Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label MacDung. Show all posts
Showing posts with label MacDung. Show all posts

Wednesday, November 1, 2023

RONG CHƠI! - MacDung bình thơ Khùng Chân Nhân

 




RONG CHƠI!



Bất chợt trong bãi cát vàng, tôi vô tình thấy được một hạt vùi mình trong cuộc rong chơi cùng sóng biển. Một cuộc rong chơi đầy màu sắc kiếm hiệp của các vị chân nhân rời xa thế tục, vui cảnh Thế Ngoại Đào Nguyên. Sự tách mình khỏi những xô bồ đời thực lắm khi tạo ra dị biệt, đôi lúc cũng để lại chút ngưỡng mộ trong thế tục điều người khác từng nghĩ nhưng chưa làm hoặc không dám làm… Cuộc ẩn cư trên thực tiễn mang nhiều khó khăn cần giải quyết, từng khiến chùn chân biết bao kẻ muốn quay lưng với hiện thực đã được điêu khắc gia Lê Lang Biên hóa thân vào Thơ tạo nên chuyến du hành miên viễn trong cõi tinh thần: Rong Chơi…

Đã Rong Chơi thì người ta không đặt nặng thành quả hay nghệ thuật lên đầu! Cái sảng khoái nhất là tìm vui cho chính mình để hoàn thành chuyến du hành suốt cuộc nhân sinh vui buồn, cười khóc…

Bạn đừng nghĩ rằng người ta chỉ Rong Chơi trong vui vẻ! Như thế lại bỏ qua trải nghiệm khổ đau nhân thế! Rong Chơi trở nên nhỏ hẹp với nghĩa đen chưa làm nên sự sảng khoái đích thực… Cảnh giới của Rong Chơi đạt cao trào khi buồn vui, bi hài, nghịch cảnh… vẫn làm nên cuộc ngao du mới đạt hết cái chí của nhà thơ này.

Cho nên:

“Mưa buồn 

cất tiếng 

tiêu diêu

Nghe sầu 

không bến 

thuyền chiều 

trôi xa…!!!”

(Khùng Chân Nhân, 23-11-2021)

Qua hai câu thơ, điêu khắc gia nặng nợ với thơ: Lê Lang Biên, đã chỉ ra tính chất của cuộc Rong Chơi. Tiêu Diêu hay Tiêu Dao khác âm nhưng lại đồng nghĩa trong thành ngữ Tiêu Dao Tự Tại. Một sự vui thú được lồng ghép trong ngữ cảnh không giống ai, khi: Mưa buồn cất tiếng Tiêu Diêu!? Đấy! Cái lạ chính là chỗ âm thanh của Mưa Buồn lại được nhà thơ ví von với Tiêu Diêu. Rõ ràng Rong Chơi không chỉ có Vui Buồn cũng thành cuộc. Vì vậy khi thâm nhập Rong Chơi với nghĩa mở rộng: dù buồn tác giả vẫn cứ thích Rong Chơi… cho dù Sầu không giới hạnThuyền thì Không Bến theo cái kiểu của nhạc sĩ Đặng Thế Phong!

Phải vứt bỏ nhiều thứ mới Rong Chơi được! Bạn không thể làm một cuộc du hành thoải mái khi vác theo bao lo toan! Nhiều hành trang như vậy sao gọi là Vui. Đã Tiêu Dao theo thuyết nhà Phật phải biết Buông, Bỏ. Chỉ có buông bỏ mới làm cho Rong Chơi nhẹ nhàng như mây. Mây không nặng thể trạng mới bay cao được. Và chỉ ở trên cao mới quan sát toàn cục cõi san hà bá tánh…

Thế Ngoại Đào Nguyên là thế giới tinh thần. Thế giới không có thực này khiến biết bao người thích sự Tĩnh Tại hằng ao ước!? Thế thì cái không có thực, ai lại cấm con người thêu dệt nó qua thơ? Rong Chơi của nhà thơ Lê Lang Biên đang nói đến điều này. Phá vỡ hiện thực để vào thế giới tinh thần chính là chân lý cầu mong của người tu đạo. Và… Khùng Chân Nhân xuất hiện giữa hiện thực với cuộc Rong Chơi bất tận… 

Một điêu khắc gia thành công với nhiều giải thưởng lớn, nhưng với Lê Lang Biên xem ra phải làm Rỗng để nhẹ bay, phải trút để nhận Mới. Vô tình hay hữu ý anh rơi vào cuộc thiên niên nghị bàn Đạo Đức Kinh của Lão Tử: Đạo khả đạo phi thường đạo. Danh khả danh phi thường danh… Những điều có vẻ phi thường này biết đâu đối với nhà thơ cũng chỉ là cuộc Rong Chơi…

Mọi sự trên đời không qua một chữ Duyên. Duyên của tôi được tiếp kiến nhà điêu khắc yêu thơ này thông qua họa sĩ – nhà thơ Trần Hữu Tài, rồi mở ra cuộc Rong Chơi. Sự khởi đầu e rằng một bài viết chẳng nói hết những gì cần phải nói. Thôi thì cái bên ngoài cứ sảng khoái bày tỏ. Cái bên trong cứ gói ghém lại chờ duyên tương ngộ trên con đường Rong Chơi khác. Dù sao, nếu chưa từng được Rong Chơi thì qua sự tương tác này tôi muốn làm một lữ khách nhập cuộc trên hành trình lên đỉnh cuộc nhân sinh…


                                                                    Nguyên Tiêu – 2022

                                                                   

                                                                               MacDung

macdungvh@gmail.com


READ MORE - RONG CHƠI! - MacDung bình thơ Khùng Chân Nhân

Monday, April 24, 2023

MƠ HOAN - Cảm nhận của MacDung về bài thơ ĐUỐI MỘNG của TT-Thanh Trước

 


Mơ Hoan


ĐUỐI MỘNG

 

Đêm trần tục… 

Ta say tình hư ảo 

Mơ nụ yêu 

Khao khát 

Giọt thiên đường 

Trong nỗi nhớ cuồng si 

Hồn điên loạn 

Ta trầm mình 

Đuối mộng 

Giữa ngàn hương… 


21.11.2022 

TT-Thanh Trước


Trần gian vốn lắm thú vui! Điều này chắc chắn mọi người phải thừa nhận nếu đem so sánh với thiên đường vốn không có người về để kể lại… Như thế, chỉ độc nhất cõi tục mới có thú vui diễn ra với muôn hình vạn trạng và nhất là trong… thơ!

