Một số tác phẩm của nhà thơ Chu Vương Miện.
Chu Vương Miện và thơ về xứ Quảng
Huỳnh Văn Hoa
Chu Vương Miện tên thật Nguyễn Văn
Thưởng, bút hiệu khác Phương Hoa Sử, sinh năm 1941 tại làng Phục Lễ, huyện Thủy
Nguyên, tỉnh Kiến An (cũ), nay thuộc thành phố Hải Phòng. Theo gia đình vào Nam
năm 1954. Thuở nhỏ, học ờ trường dòng Saint Joseph. Theo bố mẹ, sống ở Thanh
Chiêm (nay là xã Điện Phương, Thị xã Điện Bàn), rồi vào Dốc Sỏi (Huyện Núi
Thành, tỉnh Quảng Nam), đến Châu Ổ (huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi), học Trung
học Trần Quốc Tuấn - Quảng Ngãi. Ra Đà Nẵng, học Trung học bán công Nguyễn Công
Trứ, rồi chuyển ra học Trung học Nguyễn Hoàng - Quảng Trị. Chu Vương Miện gắn
bó với xứ Quảng, cả thơ và đời (vợ là người quê huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng
Nam). Ông có thơ đăng trên các báo, tạp chí: Thời Nay, Bách Khoa, Tiền Phong,
Quần Chúng, Thái Độ, Văn Học, Văn, Khởi Hành,... Ông là tác giả của các tập
thơ, trường ca: Đêm đen hai mươi tuổi, thơ, 1964; Tiếng hát Việt Nam, thơ,
1965; Trường ca Việt Nam, thơ, 1967; Lời phản kháng, thơ, 1967; Phía mặt trời mọc,
thơ, 1968.
***
Thơ Chu Vương Miện, như những dòng
thơ cuối cùng của bài thơ Đá buồn đỉnh núi, ký bút hiệu Phương Hoa Sử[1]: Một
chút nắng hắt vào hồn tê dại/ Mai anh có thành đá buồn đỉnh núi/ Chút mây chiều
cũng lãng đãng bay đi.
Chu Vương Miện mang một ít phù sa của
sông Hồng, chất tài hoa của đồng bằng Bắc bộ, cộng với chút nắng gió của sông
Trà, sông Hàn, sông Thạch Hãn,... qua năm tháng, cuộn chảy thành những khúc thức
thơ ca trong văn chương Việt những năm 60, 70. Sự hòa quyện đó, khiến Cao Thế
Dung trong Văn học hiện đại - Thi ca và thi nhân, đánh giá khá cao về tài năng
thi ca, đã viết: "Tài không đợi tuổi. Có người suốt đời làm văn nghệ để cuối
cùng cũng không được một chút gì sự nghiệp. Vậy thì địa vị trong văn học không
tùy thuộc vào yếu tố thời gian và kinh nghiệm... Với ý nghĩa này, chúng tôi nhận
định về nhà thơ Chu Vương Miện. Ông hãy còn trẻ và trẻ lắm ... Nói một cách
khác, ông là một nhà thơ có tài và trưởng thành từ một tuổi trẻ đã mất tuổi trẻ"[2].
Nhà thơ Luân Hoán viết về Chu Vương
Miện, bạn thơ của mình, như sau: "Chu Vương Miện là dân chính cống Quảng
Nam ? Không. Vậy anh từ đâu tới ? - Xin thưa, anh là con dân của đất Quỳnh Lâu,
một ngôi làng nằm trong địa phận quận Yên Hưng, tỉnh Quảng Yên. Nhưng anh lọt
lòng mẹ từ cái nôi quê ngoại, thuộc làng Phục Lễ, quận Thủy Nguyên, tỉnh Kiến
An. Hai quê nội ngoại cách nhau khoảng 10 cây số đường chim bay. Với hệ thống
đường sá và phương tiện giao thông thập niên 20, nhị vị tình nhân, theo tiếng gọi
tình, đến với nhau, nên duyên giai ngẫu, quả là một kỳ tích, một mối tình đẹp.
Có thể đôi nam thanh, nữ tú đã từng gặp gỡ, tình tự qua dòng sông Lục Đầu Giang
? Con sông phơi lòng qua hai làng. Hình như một trong hai người đã từng làm
thơ, thả trôi theo dòng nước ? Lục Đầu Giang bao la, sâu cạn ra sao không cần
biết. Chỉ cần đọc tên lên, nghe ra rất đỗi quần tụ anh hào. Sông Đuống, sông Hồng,
sông Thái Bình... sáu nhánh cùng gặp nhau khó lòng không bát ngát. Trời nước
hùng vĩ, hữu tình chưa đủ. Thủy Nguyên, Yên Hưng còn chia nhau đứng hai bên dãy
núi vôi Tràng Kênh, cao vút với ngọn U Bò, nơi ngài Trần Quốc Tuấn một thời đứng
điều binh đánh giặc Nguyên chạy dài. Không rõ ngày nay nắng trưa, nắng chiều có
còn chiếu vào vách đá, tạo những tia phản xạ xuống lòng sông, ánh lên màu bạc
óng ánh để còn được gọi là Bạch Đằng Giang?".
