Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Thụy Sơn. Show all posts
Showing posts with label Thụy Sơn. Show all posts

Tuesday, August 14, 2018

ĐỌC “VÀNG THU TA RỤNG…”, THƠ THỤY SƠN - Châu Thạch

 
Nhà  thơ Thụy Sơn


ĐỌC “VÀNG THU TA RỤNG…”, THƠ THỤY SƠN
Châu Thạch


VÀNG THU TA RỤNG ...
               
Quên choàng y áo chân tu
Qua sông để rớt kinh thư thuở nào
Đọa làm kiếp lá hanh hao
Vàng thu ta rụng xanh xao nỗi buồn
Áo đời hai mảnh vá suông
Sợi khâu tang hải sợi luồn bể dâu
Bàn chân giẫm nát đêm nhàu
Thái hư xẻ nửa trăng đầu khuyết hao
Hành châu nghịch thủy về đâu
Sóng tràng giang nhuộm trắng màu biệt ly
Đò chưa qua buổi xuân thì
Sông trăng dường đã già đi nhánh buồn
Ta ngồi chải tóc hoàng hôn
Sợi dài thế kỷ mót bòn yêu thương
Đò mai rẽ bến Tiêu Tương
Khóc ròng con nước nguyên sương quê nhà
Buồn vui túy ngọa giang hà
Vàng thu ta rụng cội tà huy xưa