Các danh sĩ ngày xưa vốn lấy rượu làm thú vui ngẫu hứng lúc đề thơ. Thế là rượu, thơ như cặp phạm trù xuất hiện thường xuyên trong văn học cổ kim và hiện nay rất nhiều biến tấu bắt đầu bằng cơn Say…

Say có nhiều cách, nhiều cung bậc… Cõi Thiền vốn giữ nghiêm luật ngũ giới nên lấy trăng hoa làm bạn từ đó khởi nguồn cho những: Say trăng. Say hoa. Say Mây và Gió… Tức nhiên những thiền sư bước vào cửa Phật đã lánh xa cõi tục vì vậy lạc thú nhân gian bị chi phối bởi giới luật. Nhà sư thì không thể lấy rượu làm say cho dù là cả trong tưởng thức lúc đề thơ và càng chẳng thể nào Say Tình như thú vui thế tục thường diễn ra như một bản năng của loài người từ lúc khai nguyên nhằm duy trì nòi giống đến tận ngày nay…

Thiền sư nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa có Tế Điên Hòa Thượng, khi giác ngộ đạo pháp, thích uống rượu, ăn thịt chó nhưng tuyệt nhiên chỉ để lại cho hậu thế lời kệ chứ chưa thấy đề bút theo cách bầu rượu túi thơ như các kẻ sĩ thế tục. Dù là người xé rào, đưa ra cách tu tập giác ngộ chân lý giải thoát gần với cuộc sống hơn, nhưng vị thiền sư nổi tiếng này cũng chưa vượt rào sắc giới! Vậy trông mong gì Tế Điên Hòa Thượng… say tình…!? Say Tình chỉ có trong tục giới và khi khoa học công nhận lạc thú ái tình là bản năng thì nó trở thành khoa học nghiên cứu đem vào giảng dạy trong học đường. Đó là giáo dục giới tính!

Không biết Say Tình xuất hiện từ cái mốc nào trong văn học Việt Nam nhưng người phụ nữ đầu tiên, mạnh mẽ, dám bộc lộ ham muốn xác thịt một cách khéo léo phải nhắc đến chính là nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Từ đó đó khơi mào cho một dòng thơ ngày nay được gọi tên: Tà Thi

Giấc mơ đúng ra phải chia thành hai loại: Một mơ Ảo. Và một mơ Thực.

Mơ Ảo là giấc mơ con người chưa từng trải nghiệm, bỗng nhiên nó xuất hiện vào giấc ngủ tạo ra hình ảnh, động thái hoàn toàn bất ngờ khi chủ thể chưa từng nghĩ đến trong hoạt động đời sống.

Riêng Mơ Thực lại khác. Một giấc mơ nhớ những điều từng trải nghiệm đã mất đi, với khoảng thời gian nào đó trong đời sống thực và hồi ức hiện về tạo thêm tình tiết, tái hiện vào giấc ngủ theo cách: ngày nghĩ sao đêm chiêm bao thấy vậy! Thế là kịch bản hoàn tất. Chủ thể được thỏa mãn cơn nhớ và say trong một giấc mơ hoàn hảo… Điều này rất thú vị lúc con người lạc vào giấc mơ phá vỡ được ức chế trong cõi Thực, khi hằng ngày sự Nhớ cứ nhắc nhở, thúc giục bản năng khó nguôi ngoai…

Đứng trước một rừng hoa thật khó lựa chọn bông hoa nào đẹp nhất! Nói về Tà Thi văn học tiền hiện đại xuất hiện rất nhiều trên cộng đồng mạng với các tác phẩm thơ rất thuyết phục. Để thống kê hết những tác giả nổi bật là điều không thể và càng khó có một ban giám khảo nào được số đông công nhận đứng ra lựa chọn tác phẩm tiêu biểu cho thể loại Tà Thi. Người viết không dám mạo muội làm người lựa chọn thi phẩm hay mà chỉ giới thiệu một trong những bài thơ vô tình bắt gặp trong biển bạc rừng vàng, trên hành trình theo đuổi tình yêu văn học như nhiều khách yêu thơ đang thể hiện ngày nay…

Nói về Văn Chương xưa nay có rất nhiều kiến giải tốn khá hao giấy mực. Ngày nay giấy rừng mực biển, thông qua Word con người có thể phá vỡ mọi vách ngăn ý thức để trình bày ý tưởng cá nhân cho dù có trái khoáy khó nghe! Vậy để thêm màu thêm sắc cho văn học, tôi thử lạm bàn về hai từ Văn Chương, nếu có “khó nghe” xin bạn đọc rộng lòng bỏ quá cho…

Từ Văn Chương được ghép nghĩa bởi hai từ Hán-Việt: Văn & Chương

Văn (文): Theo tự điển Hán-Nôm xưa nay chính là những “nét vằn” hiện lên chất liệu nào đó. Nói dễ hiểu, chính là những thiết kế hoa văn tạo đẹp trên nhiều loại chất liệu.

Chương (章): Là viết thành bài, thành chương theo một cách trật tự mạch lạc.

Xét từ nghĩa gốc này, rõ ràng thú chơi văn chương vốn tao nhã và cũng biết kén khách. Nếu nói dùng con chữ để tạo hình tượng đẹp đẽ trên trang giấy theo cách mạch lạc nhất, rõ ràng đã nói đến khả năng mỗi cá nhân khi theo đuổi mộng văn chương. Và khi xác định Văn là những nét trang trí làm đẹp thì tiêu chí ban đầu đã đề cao tính nhân văn. 

Nói đến nhân văn là tránh dung tục, tạo nên những hình mẫu đẹp cho nhiều người học hỏi noi theo. Điều này rất khác với tư tưởng cho rằng nếu cưỡng cầu né tránh, không dám dung tục là đạo đức giả, rởm đời v.v…

Văn xuôi có nhân vật. Để khắc họa tính cách nhân vật thô tục, trong lời thoại khó tránh dung tục. Nhưng thơ hầu như không có nhân vật trừ trường thi hoặc trường ca. Vậy, nếu thơ dung tục tức khó tránh cách nhìn kỳ thị của nhiều bạn đọc vẫn giữ truyền thống phong tục tập quán của ông bà xưa nay – nhất là phái nữ.

