Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Phạm Xuân Dũng. Show all posts
Showing posts with label Phạm Xuân Dũng. Show all posts

Saturday, March 28, 2026

MỆ NGOẠI! - Phạm Xuân Dũng



Mệ Ngoại!

 

Mệ không có con trai, chồng mất sớm nên sống với mụn con gái còn lại duy nhất  và chăm bẵm đám cháu ngoại từ khi chúng còn tấm bé, thương chúng e còn hơn cả thương con. 

 

Con cháu ở mô, mệ ở đó, đi mô mệ đi theo nấy. Từ Cam Lộ vô Đà Nẵng rồi năm 75 về lại quê. Cực khổ, chiến tranh, bom đạn cứ đùm bọc nhau mà sống.

 

Nhớ trận Cầu Dài năm 72, chạy giữa khi súng đạn tứ phía nổ tơi bời, người chết la liệt. Người ta bảo quý như vàng nhưng tôi thấy lúc đó nhiều người sống thấy vàng trên cổ, trên tay người chết mà không ai dám lấy vì không biết liệu mình có qua khỏi kiếp nạn mà hưởng vàng không nên chạy bán sống bán chết. Đến gia phả mang theo mà nhiều người không giữ nổi. 


Giữa trùng trùng bom đạn, mệ và mạ bất chấp sống chết quyết che chở cho con cháu. Nhờ trời hay nhờ may mắn nên tai qua nạn khỏi...


Thời bao cấp, tôi đi học cấp 2 xa nhà mấy cây số. Khi mô đêm trước,  lúc sắp dọn cơm tối, mệ đã xới cơm giữa nồi để lại một chén đầy với cục ruốc nướng than trong bếp củi. Và mệ giảng giải: "Ăn cơm giữa nồi học cho thông, cố gắng học kiếm đôi ba chữ mà ra với đời có việc mà làm." Cho đến bây giờ, khi tuổi tác đã thành ông lão, tôi cũng mù mờ không biết mình đã làm được như mệ nói hay chưa?

 

Mệ không biết chữ, thường hò ru cháu theo trí nhớ và hay ví von bằng những câu tục ngữ dân gian. Một hôm, nhìn trái mít ướt đang chín ở trên cao tỏa mùi thơm mời mọc, mệ buột miệng: "Cha cha, gần lỗ mũi mà xa lỗ miệng!"  Tôi lúc đó mới học lớp 6 nghe xong há hốc mồm, phục lăn, rồi nói xuýt xoa: "Câu mệ nói hay quá mệ ơi." Mệ cười:  "Thì dân miềng ai cũng nói như rứa con." Sau này lớn hơn, đọc Tô Hoài, cũng thấy nhà văn dẫn chứng một  câu như vậy khi học hỏi lời ăn tiếng nói dân gian.

 

Một lần thấy rắn lột da ngoài vườn, mệ lẩm bẩm: "Người mà lột da được như rắn thì hay." Tôi biết rằng mệ thừa hiểu ai rồi cũng phải chết, nhưng mệ ước sống lâu với con cháu, mệ không nỡ, không muốn lìa xa …

 

Ngày mệ mất, tôi đã qua tuổi 20, trào nước mắt, đau xé ruột gan, thầm nghĩ từ đây, vĩnh viễn từ đây mình sẽ không còn được nhìn thấy mệ. Một năm trước đó, tôi mất một đứa em gái hiền ngoan, lanh lợi khi mới tròn 6 tuổi, sắp vô lớp Một và một năm sau đó, lại mất thêm một đứa em trai thông minh, tài hoa lúc vừa 13 tuổi. Mẹ tôi, một người phụ nữ bản lĩnh trước nhiều giông tố cuộc đời đã chịu không nổi những thử thách quá nghiệt ngã của số phận nên  ngã quỵ ...

 

Rồi cuộc đời cứ tiếp tục trôi qua những buồn vui của mỗi phận người.

 

Bây chừ mùa hè cũng sắp về rồi, mít trong vườn cũng sẽ đua nhau chín. Chỉ là từ rất lâu rồi thiếu vắng câu nói và tiếng cười móm mém của mệ khi nhìn lên cây vào một hôm nào chỉ còn trong nỗi nhớ của mấy đứa cháu mà thôi.

P.X.D.

READ MORE - MỆ NGOẠI! - Phạm Xuân Dũng

Tuesday, November 12, 2024

AI VỀ CHỢ THUẬN... - Phạm Xuân Dũng

 

Quang cảnh chợ Thuận ngày nay - Ảnh: P.X.D

 

AI VỀ CHỢ THUẬN...

Ở Quảng Trị có một ngôi chợ quê nổi tiếng với tuổi đời khoảng hơn 4 trăm năm, bền bỉ băng qua thời gian với rất nhiều biến cố nhưng vẫn trường tồn cùng năm tháng, trở thành một trong những biểu tượng của quê hương dấu yêu và gắn bó.

Thạch Hãn là con sông lớn nhất tỉnh Quảng Trị, trước khi xuôi về Cửa Việt đã ghé qua Đại Lộc từ xa xưa, trổ một nhánh chảy về ngay trước ngôi chợ có tên rất hay là chợ Thuận thuộc xã Triệu Đại, huyện Triệu Phong. Cố tác giả Phương Văn đã từng có bài viết ấn tượng về chợ Thuận, đó là bài “Chợ Thuận, xưa và nay”.

Theo ông thì sách “Ô Châu cận lục” của Dương Văn An cũng nói rõ về ngôi chợ độc đáo này: “Ở ranh giới huyện Hải Lăng và Vũ Xương”. “Từ sông cái ở Tây Nam, một nhánh sông con chảy về, trên nhánh này là một nhịp cầu dài bắc ngang. Phía Nam cầu là lều quán bày la liệt. Nào huyện lỵ, nào thành trì hai phía Đông Tây đối mặt nhau. Cả thuỷ lẫn bộ, hai đường đều tiện lợi”.

