Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label SƯU TẦM. Show all posts
Showing posts with label SƯU TẦM. Show all posts

Saturday, September 12, 2026

DẦU GIÓ SIANG PURE OIL (上標油) CỦA THÁI LAN - La Thuỵ sưu tầm và biên tập



Đi Đà Lạt chơi với công ty của con trai đầu, mình mua vội một chai dầu gió. Thấy ghi 3 chữ Hán 上標油, mình tò mò đọc “Thượng tiêu du”.
上 “thượng” nghĩa là “bên trên”, thì dễ hiểu thôi.
油 “du” nghĩa là “dầu” cũng dễ hiểu.
Nhưng 標 “tiêu” nó ẩn nghĩa gì ?
Mình tra thử từ điển Hán Việt để rõ.
Thì ra 標 có nhiều cách đọc như : “tiêu, phiêu, biểu” có nghĩa là “ngọn”, “khuôn mẫu”, “cây nêu”
Tên chữ Hán in trên hộp, trên chai của dòng dầu gió Siang Pure Oil (thường gọi là dầu ông già Thái Lan) là 上標油 , phiên âm Hán Việt đọc là “Thượng Tiêu Du”.

Cụm từ 上標油 còn có thể đọc theo âm Hán Việt là “Thượng Phiêu Du”, “Thượng Biểu Du” (hoặc người Tàu gọi sản phẩm này là “Thượng Tiêu Bản”).

1. Nguồn gốc tên gọi
 
Thương hiệu dầu gió “Ông Già” Thái Lan Siang Pure Oil có nguồn gốc sâu xa từ công thức y học cổ truyền của người Hoa di cư vùng Triều Sán (Quảng Đông).
- Tên tiếng Thái: เซียงเพียวอิ๊ว (Siang Pure Ew / Siang Pure Oil)
- Chữ Hán in trên hộp, trên chai: 上標油
- Phiên âm Triều Châu: Siang-phiêu-iú
(đọc trại thành Siang-pure-oil trong tiếng Anh và tiếng Thái).
Thượng Tiêu Du  (上標油) mang ý nghĩa là "loại dầu mang nhãn hiệu hàng đầu"
 
2. Chiết tự âm Hán Việt
 
Khi dịch chữ Hán 上標油 sang âm Hán Việt, chúng ta sẽ có:
上 (Thượng): Nghĩa là ở trên, cao cấp, danh tiếng.
標 (Tiêu / Biểu): Nghĩa là nhãn hiệu, cột mốc, tiêu chuẩn (trong từ "mục tiêu", "nhãn hiệu").
油 (Du): Nghĩa là dầu, tinh dầu.
 
* Nguồn gốc tên gọi "Siang Pure" liên quan đến chữ Hán:
 
Mặc dù nhãn chữ Hán trên bao bì sản phẩm ghi là Thượng Phiêu Du (上標油), nhưng cách đọc tiếng Anh Siang Pure lại bắt nguồn từ âm đọc tiếng Triều Châu của một cụm từ Hán khác.
 
 Do người sáng lập thương hiệu này là ông Boonchua Eiampikul - một người gốc nhập cư từ vùng Sán Đầu (Triều Châu, Trung Quốc) sang Thái Lan.

Khi phân phối cho thị trường người Hoa, hãng sử dụng tên gọi Thượng Tiêu Du (上標油) làm thương hiệu chính thức để khẳng định uy tín và chất lượng của sản phẩm.

Như vậy, từ phiên âm Triều Châu: Siang-phiêu-iú  (đọc trại thành Siang-pure-oil trong tiếng Anh và tiếng Thái). Nhãn chữ Hán trên bao bì sản phẩm ghi là 上標油 với âm Hán Việt là “Thượng Phiêu Du,  “Thượng Tiêu Du”, “Thượng Biểu Du”.
 
Trong tiếng Anh chữ “Pure”  có nghĩa là tinh khiết, nguyên chất hoặc thuần túy…
“Pure Oil” có nghĩa là dầu nguyên chất hoặc dầu tinh khiết, chỉ loại dầu được chiết xuất từ thực vật hoặc động vật mà không bị pha trộn với các chất phụ gia, tạp chất hay dầu nền rẻ tiền khác.
 