Nhìn vào những tác phẩm của Chu
Vương Miện, có thể thấy có mấy dòng chính: thao thức về quê hương, đổ vỡ của tuổi
trẻ, tình yêu đất và người xứ Quảng. Những tên đất, tên làng của Quảng Nam đi một
cách tự nhiên vào thơ Chu Vương Miện. Những hình ảnh như Đèo Le, Trung Phước,
Tiên Sa, Giao Thủy, Vu Gia, Mỹ Sơn, Tiên Phước, Trà My, Tam Kỳ, Hội An, Thu Bồn,…
trở nên quen thuộc, nghĩa tình. Những địa danh xứ Quảng gắn bó, trở thành một hồn
trong thơ Chu Vương Miện. Phải yêu lắm mới có những dòng thơ nghĩa tình về đất
Quảng đến thế! Những nẻo đường thân thương của quê hương Quảng Nam đi vào thơ của
người con đồng bằng Bắc Bộ sao đầy yêu mến và thiết tha như vậy! Trên Tạp chí
Bách khoa, số 336, ngày 1-1-1971, có bài thơ “Quê người”, 38 câu, giọng da diết,
dặt dìu, như mênh mang sương tỏa.
Từ miền Nam, viết thư gửi về ngoài
Trung Việt, thăm gia đình vài người bạn thân quen, hỏi về cơn bão, quét qua
trên bao mái nhà rơm rạ, nước từ biển tràn lên thành phố, ngập cánh đồng lúa
con gái đang non. Hình ảnh một miền quê nghèo, với Dăm mái tôn-dăm ổ bánh mì -
dăm túp lều - dăm phận người. Điệp từ "dăm" lặp lại bốn lần nhấn mạnh
đến cái nghèo, cái khổ của xứ Quảng, của miền Trung:
Trọn mùa màng theo dòng nước về
khơi
Mấy mươi năm cày sâu cuốc bẩm
Đất cằn khô sỏi đá ngô khoai
Từng giọt mồ hôi nhỏ xuống lưng người
Nhỏ trên buồn - bãi lúa nương dâu
Ngàn ân tình sao bỗng cuốn đi đâu
Mẹ đứng ngó, em cúi đầu, mặt nước
sông lạnh giá
Rừng lá xanh bay từng ngày tơi tả
Trong lòng trời trên thành phố đồng
sâu
Những con bò cũng bỏ xác theo nhau
Cùng vách ván, lúa mùa trôi đi hết
Mai này rưng rưng nhớ về Trung Phước
Buồn mênh mông
Cả đoạn thơ "buồn mênh
mông" lan tỏa trong lòng người tiếp nhận. Có lẽ không có nơi nào, "đất
cằn khô sỏi đá", "từng giọt mồ hôi nhỏ xuống lưng người",
"nhỏ trên buồn - bãi mía nương dâu", "những con bò cũng bỏ xác
theo nhau, cùng vách ván, lúa mùa trôi đi hết... như dãi đất quê hương Trung Việt.
Quặn lòng với dòng thơ:
Mẹ đứng ngó, em cúi đầu, mặt nước
sông lạnh giá ...
Thư viết cho miền Trung, vùng đất
quanh năm bão lũ, cũng chẳng mong chút gì hy vọng:
Mai này bỏ thư vào nhà giây thép
Bì thư dày và nét chữ run run
Chả hy vọng gì ngoài nớ bình yên
Dăm cơn bão lại chợt về mái lá
Phố xá làng thôn một vùng biển cả
Trời chưa mưa sao lòng mắt nhạt
nhòa.