Sau nhiều thế kỷ bể dâu, chúng tôi lần tìm về dấu xưa tích cũ của chợ Thuận ngày trước. Vẫn còn đó hói Thuận là một chi lưu của linh giang Thạch Hãn, từng là con đường thủy tấp nập thành huyết mạch giao thương của một thời vang bóng, ngày nay đã bị chia cắt nhiều đoạn, không còn có tác dụng giao thông, vận chuyển hàng hóa như thuở trước. Đã từng có lúc chợ Thuận thuộc xã Triệu Thuận, còn về sau nằm trên đất làng Đại Hào, xã Triệu Đại, huyện Triệu Phong.

Chợ Thuận bây giờ cách không xa chợ cũ, mới được 10 năm. Một chợ quê đặc trưng với hàng hóa phong phú là những sản vật gần xa của địa phương; Nông sản thì có rau quả, lúa gạo, lợn gà. Cá thì ở nam Cửa Việt đưa lên, người Đại Lộc, cả thành phố Đông Hà cũng về đây mua bán từ khi trời chưa tỏ mặt người. Rồi thì chăn màn, áo quần, các vật dụng cần thiết của đời sống và sinh hoạt hằng ngày đều có cả. Nghĩa là những nhu cầu thiết yếu nhất của con người, đặc biệt là là dân quê đều được đáp ứng kịp thời và thuận tiện. Anh Nguyễn Minh Vương, người làng Đại Hào, nơi có chợ Thuận tọa lạc, cũng là cán bộ địa phương, cho biết: “Dân địa phương rất gắn bó với ngôi chợ này, coi như một địa chỉ thân thiết của bà con”.

Chợ quê không sang trọng, hào nhoáng như nhiều ngôi chợ phố hiện đại khác mà bình dị, gần gũi, lam lũ đời thường, có cả sự chân quê, nhọc nhằn trong bàn tay, ánh mắt, nụ cười, tiếng nói nhưng hồn cốt hương thôn thì đậm đà, da diết, không lẫn vào đâu được. Những hàng hóa, gánh gồng, thúng mủng, quầy hàng cứ bày ra mộc mạc như tấm lòng người dân quê vốn quen ăn nói thật thà, một nắng hai sương, dẫu có ra chợ làm tiểu thương thì thường cũng lấy công làm lãi, mua chín bán mười, trông mua may bán đắt mà kiếm đồng lời nặng trĩu mồ hôi. Bà Nguyễn Thị Hường, tiểu thương chợ Thuận tâm tình: “Bà con, nhất là phụ nữ mua bán rất thích đến chợ ni, không đi vài ngày là nhớ”.

Chợ quê đã hơn 4 thế kỷ và tên chợ cũng không hề thay đổi qua vô vàn những đổi thay không kể xiết. Biết bao thế hệ người gần, người xa đã gắn bó với ngôi chợ thân quen, biết bao lớp người đã buồn vui với ngôi chợ quê kiểng mà nức tiếng gần xa. Nhiều đời người đã trôi qua, đến và đi, bán và mua ở ngôi chợ Thuận.

Đến chợ không chỉ là nhu cầu bán mua mà còn là mối giao lưu tình cảm, là những trao gởi của tấm lòng chân quê đối với bà con quen biết, với làng xóm, họ hàng. Đến chợ để người già ôn lại chuyện xưa, nao lòng với những kỷ niệm thời son trẻ, còn những người tóc xanh phơi phới thì đang dự cảm với tương lai. Vì vậy chợ cũng là một phần đời sống máu thịt của bà con, là ngôi nhà thứ hai của rất nhiều người khi mỗi ngày đi qua và trải dài theo năm tháng cuộc đời. Và ngôi chợ vẫn hiện hữu, trường tồn như sức sống mãnh liệt và bền chặt của quê nhà thương nhớ.

Làng Đại Hào và ngôi chợ Thuận như là chứng chỉ thời gian còn lưu lại qua nhiều biến cải. Tất cả rồi sẽ trôi qua theo năm tháng, những gì còn đọng lại là ký ức quê nhà, là những sớm mai của xóm làng, là những buổi chợ thức khuya dậy sớm. Mỗi ngày mới đang đến và qua đi cũng là một ngày mà chợ đắp bồi thêm tình cảm và ký ức của những cuộc đời.

Rồi những gì ý nghĩa nhất sẽ trở thành gia tài tinh thần quý giá, thành sự nâng đỡ tâm hồn vào những phút lòng nghe xao động, sẽ trở thành hành trang quý giá cho mỗi đời người cần lao, đã lặng lẽ sống, vui buồn và cống hiến trong cuộc đời này. Đó là hết thảy những gì còn rung động trong huyết quản những người nặng nghĩa với quê hương.

Phạm Xuân Dũng

READ MORE - AI VỀ CHỢ THUẬN... - Phạm Xuân Dũng

Saturday, May 25, 2024

NĂM NGÀY XUÔI THEO SÔNG CÁNH HÒM - Phạm Xuân Dũng

 

Sông Cánh Hòm chảy qua làng Rừng Sác làng Nhĩ Thượng. Ảnh Phạm Xuân Dũng


NĂM NGÀY XUÔI THEO SÔNG CÁNH HÒM

Phạm Xuân Dũng

 

Trong “gia đình” các dòng sông ở Quảng Trị, sông Cánh Hòm có vẻ khiêm nhường bên cạnh những chị em tên tuổi như Hiền Lương, Thạch Hãn…

 

Chính vì vậy, chúng tôi đã dành năm ngày đi theo dòng sông làm ký sự truyền hình để sẻ chia đến khán giả. Làng Mai Xá Thị, xã Gio Mai là nơi hợp lưu 3 con sông Quảng Trị: Thạch Hãn, Hiếu Giang và Cánh Hòm.