Thụy Sơn


Lời bình: Châu Thạch

Đọc cái đầu đề “Vàng Thu Ta Rụng…” chắc không ai hiểu gì. Đọc qua khổ một của bài thơ thì hiện lên trong mắt ta cả nỗi sầu hanh hao từ tiền kiếp. Lá cũng có linh hồn và lá trong thơ là hóa thân của một vị chân tu bị đọa từ kiếp trước bởi sơ hở trên con đường tu tập:
Quên choàng y áo chân tu
Qua sông để rớt kinh thư thuở nào
Đọa làm kiếp lá hanh hao
Vàng thu ta rụng xanh xao nỗi buồn
Cả một câu chuyện về luân hồi được kể lại trong bốn câu thơ. Một câu chuyện hoàn toàn hư cấu nhưng là một câu chuyện tưởng tượng độc đáo.
Chiếc lá vàng rơi mùa thu là quả của nhân. Cái nhân đẹp thì cái quả cũng đẹp. Nhân là vị chân tu thanh tịnh thì quả là chiếc lá vô tư trên cây. Nhân “quên choàng y áo” nên hậu quả của một sự vô tình đó là “để rớt kinh thư”. Rớt kinh thư trở thành tội để luân hồi kiếp sau thành chiếc lá.
Áo của tu sĩ màu vàng thì quả cũng nhập xác vào chiếc lá màu vàng để “vàng thu ta rụng”.
Tác giả đã hòa nhập triết thuyết Phật giáo vào thơ, dùng hình ảnh thanh thoát, câu từ thi vị để diễn đạt cái nghiệp lực mà dầu một vị chân tu cũng phải nhận lảnh.
Đọc thơ ta để ý đến chữ “ta” mà tác giả đã dùng. “Ta” chính là mình, là tác giả. Nếu không là sự cảm biết bản thân trong quá khứ thì cũng là một cảm ứng giữa kiếp trước và kiếp nầy trong hồn thơ tác giả.
Chữ “ta” làm cho tác giả nhập vào sự kiện, làm cho chuyện kể trở nên thực và làm cho người đọc cảm nhận gần gủi với câu chuyện hoàn toàn hư cấu mà tác giả nghĩ ra.
Nhà sư trong thơ “Đọa làm kiếp lá hanh hao”cũng đẹp tuyệt vời. Ngài không sa vào dục vọng trần gian, ngài chỉ lảng quên “choàng y áo” khiến sinh hệ luy mất kinh thư, từ đó sự đọa thành chiếc lá vàng của ngài cũng đẹp như chiếc lá thu bay vậy.
Qua khổ thơ thứ hai, rõ ràng tác giả hóa thân mình vào nhà sư, hóa thân mình vào chiếc lá, với những trăn trở của mình trong kiếp nhân sinh:
Áo đời hai mãnh vá suông
Sợi khâu tang hải sợi luồn bể dâu
Bàn chân giẫm nát đêm nhàu
Thái hư xẻ nửa trăng đầu khuyết hao
Hai câu thơ đầu, tác giả lấy ý từ thành ngữ “Tang điền biến vi thương hải và ngược lại” (ruộng dâu biến thành biển xanh và ngược lại) nhưng hay và lạ ở chổ, nhà thơ đã đem hai sự kiện lớn lao làm thành một chiếc áo của đời mình.
Hình ảnh trong thơ diễn đạt sống động chiếc áo “tang thương” là hai mảnh của kiếp người với tất cả nghĩa vô thường của nó.
Hai câu thơ kế tiếp diễn tả hình ảnh kiếp người trong đêm tối mông lung.
“Thái hư” là “khoảng trống không vô định”. Trong khoảng trống không vô định đó, con người dẫm nát bóng đêm để đi tìm chân lý. Thế nhưng chỉ thấy “ nửa trăng đầu khuyết hao”nghĩa là chẳng thấy vầng trăng tròn bao giờ, hay là chân lý chưa hề hiện ra trọn vẹn. Chân lý chỉ thấy từ xa như thấy nửa vầng trăng.
Khổ thơ nầy hoàn toàn là miêu tả cái “khổ đế”của Phật giáo, nhưng diễn đạt bằng ngôn ngữ của thơ, hình tượng nỗi đau bằng hai mãnh áo, hình tượng sự mê muội bằng đêm thâu và hình tượng sự trôi lăn vạn kiếp lạc bước trong vô định để nhìn thấy chân lý như nửa vầng trăng, không trọn vẹn bao giờ . Bốn câu thơ bi quan, mô tả đời người trong hố thẳm tội lỗi, muôn kiếp mịt mờ trong bóng tối hư vô.
Khổ thơ thứ ba nhà thơ diễn đạt sự đấu tranh nhọc nhằn, sự tìm kiếm trong vô vọng, cùng sự phôi pha của một kiếp nhân sinh:
Hành châu nghịch thủy về đâu
Sóng tràng giang nhuộm trắng màu biệt ly
Đò chưa qua buổi xuân thì
Sông trăng dường đã già đi nhánh buồn
“Hành châu nghich thủy” có nghĩa là đi ngược dòng nước. Người xưa có câu “Nghich thủy hành châu bất tiến bất thoái” nghĩa là đi ngược dòng nước thì tới cũng không được mà lui cũng không được. Câu thơ đầu chỉ sự nan giải của một kiếp người, mắc kẹt giữa dòng đời như chiếc thuyền đi ngược dòng sông. Câu thứ hai mô tả dòng đời đầy sự biệt ly buồn ảm đạm.
Qua hai câu thơ sau “Đò đưa qua buổi xuân thì/ Sông trăng dường đã già đi nhánh buồn”, nhà thơ đã nhìn vào đời bằng con mắt tâm lý của mình. Tất nhiên tuổi con sông phải già nhưng người qua sông lại thấy nó già hơn cái già của nó, giống như người đã ngao ngán cuộc đời vì thấy cuộc đời nhiêu khê và cằn cổi khi mình đang ở tuổi xuân thì.
Rồi thì bởi cái nhìn tâm lý, thấy đời già trước tuổi thọ của mình, nhà thơ mang tâm trạng bi quan yếm thế, ngồi thở than bên dòng sông định mệnh:
Ta ngồi chải tóc hoàng hôn
Sợi dài thế kỷ mót bòn yêu thương
Đò mai rẽ bến tiêu tương
Khóc ròng con nước nguyên sương quê nhà
Bến Tiêu Tương là bến ở sông Tiêu Tương, nơi đây có chuyện tình Trương Chi-Mỵ Nương. Mỵ Nương rơi lệ xuống chén ngọc làm bằng quả tim anh lái đò có tiếng hát làm lung linh trăng vàng. Trương Chi, người đã chết xuống tuyền đài với tình yêu say đắm nàng vĩnh viễn. Trái tim chàng chỉ tan ra trong giọt nước mắt của nàng. Nhà thơ Thụy Sơn đã hư cấu mình ngồi chải tóc ở đó suốt trăm năm để nhìn con nước quê nhà khóc ròng cho mối tình bất diệt.
Thật ra tác giả chỉ mượn chuyện tình trên bến Tiêu Tương để nói về tất cả nhưng ngăn trở của cuộc đời. Sự chải tóc là hình ảnh của sự đợi chờ. Hoàng hôn chỉ thời gian đã qua, thời cơ của mình đã hết. Bốn câu thơ dùng những bức tranh tuyệt đẹp, lung linh để ta thán những nghịch cảnh mà đời đem đến. Đoạn phim trên bến Tiêu Tương, một người ngồi chải tóc, nhỏ lệ trên dòng sông sự tích đẹp làm sao, khiến cho người đọc thơ cảm nhận như mình ngồi ở chốn “nguyên sương” của thời xa xưa vậy.
Thụy Sơn dùng hai cầu thơ kết có hào khí ngất trời. Không phải hào khí của người chiến binh trong bài thơ “Khúc hát Lương Châu” của Vương Hoán có hai câu thơ “Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu/ Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” mà khác nhiều hơn với ý thơ này:
Buồn vui túy ngọa giang hà
Vàng thu ta rụng cội tà huy xưa
Hai câu thơ của Vương Hoán được Trần Trọng San dịch là “Sa trường say ngủ ai cười/ Từ xưa chinh chiến mấy người về đâu”. Thụy sơn cũng dùng hai chữ “túy ngọa” là say nằm, nhưng không “túy ngọa sa trường” mà “Túy ngọa giang hà” là say nằm trên sông nước. Giang hà trong bài thơ “Vàng Thu Ta Rụng…” của Thụy Sơn như trên ta biết không phải là sông nước của mặt đất nầy, mà đó là dòng sông của định mệnh, là dòng quay của bánh xe luân hồi chuyển tiếp đời người kiếp nầy qua kiếp khác. Trên dòng sông đó có một người chân tu vì phạm lỗi phải đọa vào cuộc đời vàng như chiếc lá thu rơi. Vị chân tu buồn, túy ngọa trên dòng sông định mệnh ấy để rồi, cũng rụng như chiếc lá vàng rơi dưới cội cây trong một chiều nào đo, như những chiều năm xưa của kiếp trước.
Nhà thơ Lê Giao Văn đã bình luận bài thơ nầy như sau: “Bài thơ cổ điển mà hồn cốt rất tân thời”. Tôi nghĩ một nhận xét như thể đã nói đủ bài thơ nầy rồi. Cái hay của bài thơ nầy thật ra chỉ dùng chữ để gợi ý mà thôi. Người đọc, qua trình độ hiểu biết Phật pháp, qua tâm hồn nghệ sĩ và qua sự thẩm thấu văn chương nhiều hay ít mà thưởng thức bài thơ, cảm nhận được những gì chất chứa trong thơ càng sâu thì càng thú vị. Với tôi, tôi đọc thấy nó hay ngay tự ban đầu, suy nghiệm nó hơi lâu, nhưng càng lâu thì càng yêu mến nó, một bài thơ không dễ có ai làm!!!
                                                          Châu Thạch




