Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Nguyễn Văn Hòa. Show all posts
Showing posts with label Nguyễn Văn Hòa. Show all posts

Thursday, August 28, 2014

SỐNG HẾT MÌNH VÌ TÌNH YÊU - Nguyễn Văn Hòa đọc thơ Dung Thị Vân

Bìa 1 tập thơ TÌNH NHƯ SƯƠNG KHÓI


SỐNG HẾT MÌNH VÌ TÌNH YÊU

(Nhân đọc tập thơ Tình như sương khói của Dung Thị Vân
Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2014)



Tình như sương khói là tập thơ thứ 5 của Dung Thị Vân. Tập thơ đã thể hiện được những bứt phá và độ chín trên con đường thơ ca của chị.
Đọc qua tập thơ, tôi thấy hầu như bài nào cũng buồn, cũng nói về sự cô đơn, nỗi đau, sự khao khát, hoang hoải… Đó có thể là những nỗi buồn có tên và cả những nỗi buồn không tên nhưng mang nhiều tâm trạng, có thể đó là tiếng nấc nghẹn ngào về số phận, về tình yêu và cuộc đời.
54 bài thơ trong tập Tình như sương khói là tập hợp nhiều điệu khúc buồn, là nỗi cô đơn, những bi kịch của cá nhân, bi kịch cuộc đời. Do vậy, kéo theo việc nhà thơ Dung Thị Vân sử dụng dày đặc một hệ từ vựng chỉ sự buồn, đau, mất mát, lạc lõng, hoài nghi…
Chủ thể trữ tình mà Dung Thị Vân thường hay nhắc đến đó là ANH, EM và TA. Khảo sát trong 54 bài thơ của tập này thì có đến 110 lần nhà thơ nói về EM, 103 lần đề cập đến ANH, 53 lần nhắc đến TA.
Với nhà thơ, ANH đó là tình yêu, là hạnh phúc, là niềm tin tưởng và yêu thương vô bờ.
Anh có biết/ Mỗi một ngày đi qua/ Là một nét hư hao trên khuôn mặt/ Em làm sao trẻ mãi để được Người yêu thương
Nhà thơ lo sợ trước bước đi của thời gian sẽ làm héo mòn nhan sắc và sẽ không còn trẻ đẹp mãi để được yêu thương. Với Dung Thị Vân, tình yêu là lẽ sống nên chị đặt trọn niềm tin và trao cả cuộc đời cho anh:
Nhưng/ Trái tim em/ Nghìn năm vẫn trào tuôn dòng máu nóng/ Chảy vào tim anh/ Nhung nhớ đến nao lòng
Hay: Ngày của trời/ Đêm của đất/ Em của anh/ Đến hơi thở không cùng
                                                              (Viết cho anh)
Vì yêu anh bằng tình yêu đích thực, chân thành, không hề toan tính, vụ lợi; em đến với anh, gắn bó vào cuộc đời anh như là định mệnh: Em như khói sương/ Theo anh tàn năm tháng/ Em như khói sương/ Bao phủ đời anh
…………………………………………………..
Em như khói sương/ Chẳng bao giờ tan biến/ Quấn lấy đời anh/ trong sợi tóc vô hình
                                                  (Em như khói sương)
Nhưng cũng chính ANH là nỗi buồn, sự đau khổ, mất mát, tạo nên những vết thương lòng khó lành theo năm tháng và sẽ dằn vặt suốt cuộc đời EM.
Đời em là chuyến gian nan/ Vòng tay nào khép dâng tràn nỗi đau/ Anh ơi có nhớ mùa Ngâu/ Mà sao ta chẳng một câu ân tình
                            (Rêu phong phủ trái muộn phiền)