 

Sông Cánh Hòm đặc biệt, khác với những con sông còn lại ở tỉnh Quảng Trị. Sông tự nhiên thì Hiền Lương, Hiếu Giang, Thạch Hãn, Ô Lâu… riêng sông đào thì có Vĩnh Định được trang trọng khắc trên vạc đồng ở kinh thành Huế. Chỉ có Cánh Hòm một nửa trời sinh, một nửa người đào mà thành nhưng nhân tạo lớn hơn thiên phú. Sông Cánh Hòm nằm gọn trong địa phận huyện Gio Linh, dài 11km, nếu tính cả chi lưu độ dài phải gấp đôi, chảy qua các xã đồng bằng phía đông của huyện, tưới mát cho biết bao đồng lúa.


Xưa chuyện khai sơn phá thạch, dời non lấp bể là đại sự trong thiên hạ, ít ra cũng là việc trọng của một vương triều. Dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Tần (1651) sông này đã được khai thông ít nhiều, nhưng phải đợi đến triều vua Minh Mạng thì việc lớn mới thành. Khi ấy triều đình mở một con đường thủy từ kinh sư theo Vĩnh Định ra đến Cửa Việt theo dòng Cánh Hòm gặp sông Bến Hải, thậm chí còn ra đến tận Quảng Bình cũng theo vẫn theo con nước, để bậc đế vương tuần du, thăm thú rồi nghỉ lại Cửa Tùng - nơi người Pháp nịnh đầm có lý khi xướng danh "nữ hoàng của các bãi tắm". Đầu thế kỷ hai mươi, vua Duy Tân có lần ra Cửa Tùng tiếng là đi chơi để che mắt Pháp nhưng kỳ thực là tìm gặp những nhân sĩ yêu nước như cụ Khóa Bảo Nguyễn Hữu Đồng ở Cam Lộ để mật bàn quốc sự khởi nghĩa chống quân xâm lược. Việc lớn bất thành cả cả vua lẫn tôi đều bị giặc Pháp giam vào ngục thất. Dấu tích vua chúa ngày xưa nay đã nhạt nhòa nhưng thú vị là vẫn còn một địa danh đọc lên nghe rất Huế vì gắn liền với quân vương, ấy là cầu Bến Ngự thuộc xã Gio Mỹ, bắc qua sông Cánh Hòm chảy suốt thời gian, chở đầy ký ức. 

 

Sông Cánh Hòm chảy qua làng Bách Lộc. Ảnh: Phạm Xuân Dũng

 

Hôm tôi về Mai Xá Thị nhằm ngày rằm tháng Giêng tức Tết Nguyên Tiêu tận mắt chứng kiến nhiều sự lạ. Dân làng chỉ cho tôi cây ngô đồng cổ thụ như trong thơ Bích Khê, có mặt từ thời vua Tự Đức. Thời chiến loạn mảnh bom đạn giắt đầy thân cây, tưởng đâu không qua khỏi nhưng thật không ngờ vẫn sống xanh tươi cho đến hôm nay. Vào trong đình lại thấy thờ cả danh thần Trần Đình Ân vốn là cụ Thượng làng Hà Trung của xã Gio Châu. Hỏi ra mới biết, xưa làng Mai Xá Thị dính vào một vụ đáo tụng đình đất đai oái ăm, may nhờ đại thần Trần Đình Ân thương dân nên tạo phúc giúp cho làng này thắng kiện, tìm được lẽ phải. Sau khi cụ Trần Đình Ân qua đời, bài vị của vị đại quan từ đó được nơi đây phụng thờ hương khói.


Sông Cánh Hòm, đoạn chảy qua làng Xuân Long, xã Trung Hải, huyện Gio Linh. Ảnh: Phạm Xuân Dũng
 

Lần theo con nước qua làng Lâm Xuân xưa là làng chiếu nổi danh để gặp một lão nông tri điền yêu đất đai như là máu thịt đời mình. Ông Trần Xuân Thắng, tuổi ngoại bát tuần nhưng dáng vẻ vẫn vững chãi, gương mặt tinh anh. Nhà ông như một bảo tàng nhỏ nông cụ, những vật dụng thiết thân với nhà nông như miếng cơm, manh áo hàng ngày. Tôi vốn không lạ gì với những vật dụng này nhưng nghe ông Thắng say sưa giảng giải từ cày đến bừa, từ cuốc chỉa đến cuốc bàn, từ trang đến nát… lòng không khỏi khâm phục một hiện thân nhân văn và sinh động của văn minh lúa nước sống dọc theo sông Cánh Hòm.

 

Về Nhĩ Thượng thuộc xã Gio Mỹ  khi mùa lúa đang đến. Những cánh đồng trải dài trong nắng hạ, hứa hẹn một năm bội thu của nhà nông khi ruộng tắm mát nước sông Cánh Hòm, khám phá thêm nhiều bí ẩn kỳ thú của thiên nhiên. Ông Nguyễn Thành, vốn là trưởng thôn vui vẻ dẫn chúng tôi ra thăm giếng cổ của làng. Chiều sâu của giếng chỉ khoảng hai gang tay mà lạ chưa nước hàng trăm năm nay khi bao giờ vơi cạn, kể cả những năm hạn hán kỷ lục. Ông Thành vừa chỉ tay giới thiệu vừa nói không giấu nổi vẻ tự hào: “Giếng sâu chỉ chừng đó thôi nhưng nắng mấy cũng không bao giờ cạn, nước ngọt mát vô cùng. Dân làng lấy nước này nấu rượu vào những dịp cúng tế trang trọng”.