Với cách gọi mới ngày nay, thơ của thi sĩ Hồ Xuân Hương được xếp vào loại Tà Thi. Hồ Xuân Hương đương thời chắc gây ra không ít tranh cãi khi phá bỏ hầu hết những định kiến dành cho phái nữ. Nào công dung ngôn hạnh, tứ đức tam tòng… nữ thi sĩ coi chẳng ra gì. Thơ Hồ Xuân Hương được các học giả trước đây đánh giá với cách sử dụng ngôn ngữ “toạc móng heo” và tha hồ dung tục. Nhưng… không phải ai cũng nghĩ vậy…

Điểm qua một số bài thơ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương, như: Đánh Đu. Vịnh Cái Quạt. Quả Mít… Nếu căn cứ vào thực cảnh, một đứa trẻ thích khám phá sự vật, noi theo lời thơ đi tìm hiểu, rõ ràng thi sĩ Hồ Xuân Hương miêu tả rất đúng sự vật nhưng điều “kỳ lạ” lại dành cho người đã từng trải qua lạc thú ái tình! Nói theo cách thiền tông: Tâm có ma sẽ thấy ma… là vậy!

Vậy nói về thơ Hồ Xuân Hương nét độc đáo chính là thực cảnh hoàn hảo nhưng Mơ Thực lại sống động lạ lùng. Chính điều này làm nên nét đẹp của thể loại Tà Thi…

Bây giờ quay lại bài Đuối Mộng của tác giả Titi Dang – Thanh Trước.

Hai câu mở đầu:

“Đêm trần tục…

Ta say tình hư ảo…”

Tác giả đã giới thiệu thực cảnh báo trước một giấc mộng say tình không có thật. Bởi vì mộng không thể nào là thật khi ta thoát ảo trở về với đời thực.

Mọi việc sáng tỏ hơn với ba câu tiếp theo:

Mơ nụ yêu 

Khao khát 

Giọt thiên đường…”

Thực ra bài thơ đến đây gom gọn chỉ hai câu nhưng tác giả trình bày biến tấu cách viết thành năm, để tạo ấn tượng thông qua nhịp điệu…

Ba câu thơ này gây chú ý, bắt người đọc phải chậm lại ngay chỗ “Giọt thiên đường…” khiến mỗi khách thưởng thức có hai lựa chọn: Một là “mộng ảo”. Hai là “mộng thực”… Nhưng dù chọn cách nào đi nữa khách thơ cũng bâng khuâng với ý ẩn tác giả cố tình gieo vào lòng người đọc!

Nếu trinh nguyên thơ dại, mổ xẻ, tìm tòi, cái kết quả “lý tưởng” cho ra một giấc “mộng ảo” thì “Giọt thiên đường” ở đây được xem như giọt lệ hạnh phúc trong cơn mơ hoan lạc ái tình nhưng đối tượng cũng không rõ đã “từng quen” hoặc chỉ gặp “thoáng qua” rồi tơ tưởng đem vào giấc ngủ để… Mơ!?

Còn người từng trải nghiệm hạnh phúc hoan lạc lại tha hồ thả rong trí tưởng vào cơn “mộng thực” có trời mới biết “Giọt thiên đường” này sẽ về đâu… theo cách cảm nhận tác phẩm thơ Quả Mít của nữ sĩ Hồ Xuân Hương vậy!!!

Bài thơ Đuối Mộng của tác giả Titi Dang nếu trình bày theo mẫu mực chỉ có bốn câu, xem ra rất đơn giản nhưng với một điểm nhấn khiến người đọc ngỡ ngàng không biết xếp nó vào thể loại thơ tình như trăm ngàn bài thơ khác hay lại là Tà Thi!?

Cuối cùng để cảm nhận Đuối Mộng, mỗi độc giả đều có chức năng thiêng liêng được đánh giá theo cách riêng mình. Và dù bằng góc độ nào thì tính Văn Chương trong tác phẩm cũng thể hiện rõ ràng được tác giả gieo vào lòng người đọc nhưng có Ma hay không cần phải xem lại tùy người…

       

                                                                       VL – 16.4.2023

                                                                              MacDung

macdungvh@gmail.com

P/s: Đôi dòng cảm nhận cùng tác giả - một người bạn văn học mà tôi có duyên tương tác đã lâu và đôi khi cả hai cùng hướng về nhau với một nghi vấn: Ma hay Người…




READ MORE - MƠ HOAN - Cảm nhận của MacDung về bài thơ ĐUỐI MỘNG của TT-Thanh Trước

Monday, April 3, 2023

MẶC KHẢI ĐIỆU SẦU - MacDung cảm nhận thơ Nguyễn Hồng Linh

 




Cành Xanh Giọng Sầu



Con chim sáo nhỏ nhớ anh

Nụ cười đi vắng cành xanh giọng sầu

Ngoài trời từng hạt mưa ngâu

Lá xanh đã ngậm vàng-sau vườn nhà!


            Nguyễn Hồng Linh



Mặc Khải Điệu Sầu


Thán từ Nhớ có thể xem như một tính từ thể hiện tâm trạng của loài người lúc chưa có chữ viết để diễn đạt. Có những điều trong cõi tĩnh lặng con người luôn cảm nhận được nhưng dùng ngôn ngữ diễn đạt lại không ai giống ai. Cảm xúc đó chỉ người trong cuộc mới thấu rõ khi dùng con chữ trình bày nhưng khách thưởng thức lại riêng biệt, hiếm khi đạt được sự đồng nhất!