Công dụng:
 
Dầu gió đỏ Siang Pure Oil là sản phẩm của Thái Lan dùng để:             
- Giảm cảm lạnh, ngạt mũi, đau đầu, chóng mặt.
- Xoa dịu vết sưng, bầm tím và ngứa do côn trùng đốt .
- Giảm đau cơ khớp nhẹ.
- Giữ ấm cơ thể và tạo cảm giác sảng khoái.

                                  La Thuỵ sưu tầm và biên tập

Phụ chú:

Âm Hán Việt có những cái ngồ ngộ. Trước 1975, khi học môn triết, tôi ngỡ ngàng về một số từ ngữ chẳng hạn YÊN SĨ PHI LÝ THUẦN, sau đó mới hay rằng đó là cách phiên âm Hán-Việt cũ từ chữ Hán 英士斐理純 (do Lương Khải Siêu phỏng dịch) để chỉ từ INSPIRATION (có nghĩa là cảm hứng) ở tiếng Pháp hoặc tiếng Anh, trong triết học dùng chỉ trạng thái thăng hoa, linh cảm hoặc nguồn cảm hứng sáng tác nghệ thuật.
*
Cũng lạ, PHIÊU 標 là âm Hán Việt của PURE (tiếng Anh), nhưng DU 油 là nghĩa chính của OIL (tiếng Anh).
"Thượng Phiêu Du"上標油 là hỗn hợp của phiên âm Hán Việt các từ tiếng Anh với
âm Hán Việt của chữ Hán có ý nghĩa trực tiếp !

Tra từ điển Hán Nôm, ta thấy: 油 (DU)

- Âm Hán Việt: du
- Âm Quan thoại: yóu
ㄧㄡˊ, yòu ㄧㄡˋ
- Âm Nôm: dàu, dầu, du, dư, rầu, trầu
- Âm Nhật (onyomi):
ユ (yu), ユウ (yū)
- Âm Nhật (kunyomi):
あぶら (abura)
- Âm Hàn:
유
- Âm Quảng Đông: jau4

Như vậy, "Íu" (hoặc "iêv", "iu"), không phải là phiên âm của chữ DU 油 mà là phiên âm của chữ OIL.

Từ OIL trong tiếng Anh được người Triều Châu phiên âm thành "อิ๊ว" - phát âm là iu / íw).
Trong tiếng Anh từ YOU được phiên âm quốc tế là /juː/, đọc nhanh nghe như là "du"
Từ THANK YOU được phiên âm quốc tế là /ˈθæŋk juː/, người Việt thường đọc gần đúng là "thanh-kyu" không đọc là ''thanh du'' ...

*
Tên chữ Hán của loại dầu gió này là hỗn hợp âm Hán Việt của chữ Hán như THƯỢNG 上 (Siang), kết hợp phiên âm Hán Việt các từ tiếng Anh PURE (phiêu) và OIL (Ew, íu) thành “Siang-phiêu-iú”, Thượng Phiêu Du (上標油). Đặc biệt, dù phiên âm chữ OIL trong tiếng Anh thành “íu”, họ vẫn viết chữ Hán là DU 油. Chữ PURE trong tiếng Anh, họ viết thành 標 “phiêu” (hoặc “tiêu”)

Dầu gió Siang Pure Oil (上標油) của Thái Lan, do người Hoa di cư từ vùng Sán Đầu (Triều Châu, Trung Quốc) sang Thái Lan sản xuất. Họ dùng tên tiếng Thái: เซียงเพียวอิ๊ว (Siang Pure Ew) và tên tiếng Anh Siang Pure Oil để quảng cáo cho thương hiệu dầu gió này, đồng thời ghi chữ Hán上標油 in trên hộp, trên chai với ý nghĩa là "loại dầu mang nhãn hiệu hàng đầu"
READ MORE - DẦU GIÓ SIANG PURE OIL (上標油) CỦA THÁI LAN - La Thuỵ sưu tầm và biên tập

Friday, February 6, 2026

NHỊ THẬP LỤC QUÁN 二十六貫 (97.5 kg) - Nhờ Chat GPT dịch



Xem clip trên laptop tôi thấy một nữ nhân người Nhật nâng tảng đá nặng có dòng chữ 二十六貫 (97.5 kg). 

