cánh cửa nhỏ của những căn nhà đơn sơ. Do vậy, người dân đến khai hoang nơi đây, dù dưới sự chỉ đạo của triều đình, tôn giáo, hay tự phát thì đều là công việc đầy khó khăn.

    Nhưng trái lại ở đây, con người dễ dàng cảm nhận một nếp sống bình yên, gần gũi với thiên nhiên, có thi vị, thậm chí là thoát tục. Trong tác phẩm Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca (xuất bản năm 1909), Nguyễn Liên Phong cũng nhận định: “Thất Sơn hòn dọc hòn ngang / Nói sao cho xiết cả ngàn phong cương.” Người ta đến với miền biên giới bằng tinh thần lạc quan, không chỉ tin tưởng vào những huê lợi mà núi rừng có thể cung cấp, mà còn tin tưởng về sự “đổi đời” với cuộc sống mới trong tương lai đầy sung túc. Niềm lạc quan đó giúp con người có thể đối mặt với những chông gai, cạm bẫy, chết chóc…

    Có thể thấy, Tịnh Biên là chốn hội tụ của tất cả những gì tích cực lẫn tiêu cực, thiện lẫn ác, đẹp lẫn xấu - “thánh địa” của các tín đồ tôn giáo nhưng “chiến địa” của những tù nhân bị đi đày. Người Việt, Khmer, Hoa, Pháp tìm đến với những mục đích khác nhau, nhưng đều có những vai trò nhứt định trong tiến trình lịch sử của xứ sở nầy. Tất cả trở thành người thiên cổ, nhưng họ đã để lại cho đời sau một Tịnh Biên - vùng biên giới bình yên vững chải ở cuối trời Tây Nam.

    Ngày nay, không chỉ có cảnh trí độc đáo là thế mạnh của vùng đất này, mà Tịnh Biên còn có nhiều di tích, đặc sản và lễ hội vô cùng hấp dẫn. Núi Cấm, rừng tràm Trà Sư, trại ruộng Thới Sơn, miễu Bà Chúa Xứ Bàu Mướp… là những điểm đến luôn thu hút đông đảo du khách quanh năm. Những lễ hội đầy màu sắc của cộng đồng Khmer như Chôl Chnăm Thmây, Sen Đôn-ta, Óc Om-bóc, hội Đua bò Bảy Núi… khiến vùng núi rừng Thất Sơn trở nên sống động trong mắt kẻ phương xa. Ngoài du lịch, kinh tế biên mậu với Cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên là động lực thúc đẩy là động lực thúc đẩy sự phát triển của thị xã Tịnh Biên nói riêng và tỉnh An Giang nói chung trong thời đại hội nhập.

    Con đường đến thị xã Tịnh Biên là con đường từ Châu Đốc vào Nhà Bàn, dài khoảng 30 cây số, nằm song song với kinh Vĩnh Tế. Song, nó không chỉ là con đường đơn thuần về mặt địa lý, mà còn là con đường lịch sử thăng trầm qua hai thế kỷ. Đó là con đường mà Thoại Ngọc Hầu và đoàn dân binh đào kinh Vĩnh Tế đã đi qua, Đức Phật Thầy Tây An và những tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương đã đi qua, vô số lưu dân đã đi qua. Đó là con đường mà người Việt đánh xe trâu chở nông cụ đi khai phá đất đồi núi, người Khmer lỉnh kỉnh chở hàng hóa trên xe ngựa ra chợ bán. Đó là con đường đầy trắc trở, gian khó, hiểm nguy… nhưng trên ấy chúng ta cũng dễ dàng bắt gặp sự hào hùng, bền bỉ, bao dung…

                                                  VĨNH THÔNG

                                          vinhthongst@gmail.com

*****

CHÚ THÍCH:

1. Trước nay tên núi được viết là “Két”, song về chính tả phải viết “Kéc” mới đúng. Chỉ có chim kéc là loài vẹt lớn, hoặc chim mòng két thuộc họ vịt, không có chim két. Do đó, chúng tôi viết là núi Kéc.

2. Chậu đựng nước bằng đất nung trong tiếng Khmer.

3. Tịnh Biên được thư tịch triều Nguyễn viết chữ Hán là “静邊”, trong đó chữ “静” có thể đọc là “Tịnh” hoặc “Tĩnh”. Các bản dịch chữ Quốc ngữ hiện nay thường viết là “Tĩnh Biên”, song theo chúng tôi, địa danh nầy từ xưa đã được gọi là Tịnh Biên và bảo lưu đến nay, chứ không có Tĩnh Biên.