Để thể hiện tâm trạng có nhiều cách: Có những ngôn từ trực chỉ, đọc là hiểu ngay. Nhưng có cách diễn đạt theo nghĩa bóng dành cho mẫu người thích suy nghĩ mang màu sắc lãng mạn theo hướng đi lên hoặc đi xuống. Lại có cách mượn sự vật hiện tượng so sánh, qua đó bộc lộ điều muốn nói bởi vì nó quá khó thể hiện – nhất là Nhớ và Thương! Thí dụ: “Em nhớ anh” hoặc “Anh thương em”! Rõ ràng chỉ với hai từ Nhớ và Thương không thể nào mở ra hết phạm trù rộng lớn diễn đạt trọn vẹn cả một trời cảm xúc mà mỗi người đều muốn thể hiện theo nhiều cung bậc khác nhau! Ở điểm này xem ra các nhà thơ thật sự có biệt tài khi luôn luôn chứa sáng kiến xuất phát từ nội tại, tìm ra lối diễn đạt cho mảng chủ đề Nhớ chưa bao giờ phôi phai trong hơi thở sự sống…

Hiếm trường hợp nào một bài thơ chỉ vỏn vẹn bốn câu lại được tác giả chọn làm đại diện cho cả tuyển tập tác phẩm để trình làng và… nhà thơ Nguyễn Hồng Linh đã rơi vào số ít đó…

Xác định giới tính nhân vật trong bài thơ rất quan trọng! Bởi vì khi biết nhân vật thuộc nam hay nữ, người đọc mới nắm bắt mạch cảm xúc rồi cảm thụ bài thơ một cách chân phương nhất. Người ta hay ví von loài sáo có tiếng hót líu lo đặc trưng cho tính lạc quan thích bộc lộ và yêu đời… Thế, dân gian mới so sánh: Nói như sáo. Líu lo như sáo… 

Nhưng nếu mở đầu bài thơ: Con chim sáo nhỏ nhớ “ai”! Ai biết được con sáo này thuộc giống đực hay giống cái!? Nhà thơ Nguyễn Hồng Linh xử lý điểm này rất nhẹ nhàng bằng cách báo động “ngầm” cô đang so sánh nỗi Nhớ của người phụ nữ đối với chàng trai: 

“Con chim sáo nhỏ nhớ anh…” 

Từ Anh như xác nhận cô chim sáo là giống cái và hình tượng “chim sáo” chỉ vay mượn nói lên tâm trạng người phụ nữ đang hướng về người mình yêu thương…

Mở đầu bài thơ như lời giới thiệu trọn vẹn về bối cảnh và con người trong tâm trạng Nhớ cũng rõ ràng, không che giấu.

Những từ biểu hiện cảm xúc của loài người, gồm: mừng, vui, giận, ghét, khóc, cười… thì Cười biểu hiện cao nhất cho hạnh phúc trọn vẹn. Người hay cười được cho là lạc quan với thỏa mãn thành tựu về phương diện nào đó ngay cả trong chinh phục… 

Một ngày nào đó nụ cười mất đi, biến thiên theo dòng cảm xúc khiến chủ thể không điều khiển được. Một mất mát. Cuộc chia ly. Xa cách… 

Muôn trùng trường hợp khiến nụ cười không hiện hữu!!! Vậy, nếu đem nụ cười gán ghép cho loài chim chỉ là một phương pháp so sánh nhân cách hóa thông qua âm điệu tiếng hót. Âm điệu không líu lo vui nhộn lại khàn đục, cung đoạn não nề v.v… tức nụ cười đã bỏ đi rồi, chỉ con lại nỗi buồn hiu hắt!

Cho nên: 

“Nụ cười đi vắng cành xanh giọng sầu…”

Nỗi buồn nào hơn khi trong tâm trạng không vui trời lại đổ mưa! Mưa vốn thể hiện tâm sự buồn, hoài cổ. 

Trong văn học con người cứ buồn là trời hay đổ mưa! Có vẻ như sáo mòn nhưng từ chối thực tiễn đó khó lấy ngữ cảnh nào thay vào. Buồn có thể tìm đến rượu, đau nhất là rượu đã cạn bầu… Bên khói thuốc đốt tâm sự… Tiếng quốc kêu sương. Trăng mờ ảm đạm v.v… Nhưng trùng lặp vào các ngữ cảnh này mà trời lại đổ mưa thì e rằng người giàu tâm trạng chỉ muốn tự tận cho xong!!! Nhưng loài lông vũ đâu biết hút thuốc hay uống rượu! Nó có thể giữa đêm gọi bạn, còn thưởng thức được ngoại cảnh xung quanh hay không thì người viết chưa bao giờ thỏa mãn nghi vấn này với họ nhà… chim!? Chỉ có điều chẳng chối cãi được là loài chim luôn tìm chỗ trú khi trời đổ cơn mưa. 

Vừa khéo là con người cũng sợ ướt khi: 

“Ngoài trời từng hạt mưa ngâu…!”

Thôi thì tìm chỗ trú ngắm mưa và ngậm tâm sự vậy!

Trong bốn mùa của năm, Thu chính là mùa cây thay lá! Điều này phải chăng tạo ra khuôn mẫu cho câu: Nhất nhật bất kiến như tam thu hề. 

Diễn tả nỗi buồn Nhớ và Chờ Đợi này, đại thi hào Nguyễn Du đã Việt hóa hoàn toàn trong Truyện Kiều qua câu: 

Sầu đong càng lắc càng đầy

Ba thu dọn lại một ngày dài ghê…”


Và Cành Xanh Giọng Sầu của Nguyễn Hồng Linh lại có con chim sáo Nhớ và Chờ Đợi đến lá bạc, màu phai… “Lá xanh đã ngậm vàng-sau vườn nhà!” day dứt lòng người…


Buồn nào hơn nỗi Nhớ anh!?

Con chim đơn độc Cành Xanh Giọng Sầu!

Chúc tác phẩm của nhà thơ Nguyễn Hồng Linh đến tay bạn đọc như mảng trời Nhớ, ai cũng có và đôi khi cần chất xúc tác để quay về vị trí nào đó trong đời, từng… ngắm mưa rơi!!!


                                                                   Sg – 1.4.2023

                                                                      MacDung

macdungvh@gmail.com


P/s: Hy vọng qua bài viết bất chợt với cảm xúc, không làm buồn lòng nhà thơ Nguyễn Hồng Linh và phát sinh tâm trạng như ảnh minh họa…







READ MORE - MẶC KHẢI ĐIỆU SẦU - MacDung cảm nhận thơ Nguyễn Hồng Linh

Tuesday, December 20, 2022

ĐÔI CÁNH BẠCH DIỆP - MacDung - Bình luận văn học

 


ĐÔI CÁNH BẠCH DIỆP


Trường ca là thuật ngữ văn học với nghĩa mở rộng chỉ những tác phẩm thơ cải biên từ sử thi hoặc các tác phẩm truyền thuyết cổ xưa. Vì trường ca viết theo thể thơ nên chứa dung lượng lớn, trong đó có nhân vật và cả lời thoại, cho nên thể loại này mang tính kịch trữ tình không kém phần lãng mạn.