READ MORE - ĐỌC “VÀNG THU TA RỤNG…”, THƠ THỤY SƠN - Châu Thạch

Monday, March 26, 2018

ĐỌC “NHƯ HẠT BỤI ĐAM MÊ” TẬP THƠ THỤY SƠN - Châu Thạch




ĐỌC “NHƯ HẠT BỤI ĐAM MÊ” TẬP THƠ THỤY SƠN
                                                               Châu Thạch

Tôi và nhà thơ nữ Thụy Sơn chắc cũng hữu duyên nhưng không năng tương ngộ vì chỉ gặp nhau một lần trong dịp thầy Kim Tâm Thích Hạnh Niệm mời họp mặt ra mắt tập Đường thi xướng họa “Giao Khúc Mừng Xuân” tại chùa Pháp Bảo Hội An. Tập thơ “Như Hạt Bụi Đam mê” được trao từ tay Thụy Sơn qua Tâm Nhiên rồi từ tay Tâm Nhiên trao lại cho tôi. Tập thơ được trao dưới mái hiên, bên sân chùa, cạnh những luống hoa cao tới ngực có nhiều màu rực rỡ. Nhìn người phụ nữ duyên dáng với chiếc váy dài bên anh chàng thi nhân bụi đời tóc dài, mũ rộng, áo thùng thình tôi thấy lạ thay, trong cái đối nghịch ấy lại thấy một sự hòa hợp diệu kỳ. Về nhà đọc thơ của Thụy Sơn tôi mới phát hiện họ đều là con Phật. Nếu thơ của Tâm Nhiên khẩu khí ngút trời, âm ba đồng vọng như tiếng trống chùa dộng mạnh, lay động cả không trung thì ngược lại, thơ của Thụy Sơn như tiếng chuông êm đềm len qua ngàn cây cỏ. Nếu có ai đem hòa nhập tiếng thơ họ lại thì sẽ làm tâm hồn ta dồn dập một nguồn vui an tịnh. 