Đối với người phụ nữ, gia đình, con cái là chỗ dựa quan trọng nhất của cuộc đời họ. Họ hạnh phúc khi có chồng con, sum vầy, êm ấm.  Nhưng với Dung Thị Vân điều ấy dường như không trọn vẹn. Để rồi trái tim một người đàn bà đa cảm như chị phải rỉ máu. Trong bài Nửa vời, đó là lời tự sự bẽ bàng, xót xa: Có mất nhau không/ Mà bóng ai biền biệt/ Im lặng thế này/ Sao tan nát lòng nhau/ Dĩ văng là đau/ Là vết thương rỉ máu/ Là vết sẹo muôn đời/ Nhói lại những hằn sâu.
Nhà thơ Dung Thị Vân hiểu rằng, hạnh phúc trong đời con người là có thật, nhưng nó lại rất chông chênh. Chị đă kiếm tìm, chờ mong, hi vọng rồi lại thất vọng, lo âu, trăn trở. Đôi lúc chị bàng hoàng, thảng thốt trong những tiếng gọi tái tê:
Anh ơi/ Lệ nhỏ tràn ra giấy/ Anh ở bên trời/ Có nhặt chút xót xa
Em kỳ ảo/ những âm thanh vô vọng/ Sao quanh em/ Đau buốt chữ tình cờ
                                                (Ngăn tim màu lá cỏ)
Thơ Dung Thị Vân thể hiện tính chất trữ tình ở cách cấu tứ bài thơ dựa trên những cảm xúc tâm trạng. Hầu như các bài thơ của chị đều bắt nguồn từ một cảm xúc nào đó. Chị làm thơ một cách tự nhiên, đó như là sự trải lòng, cảm xúc thế nào nói ra thế ấy, khi cảm xúc dâng lên nó trào ra ngọn bút. Những bài thơ: Giữa hai bờ không nhau, Đừng để em phải nhắc, Vết sẹo nào đã đẫm, Trời trở gió vẫn còn anh, Anh có nói, Đoản khúc rời, Mảnh vỡ chiều ba mươi tết, Ly rượu đợi chờ, Bài thơ đêm cuối, Bốn mươi năm, Khua nhàu ký ức... chắc hẳn đã ra đời trong những giây phút mà tâm hồn chị dạt dào những nỗi niềm trắc ẩn. Bởi kết cấu trên cơ sở những biểu hiện của cảm xúc nên mạch thơ Dung Thị Vân trôi chảy rất tự nhiên, tất cả những khía cạnh tâm hồn được phơi bày, thổ lộ ra hết theo dòng suy nghĩ của nhà thơ.
Trái tim người phụ nữ nói chung, bao giờ cũng độ lượng. Người phụ nữ họ chín chắn, sâu sắc hơn nam giới. Với chị, những gì đã đi qua trong cuộc đời, nó sẽ ám ảnh và trở thành những kỉ niệm, nỗi nhớ khôn nguôi, cả sự khắc khoải (dù rằng đó có thể là những điều không hay).
Tháng năm trôi
Tình yêu còn nguyên trong từng câu thơ anh viết
Đốt tim em cháy bỏng những nẻo đường
Anh về cùng em, cùng Đà Lạt yêu thương?         
                                    (Anh có về Đà Lạt cùng em?)
Do vậy, nhà thơ Dung Thị Vân rất ư thức về thời gian, điều đó đồng nghĩa với việc chị tự ý thức về sự tồn tại của mình trên cuộc đời này. Ý thức về sự tồn tại của con người trong cõi nhân sinh rộng lớn. Vì thế, thời gian thường được cụ thể hóa, được phản ánh gắn liền với những bước thăng trầm của cuộc đời đầy biến động:
Người đi khuất nẻo biển sâu/ Đem theo câu hứa kinh cầu tình yêu/ Tháng ba mưa bỏ nắng chiều/ Tháng ba có hạt mưa kiêu nẩy mầm.                                                                      (Mưa).
Ngày xưa anh đă là mây trắng/ Em một nụ hồng trong giá băng/ Từ anh giấc ngủ đêm huyền thoại/ Ảo ảnh vầng trăng cổ tích thi nhân.                                               (Se kết nụ hồng).