Đây cụm từ người Nhật dùng chữ Hán để thể hiện, theo dạng chữ Kanji (漢字, Hán tự). Bởi vậy, tôi đọc theo âm Hán Việt 二十六 貫 là “nhị thập lục quán”, nhưng chữ QUÁN có nghĩa là “xâu, chuỗi”, nó không phải là đơn vị đo khối lượng.

Vì không biết tiếng Nhật nên tôi tra từ điển Hán Việt để tìm chữ 貫 có chỉ về đơn vị đo khối lượng không? Kết quả như sau:

Âm Hán Việt: oan, quán
Tổng nét: 11
Bộ: bối 
Lục thư: hội ý
Hình thái: 
Nét bút: 

Nghĩa:
1. xâu tiền
2. xuyên qua, chọc thủng
3. thông suốt
4. quê quán. 

Tôi không thấy có chỗ nào cho biết 貫 chỉ về đơn vị đo khối lượng cả.
Vì có chữ Hán cách viết hoàn toàn giống nhau nhưng có khi cách đọc lại khác và ý nghĩa khác nhau như:
市 /shì/ THỊ : cái chợ 
hoặc 
巿 [fú] PHẤT : dây đeo lưng. 

Nên tôi tra từ điển Hán Việt các từ chỉ về đơn vị đo khối lượng như “cân, lượng, thăng, đấu, thạch...” dạng phồn thể, giản thể, dị thể... mãi cũng chưa  ra. Cuối cùng, tôi nhờ Chat GPT giải thích.

                    

Ban đầu, chỉ riêng chữ 貫 gửi bằng hình chụp thì Chat GPT cho biết như sau:
Đó là chữ 賣 (phồn thể).
Phiên âm Hán Việt: mại
Nghĩa: bán
(Giản thể tương ứng: 卖)

Thế thì 二十六貫 không thể là “nhị thập lục bản” với nghĩa 26 mại (hoặc bán 26...)


Có lẽ do hình chụp chỉ riêng chữ 貫 có vấn đề nên tôi gửi hình chụp nguyên cả cụm từ  二十六貫 (97.5 kg) hỏi Chat GPT, thì được trả lời như sau:

   二十六貫 (97.5 kg) 
     nhị thập lục quán (ở đây quy đổi ra 97,5 kg)

  貫 (quán) → đơn vị đo/đơn vị tiền cổ
  貫 (quán) vốn không phải đơn vị khối lượng cố định như kg, mà là đơn vị “xâu / chuỗi”, sau đó mới được quy ước sang trọng lượng tùy thời kỳ và địa phương.

*
1/ Nghĩa gốc của 貫 (quán) : xâu, chuỗi (xâu tiền, xâu vật)

Ví dụ phổ biến nhất:
 一貫錢 (nhất quán tiền) = 1 xâu tiền đồng (thường ~1000 đồng tiền cổ)

2/ Khi 貫 được dùng làm đơn vị cân nặng
Trong thực tế (nhất là Trung Hoa – Việt Nam – Nhật Bản cổ), khi hàng hóa được bó / xâu lại, người ta dùng 貫 như đơn vị quy ước trọng lượng.

3/ Một số quy đổi phổ biến theo từng bối cảnh

🔹 Trung Quốc (thường gặp)
→ Ví dụ trong hình bạn gửi:
     26 貫 bằng 97,5 kg
       1 貫 ≈ 3,75 kg

Đây là cách tính rất phổ biến, đặc biệt trong:
  - Buôn bán nông sản
  - Hàng hóa buộc bó (thóc, gạo, cá, hàng khô)
 
🔹 Nhật Bản (Kan = 貫)
    1 貫 ≈ 3,75 kg
     → trùng với cách tính trong hình của bạn
 