Văn học sử Việt Nam chưa thật sự gây dấu ấn về trường ca vì sự phát triển rời rạc, lẻ tẻ, thiếu độ hút khiến độc giả quan tâm, trừ mảng văn học dân tộc với trường ca Đam San, Xinh Nhã của người Ê Đê, sử thi Đẻ Đất Đẻ Nước thuộc dân tộc Mường… Nếu bỏ qua tính sử thi và dựa vào tích cổ xưa, danh tác Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du hay Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu – Nguyễn Gia Thiều cùng nhiều tác phẩm khác cũng xếp vào trường ca theo nghĩa mở rộng nhưng ít được các học giả nhận định theo hướng này.

Trường ca có nhiều loại, trong đó có trường ca giáo huấn đề cao điều thiện, giúp người đọc hướng đến ước mơ muôn thuở về chân lý Chánh ắt thằng Tà – một giấc mơ với lý tưởng cao đẹp suốt quá trình lịch sử phát triển loài người luôn nhắc đến như ước vọng cái ác sẽ bị diệt trừ. Ca ngợi điều Thiện như phương châm giáo dục từ ngàn xưa được nhiều tác phẩm nhắc đến để răn dạy thế hệ tiếp nối tu tập về nhân cách, đạt đến sự Chân, Thiện, Mỹ hòa hợp.

Văn học vốn nhiều thể loại, tùy theo kiến thức và sở thích các tác giả chọn một hướng đi cho riêng mình. Tác phẩm thành công hay thất bại tùy vào khả năng người sáng tạo chứ không phụ thuộc vào thể loại được lựa chọn. Thể loại vốn vô tội! Tội tình hay không thuộc về người sáng tạo. Và… theo phương châm sống: “Nếu như bạn không làm được, chưa chắc người khác thất bại. Ngược lại, người khác làm được, bạn cũng có thể làm được, biết đâu lại tốt hơn!”

Cái ranh giữa truyện thơ và trường ca hầu như khó phân định! Tùy vào nội dung trong thể tài, nhà bình luận đưa ra quan điểm cá nhân. Văn học được đánh giá phong phú khi nền văn hóa mỗi nước sáng tạo bởi nhiều thể loại với đa sắc thái. Vậy tại sao phải chê bai thể loại này lại tôn vinh cái kia!? Nếu mọi tác giả đều yêu thích thể thơ lục bát thì song thất ra đời để chi? Có ngũ ngôn tất có thất ngôn, lục ngôn. Có luật lệ tất có tự do… Nên nhân sinh mới lắm màu nhiều vẻ, cho sáng tạo vốn vô cùng…

Nhiều ý kiến cho rằng, văn học hiện đại nên cách tân để phù hợp với trào lưu thế giới! Điều này không sai. Nhưng… nếu mọi tác giả đều sáng tạo theo hướng này thì ai sẽ là người duy trì giá trị truyền thống, bảo tồn di sản của cha ông!?

Con chữ vốn vô tội, đừng ai đem thiển kiến nhập nhằng vào các thể chế chính trị, đừng ai bài xích từ Hán-Việt khi trong kho tàng tiếng Việt lượng Hán-Việt chiếm từ 60-70%. Vậy người sáng tác sẽ làm gì với 30-40% từ thuần Việt còn lại? Để rồi tự hào tiếng Việt ta giàu và đẹp!?

Phải thừa nhận một điều là sau 1000 năm bị chính quyền Bắc phương đô hộ đã đưa đến sự giao thoa văn hóa giữa hai dân tộc có lắm duyên nhiều nợ truyền đời. Trước khi có quốc ngữ, người Việt buộc lòng sử dụng chữ Hán (Tiền thân chữ Nôm sau này) để ghi chép văn bản phục vụ khoa cử hay lưu gìn tác phẩm văn học. Nhưng… âm Hán-Việt (Quốc âm) là sản phẩm đặc thù của Việt Nam khi đọc chữ Hán cổ, ngay cả sắc tộc người Hoa sống lâu đời trên đất Việt, nghe cũng không hiểu được! Vậy từ Hán-Việt của Việt Nam hay Trung Hoa cổ đại!?

Lại có ý kiến cho rằng từ Hán-Việt gây rắc rối khó hiểu cho người đọc! Trong khi ai cũng biết rằng, muốn học ngôn ngữ nào đó thì vốn từ vựng càng nhiều giao tiếp càng tốt, thực hiện văn bản càng hay. Vậy khi bạn gặp một từ khó hiểu nên trách vốn từ của mình hay trách con chữ!?

Nhiều tư tưởng chê bai ngôn ngữ tiếng Việt thiếu hình ảnh, cảm xúc khi so sánh với ngôn ngữ các nước – ngôn ngữ quê hương thứ hai đang sinh sống! Đáng buồn là ngay cả ngôn ngữ được yêu chuộng trên quê hương thứ hai cũng không giúp họ bay cao trong ý tưởng để người viết bài có thể ngưỡng mộ một đứa con gốc Việt đang làm nên tự hào cho cả dân tộc. Hạ thấp ngôn ngữ mẹ đẻ, đem oai phong tặng cho người, nhưng sự chứng minh nhạt nhòa chưa thuyết phục lại suốt ngày cất tiếng hót đánh giá của Thánh nhân! Một cách nhìn đúng đắn thuộc văn học chăng!?

Có cổ tất có kim. Có tân sẽ có cựu. Trên mảng văn học mạng ngày nay rất nhiều tác giả quay về với các thể loại cổ xưa! Quay về không có nghĩa là kéo lùi lịch sử, tiếp cận lạc hậu. Quay về phải hiểu theo nghĩa phục hưng, bảo tồn nét văn hóa ngàn đời của cha ông đã dày công tạo dựng. Vậy phú, từ… trường ca hay truyện thơ cổ tích, giáo huấn được tiếp bước đâu có gì lạ!?

Vô tình tôi có duyên tương tác với một tác giả trong số nhiều tác giả chưa được dịp tiếp cận… Một tác giả chuyên viết truyện thơ đôi khi lại rơi vào khái niệm trường ca giáo huấn với nhiều chủ đề về kiếm hiệp rất hiếm thấy! Trong khuôn khổ bài viết giới hạn, tôi sẽ không can thiệp vào nghệ thuật văn học trong tác phẩm, hãy để độc giả tự cảm nhận theo cách của mình…

***

CHUYỆN LẠ


Cuối đời Đường, đầu nhà Tống

Chuyện Bồ Tát Quán Thế Âm

Giúp một người qua tai nạn

Được lưu truyền khắp nhân gian.