(Quê người)
Gần đây, tình yêu đối với đất và
người xứ Quảng trở lại với Chu Vương Miện. Trên Tạp chí Thế Kỷ 21, số 171,
tháng 7-2003, có những dòng thơ trữ tình, xao xuyến:
“Gió từ đèo Le gió về Trung Phước/
mây từ Hoàng Sa mây kéo Sơn Chà/ ta từ Quảng Ninh ta vào Châu Rí/ làm rể Quảng
Nam cát mịn Tiên Sa/ lỗi hẹn một lần không về Giao Thủy/ nát cả lòng nhìn dòng
nước Vu Gia/ đây “đất học”, “vùng văn” làng cô giáo/ một cụm gồm năm ngọn núi
đá hoa/ em bỏ ta đi làm dâu Hiếu Đức/ làng cổ Phong Nam dằng dặc hoa trà/ bãi bắc,
bãi nam-vùng Suối Đá/ sáu tháng mùa mưa sáu tháng mùa khô/ ở thánh địa Mỹ Sơn
dày tháp cổ/ em chê ta - chỉ một gã làm thơ/ Ngũ hành Sơn nhìn qua Bà Ná/ mối
tình đầu xin gởi lại Faifoo/ trải ba mối tình ta về Tiên Phước/cả duyên trộn nợ
ta gặp em/ Quế Trà My-Tam Kỳ từ kiếp trước/ dấu tích Hội An (vùng Đại Chiêm)/
đây Thuận Châu nhớ thương Trà Kiệu/ mối ân tình nàng công chúa nhà Trần/ xuôi
Chiên Đàn nước mặn về Châu Ổ/ trải bao đời sáng giá một Huyền Trân/ em dòng dõi
Lê Duy Cường-Duy Mật/ biết bao đời chống Trịnh Nguyễn Tây Sơn/ cả dòng họ bị
đày vào Ngũ Quảng/ đem Lam Sơn thắp sáng nước non Chàm/ ta ngừng đó một đời
không đi nữa/ từ thôn Nam Thọ nước Thu Bồn/ cả giải đất Nông Sơn nhiều quặng mỏ/
ngước nhìn lên sừng sững núi Cà Tang/ gió Thái Bình Dương lùa qua Non Nước/
mênh mang sương tỏa cù lao Chàm/ lỡ mai sau quá yêu đời ta chết;/ cũng một lần
là rể đất Quảng Nam”.
Phải yêu lắm mới có những dòng thơ
nghĩa tình về xứ Quảng đến thế ! Những địa danh quen thuộc của đất Quảng đi vào
thơ của người con đồng bằng Bắc Bộ sao đầy thương mến, tha thiết như vậy !
Người bạn thơ của Chu Vương Miện là
Phan Trước Viên (sinh năm 1939 tại xã Bình Tú, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng
Nam). Một người bạn nghĩa tình, vượt qua các rào cản, các trở lực lúc bấy giờ.
Khi nghe tin Phan Trước Viên bị thủ tiêu, Chu Vương Miện có những bài thơ khóc
bạn, thật cảm động, đăng trên Tạp chí Bách khoa. Bài thơ có tên Bài tưởng niệm,
4 khổ, 16 câu, nói về tình bạn mười năm, nay Mày nằm trong đất năm 68/ Ta mãi
giang hồ khắp đó đây/ Núi đỏ rừng xanh đi khắp cả/ Sao vẫn chưa quen kiếp đọa
đày ?... Khổ thơ cuối, nghẹn ngào, đau xót: Ta ở núi này trông núi nọ/ Núi nào
cũng một thuở đầu xanh/ Quê hương đã rách giờ thêm nát/ Mày hãy nằm đây, giấc
ngủ lành.
Trên Tạp chí Bách Khoa, Chu Vương
Miện có nhiều bài thơ ký bút danh Phương Hoa Sử như Về khơi (Bách khoa, số 297,
ngày 15-5-1969), Đá buồn đỉnh núi (Bách khoa, số 301, ngày 15-7-1969), Tình ca
cuối cùng (Bách khoa, số 318, 1-4-1970), Tình ca (Bách khoa, số 320, ngày
1-05-1970), Hữu ngạn (Bách khoa, số 325, ngày 15-07-1970). Những bài thơ ký bút
hiệu Phương Hoa Sử... vẫn là niềm thương nỗi nhớ về quê hương, về xứ bắc, về những
chân cầu sóng vỗ trong thơ, trong đời, về:
Mai mình xa nhau như sóng chân đèo
Lòng heo hút từng vùng mây dang dở
Trời tháng giêng sao thoáng buồn
như thế !
(Tình ca cuối
cùng)
Trước sau, thơ Chu Vương Miện vẫn
là tiếng nói trữ tình, tha thiết về tình quê, tình người, về xứ Quảng bão
giông, nghèo khó, ân nghĩa:
- Mai này rưng rưng nhớ về Trung
Phước
Buồn mênh mông
Hỡi người tôi yêu còn dạy học trò ở
Hiếu Nhơn, Hiếu Đức ...
- Dăm cơn bão lại chợt về mái lá
Phố xá làng thôn một vùng biển cả
Trời chưa mưa sao lòng mắt nhạt
nhòa.
(Quê
người)
H.V.H
[1] Bài đăng trên tạp chí Bách Khoa, số 301, ngày 15-07-1969.
[2] Cao Thế Dung, Văn học hiện đại
- Thi ca và thi nhân, NXB Quần Chúng, Sài Gòn, 1969, trang 353, 354.
&&&
Bài đăng trên Trang Thông tin Điện tử Tổng hợp VĂN NGHỆ ĐÀ NẴNG ngày 6/8/2025.
https://www.vannghedanang.org.vn/chu-vuong-mien-va-tho-ve-xu-quang-12728.html