🔹 Việt Nam (thời phong kiến) 貫 Quán hay (quan)
  貫 thường dùng cho tiền:
    1 quan tiền ≈ 600 –1000 đồng tiền kẽm (tùy triều đại)
 
Khi dùng cho hàng hóa:
thường hiểu theo quy ước địa phương, hay gặp khoảng 3–4 kg
 
*
Tôi thử dùng thêm trí tuệ nhân tạo thông minh như AI và gửi chữ 貫(không gửi hình chụp) thì có giải đáp:

  "貫" (guan4) đọc là "quán" trong Hán Việt.
  "二十六貫" (97.5 kg) đọc là "nhị thập lục quán" trong Hán Việt.

Cụ thể:
  二十 (nhị thập) = 20
  六 (lục) = 6
  貫 (quán) = đơn vị đo trọng lượng (1 quán = 3.75 kg)
Vậy, 二十六貫 = 26 quán =  97.5 kg

"貫" (quán) thường dùng để chỉ đơn vị tiền tệ trong thời cổ, tương đương với 1 chuỗi tiền (1000 đồng tiền xu). Trong ngữ cảnh này, "quán" thường được dùng để chỉ lượng tiền lớn.
Ví dụ: 一貫錢 (một quán tiền)
Tuy nhiên, như trong trường hợp trước, "貫" cũng có thể dùng làm đơn vị đo trọng lượng, tương đương 3.75 kg.
 
*
Vì đây cụm từ viết theo dạng chữ Kanji (漢字, Hán tự), người Nhật dùng chữ Hán để thể hiện nên tôi hỏi Google:

Kan (貫) trong tiếng Nhật là gì?
 
Goole trả lời như sau:

Thông tin tổng quan do AI tạo
 
Kan (貫 - Quán) trong tiếng Nhật là một đơn vị đo lường cổ truyền thống, tương đương \(1.000\) monme hay \(3,75\) kg, được sử dụng phổ biến để đo trọng lượng ngọc trai nuôi cấy. Trong ngữ cảnh ẩm thực, "kan" (thường viết là 貫) còn là đơn vị đếm chuyên dụng cho sushi (2 miếng/suất) thể hiện sự sang trọng và truyền thống.
 
Các khía cạnh chính về Kan (貫):
 
Đơn vị đo khối lượng (Trọng lượng): \(1\) Kan = \(3,75\) kg (hoặc \(1000\) monme). Đơn vị này được Luật Cân đo Nhật Bản năm 1891 chính thức công nhận và vẫn phổ biến trong ngành công nghiệp ngọc trai.
Đơn vị đếm Sushi: Được dùng để đếm sushi, đặc biệt tại các nhà hàng cao cấp, tượng trưng cho một suất (thường là 2 miếng nhỏ hoặc một cặp).
 
Ý nghĩa khác (Hán tự 貫): Ngoài ra, 貫 có thể chỉ sự "xuyên qua", "nối liền", hoặc trong ngữ cảnh cổ (quê quán, xâu tiền).
 
Khớp nối gỗ (Nuki): Trong kiến trúc, 貫 còn được gọi là nuki, một loại mộng gỗ ngang nối cột và dầm trong xây dựng truyền thống Nhật Bản.
 
Kan (貫) không nên nhầm lẫn với Kan (缶), là từ dùng để chỉ các loại lon, hộp kim loại hình trụ.

*
KAN (貫) và CÂN (觔) có tương quan với nhau không”
 
Tôi tra chữ cân 觔 (đơn vị khối lượng) và các dị thể của nó, không hề thấy có nét tương đồng với Kan 貫 (đọc theo âm Nhật) cả.