4. Địa danh dân gian là Nhà Bàn, về sau viết nhầm thành Nhà Bàng và trở thành địa danh hành chánh. Do đó, chúng tôi viết Nhà Bàn khi nói về địa danh dân gian và Nhà Bàng khi nói về địa danh hành chánh.

 

READ MORE - ĐƯỜNG VÀO THỊ XÃ VÙNG BIÊN - Bút ký Vĩnh Thông

Saturday, December 21, 2024

CUỘC HẸN CUỐI TUẦN VỚI CÁC NÀNG “KIẾN” - Hoàng Thị Bích Hà

 


CUỘC HẸN CUỐI TUẦN 

VỚI CÁC NÀNG “KIẾN”

  

 Sáng thứ bảy, như đã hẹn mình và Ánh Loan (Phú Nhuận) tập trung tại nhà Thanh Hương (quận 1). Khung cảnh khu vực này thật đẹp. Phố xá sang chảnh lại có cảm giác yên bình. Khúc lộ Đặng  Dung là một con phố  như bao con phố trung tâm của SG nhà cửa san sát kiểu dáng đều rất đẹp. Cả dãy phố nhà nào cũng có một giàn hoa giấy hay những loại hoa gì đó đủ màu sắc, góp phần tạo nên vẻ đẹp, văn minh, thanh lịch, tao nhã cho khu phố này.

     Đứng trước cổng đang ngắm nhìn mặt dựng được thiết kế rất đẹp. Đang định thả hồn làm một bài thơ… hi..hi! …thì nghe hai nàng Thanh Hương và Ánh Loan kéo  về thực tại bằng nụ cười tươi như ánh ban mai:

     -Hello! 

    Rồi Thanh Hương dẫn đi tham quan căn nhà.

    Nhà Thanh Hương thiết kế với phong cách hiện đại, phù hợp và tiện nghi, xinh xắn, được thiết kế 4 tầng. Qua bàn tay của KTS tài hoa thì mọi chi tiết đều hợp lý đủ công năng sử dụng không thừa, không thiếu. và rất chill. 

    9h, ba chúng tôi lên xe về quận 2 thăm nhà nữ KTS Sương SA. Cũng là cái tên gắn bó với Công ty chuyên về thiết kế, thi công và trang trí nội thất do nàng làm quản lý.

    Về thăm nhà Ngọc Sương trong khu nhà phố đồng bộ cao cấp. Nàng thiết kế nội thất đẹp và sang trọng. Các vật liệu đều là hàng cao cấp, nhập khẩu từ châu Âu về và được sắp xếp hợp lý, thẩm mỹ, tạo nên một không gian đầy tính nghệ thuật. Mình như lạc vào một không gian trưng bày triển lãm nghệ thuật: những bức tranh những bức tượng cực kỳ tinh xảo, nàng sưu tầm hơn hai mươi năm. Quả là một tâm hồn đam mê nghệ thuật sắp đặt và hội họa tạo hình, trong một tâm hồn khoa học của một nữ KTS tài hoa. 

    Phòng ăn sang trọng, bày biện rất bắt mắt. Ngọc Sương đã chuẩn bị sẵn một nồi lẩu thập cẩm mà nàng đã đi chợ từ sớm mới mua được các nguyên liệu như ý: Ngoài bàn tay thiết kế của một KTS, tâm hồn nghệ sĩ của hội họa, nàng còn có khiếu nấu ăn.
    Trên bàn ăn, nồi lẩu chuẩn bị đặt ngay ngắn bên cạnh các đĩa hải sản cá, tôm, mực,…và nghêu Gò Công (loại nghêu này màu trắng sáng, thịt nhiều, tươi ngon)

    Các loại nấm, rau củ quả cũng được nàng cắt tỉa công phu, đẹp mắt. Nàng nấu nướng bằng cả cái tâm, cái tình trong cách chế biến và trình bày món ăn.
    Mọi người thưởng thức món ăn bên câu chuyện vui vẻ đủ đề tài trên trời dưới đất,...(cười)…! Thưởng thức lẩu xong thì chuyển qua trái cây. Nàng chuẩn bị thứ gì cũng nhiều. Món ăn thật ngon, nàng chu đáo và khéo tay từ chuyên môn, nghệ thuật đến nữ công bếp núc. Trưa cả nhóm kéo nhau lên phòng khách nằm nghỉ trưa trên sofa, lại tiếp tục chuyện trò rôm rả. Đến 3 h chiều chia tay. Cảm động vì tấm lòng nàng đón tiếp nhiệt tình, chu đáo dành cho bạn bè thân thương.

    KTS Ngọc Sương đang ước mơ có được một không gian bình yên, thoáng đãng để thỏa sức với đam mê tranh giấy mà thuở còn bận rộn chưa thực hiện được.