           
                Nhà thơ Tâm Nhiên và nhà thơ Thụy Sơn

Với tôi cụm chữ “hạt bụi đam mê” của Thụy Sơn không phải là thứ hạt bụi “hóa kiếp thân tôi” để rồi một mai than thở “ôi cát bụi phận này/vết mực nào xóa bỏ không hay” của Trịnh Công Sơn. Hạt bụi của Thụy Sơn là hạt “bụi đam mê”, là cái nhân của niềm tin. Từ cái hạt bụi Đam mê của Thụy Sơn cho tôi nhớ đến một câu trong Kinh Thánh: “nếu đức tin bằng hạt cải thì các ngươi có thể dời non lấp biển”. “Hạt cải đức tin” trong Kinh Thánh và “hạt bụi đam mê” trong thơ Thụy Sơn đều có một ý nghĩa giống nhau. Nó là sức mạnh của tinh thần. Sức mạnh ấy có thể diệt khổ trong tâm hồn ta và dời nỗi đau lớn như núi, rộng như biển của ta. Hạt bụi ây cũng có thể giác ngộ được cả cho tha nhân nếu họ nghe ta, kiến tánh được niềm tin ấy. Thế nhưng khi hạt bụi đam mê đó chưa đạt sự tinh tuyền thì cửa thiên đường còn đóng lại, linh hồn sẽ trôi nổi mãi:

Sang sông … lở rớt lời kinh sám
Gợi giấc…mơ qua sỏi đá mềm
Hạt bụi đam mê vàng sợi nắng
Thiên đường cổng khép một lần thêm

                              (Hạt Bụi Đam Mê)

“Sang sông” là xuống bến mê qua bài giác ngộ. “Rớt lời kinh sám” là làm mất niềm tin chân lý, quên đi sám hối tội lỗi mình. “Gợi giấc” là một phút yếu lòng. “Mơ…qua sỏi đá mềm” là ước vọng những điều phù phiếm của trần gian. Tất cả điều ấy sẽ làm cho “hạt bụi đam mê vàng sợi nắng” nghĩa là làm cho yếu đuối đức tin và kết quả là thiên đường khép cổng thêm một lần nữa trong vạn kiếp luân hồi. Chỉ qua bốn câu trong tám câu Đường thi mở đầu tập sách, ta cũng thấy được ở thơ của Thụy Sơn, sâu đậm những suy nghiệm về triết lý Phật giáo và qua những suy nghiệm đó, hình ảnh sống động của đời, lung linh của đạo được chăm chuốt nở ra những đóa hoa đẹp trong vườn thơ tịnh độ.
Thơ của Thụy Sơn diễn đạt định luật vô thường, sắc sắc không không trong Phật giáo một cách thanh thoát, nhẹ nhàng:

Sương trăng về đậu trắng sông
Đò ai không ngủ ngược dòng tịnh bơi
Nước trôi cầu nhẹ nhàng trôi
Bến bờ cố xứ không tôi… không đò…

                                              (Đêm)


Bài thơ đề cập đến một vấn đề mà cho chí những vị thiền sư cũng phải dùng Hán tự để giảng luận lâu dài. Ở đây Thụy Sơn chỉ dùng hình ảnh vạn vật hiện lên trong cơn say cho ta ngộ ngay được sợi dây khắn khít của nghiệp duyên như sương đợi nắng, như con đò trăm năm đứng đợi một bóng tà huy ở cuối một bến sông nào đó. Những chung rượu của thụy Sơn thật là tuyệt vời, nó không lôi con người vào cõi đam mê trần tục mà nó thăng hoa con người vào tiền kiếp của mình khi nói “bên trời muộn bóng vân du”, để từ đó thấy cả được trần duyên của mình từ thuở hồng hoang.Ta tưởng tượng bóng vân du là bóng của linh hồn ta lang thang từ muôn kiếp trước. Thơ có thể truyền tâm ấn, thơ có thể trực chỉ nhân tâm là ở chổ nầy đây! 