Bìa 2 tập thơ TÌNH NHƯ SƯƠNG KHÓI


Thời gian: ngày, đêm, buổi chiều, ngày mai, ngày xưa, nay, mùa xuân, mùa đông, mùa hạ, năm tháng… được nhà thơ thường xuyên nói đến. Đặc biệt, đêm trong thơ Dung Thị Vân được phản ánh với nhiều dạng, nhiều vẻ, tạo nên sự độc đáo. Qua cảm nhận của chị, đêm như những sợi tơ giăng chi chít, gợi lên tấm chân tình. Nó đan kết hòa quyện để nối ngày qua đêm, nối các mùa trong năm, giữa ngày xưa và ngày nay, giữa quá khứ và hiện tại. Đêm trong thơ Dung Thị Vân là hiện thực cuộc sống, là thân phận con người. Đêm gợi cảm giác buồn, cô đơn, đau đớn, khao khát sống, khao khát yêu, nhiều khi có cả sự ám ảnh: Đêm nay nhỏ lệ khóc người/ Còn đêm nay nữa ta cười với nhau/ Hồng trần một cơi về đâu/ Trong mơ lần nữa gục đầu ái ân (Bài thơ đêm cuối).
Thao thức với đêm dài, nhà thơ Dung Thị Vân nhận thức ở tầm sâu nhất, cao nhất, tự lắng lòng và chị nghiệm ra:
Cái đêm vịn gió thật thà/ Cái đêm khuy áo lụa là ngu si/ Cái đêm vũ trụ vô vi/ Cái đêm còn lại nô tỳ tương tư
Cái đêm đen trắng thực hư/ Cái đêm trời đất khật khừ giao thoa/ Cái đêm khoảnh khắc phong ba/ Cái đêm xúc cảm vỡ nhòa trong tâm
Cái đêm hoa cỏ xanh thầm/ Cái đêm gió thốc nẩy mầm khuyết thâu/ Cái đêm chăn gối lệch nhàu/ Cái đêm trăng chếch bên cầu huyền linh
Cái đêm- quấn quýt...
... vô tình!
Việc lặp đi lặp lại 13 lần “Cái đêm” trong bài thơ cùng tên đă cho thấy được những cung bậc, sắc thái yêu đặc sắc. Sức hấp dẫn của nội dung tự sự trong thơ Dung Thị Vân thể hiện ở việc lựa chọn những hình ảnh giàu tính biểu cảm, khắc sâu vào tâm trí người đọc.
Người phụ nữ thường cả tin, luôn tin vào kết thúc có hậu của một câu chuyện tình. Thế nhưng sau những lần vấp ngă, bị dối lừa, phụ bạc họ không tin vào những ảo tưởng và thơ họ trở thành nỗi buồn trường cửu:
Anh ban cho em- Tình yêu
Và những sáng- và những chiều, khắc khoải
Anh tặng cho em- ngày dài
Trong nỗi đợi chờ- v́ ai đau khổ
Kết lại trong em- bơ vơ
Bấy nhiêu đó là bao nhiêu bệnh hoạn
Có thể nào- những dối gian
                                               (Người tình bội ước)
Đọc thơ Dung Thị Vân, nổi bật đó là giọng thơ trầm buồn, dịu dàng, tha thiết, đau đáu nỗi đời, nỗi người. Đó là tấm lòng, là tình cảm của một người đàn bà từng trải, chịu nhiều mất mát, hụt hẫng nhưng chị đã sống, đã yêu một cách chân thành và hồn hậu. Quá khứ- hiện tại- tương lai dường như được hòa quyện vào nhau và hội tụ về thời gian hiện tại trong thơ chị.
“Dịu dàng, đằm thắm, không khoa trương, những câu thơ của Dung Thị Vân cứ lặng lẽ đi vào đời như tự thân vốn có của nó. Dung Thị Vân chọn cho mình một lối đi riêng nhẹ nhàng mà sâu lắng, đắm đuối cuồng nhiệt mà tĩnh  lặng, khao khát kiếm tìm mà không đơn độc. Thơ như chiếc cầu phao cứu rỗi những khi trầm uất, những lúc chán chường mệt mỏi. Dung Thị Vân đă tìm được chân dung của mình qua những dòng thơ bằng sự trải nghiệm, những lúc hứng khởi và cả những khi tuyệt vọng để từ đó vươn tới những chân trời thơ đang rộng mở...”. Đó là những lời nhận xét khá xác đáng của Nhà thơ Trần Ngọc Trác khi đọc thơ Dung Thị Vân.
Tôi tin, Tình như sương khói (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2014) của Dung Thị Vân là tập thơ sẽ có một số lượng không nhỏ độc giả đồng cảm và yêu thích. Vì họ tìm thấy ở đó sự đồng điệu và chân thành, nhiều nỗi niềm trắc ẩn của một người đàn bà sống hết mình vì tình yêu./