 

Chúng tôi lại chèo ghe vào rừng Sác, một cánh rừng ngập mặn dọc theo sông Cánh Hòm - đoạn này dài đến 3km chạy dài lên đến cầu Bến Ngự mới dừng lại. Cần nói thêm rằng, sau này do làm thủy lợi vào thập niên 80 của thế kỷ trước nên dòng nước đã thành dòng nước ngọt, đây cũng là một nét độc đáo trong thay đổi địa chất thủy văn cần các nhà chuyên môn tìm hiểu. Vì cho đến nay vẫn chưa có một giải đáp khoa học về sự ra đời và phát triển của khu rừng kỳ lạ này. Chỉ biết rằng dù nước thay đổi nhưng cây cối vẫn thích nghi và xanh tốt như thường, như chẳng có chuyện gì xảy ra, thậm chí mới đây còn thu hút nhiều chim quý hiếm. Đây chính là lá phổi xanh điều hòa sinh thái cho ngôi làng Nhĩ Thượng, một báu vật trời cho từ ngàn đời nay cần gìn giữ như chính ngôi nhà của mỗi gia đình. Anh Nguyễn Văn Mãi, người dân địa phương vừa chèo ghe vừa nói: “Có được Sác này là quý giá nên bà con ở đây rất có ý thức giữ gìn”.


Dân chài làng Bách Lộc đánh bắt thủy sản trên sông Cánh Hòm. Ảnh: Phạm Xuân Dũng

 

Có thể khẳng định địa danh rừng Sác là độc nhất vô nhị ở Quảng Trị, vì ngay cả cù lao Bắc Phước với rừng cây ngập mặn như cây bần cũng không mang tên gọi như vậy. Cách gọi này làm ta nhớ đến ngay địa danh Rừng Sác ở hạ lưu sông Sài Gòn - Đồng Nai mà tên gọi chính thức là Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cần Giờ. Và nhân tiện cũng cải chính sự nhầm lẫn có thể xảy ra với một vài người. Đó là thay vì gọi rừng Sác. Họ lại gọi nhầm thành rừng Sát. Hơn nữa gọi rừng Sác nhưng lại không có loại cây nào gọi là cây Sác cả. Chuyện này cũng tạo nên những lý giả tốn nhiều giấy mực. Theo một học giả uy tín An Chi  thì sác được giảng là ”rừng nước mặn (ở gần biển)”. Tất cả đều có một nét nghĩa chung là ”rừng ngập ngụa”. Đây chính là nghĩa gốc của từ sác trong phương ngữ Nam Bộ.

 

Bên cạnh rừng ngập mặn nguyên sinh, Nhĩ Thượng còn có một rừng tràm tự nhiên với diện tích lên đến 10ha nằm trên đồi cát cũng không xa cao điểm 31 thuộc hệ thống di tích của hàng rào điện tử Mcnamara. Rừng tràm trải rộng theo những cồn cát, địa hình cũng nhấp nhô, uốn lượn. Đi bộ vào rừng hay nhìn từ trên cao đều khiến người xem không khỏi ngạc nhiên. Đây cũng là một ân tứ của thiên nhiên. Vì ở những cồn cát, trảng cát được mệnh danh là tiểu sa mạc hay tiểu bán sa mạc trong thời tiết nắng lửa gió Lào nếu không có những cỗ máy thiên nhiên xanh như rừng tràm thì ắt hẳn quá trình sa mạc hóa chỉ còn là chuyện thời gian. Được biết cơ quan kiểm lâm địa phương đã bàn giao rừng tràm cho thôn quản lý. Kinh nghiệm thực tế cho hay không ai giữ rừng nói riêng và tài nguyên khoáng sản nói chung bằng người dân bản địa.

 

Ông Nguyễn Thành đã thay mặt bà con mong mỏi như vậy. Ông còn nói thêm những lời chân tình gan ruột: “Nếu làm được du lịch để du khách về tham quan  giếng cổ, rừng Sác, rừng tràm, rồi lên cao điểm 31 và cả sông Cánh Hòm nữa thì tôi chắc chắn quê nhà sẽ đổi khác”.


 

Ngã ba sông, đoạn cuối sông Cánh Hòm đổ ra sông Hiền Lương. Ảnh: Phạm Xuân Dũng

 

Rong ruổi suốt mấy ngày trời, rồi cũng gặp chuyện hay sông Cánh Hòm ở làng chài Bách Lộc thuộc xã Trung Hải. Làng được hình thành vào thế kỷ 18. Theo lời kể ông Lê Viết Trinh, quá vãng đã xa lại về trong phút chốc. Thời ấy ông tiền khai khẩn Trần  Hiếu năm Thiệu Trị thứ bảy (1847) đã tập hợp dân chài từ phá Tam Giang xứ Huế đến Bến Quan (Vĩnh Linh) quyết tạo dựng cuộc sống lâu dài. Họ nương náu theo sông Cánh Hòm, cũng rày đây mai đó, thường neo đậu đoạn eo làng Xuân Mỵ văn chương nức tiếng. Thấy vạn chài không một tấc đất cắm dùi, lênh đênh gian khó, bà con Xuân Mỵ thương tình đã nhượng lại hai mẫu đất giữa làng cho bà con ngư dân phơi lưới, lâu dần thành đất sinh cư tử táng. Tình nghĩa đồng bào đã làm nên một hiện tượng đặc biệt: làng Bách Lộc phái sinh từ làng Xuân Mỵ, hay như có người đã nói: làng mọc giữa làng. Khi tôi theo anh Trần Văn Sắt trên chiếc thuyền bủa lưới trên sông, mới biết thêm rằng bà con Bách Lộc xa xứ vào tận huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận dù lo toan cơm áo vẫn không nguôi nhớ về quê cũ. Họ đặt tên làng nơi đất mới là Bách Lộc. Vậy là có một núm ruột sông Cánh Hòm (Quảng Trị) an cư lạc nghiệp vùng cực nam Trung Bộ.


Dân làng Mai Xá Thị trước đình làng. Ảnh: Phạm Xuân Dũng

 

Hôm về làng Thủy Khê, xã Gio Mỹ không còn dệt chiếu mới hiểu thêm dâu bể của dòng sông. Ông Lê A, một bậc cao niên vừa bẻ những cọng cói còn sót lại bên sông xưa thuyết minh về nghề trồng cói nay chỉ còn trong nỗi nhớ của những người lớn tuổi. Mắt ông trong chiều sáng lên khi nhắc đến những ngày chưa xa lắm khi làng còn trồng cói. Nắng chiều chiếu rọi gương mặt thời gian từng đường nét như điêu khắc dung mạo một nhân chứng Cánh Hòm. Tự dưng lại nhớ mấy câu trong bài thơ "Sông Lấp" của cụ Tú Xương mà hoang mang da diết: “Sông kia rày đã nên đồng/ Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai/ Vẳng nghe tiếng ếch bên tai/ Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò..."