觔 CÂN / jīn/
Âm Hán Việt: cân
Tổng nét: 9
Bộ: giác 
Hình thái: 
Nét bút: 
 
Dị thể: 4
斤 筋 𧢼 𧣊
 
Âm đọc khác
 
Âm Quan thoại: jīn 
Âm Nôm: cân
Âm Nhật (onyomi): 
Âm Nhật (kunyomi): 
Âm Hàn: 
Âm Quảng Đông: gan1

*
Tôi hỏi Google thì được biết:

斤 CÂN  Hệ đo lường cổ, 1 cân cổ bằng 16 lạng, tương đương khoảng 0,604 kg. Đây cũng là nguồn gốc của câu thành ngữ "kẻ tám lạng, người nửa cân" (8 lạng = 0,5 cân)

Hiện nay, khi nhắc đến "cân Tàu", giá trị quy đổi chuẩn xác nhất sang hệ mét (kilôgam) là:
1 cân Tàu (1 jin) = 0,5968 kg (khoảng 596,8 gam).
Tuy nhiên, trong thực tế giao dịch và tùy theo ngữ cảnh, con số này có thể thay đổi nhẹ:
Giao dịch thương mại/Order hàng:
Các đơn vị vận chuyển thường làm tròn 1 cân Tàu = 0,5 kg hoặc 0,6 kg để thuận tiện cho việc tính phí cước.
 
Ở Việt Nam, cách gọi phổ thông hiện nay 1 cân là 1 kg.
Ở Trung Quốc 1 “công cân” 公斤 (1 kg) bằng “thiên công khắc” 千公克 (1000 g).
Như vậy, 斤 CÂN với Kan 貫 (đọc theo âm Nhật) không hề thấy có nét tương đồng nào cả.    

*
Tra chữ 貫 (Quán) thấy có cụm từ “ác quán mãn doanh” 惡貫滿盈 lại nhớ đến nhân vật Đoàn Diên Khánh đứng đầu “tứ đại ác nhân” trong truyện kiếm hiệp Thiên Long Bát Bộ của Kim Dung, thú vị thật !

貫 là quan tiền thời xưa ở Việt Nam

Nhớ lời thơ của Nguyễn Bính:

“Một quan là sáu trăm đồng,
Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi.
 
Chồng tôi cưỡi ngựa vinh quy,
Hai bên có lính hầu đi dẹp đàng.
Tôi ra đón tận gốc bàng,
Chồng tôi xuống ngựa cả làng ra xem.”
 
Cảm ơn các hệ thống trí tuệ nhân tạo thông minh như Chat GPT và AI nhiều. Tôi post lên cùng chia sẻ cùng quý bạn!
                                                                            
                                                                               La Thụy sưu tầm

Ghi chú:

Trang face có clip với dòng chữ 二十六貫 (97.5 kg) :
 
https://www.facebook.com/groups/1126577924381780/posts/2615586832147541/
 
Nội dung miêu tả trong clip:
 
“Cô gái nâng tảng đá nặng 97.5kg này là tân Bộ trưởng Onoda Miki, lúc đó là thượng nghị sĩ.
Cô này có lần còn thi đấu môn sumo nữ, cô cũng có đai đen Judo và cựu lực sĩ, nên có khác.”
READ MORE - NHỊ THẬP LỤC QUÁN 二十六貫 (97.5 kg) - Nhờ Chat GPT dịch

Tuesday, July 9, 2024

PHÂN BIỆT CÁC MÓN ĂN "SỦI CẢO, HÁ CẢO VÀ HOÀNH THÁNH" CỦA NGƯỜI HOA - La Thụy sưu tầm và biên tập



Sủi cảo, há cảo và hoành thánh là những món ăn người Hoa khá phổ biến và được yêu thích ở Việt Nam. Tuy nhiên, nhiều người nhầm lẫn cho rằng chúng chỉ là một loại nhưng có nhiều tên gọi đó thôi. Thực sự, sủi cảo, há cảo và hoành thánh là những món ăn khác nhau có thể phân biệt được.
 
1/ SỦI CẢO
 
Theo Wikipedia:
Sủi cảo 水餃 có âm Hán-Việt là thủy giáo
Nghĩa đen: bánh bột nước, còn gọi là bánh tai hay bánh chẻo ("chẻo" bắt nguồn từ tiếng phổ thông Trung Quốc  jiǎozǐ 餃子" âm Hán Việt: giáo tử) là một loại bánh hấp của Trung Quốc phổ biến ở khu vực Đông Á. Đây là một trong những món ăn chính trong dịp Tết nguyên đán cũng như là món ăn quanh năm tại các tỉnh phía Bắc Trung Quốc. Được coi là một phần của ẩm thực Trung Hoa, sủi cảo còn phổ biến ở nhiều khu vực khác của Châu Á và các nước phương Tây.
Sủi cảo thường bao gồm thịt lợn xay hoặc rau băm nhuyễn làm nhân và cuốn trong một miếng bột bánh mỏng, sau đó được ép chặt lại bằng cách nhấn mạnh các góc bánh vào nhau hoặc xếp thành nếp.