Nguyễn Văn Hòa      
Giáo viên Trường THPT Nguyễn Thái Bình,
xã Xuân Phước, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên
Điện thoại: 0984.833.247























READ MORE - SỐNG HẾT MÌNH VÌ TÌNH YÊU - Nguyễn Văn Hòa đọc thơ Dung Thị Vân

Tuesday, April 23, 2013

THƠ NGUYỄN NGUYÊN BẢY, THƠ LÀ THƠ… - Nguyễn Văn Hòa

Nguyễn Nguyên Bảy
    Tôi không phải nhà văn, nhà thơ. Tôi chỉ là người chép chữ xuôi rồi bảo là văn. Chép chữ vần rồi bảo là thơ. Chép từ hồi tiểu học Lương Yên những năm đầu giải phóng Thủ đô, bạn “lớp chúng mình” gọi đùa Trương Chi. Chép chữ suốt từ ấy đến giờ, ngày nào ít nhiều cũng chép.Tôi là một nghiệp dư thơ. Một nghiệp dư say mê thơ điên cuồng, chép chép ghi ghi và chôn ghi ghi chép chép ấy vào mộ huyệt của im lặng, chỉ thỉnh thoảng, không cưỡng nổi điên khùng, nửa đêm thức giấc, ngửa mặt nhìn trời đọc thơ gửi mây, tặng gió… Thơ là thơ. Vì ba từ của định nghĩa ấy tôi đã suýt xong một đờiThơ là thơ. Thơ không phải là địa vị của người làm thơ. Mười lăm chữ ấy đủ cho một bản án không tuyên”.
Đây chính là những lời giãi bày gan ruột của Nguyễn Nguyên Bảy về nghiệp cầm bút. Ta có thể coi đó là tuyên ngôn nghệ thuật của ông về thơ. Dù ông không nhận và chưa bao giờ nhận mình là nhà văn, nhà thơ nhưng tôi nghĩ rằng ông xứng đáng để được gọi bằng những danh hiệu cao sang đó.
Nguyễn Nguyên Bảy ý thức sâu sắc rằng: “Thơ ca hiện diện như một chiếc gương, soi vào đấy hiện lên vẹn toàn gương mặt thi nhân. Hồng mặt gương hay xám ngoét mặt gương, thi nhân tự thức”.
Tôi buồn cho ông, buồn cho những người cùng thời với ông vì không gặp thời mà phải lận đận với nghiệp cầm bút. Tôi cũng thực sự khâm phục, kính trọng Nguyễn Nguyên Bảy bởi sự khiêm tốn, thẳng thắn, cương trực; sẵn sàng chịu “phạt” để giữ vững lập trường, để sống và chết với văn chương một cách thanh sạch. Để khỏi phải hổ thẹn với lương tâm và trách nhiệm của một người cầm bút chân chính. “Muốn sống cho thơ, duy nhất một con đường nín lặng mà yêu thơ, mà chép thơ, và chấp nhận một nghiệp dư, mà góp tiếng thơ cho yêu mến đồng bào, cho ngoại sử của non sông”.
Trong bài Tự thuật tội lỗi, nhà thơ kể lại trong sự đau đớn quặn lòng:
Có một thứ luật pháp/ Chép ra từ miệng quan/ Có một thứ luật pháp/ Không cần xử cần giam/ Có một thứ luật pháp/ Tra khảo bằng phiếu tem/ Có một thứ luật pháp/ Sống là tự chết mòn
Tôi phạm tội trẻ con/ Luận Kiều thời chinh chiến/ Biết phận mình ong kiến/ Chẳng dám trách miệng quan/ Cố lùa vào nỗi nhục/ Gối tình ôm sát ngực/ Cố đừng mòn sống ơi…
Nguyễn Nguyên Bảy là người lặng lẽ sống, lặng lẽ viết, chuyên cần, chăm chỉ khâu gió dệt nắng tưởng như mơ hồ…