 

Tác giả Phạm Xuân Dũng

Khi đứng phía bắc cầu Bến Hải, ngắm nhìn ngã ba sông Cánh Hòm nhập vào con nước Hiền Lương tôi chợt nhận ra rằng không chỉ nhân sinh mới cần bầu bạn mà thiên nhiên cũng luôn hướng đến sự giao lưu hòa hợp để khai thông huyệt đạo của mình. Những dòng nước dù mải miết quanh co, phiêu lưu tưởng chừng vô định rồi bằng một cách nào đó, cũng tìm đến với nhau, giang rộng vòng tay như người gặp được người…

 

 Phạm Xuân Dũng

Nguồn: https://vietnamnet.vn
READ MORE - NĂM NGÀY XUÔI THEO SÔNG CÁNH HÒM - Phạm Xuân Dũng

Wednesday, April 10, 2024

LÀNG QUÊ YÊU DẤU - Phạm Xuân Dũng

 

Làng Phương Lang. Ảnh: Phạm Đình Quát
 

 

LÀNG QUÊ YÊU DẤU

Phạm Xuân Dũng

 

Quảng Trị có khoảng 1.000 làng lớn, nhỏ, xưa và nay, cũ và mới. Từ 65 làng cổ đầu tiên được thành lập vào khoảng năm 1075 - 1553 đến nay trải qua khoảng 6-9 thế kỷ. Một số làng xa xưa hình thành ở Quảng Trị nay vẫn còn giữ nguyên tên gốc làng cũ từ phía Bắc đèo Ngang trở ra như Cổ Trai (huyện Vĩnh Linh) là một trường hợp đặc biệt, xuất xứ từ trấn Hải Dương, ngày nay thuộc TP. Hải Phòng. Còn sau mốc này thì có các làng như Cang Gián (huyện Gio Linh, đúng ra tên gốc phải viết là Do Linh) vốn gốc Hà Tĩnh, hay Bích Khê (trước là Hồng Khuê vì kỵ húy nên đổi thành Bích Khê, gốc tỉnh Hà Nam)...

 Quá trình hình thành làng ở Quảng Trị cũng theo thông lệ, tức là chủ yếu từ Bắc vào Nam và từ Đông sang Tây. Nhưng dù vậy vẫn có một số trường hợp được coi là ngoại lệ như từ làng Cam Lộ, có một số hộ ngược ra phía Bắc sông Hiếu lập nên làng Bắc Bình hiện nay thuộc xã Cam Tuyền (huyện Cam Lộ) hay làng Tân Xuân (xã Cam Thủy) vốn người dân hầu hết là dân vạn đò từ sông Thạch Hãn lên bờ định cư...

Quá trình phát triển làng, có nhiều làng phát triển từ đồng bằng lên miền núi trong cùng một tỉnh, chỉ khác huyện, tức từ Đông sang Tây, như: Mai Đàn, Mai Lộc (huyện Hải Lăng) lên huyện Cam Lộ hay thậm chí trong cùng một huyện nhưng chỉ khác xã như trường hợp làng Quật Xá từ Cam Thành lên Cam Nghĩa cũng có một làng khác cùng tên, đều ở huyện Cam Lộ...

Sau năm 1975 có phong trào kinh tế mới rầm rộ, hàng vạn dân Quảng Trị đã đi vào miền Trung-Tây Nguyên hoặc miền Nam mang theo những tên đất, tên làng gốc rễ như Quảng Trị, Triệu Hải, Cửa Tùng... và di dân trong nội bộ tỉnh, nhất là từ Triệu Phong, Hải Lăng đến với miền núi Gio Linh, Hướng Hóa hình thành nên các địa danh như xã Hải Thái ở huyện Gio Linh, hoặc Tân Thành (gốc Triệu Thành), Tân Phước (gốc Triệu Phước)... thuộc huyện Triệu Phong ở vùng núi Hướng Hóa.

Cá biệt có làng mới ở đây được ghép tên gốc từ hai tỉnh khác nhau như Đại Thủy thuộc xã Tân Liên (huyện Hướng Hóa) là dân từ xã Triệu Đại (huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị) và Lệ Thủy (tỉnh Quảng Bình) hợp lại tạo thành. Vật đổi sao dời, có làng (thôn) Cây Muồng thuộc vùng Cam Lộ qua tám lần đổi tên nay chính thức là thôn Thượng Lâm thuộc xã Cam Thành.

Có nhiều tên làng vẫn giữ nguyên và còn sinh sôi nảy nở như tên làng Cam Lộ được đặt tên cho chợ phiên Cam Lộ, thị trấn Cam Lộ và huyện Cam Lộ; còn tên làng Đông Hà (nay thuộc Phường 1, TP. Đông Hà) được đặt tên cho thành phố tỉnh lỵ Đông Hà, trung tâm đầu não của cả tỉnh Quảng Trị.