Cô Tô thành, chiều nắng nhạt,

Bóng một người đi gấp gáp.

Dong dỏng cao, lưng thẳng tắp

Ông ta dáng vẻ trang nghiêm.

Là người thương nhân bận rộn

Ông ta tên Tiêu Nhất Phong

Chuyển hàng khắp nơi, khắp chốn

Làm ăn mà nên giàu có.

Nhất Phong là người chăm chỉ

Nhất lòng thờ Phật Quán Âm.

Không tranh giành, chẳng so bì

Luôn luôn thật thà, vui vẻ.

Cưới vợ cân xứng hào môn.

Cô vợ sắc đẹp cờn cờn,

Da trắng, mắt đen hơn hớn.

Môi hồng, mũi thẳng dọc dừa.

Nhất Phong bận việc đi xa.

Cô vợ nhàn rỗi, ở nhà

Gặp người hàng xóm Khang Thất

Gặp nhau sóng mắt đưa tình.

Người ta nói: "Ông chồng hiền

Sao lại nhận ngay quả báo,

Người vợ lăng loàn, trắc nết

Ông ta chẳng hay, chẳng biết"

Một đêm ông ở Gia Hưng.

Nằm mộng thấy Phật Quán Âm

Ngài hiện bảo tướng trang nghiêm

Vẻ đẹp thông minh, thánh thiện.

Rồng xanh bay lượn phía trên

Tay Ngài cầm ngọc Như Ý.

Để ngọc trên đỉnh đầu ông,

Ngài nói: "Này Tiêu Nhất Phong

Ông tin Phật và thiện lương

Nên cứu ông qua tai nạn.

Ta cho ông bốn câu kệ,

Hãy nhớ đừng bao giờ quên:

Khi gặp cầu chớ dừng tàu

Lúc có dầu trét lên đầu

Đong đấu thóc ba thăng gạo

Gặp ruồi xanh bu bút đầu"

Chưa hiểu được điều Phật dặn

Thành kính quỳ lạy, cảm ơn

Nhẩm cho đến khi thuộc lòng

Nhất tâm ghi tạc công ơn.

Xong việc, cần phải về nhà

Ông thuê một chiếc tàu riêng,

Lúc đi trời xanh biêng biếc

Dòng sông nước chảy hiền hoà.

Bỗng dưng mưa như trút nước

Sấm chớp đì đùng, sáng loé

Người lái tàu rất hoảng sợ

Nên chèo gấp vào gầm cầu.

Nghĩ bụng trú một chút thôi

Nhất Phong nhớ ngay lời dặn

Hối người lái thuyền chèo vội

Ra khỏi gầm cầu cho mau.

Nhà thuyền vội vàng chèo gấp

Ra khỏi gầm cầu chưa lâu,

Một tiếng rầm, nổ thật lớn

Cây cầu đã gãy làm đôi.

Nhà thuyền tái mặt hỏi dồn:

"Làm sao mà ông biết trước?"

Nhất Phong thật tình kể rõ

Phật Quán Thế Âm dặn dò.

Nhà thuyền một lòng ghi nhớ.

Thành kính bái lạy ơn trên.

Về Cô Tô ngày nắng ấm,

Mừng vì chuyến đi thành đạt

Ông vội vào nhà, bái lạy

Cung kính Phật Quán Thế Âm.

Khi nghe kể ông thoát nạn

Vợ ông giả vờ khóc lóc,

Tỏ vẻ thương tâm, ân cần

Cầm tay liên tục hỏi han.

Khang Thất nhìn thấy phát ghen

Hắn suy đi rồi tính lại

Chẳng biết thế nào cho phải

Bản tính là tên vô lại

Chuyên nghĩ đến chuyện hại người.

Nghĩ: "Ta mê say Lệ Mỹ

Nhưng chắc đâu nàng chung thuỷ

Nếu giết đi kẻ ngu kia

Ta được nàng, cộng gia tài

"Một chiều mưa bay lất phất

Đang ngồi làm việc trong phòng

Nhất Phong cảm thấy thật buồn

Quơ tay đụng phải chai dầu,

Chai bể, mùi thơm sực nức.

Nhớ ngay đến một câu kệ:

"Lúc có dầu trét lên đầu"

Ông bôi lên áo, lên đầu,

Rồi cùng vợ vào giường ngủ.

Tên kia trốn trong phòng ngủ,

Nhưng tối đen như hũ nút

Hắn nghĩ: "Lệ Mỹ rất thơm

Ta nghe mùi mà hành động."

Người nằm ngoài thơm quá mức

Hắn vội vàng chém người trong.

Lúc trèo qua cửa sổ trốn,

Hắn nghe tiếng khóc đàn ông.

Biết rằng Lệ Mỹ bị giết

Hắn lo sợ đành trốn biệt.

Nhất Phong báo về cha vợ

Rồi chuẩn bị làm tang lễ.

Cha vợ lập tức thưa quan,

Quan huyện không chứng, không bằng

Bắt Nhất Phong về xử án,

Tra tấn, cực hình dã man.

Tiêu Nhất Phong không chịu nổi,

Ông chịu ký tên nhận tội.

Họ giam ông vào ngục tối

Chờ ngày xét xử công khai.

Quan huyện trong giờ làm việc,

Lấy bút viết bản tường trình

Kính trình lên tận quan trên.

Đặt bút lên tờ giấy trắng,

Ba con ruồi xanh bay đến

Bu kín chặn vào đầu bút.

Quan vẫy cho ruồi bay hết,

Lát sau chặn đầu bút tiếp.

Cứ như vậy năm bảy lần,

Quan đành kêu ông cố vấn

Xem sự việc rất bất thường,

Hai người phải ngừng vụ án.

Ông ta họ Lý tên Khôi

Ngạc nhiên khi vào ngục tối

Nhất Phong vẫn thản nhiên ngồi,

Chắp tay thiền và niệm Phật.