Thụy Sơn cũng rất tài tình khi viết về niềm vui của đạo pháp:

Chút nắng vàng hanh của cuối ngày
Vô tình để lại giọt nồng bay
Ta trong vô thức ngàn xưa dậy
Mở trái tim hoang ngập gió đầy…

                                        (Gió)


Khổ thơ không nói gì về giáo lý, nhưng đọc thơ ta liên tưởng ngay thứ gió mà đạo pháp mang lại cho con người, nó làm thức tỉnh vô thức tự ngàn xưa, nó làm tràn ngập niềm hoan lạc trong trái tim ta. 

Trong “hạt bụi đam mê”, ngoài những bài thơ sâu xa về đạo, còn có nhưng bài thơ cho đời, Thụy Sơn thường viết ngắn gọn nhưng chất chứa, tiềm ẩn, gói gọn một thứ tình trong vắt của một tâm hồn đa cảm.
Để nhớ về kỷ niệm một thời, tác giả viết:

Xưa một thời mơ mộng
Đuổi bắt áng mây xa
Nay từng giây tỉnh thức
Nắng ấm trước hiên nhà…

                    (Nắng Ấm)

Để nói về những điều đọng lại trong ký ức, tác giả viết:

Trời còn nhớ đất lệ tràn mưa
Trăng nhớ hàn giang thức trắng mùa
Cỏ nhuộm tương tư vàng vỏ úa
Lạnh lùng đá cũng nhớ rêu xưa…

                                (Rêu Xưa)


Để nói về một cuộc tình của tuổi học trò tan vỡ tác giả viết:

Đêm nay mây nước hữu tình
Sao trăng khuya vẫn một mình đi hoang
Hạ vàng sao vội sang ngang
Có con bướm trắng để tang cuộc tình

                                         (Hạ Vàng)


Chỉ đơn cử một vài khổ thơ viết về đời ta cũng thấy được tiếng thơ viết cho đời của Thụy Sơn cũng mẫu mực, điềm đạm, lung linh từ trong những câu ngắn gọn một thứ ánh sáng tỏa ra cho ta liên tưởng và hình dung được ý nghĩa tổng thể mà nhà thơ gởi tâm tình mình vào đó. Hình ảnh khi “Đuổi bắt áng mây xa” thì “nắng ấm trước hiên nhà’’ cho ta trọn vẹn sự ấm áp lúc tâm hồn nhớ nhung về quá khứ. Hình ảnh “lạnh lùng đá cũng nhớ rêu xưa” cho ta trọn vẹn sự thê thiết trong lòng bởi những quá khứ không vui. Và bức tranh “Trăng khuya vẫn một mình đi hoang” cho con “bướm trắng để tang cuộc tình” chiếu trọn vẹn bước chân lang thang và niềm đau lặng lẽ trong lòng kẽ thất tình. 

Đọc trọn vẹn tập thơ “như hạt bui đam mê’ của Thụy Sơn thú thật tôi không tìm được một bài để chê. Thơ chị cho tôi có cảm tưởng lúc thì đi vào một vườn hoa thanh tịnh bên một sân chùa, khi thì lại thấy mình như đứng nơi một thạch động nghe tiếng âm vang từ xa xôi dội lại, khi thì lại thấy trăng, thấy nước, thấy con thuyền lửng lờ trôi trên một dòng sông yên tịnh. Thơ Thụy Sơn không có sự cao siêu của thơ thiền, cũng không có sự ôm đồm giáo lý để dạy đời của thơ đạo, mà chính hiệu nó là nguồn trong trẻo của thơ, thoảng hương thơm của đạo và tiềm ấn một chút lạc vị của vô vi, khiến cho càng đọc ta còn bình tịnh tâm hồn, làm cho ta yêu mọi cái quanh ta.

Tôi cũng vài lần viết cảm nhận thơ của các vị sư. Tôi hình dung các vị cười một nụ cười hiền hòa, tha thứ cho sự múa riều trước mắt thợ của mình. Tuy thế tôi cũng có nhận được lời khen khích lệ làm cho tôi vui mừng, an tâm múa tiếp. Hy vọng lần nầy tôi cũng nhận được nụ cười ấy từ tác giả và từ bạn đọc am tường giáo lý và đạo pháp. Kính cảm ơn ./.

                                                                 Châu Thạch

READ MORE - ĐỌC “NHƯ HẠT BỤI ĐAM MÊ” TẬP THƠ THỤY SƠN - Châu Thạch