Địa danh là chuyện thú vị nên mới nảy sinh những câu đối (thơ) đa nghĩa dựa vào cách chơi chữ như: “Trai Tân Trúc chặt tre thở hoi hóp/Gái Đông Hà xúc hến hát nghêu ngao”. Đúng là làng Tân Trúc (xã Cam Hiếu) có nhiều tre và trúc, hóp đều thuộc họ tre, còn làng Đông Hà có sông Hiếu vốn nhiều con hà, hến, nghêu, ngao cùng là một họ, nên đọc lên thật là đăng đối và dí dỏm, chưa nói chuyện: nhất chặt tre, nhì ve gái (ve: tán tỉnh) chỉ sự khó nhọc nên chặt tre phải thở hoi hóp (tượng thanh), đối lại với xúc hến không đến nỗi cực nhọc nên vừa làm, vừa hát nghêu ngao (tượng thanh). Cũng như một câu khác: “Cam Lộ buôn cam, Cam Lộ lộ/Bích La đau bụng, Bích La la!”. Lợi dụng sự đồng âm, địa danh và phương ngữ mà chơi chữ (Cam Lộ lộ: Cam Lộ buôn cam lỗ vốn) để đối với... Bích La la, thật là câu trên tám lạng, câu dưới nửa cân, đôi lứa xứng đôi, thể hiện tài quan sát, đối đáp nhanh nhạy, thông minh và hóm hỉnh.

 

Làng Hội Kỳ. Ảnh: Phạm Đình Quát.

 

Quảng Trị tuy không có bảng tấn phong chính thức nhưng nhiều làng quê nổi tiếng từ lâu như làng Thủy Ba bắt cọp, làng Tùng Luật nghệ sĩ, làng khoa bảng Hà Trung, làng hào kiệt Bích La Đông, làng văn vật Bích Khê, làng khai khoa Câu Nhi... Còn chợ quê thì Quảng Trị nức tiếng với chợ Cầu “Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu/Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh”; chợ Đình Bích La Đông với phiên chợ độc đáo vào đêm mùng Ba tết Nguyên đán được gần xa biết đến; chợ Kẻ Diên (Diên Sanh) có con gà vỗ cánh trong bài ca dao được xếp vào hạng đầu bảng xưa nay; chợ phiên Cam Lộ là đầu mối nội thương và đặc biệt là ngoại thương trong lịch sử xứ Đàng Trong...

Làng quê Quảng Trị có nhiều chuyện hay, nay xin dẫn hai chuyện mà rất nhiều người địa phương vẫn chưa biết đến. Chuyện hay, thú vị và để lại nhiều bài học nhân sinh quý giá. Chuyện thứ nhất là xưa kia có vạn đò lênh đênh sông nước, tập hợp ngư dân gần xa, cứ tá túc trên sông Cánh Hòm tại xã Trung Hải (Gio Linh) ngày nay. Họ không chỉ không có nổi tấc đất cắm dùi mà ngay đến cả một hòn đất ném chim cũng không thuộc về mình. Sống đã vậy, còn thác về đâu? Câu hỏi làm đau đầu và đau lòng bà con sông nước.

Làng Xuân Mỵ (vè: “Văn chương Xuân Mỵ, lý sự Thủy Khê...”) thấy vậy thương tình nhường lại cho hai mẫu đất để phơi chài lưới, lâu dần thành làng Bách Lộc ngày nay, làng mới sinh thành từ làng cũ, vậy là làng ở trong làng.

Thật là tấm lòng thơm thảo, nhường cơm sẻ áo cho nhau. Nếu làng văn chương, học hành có tiếng như Xuân Mỵ chỉ biết bo bo chữ nghĩa, không thấu nhân tình thì sao có làng Bách Lộc ngày nay? Khi tôi về đây điền dã, các cụ cao niên Bách Lộc kể lại chuyện xưa vẫn không hề quên đạo lý uống nước nhớ nguồn, cảm tạ bà con Xuân Mỵ.

Chuyện thứ hai là danh thần Trần Đình Ân, người làng Hà Trung được thờ phụng ở nơi “chôn nhau cắt rốn” thì không ai lấy làm lạ, nhưng cụ được làng Mai Xá Thị trang trọng thờ trong chốn đình trung thì ai cũng ngạc nhiên.

Hỏi ra mới biết khi cụ làm quan, nhân một vụ kiện đã xử công bằng cho làng này. Dân làng nhớ ơn nên nhắc nhau đời này sang đời khác luôn kính cẩn hương khói để tưởng niệm công đức của ngài. Thế nên câu ca dân gian tình nghĩa mà riết róng: “Thương dân, dân lập đền thờ/Hại dân, dân đái ngập mồ cho coi” không phải là chuyện viển vông, xa vời mà chính là nhân nào, quả ấy.

Người ta nói nhiều đến huyết mạch truyền thống chảy vào hiện tại, tạo nên nguồn lực tinh thần và vật chất cho đời sống hôm nay.

Nhưng đó là nói chung, còn cụ thể thì sao, nên làm như thế nào để không chỉ “ôn cố tri tân” mà còn vận dụng khéo léo lợi thế từ quá khứ, của quá khứ cho đời sống bây giờ, khi đang nói chuyện về xây dựng nông thôn mới.

Hy vọng rằng nông thôn Quảng Trị tiếp tục phát huy sức mạnh nội sinh lâu đời, tích cực đồng hành trong cuộc sống hôm nay để kiến thiết quê hương ngày càng ấm no, an lành và đáng sống.

Phạm Xuân Dũng

 

 

READ MORE - LÀNG QUÊ YÊU DẤU - Phạm Xuân Dũng

Monday, April 25, 2022

MỘT CÂU CHUYỆN THÁNG TƯ ĐÁNG NHỚ - Phạm Xuân Dũng

 

Một câu chuyện tháng Tư đáng nhớ

PHẠM XUÂN DŨNG

Tạp chí Điện tử Lao dộng và Công đoàn – laodongcongdoan.vn

25/04/2022 09:04


Trong ngày hôm qua dịch giả Nguyễn Khắc Phước, một người Quảng Trị sống ở Đà Nẵng có nhờ tôi (và có lẽ một vài anh em khác nữa) ở quê nhà đăng một thông tin lên trang cá nhân tìm người của một người bạn là một cựu binh quê Quảng Nam hiện sống ở Đà Nẵng.