Ông Khôi hỏi: "Sống khổ quá

Sao ông vẫn cứ thản nhiên"

"Phật nói cho tôi câu kệ

Cứu khỏi tai nạn gần kề"

Rồi ông đọc bốn câu kệ:

"Khi gặp cầu chớ dừng tàu

Lúc có dầu trét lên đầu

Đong đấu thóc ba thăng gạo

Gặp ruồi xanh bu bút đầu"

Kể lại hai lần nạn trước.

Lý Khôi đọc thêm cho thuộc:

"Đong đấu thóc ba thăng gạo

Gặp ruồi xanh bu bút đầu"

"Ruồi xanh bu, ứng sáng nay

Đấu thóc không đủ, còn cám

Cám đổi bộ chữ là Khang

Thiếu bảy thăng chính là Thất"

Quay hỏi: "Ông quen Khang Thất?"

Nhất Phong thành thật trả lời:

"Hàng xóm bên trái nhà tôi

Người đàn ông tên Khang Thất"

Lý Khôi vội tâu quan huyện

Án này phải ngưng lại thật.

Cho lính đi tìm Khang Thất

Hắn ta khai ngay câu chuyện.

Khang Thất bị bắt, tử hình

Nhất Phong được ra khỏi ngục.

Ông về nhà, rất bình tĩnh

Cung kính tạ lễ Bồ Tát

Cảm thấy cuộc đời chán ngán,

Ông đem của cải cúng dường.

Đến Hàng Châu để xuất gia

Quy Y tại chùa Linh Ẩn.

Gia Hưng đêm thiếu trăng, sao

Tấm lòng đau khổ, nghẹn ngào,

Nhất Phong tắt đèn, ngủ sớm

Hiện hai con quỷ không đầu:

Vợ ông và tên Khang Thất

Kêu gào đòi ông trả mạng.

Nhất Phong kêu thầm tên Phật

Bỗng thấy trong phòng sáng lạn.

Phật Bà và thêm cậu bé

Phất cành liễu từ bình ngọc.

Hai quỷ rút lui lặng lẽ.

Ông thở phào và ngồi dậy.

Nghĩ chán: "Sao họ ngang tàng

Gây việc, gây nên nghiệp nặng

Sao về doạ ông đòi mạng?

Lại hiện hình quỷ xấu xa!"

Nhất Phong nhớ lần tao ngộ:

Phật Bà áo trắng tinh khôi

Rồng xanh và ngọc Như Ý.

Lần này với Hồng Hài Nhi,

Áo xanh vạn phần lộng lẫy.

Ông hướng về chùa Linh Ẩn

Đi bộ suốt mấy đêm ngày,

Lúc nào một niệm, một tâm

Tri ân Phật Quán Thế Âm.

Sau này đắc đạo cao tăng

Ngắm hoàng hôn bờ Đông Hải,

Gặp tượng bằng gỗ đàn hương

Sóng đưa đến nơi ông đứng.

Biết mình có duyên với Phật

Trong tâm dứt hết hồng trần

Không còn nghĩ đến nỗi đau,

Tâm không mà viết chuyện này

Giúp ích nhân thế đời sau.


Thứ bảy 24/9/22

Ruby Tran


Mô-típ tác phẩm truyện thơ này thường xuất hiện trong các giai thoại dân gian! Nó giống như nhiều tác phẩm trường ca khác khi đề cao đức tin và nhân quả. Tinh tế một chút, người đọc sẽ thấy ấn tượng cái tâm từ người thể hiện: Tác giả Ruby Tran. Phải có tình yêu văn học sâu sắc, cháy bỏng mới thúc đẩy người viết vùi sâu trong ý tưởng sáng tạo. Nào kết cấu, tình tiết, diễn biến, nhân vật, lời thoại, trình bày. Rồi tên tuổi, sự kiện, đột biến… Người đọc chiêm ngưỡng thì dễ, chứ đích thân ngồi vào sáng tác lại là việc hoàn toàn khác hẳn. Tôi dẫn bài kệ nhân vật Tiêu Nhất Phong lúc nằm mộng thấy Quán Thế Âm ra tay giúp để tránh nạn:

Khi gặp cầu chớ dừng tàu

Lúc có dầu trét lên đầu

Đong đấu thóc ba thăng gạo

Gặp ruồi xanh bu bút đầu"

Đoạn kệ này mộc mạc, dễ hiểu lại khiến người đọc hoang mang khi diễn biến câu chuyện chưa xảy ra. Một dự đoán và hướng dẫn thoát nạn của Quán Thế Âm, nhưng với cách nhìn từ người sáng tác lại hoàn toàn khác… Sự tinh tế đã được sắp xếp trước đó bởi các chuỗi sự kiện, sau đó mới đến bài kệ. Cái Quả đã có trước thì sự linh nghiệm bài kệ là tất nhiên. Thể loại truyện thơ thuộc về “tâm linh” này có lẽ là món ăn tinh thần cho các Phật tử nhất tâm hướng thiện. Đọc thấy nhẹ nhàng với cái kết có hậu, nhưng dụng tâm tác giả khi dựng truyện lại vô cùng khó khăn…

Nếu bất cứ ai viết hồi ký hoặc tự truyện, rồi bỏ tiền ra in sách lập tức trở thành nhà văn, nhà thơ, xem ra định nghĩa về nó quá sơ xài. Định nghĩa về nhà văn, nhà thơ rất mênh mông nhưng không phải trong mớ bòng bong đó chẳng chút điểm sáng cho các học giả, nhà phê bình căn cứ vào! Tính xác thực của nhà văn, nhà thơ là: Những tác giả sở hữu Tác Phẩm Văn Học, có thể thay đổi cách nhìn, cách sống của quần thể số đông sẽ được xã hội công nhận là nhà văn hay nhà thơ. Nhưng… tác phẩm văn học lại là sản phẩm của trí tưởng tượng được sáng tạo trên cơ sở thực tiễn. Như vậy, đời tác giả không quá trăm năm sao có thể trải nghiệm hết cuộc mưu sinh thăng trầm để thể hiện lên tác phẩm!? Vì vậy tác phẩm văn học sẽ được người sáng tác vay mượn sự kiện, hình ảnh, bối cảnh, con người… bất cứ nơi đâu, bao gồm bản thân, người nhà, bạn bè, đối tác… để hoàn thành một tác phẩm chỉ ra hiện tượng, sự kiện hoặc bản chất có thể ảnh hưởng đến nhận thức của cộng đồng. Đó là tác phẩm văn học. Đó là tính nhân văn.