    Giới thiệu nhà, giới thiệu không khí buổi họp mặt mà không giới thiệu về các nàng là một điều thiếu sót. Ngọc Sương đến từ Tiền Giang, Thanh Hương (Biên Hòa) , Ánh Loan (Huế) Cả 3 nàng có đặc điểm chung là đều có đôi mắt đẹp, ánh lên vẻ thông minh. Giai đoạn (1975-1978) chiến tranh mới kết thúc có 3 năm, con người chưa kịp hoàn hồn thì ở biên giới phía Bắc vẫn còn cuộc chiến khác không kém phần khốc liệt. Điều kiện kinh tế cũng như điều kiện học hành rất khó khăn, thiếu thốn. Vậy mà cả 3 nàng thi đậu và trường ĐH Kiến trúc TP HCM (năm 1979) là một điều đáng nể. 

    Học xong ĐH các nàng làm việc ở một vài nhiệm sở rồi ổn định cuộc sống và định cư ở TP HCM. Thời gian sau thì Thanh Hương qua Úc. Thanh Hương có đôi mắt biết nói, đẹp và hiền, luôn ánh lên nét cười ấm áp. Nàng giỏi giang, nhanh nhẹn và tháo vát với vóc dáng thể thao. Ngọc sương cũng có đôi mắt đẹp hút hồn người đối diện, nét hồn nhiên vẻ thánh thiện, điềm đạm, vóc dáng thể thao. Nàng quán xuyến công việc trong ngoài, đảm đang, chu toàn. Ánh Loan cũng có đôi mắt đẹp dịu dàng, đằm thắm mảnh mai như dáng liễu. Cả ba nàng đều kinh qua những công việc chuyên môn then chốt và giữ những vị trí quan trọng hàng đầu trong công ty. Công việc là vậy nhưng vẫn trẻ trung yêu đời. Nếu không nói ra, khó mà đoán được tuổi của các nàng bởi vì các nàng khỏe mạnh và tươi trẻ, tâm thế làm chủ cuộc sống, biết điều tiết cảm xúc để giữ thăng bằng trong tâm hồn mình.

    Những người bạn bên nhau lâu dài đều là những tấm lòng rất đỗi chân thành. Ngoài công việc chuyên môn đã chọn bởi đam mê, mỗi người đều tìm cho mình những sở thích, để cân bằng cuộc sống. Thanh Hương lo cho con cái chu tất, nàng đi về giữa Sydney, Melbourne với con trai và con gái, lúc về SG thăm chơi. Dù ở đâu cũng tìm an yên trong lời kinh tiếng kệ và ngồi thiền. Ánh Loan vẫn miệt mài với vai trò quản lý của công ty. Bởi công việc đối với nàng vẫn là niềm đam mê bất tận. Ngọc Sương ngoài công việc quản lý và thiết kế, thời gian rảnh nàng tìm vui với nghệ thuật tạo hình và những bức tranh,…Bích Hà có sở thích gặm sách và viết lách, …thời gian không bao giờ là đủ nên không có thời gian để buồn, dù cuộc sống không ai tránh khỏi vui buồn qua thăng trầm dâu bể.

    Thứ bảy với cuộc hẹn cuối tuần, chúng mình đã chơi thật vui. Cuộc hẹn cuối tuần với không khí đầm ấm, như được trở về một thời tuổi trẻ. Tình bạn đó, thử thách qua thời gian và giữ được tình thân đến ngày hôm nay sau hơn nhiều thập kỷ, thật quý với các nàng “Kiến” trí tuệ, trẻ trung, thanh lịch và đáng yêu! 

    Ra về lòng cảm thấy vui! Trong cuộc sống mỗi người, mỗi số phận. Gặp nhau, cũng là một nhân duyên trong hành trình cuộc đời và đều đem đến những cho nhau điều thú vị, sẽ trở thành những kỷ niệm khó phai.

    Tới đâu, có quá nhiều cảm xúc, mình cũng quan sát, lưu lại kỷ niệm: hình ảnh và đôi dòng chia sẻ cùng bạn đọc thân thương (lại bệnh nghề nghiệp mất rồi!)

    Xin cảm ơn nhóm bạn với cuộc hẹn cuối tuần,

    Hẹn gặp lại bạn đọc ở một bài viết khác về không gian nghệ thuật trưng bày và giới thiệu tranh giấy xé dán của KTS Sương SA.

     Saigon, ngày 07/12/2024.

    Hoàng Thị Bích Hà

    <habich1963@gmail.com>

 


READ MORE - CUỘC HẸN CUỐI TUẦN VỚI CÁC NÀNG “KIẾN” - Hoàng Thị Bích Hà