Ông Trần Thượng Liên (ở quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng).
Ảnh: NVCC

Người cựu binh ấy là ông Trần Thượng Liên (ở quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng). Ông kể rằng năm Mậu Thân 1968, khi còn trai trẻ, là bộ đội đóng ở Triệu Phong (Quảng Trị). Khi đang ở làng Bích La Đông, trong khi giao tranh, súng anh hết đạn, một người lính đối phương nhìn thấy anh, giương súng lên nhưng rồi không bắn.

Anh nhanh chóng chạy lẫn vào đám đông và được một chú bé khoảng 10 tuổi cũng nhanh nhẹn mở cửa cho anh vào nhà ẩn nấp. Nhờ vậy, anh được cứu sống. Anh không kịp hỏi tên chú bé chỉ thoáng thấy trên da có vết nám như vừa bị bỏng. Thế thôi, một khoảng khắc trong muôn vàn khoảnh khắc của một cuộc chiến kỳ lạ...

Nhưng dù vậy, khoảnh khắc ấy lại là một vết son không thể phai mờ trong tâm cảm người lính Trần Thượng Liên. Nhớ lại sự kiện không thể nào quên của đời mình, ông đặt tên con là Bích La, để nhớ về một ngôi làng Quảng Trị trong binh lửa.

Và bây giờ, khi tuổi tác gần đất xa trời, qua thông tin trên mạng xã hội, ông muốn gặp lại chú bé ân nhân đã cứu sống mình. Nhà văn Nguyễn Khắc Phước đã từng kể lại câu chuyện này trên đặc san "Tình quê" của Hội đồng hương Quảng Trị tại Đà Nẵng.

Đọc câu chuyện này lại nhớ đến đạo diễn phim tài liệu Nguyễn Thị Xuân Phượng cũng quay lại Vĩnh Linh sau hơn nửa thế kỷ và cũng đau đáu muốn tìm lại đứa bé mà bà đỡ đẻ trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt. Bố mẹ đã lấy tên bà Xuân Phượng đặt tên cho con mình.

Giữa những ngày tháng Tư lịch sử với rất nhiều cung bậc cảm xúc và không ít ngổn ngang tâm sự, câu chuyện riêng của một người lính bình thường có lẽ rất dễ trôi đi trong dòng thời sự, nhất là ở vùng quê từng là hai bờ giới tuyến. Nhưng nhiều người lại không nghĩ thế...

Hàng chục người làng Bích La Đông đã chia sẻ thông tin rồi hàng trăm người quan tâm tương tác và kiếm tìm cậu bé năm xưa, không biết đó là ai, còn sống hay đã chết, hoặc đã lưu lạc phương nào.

Câu chuyện có lẽ chỉ có hai người biết với nhau, tưởng chừng mất hút sau hơn nửa thế kỷ với bao biến thiên lịch sử, nay lại trở về tươi rói tình người và "gõ cửa" những ai đang sống, đang quan tâm đến thế thái nhân tình.

Sẽ có người hỏi thế bao năm ông Liên sao không về Bích La Đông tìm lại ân nhân? Câu hỏi bật ra cũng là điều dễ hiểu nhưng chuyện đời có bao nhiêu điều cuốn chúng ta đi, đâu dễ thực hiện ý nguyện nào đó của mình.

Ông Lê Văn San, một người dân Bích La Đông, tâm tình: "Chúng tôi đang tìm lại cậu bé ngày xưa. Không phải để nói chuyện ơn nghĩa gì cả, mà đó là câu chuyện nhân tình".

Nếu tìm lại được và có một cuộc tái ngộ chắc chắn cảm động thì câu chuyện tháng Tư thêm một kết thúc có hậu và viên thành. Nhưng dù không được vậy thì nó minh chứng một điều: Dân tộc Việt luôn trọng tình nghĩa, làm ơn không cần báo đáp, nhưng chịu ơn thì cũng không bao giờ quên, sống có trước có sau mà chúng ta hay gọi điều đó là chung thủy.

Đạo lý thường hiện lên giản dị, chân thực, không chút màu mè và cảm động như chúng ta đã thấy, khiến cuộc đời này lại ánh lên thêm một niềm nhân nghĩa và tiếp thêm năng lượng sống tích cực cho không chỉ một đôi người.

Phải chăng đó cũng là một thông điệp nhân văn của tháng Tư đáng nhớ.

P.X.D.

READ MORE - MỘT CÂU CHUYỆN THÁNG TƯ ĐÁNG NHỚ - Phạm Xuân Dũng

Tuesday, March 29, 2022

LÀNG TRƯỜNG SANH - Phạm Xuân Dũng

Sông Ô Lâu



LÀNG TRƯỜNG SANH

 

Phạm Xuân Dũng

 

Trường Sanh là một làng cổ phía Nam huyện Hải Lăng được hình thành trong quá trình Nam tiến của người Việt, tạo nên một hương thôn khá đặc biệt của vùng quê Quảng Trị.

 

 

Trường Sanh là một làng lớn nay  thuộc xã Hải Trường, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Hình thành dọc theo con nước Ô Lâu, dòng sông chan chứa huyền thoại và tình sử tạo nên một thủy đạo chảy từ Tây sang Đông, thành ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh láng giềng Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế.

 

Qua tìm hiểu thư tịch và qua thực tế cho thấy,Trường Sanh từ xưa đã có tên đầy đủ là đại xã Trường Sanh, nghĩa là làng lớn với ngũ giáp. Thạc sĩ Yến Thọ cho rằng: Làng Trường Sanh là một làng cổ của Quảng Trị, nơi có lịch sử hình thành làng xóm rất đặc biệt, đó là từ gốc phát xuất chỉ có một làng theo cơ cấu tổ chức xã hội truyền thống kiểu “đại xã” (làng lớn). Trong một làng lớn ấy, các đơn vị cư trú được tổ chức theo những tập hợp được gọi là giáp - một tổ chức đơn vị cư trú phi hành chính nhưng là thành tố tạo nên làng kiểu đại xã. Đó là Đoan Trang/Trường sanh ngũ giáp (5 giáp).