Sự vay mượn trong tác phẩm Chuyện Lạ của tác giả Ruby Tran quá rõ ràng khi chọn bối cảnh đất nước Trung Hoa thời nhà Đường để làm nền. Tức nhiên đã là Trung Hoa thì nhân vật phải có cái tên Hán mới hợp cảnh. Điển cố, điển tích Trung Hoa ngập tràn khiến cả thế giới nghiêng mình ngưỡng phục. Nó là mảnh đất mầu mỡ cho các tác giả trước và sau năm 75 tha hồ khai thác. Nhưng để tận dụng hết bối cảnh này, người sáng tác ít ra cũng nắm được phong tục tập quán và các điển cố, điển tích Trung Hoa cổ.

Bồ Tát Quán Thế Âm thường hiện thân qua nhiều hình dạng để cứu khổ cứu nạn. Gặp các đại nạn như: Nước. Lửa. Ma quỷ. Hung khí. Người tu Phật thường cầu Quán Thế Âm ra tay trợ cứu. Hình tượng Quán Thế Âm thường xuất hiện trong thần thoại và tác phẩm văn học bác học. Trong các kinh sách Phật giáo Đại thừa, Quán Thế Âm Bồ Tát huyền năng chỉ sau Phật Tổ. Hình ảnh miêu tả và tứ thơ bộc lộ thân phận tác giả là một Phật tử đã giác đạo tu tâm, đề cao thiện phát, tích phúc hậu lai. Tác phẩm nhấn mạnh cho bạn đọc thấy luật nhân quả trong phạm trù thuyết Luân Hồi, một học thuyết lớn của nhà Phật…

Tác giả Ruby Tran đã hư cấu trong tác phẩm một tình huống khi nhân vật Lý Khôi chiết giải bài kệ của Quán Thế Âm khi báo mộng:

Lý Khôi đọc thêm cho thuộc:

"Đong đấu thóc ba thăng gạo

Gặp ruồi xanh bu bút đầu"

"Ruồi xanh bu, ứng sáng nay

Đấu thóc không đủ, còn cám

Cám đổi bộ chữ là Khang

Thiếu bảy thăng chính là Thất"

Quay hỏi: "Ông quen Khang Thất?"”

Một Đấu có 10 Thăng. Nhưng cái đấu trong truyện tác giả chỉ có 3 thăng, thiếu mất 7 thăng. Số 7, chữ đọc là Thất. Trên vành đấu chỉ dính Cám hoặc đổ cám vào cho đủ lượng. Chữ Khang () nghĩa là Cám, Trấu, thuộc bộ Hòa () nghĩa là Lúa. Theo tự điển Thiều Chửu và Trần Văn Chánh chữ Khang gốc () thuộc bộ Mễ () nghĩa là Gạo. Nhưng thông thường khi đặt tên con không ai chọn nghĩa này. Nghĩa Khang () hay nhất chính là Khỏe Mạnh mới đúng từ. Vậy khi đổi bộ chữ, tức bỏ Hòa () hay Mễ () sẽ ra chữ Khang () chỉ tên người, thuộc bộ Nghiễm (广).

Ngay tình huống hư cấu này hoặc tác giả vay mượn nơi nào đó trong kinh sách, tích dân gian, qua lời kể người xưa, hoặc tác giả có sự nghiên cứu chu đáo thông qua tự điển. Để làm được điều này tác giả Ruby Tran trang bị cho mình ít nhất là cơ sở hình thành chữ Hán và biết qua lục thư, bộ thủ…

Đến đây, bạn đọc mới thấy rằng, nhìn qua tác phẩm xem như đơn giản nhưng để dàn dựng chỉ vài chi tiết thắt gút và mở gút là cả một kỳ công…

Cái khó cho người đọc trong việc thưởng thức truyện thơ là làm quen với nhịp điệu. Thông thường thơ 6 chữ có nhịp 2-2. Nhưng vì là truyện nên có lời dẫn thoại và lời thoại. Tất cả độc giả yêu thích thể loại này khi quen với tình huống mới thấy thú vị…

Điểm nhỏ trong tác phẩm Chuyện Lạ khiến tôi nghĩ đến một vấn đề thuộc về bối cảnh cho ra đời tác phẩm. Theo tôi, tác giả Ruby Tran nên Việt hóa câu chuyện để tránh sự nhạy cảm đang diễn ra trong xã hội hiện nay. Mảng cổ tích Việt Nam vẫn nguyên sơ như mảnh đất mầu mỡ cho các tác giả như Ruby Tran tha hồ khai thác, không cần phải dựa vào bối cảnh đất Trung Hoa xưa. Điển hình như Tấm Cám. Thạch Sanh, Lý Thông. Riêng Thạch Sanh, Lý Thông có thể sáng tạo theo hướng kiếm hiệp Việt được. Với một tác giả say mê văn học, đủ dũng cảm đối đầu với thử thách sáng tạo, tôi nghĩ việc này không thành vấn đề đối với Ruby Tran.

Ngược dòng lịch sử, tìm về những tiêu chuẩn vàng một thời là giềng mối giá trị đạo đức ngàn xưa, đề cao tính nhân văn có gì sai!? Nếu như có người đi khai phá truy tìm cái mới tất nhiên cũng có những tác giả như nhà thơ Ruby Tran, gạn đục khơi trong, bảo lưu giá trị Chân, Thiện, Mỹ, đề cao Thiện tính, tiêu trừ Ác nghiệp.

Hãy trả văn học về Cách Nhìn Mở để từng thế hệ tiếp nối nuôi dưỡng đam mê bằng loại Văn Học Cống Hiến cho chính ngôn ngữ quê hương mình. Cho dù còn thiếu sót bởi nhiều bất cập, nhưng không thể cản ngăn các cây bút nhiệt huyết cất cao đôi cánh trên khoảng trời văn hiến đất Việt. Con người vốn sống với Ứơc Mơ và luôn biết cách vượt qua những lý thuyết màu xám để thực hiện lấy hoài bảo…

Một con bướm trắng đang bay. Và nhiều con bướm nữa sẽ nhập đàn bay vào khu rừng đầy hoa dại. Cái kén tương lai đang chờ…


Saigon – 18.12.2022

MacDung

<macdungvh@gmail.com>








READ MORE - ĐÔI CÁNH BẠCH DIỆP - MacDung - Bình luận văn học