Các loại SỦI CẢO
 
Sủi cảo được chia làm bốn loại khác nhau tùy thuộc vào cách nấu bánh:
 
- Sủi cảo luộc shuǐjiǎo 水餃 (âm Hán Việt thủy giáo).
- Sủi cảo hấp zhēngjiǎo 蒸餃 (âm Hán Việt: chưng giáo).
- Sủi cảo chiên trong nồi (tiếng Trung: 鍋貼; bính âm: guōtiē; âm Hán Việt oa thiếp, hay còn được gọi là sủi cảo chiên khô (tiếng Trung: 煎餃; bính âm: jiānjiǎo).
- Sủi cảo sử dụng trứng thay cho bột để bọc bánh được gọi là "Sủi cảo trứng".

Một đĩa sủi cảo luộc và nước xốt.

2/ HÁ CẢO

Há cảo, là một món ăn có nguồn gốc từ Triều Châu, Trung Quốc và rất phổ biến ở Việt Nam.

Há cảo (giản thể: 虾饺; phồn thể: 蝦餃; âm Hán-Việt: hà giáo; nghĩa đen: (bánh) bột tôm) là một món ăn có nguồn gốc từ Triều Châu, Trung Quốc và rất phổ biến ở Việt Nam.

Tên gọi “Há cảo” trong tiếng Quảng Đông phát âm là haa gaau, rất gần với phát âm của từ Há cảo của tiếng Việt

-  Há cảo là một dạng bánh bao với lớp vỏ dai, mềm, có màu trắng hơi trong. Vỏ bánh được làm từ bột gạo, bột tàn mì * trộn với một ít bột năng. Há cảo có cách làm khác nhau ở mỗi quốc gia. Há cảo kiểu Việt Nam khi chín có độ trắng trong và mềm.


Nước dùng để trộn bột làm vỏ bánh phải là nước nóng. Bột sau khi nhào xong sẽ được chia thành từng viên, sau đó cán mỏng thành từng miếng bột tròn và cho nhân vào.
Nhân há cảo khá đơn giản gồm: tôm băm hoặc cắt nhỏ, thịt băm, gia vị và các loại rau củ theo sở thích.
 
Để tạo hình cho há cảo cần giữ độ ẩm cho vỏ bánh, tránh bột khô và đòi hỏi kỹ thuật tạo hình khéo léo hơn so với làm hoành thánh. Nước sôi được dùng làm nước dùng cho vỏ bánh.
 
3/ HOÀNH THÁNH

Ở VN món mì hoành thánh có hai cách gọi chính: hoành thánh (miền Nam) và vằn thắn (miền Bắc) là một món ăn gốc Quảng Đông, Trung Quốc phổ biến ở nhiều nước Á Đông. Cách gọi “vằn thắn” hoặc “hoành thánh” được cho là xuất phát từ âm Quảng Đông của chữ 雲吞 ([wɐn˨˩ tʰɐn˥]), mà âm Hán Việt là “vân thôn”, có nghĩa là “nuốt mây”. Ngoài khu vực Quảng Đông người Tàu gọi là 餛飩 (pinyin: hún tún, âm Hán Việt: “hồn đồn”). Món vằn thắn theo người Hoa du nhập vào Việt Nam vào khoảng thập niên 1930, biến đổi thành món mì vằn thắn không còn hoàn toàn giống với món ăn nguyên gốc Trung Hoa. 
 