 

 

Trong quá trình phát triển, có điều đặc biệt là các giáp này không tách ra toàn bộ để lập nên các làng con theo kiểu “tiểu xã” mà vẫn nằm trong làng mẹ. Ngoại trừ giáp Phước tách ra thành làng Trường Phước (nay thuộc xã Hải Lâm) vì địa giới đất đai nằm tách bạch ra khỏi làng mẹ. Chính vì thế, Trường Sanh đại xã - ngũ giáp đến nay vẫn còn tồn tại 4 giáp: Đông - Mỵ - Trung - Hậu; mà từ sau năm 1945, khi có sự chuyển đổi quy mô đơn vị hành chính cơ sở cấp làng thì cũng được gọi thành 4 thôn: Đông - Mỵ - Trung - Hậu; nhưng mọi thiết chế văn hoá truyền thống đều vẫn nằm chung trong Trường Sanh đại xã.

 

Qúa trình hình thành đại xã Trường Sanh cho đến hôm nay trải qua nhiều thế kỷ. Dù qua nhiều dâu bể vẫn còn những văn bản ghi nhận theo thời gian năm tháng. Theo thống kê thì cho đến nay gần 30 sắc phong của triều đình ban cho làng và các họ tộc. Và các dòng họ dù đến trước đến sau vẫn chung lưng đấu cật, một lòng vì làng vì nước, tối lửa tắt đèn có nhau, càng đậm đà tình làng nghĩa xóm cũng như một lòng cung kính với tổ tiên, nhất là  trong mỗi dịp tề tựu ở đình làng. Rất nhiều thế hệ người Trường Sanh đã sinh hạ trên mảnh đất này, vẫn giữ truyền thống tốt đẹp của làng dù qua nhiều binh đao, tao loạn. Ông Lê Văn Hách,Trưởng Ban Bảo tồn văn hóa làng Trường Sanh khi trò chuyện đã nói lên tình yêu và lòng tự hào về làng quê của con dân Trường Sanh dù đang ở quê hay là người xa xứ. 

 

Làng vốn xưa kia có tên là Đoan Trang, sau vì kỵ húy hiệu ngài Đoan quận công Nguyễn Hoàng nên vào cuối thế kỷ 16, đầu thời Chúa Nguyễn,  đổi thành tên gọi Trường Sanh tồn tại cho đến ngày nay, gồm 4 thôn, hơn 1000 hộ với hơn 5000 nhân khẩu.

 

Theo lịch sử địa phương: Trong quá trình phát triển, có nhiều dòng họ từ các nơi tiếp tục nhập cư vào làng qua nhiều thời điểm khác nhau. Các thế hệ con cháu của các dòng họ này đã cùng với con cháu các họ đến trước của làng Trường Sanh không ngừng nỗ lực vượt mọi khó khăn, đồng cam công khổ, đồng tâm, hiệp lực để chinh phục tự nhiên, cải tạo xã hội và dần dần lớn mạnh.

 

Đến nay, làng có tất cả 14 dòng tộc và hệ phái, có họ đồng tộc, có họ đồng tôn, bao gồm: 4 họ Lê - 4 họ Võ - Nguyễn - Trương - Hồ - Trần - Phan - Bùi. Riêng họ Phan, con cháu nối nghiệp đến đời thứ 15 thì đoản mạch. Các vị thủy tổ khai canh thuộc các thế hệ đầu của làng Trường Sanh từng đã được các vua triều Nguyễn sắc phong 6 vì có nhiều công lao trong việc canh điền, lập ấp, tạo dựng làng xóm, giúp rập cho nước, che chở cho dân.

 

Thế tục con cháu các dòng tộc của làng Trường Sanh tính từ các vị thủy tổ đến nay đã qua 18 - 20 đời. Đất đai của làng Trường Sanh không ngừng được canh khẩn và mở rộng. Theo một văn bản Hán - Nôm kê khai công điền thổ kiến canh, phụ canh, tịch lưu hoang cùng tam bảo điền thổ của làng Đoan Trang đến năm Quang Hưng thứ 12 ( nắm 1589) là gần 1600 mẫu ruông, nghĩa là ruộng cò bay thẳng cánh, chưa kể núi rừng bát ngát phía tây của làng. Bởi ngày xưa mới có câu tục ngữ ví von "Đất An Lộng, động Trường Sanh".

 

Dạo quanh làng Trường Sanh sẽ thấy quy mô của làng rộng lớn, điển hình cho một làng đồng bằng bề thế, một điểm nhấn của vựa lúa Hải Lăng-Quảng Trị từ ngàn xưa cho đến hôm nay. Những công trình tâm linh, những mái nhà dù mới mẻ vẫn gợi lên dáng vẻ cổ xưa, những cánh đồng trải dài trong nắng chói chang, những con đường quê hương nối chân người và những tấm lòng hướng về nguồn cội.

 

Một Trường Sanh đất rộng, người đông, cũng là cổ hương tên tuổi định danh từ nhiều thế kỷ, đã thành làng,thành xóm, thành quê hương bản quán từ ngày xửa, ngày xưa; đã thành nhớ, thành thương. Như ngày nay người ta thường nói, có những điều sâu thẳm đã hóa thành trầm tích lịch sử và văn hóa chìm khuất trong đất đai hương hỏa cồn cào, giữa ruộng đồng mênh mang thương nhớ. Một tình yêu lặn vào máu thịt, rất gần gụi, thiết tha dẫu chưa thốt nên lời, hay dẫu có vẻ vô ngôn như đất đai, cây cỏ thì vẫn vẫn thiêng liêng, quý giá vô ngần.

 

Có một đại xã Trường Sanh nồng nàn mà đằm sâu như thế thì đâu dễ gì mà có thể phôi phai.  

 

Phạm Xuân Dũng


Nguồn: dulichvn.org.vn 

28/09/2020 

READ MORE - LÀNG TRƯỜNG SANH - Phạm Xuân Dũng