Hoành thánh là món ăn quen thuộc và phổ biến ở nước ta, có nguồn gốc từ Quảng Đông, Trung Quốc. Bạn có thể tìm được món ăn này ở khắp các quán ăn lớn nhỏ, từ quán hủ tiếu gõ ven đường cho đến những nhà hàng sang trọng.
Hoành thánh có thể chế biến bằng cách luộc để ăn chung với nước dùng, hoặc chiên lên đều được.
 

Hoành thánh có dạng viên nhỏ vừa ăn, với lớp vỏ ngoài màu vàng đẹp mắt. Vỏ của nó được làm từ bột mỳ, bột gạo và hột gà, sau đó cán thành lớp mỏng và cắt ra thành những miếng vuông.
Nhân hoành thánh bao gồm những nguyên liệu đơn giản như: thịt băm, nấm mèo, gia vị.
Cách gói hoành thánh cũng rất đơn giản. Bạn có thể gấp 4 mép hoành thánh lại hay tạo hình theo kiểu thỏi vàng đều được.
 

Nhân hoành thành đơn giản hơn, chỉ gồm thịt xay và nấm mèo, trong khi sủi cảo luôn có tôm tươi bên trong và nhiều loại thành phần khác. Chính vì thế, hoành thánh có kích thước nhỏ nhắn, vừa ăn từng miếng một. Hoành thánh chiên hay mì hoành thánh đều được ưa chuộng.
 
SỰ KHÁC NHAU GIỮA SỦI CẢO, HÁ CẢO VÀ HOÀNH THÁNH
 
1/ Khác biệt về vỏ bánh:

- Hoành thánh thường có hình dạng nhỏ gọn, với lớp vỏ màu vàng hấp dẫn. Vỏ hoành thánh được làm từ bột mì, bột gạo và lòng đỏ trứng gà, sau đó cán thành lớp mỏng và cắt thành các miếng vuông.
- Sủi cảo có vẻ bề ngoài khá giống hoành thánh với lớp vỏ màu vàng, tuy nhiên, kích thước của nó lớn hơn một chút và cũng có chứa bột mì và trứng gà. Vỏ của sủi cảo thường có màu vàng.
- Vỏ bánh của há cảo mềm mại, đàn hồi, có màu trắng pha vàng nhạt. Vỏ bánh được làm từ bột gạo, bột mì pha với một ít bột năng. Vỏ của há cảo thì lại màu trắng và trong suốt.
 
2/ Khác biệt về nhân:
 
- Nhân của sủi cảo bao gồm: tôm nguyên con đã bóc vỏ, thịt băm, cải thảo và các gia vị. Khi thưởng thức, bạn sẽ cảm nhận được hương vị đặc trưng của tôm.
Phần nhân sủi cảo bao gồm: tôm tươi nguyên con đã lột vỏ, thịt băm, cải thảo và gia vị. Khi ăn sủi cảo bạn sẽ cảm nhận được rõ hương vị của từng miếng tôm và thịt riêng biệt, chứ không bị trộn lẫn như ở há cảo.
- Há cảo thường có nhân là tôm băm hoặc cắt nhỏ, thịt băm, và các loại rau củ theo khẩu vị và gia vị riêng.
- Hoành thánh thường có nhân làm từ thịt băm, nấm mèo và các loại gia vị. Một số địa điểm còn thêm khoai và các loại rau khác.
 
3/ Khác biệt về cách gói:

- Cách gói sủi cảo khá đơn giản, bạn chỉ cần đặt các nguyên liệu vào sau đó nhấn nhẹ phần vỏ bánh cho chúng có nếp gấp và kết dính lại với nhau là xong.
Ngoài ra nếp gấp gói nhân ở lớp vỏ bên ngoài của sủi cảo cũng có phần đơn giản và ít cầu kỳ hơn so với há cảo
-  Cách tạo hình của há cảo đòi hỏi sự khéo tay hơn so với hoành thánh. Bột khi tạo hình phải giữ được độ ẩm, không bị khô thì mới có thể tạo hình được.
Há cảo sau khi tạo hình có thể đem đi hấp hoặc chiên đều rất ngon.
 
- Cách gói hoành thánh cũng đơn giản. Bạn có thể gấp 4 mép hoành thánh lại hay tạo hình theo kiểu thỏi vàng đều được.
 
4/ Khác biệt về hình dáng:
 
- Sủi cảo thường có dạng dài, phẳng và có nếp gấp ở viền bánh.
Há cảo thường có dạng tròn phổ biến.
- Vẻ bề ngoài của hoành thánh khá giống với sủi cảo, do lớp vỏ ngoài được làm từ nguyên liệu giống nhau. Nhưng hoành thánh và sủi cảo vẫn là 2 món ăn với một vài điểm khác biệt
 
Nếu như sủi cảo thường được gói bằng hình bán nguyệt, kích thước khá lớn, thì miếng hoành thánh nhỏ nhắn hơn và được ưa chuộng nhất vẫn là loại hoành thánh lá.
 
5/ Khác biệt về cách nấu
 
Người ta vẫn thường lầm tưởng sủi cảo và há cảo là 2 món ăn giống nhau, nhưng trên thực tế, chúng có nhiều sự khác biệt.
-  Sủi cảo thường được làm chín bằng cách luộc. “Sủi” 水 âm Hán Việt là thủy có nghĩa là nước, tức là thay vì món ăn được hấp như há cảo thì sủi cảo sẽ được luộc chín.
Do khi luộc, các chất dinh dưỡng, gia vị và chất ngọt trong sủi cảo tan ra nước khá nhiều, nên người ta thường dùng cảo chung với nước, chứ ít ai ăn cảo khô.
- Há cảo được làm chín bằng cách hấp, nên tất cả hương vị ngon ngọt của viên há cảo vẫn được giữ vẹn nguyên trong nhân. Há cảo thông dụng là món há cảo hấp, ngoài ra còn món há cảo chiên.
 
6/ Khác biệt về kích thước
 
Người ta dễ dàng phân biệt sủi cảo, há cảo và hoành thánh bằng kích thước và hình dạng của từng loại
Sủi cảo có kích thước lớn nhất, hoành thánh có kích thước nhỏ nhất
 
Tóm lại
 
Trong cả ba loại thì sủi cảo có kích cỡ dài và to nhất. Ngoài ra nếp gấp gói nhân ở lớp vỏ bên ngoài của sủi cảo cũng có phần đơn giản và ít cầu kỳ hơn so với há cảo.

Nói chung, sủi cảo, há cảo và hoành thánh, những món này của người Hoa ăn rất ngon đúng như câu nói: “ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật, đi xe Hoa Kỳ”

Ghi chú:


* Bột tàn mì còn gọi là wheat starch là một trong những loại nguyên liệu xuất hiện rất thường xuyên trong các món ăn hằng ngày mà có khi bạn không hề hay biết. Vậy wheat starch là gì? có công dụng của thế nào?
1.
Bột tàn mì là gì?
Bột tàn mì chính là tinh bột của bột mì. Bột còn có tên gọi tiếng Anh là wheat starch, là loại bột có chất mịn, có màu trắng và không mùi. Loại bột mì này đã được loại bỏ hoàn toàn gluten.
2.
Bột tàn mì có công dụng gì?
Bột tàn mì thực chất là tinh bột của bột mì và chúng có một số công dụng như sau:
- Tạo độ dai và cải thiện màu sắc (trắng)
Bột tàn mì khi hấp sẽ cho độ dai và màu trắng đặc trưng nên được dùng để làm các loại bánh như: Há cảo, bún, bánh phở, bánh canh,...
- Tạo độ giòn, xốp
Cho bột tàn mì vào các loại như bánh pía, bánh bông lan sẽ khiến chúng nở và xốp hơn.
- Tạo độ cứng cho nhân đậu xanh
Bột tàn mì giúp nhân đậu xanh khi nướng giữ được độ cứng mà không làm mất đi mùi vị thơm ngon của đậu xanh.

La Thụy sưu tầm và biên tập


READ MORE - PHÂN BIỆT CÁC MÓN ĂN "SỦI CẢO, HÁ CẢO VÀ HOÀNH THÁNH" CỦA NGƯỜI HOA - La Thụy sưu tầm và biên tập