Ông là một người am tường chữ nghĩa, người có những hiểu biết sâu sắc về thơ. Tôi thích nhất cách mà Nguyễn Nguyên Bảy gọi những bài bình bằng một cái tên khác cách gọi thông thường đó là “Đò đưa”, cách gọi này vừa quen, vừa lạ, vừa giản dị khiêm nhường nhưng nó cũng hàm chứa ý nghĩa vô cùng sâu sắc. Phải chăng, cuộc đời cầm bút với những trải nghiệm thực tế đã giúp ông đưa ra những cách gọi mới, sát đúng với thực tế như vậy?.
Đọc những gì Nguyễn Nguyên Bảy viết ta có thể khẳng định những trang thơ của ông chính là những trang đời. Dù ông viết về đề tài, chủ đề gì đi chăng nữa nó cũng thấm đẫm tinh thần nhân văn, nhân ái- “da diết nỗi đời, nỗi người, nỗi nhân tình thế thái”.
Cuộc đời ông đã đi và trải qua nhiều thăng trầm, tất cả không sao xóa được, được tạo dựng nên bằng những lớp kỷ niệm. Những kỷ niệm ấy lần lượt sống dậy trong thơ, nó trở thành nỗi nhớ niềm thương và cả những đau xót nghẹn ngào về những tháng năm bần hàn, cơ cực phải làm nhiều nghề để sinh sống. Khi gia đình thi sĩ Nguyễn Nguyên Bảy gặp nạn vì thơ. Họ đành phải rời Hà Nội - mảnh đất mẹ, nơi chôn nhau cắt rốn vào Nam với bao ức uất. Nhưng may mà vợ chồng ông vẫn một mực tin tưởng, yêu đời và nghĩ rằng sẽ có một ngày mai tươi sáng, một ngày nào đó trắng đen sẽ rõ ràng. Tất cả mọi thứ sẽ trở về giá trị thực như nó vốn có. Vợ chồng ông sẽ được minh oan, sẽ sống cuộc đời vui, có ý nghĩa ở những ngày tháng còn lại phía trước. “Niềm tin ấy son sắt lòng tôi và tôi đi theo niềm tin ấy, không sợ cam go, không vướng muộn phiền. Và thơ tôi ra đời như thế, đều đặn, tự nhiên mà sung sướng với đời” (Nguyễn Nguyên Bảy). Dù mấy chục năm xa đất Bắc, xa Hà Nội nhưng trong tâm can vợ chồng ông vẫn luôn hướng về nơi đất Bắc, với một nỗi nhớ cồn cào, da diết. Tất cả cả trở thành máu thịt, niềm yêu thương vô bờ.
Dòng sông thơ mộng, trữ tình mang đậm hồn quê xuất hiện nhiều lần trong thơ Nguyễn Nguyên Bảy. Dòng sông đã in đậm tình yêu quê hương và sự sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ chính là con sông Hồng (sông Cái)- một con sông gắn liền với bao ký ức niềm thương và chở đầy huyền thoại. Phải chăng cũng chính từ con sông Hồng phù sa đỏ nặng này nó tạo nên mạch nguồn cảm xúc dạt dào vô tận cho ông.
Anh ngụp lặn quẫy đùa thời trai trẻ/ Những chiều sông Cái quê hương/ Nhớ tuần trăng mật chẳng bình thường/ Tình xém chìm trong bể đời nước mắt/ Hỡi quá khứ với bao nhiêu mặn chát/ Ngươi cũng là vị biển của tình yêu/ (Biển đổ chiều)
/ Sông Hồng sóng vỗ lửa thiêng/ Một con đò đắm mẹ mềm cỏ trôi/…/Sông Hồng xác mẹ giạt trôi/ Sông ni dìm chết bao người mẹ ta/ (Qua sông Hiền Lương)
Sau mấy chục năm xa cách, có dịp trở lại con sông này nhà thơ xúc động giãi bày:
Tôi đã yêu một dòng sông/ Năm mươi năm rồi dòng sông có biết?/ Lúc ấy tóc tôi và tóc mình cùng xanh ngọt/ Mà giờ đều trắng hoa lau/ (Gặp lại dòng sông)
Nỗi buồn miên man chảy trong thơ ông- ông buồn vì nhiều lẽ: buồn vì cuộc sống áo cơm, vì chiến tranh đau thương tang tóc, buồn vì những bất công ngang trái của cuộc đời, buồn vì ước nguyện làm người chưa trọn. Nên thơ ông dày đặc những thanh âm buồn.
Hình ảnh người mẹ, người cha những năm sơ tán được nhà thơ ghi lại trong sự ngậm ngùi:
Mẹ từ khu sơ tán trở về nhà/ Đi tắt đường ao rau muống/ Trăng hạ tuần lạnh mỏng/ Không soi được bóng mẹ xiêu/ Mấy hôm nay Hà Nội báo động nhiều/ Cha chẳng bao giờ chịu xuống hầm trú ẩn/ Cơm nguội muối rang mặn đắng/ Làm sao nuốt nổi chồng ơi…
Súng nhỏ súng to nổ rát phía bờ sông/ Cha thầm thào điều gì mẹ nghe không rõ/ Vài bóng người chạy ngang cửa sổ/ Gọi cha ra đê Sơn Tinh/ Nước lên to đỏ mắt thủy thần/ Nổ một trái bom là đê vỡ/ Mẹ bật hầm chạy ra đê bươn bả/ Bao nhiêu người nằm che thân đê…(Ký ức thư)
Mẹ là thiêng liêng, là kỳ diệu, là tuyệt vời nhất:
Mặt trăng không sinh được con người/ Mặt trời không sinh được con người/ Sinh ra người là mẹ muôn vàn yêu quý của con/ Ai nói lời cảm tạ thần linh/ Chớ quên mẹ muôn vàn yêu quý của con/…/ Hiểu tất cả mọi điều là mẹ/ Đất nghiêng tán lũ vào đồng/ Ở đâu núi chảy ra lửa chết/ Hai bàn tay mẹ làm lành lại hết./ (Nam mô Đất)
Để rồi có lúc thi sĩ Nguyễn Nguyên Bảy bất chợt thấy mẹ hiện về:
Mẹ lại hiện về lưng còng như trăngCon đâu biết làm gì để lưng mẹ thẳngMẹ bảo đừng cười chua khóc đắngCứ làm thơ trăng cho Hằng vỗ về đời/ (Ký ức còn lại)
Có lẽ dưới nấm mộ sâu, người mẹ cũng thấu hiểu cho nỗi lòng đứa con trai yêu quý đang gặp tai ương, nạn kiếp vì thơ trên cõi trần. Vì ngay từ lúc còn nhỏ, mẹ đã từng ve vuốt: Con cái đứa nào cũng rứt ruột đẻ ra/ Nhưng mẹ thương con nhất/ Thương thằng mộng mị thơ ca. Vốn yêu con, hiểu con nên người mẹ hiện về đã an ủi và căn dặn: “đừng cười chua khóc đắng” mà “Cứ làm thơ trăng cho Hằng vỗ về đời”.
Thi sĩ còn nhớ như in về ngày đưa tang mẹ:
Đám tang mẹ vắng hai người con trai/ Anh trai trưởng tạ người đến phúng/ Cháu đích tôn tạ người đến phúng/ Người con trai thứ tư ngồi sau quan tài/ Rượu trắng lưng chai/ Nắn nót từng ly mời mẹ.
Nhà thơ nghẹn ngào, tự trách mình vì chưa làm được gì để giúp mẹ mà chỉ toàn gây bao đau khổ, muộn phiền:
Thời tôi sống đã gây cho mẹ biết bao đau khổ/ Chết rồi mẹ vẫn thương tôi/ Biết bao giờ tôi lại được gặp người/ Để đền đáp yêu thương của mẹ/ Tôi đã sống một đời người hoang phí…
Nhận thức được điều đó, vốn là một người con hiếu nghĩa, nặng tình với mẹ nên Nguyễn Nguyên Bảy đã: Lạy Càn Khôn, tôi nguyện sống tu thân theo mẹ/ Sau trăm tuổi xin cho tôi về làm mùa tứ quí/ Để hầu hạ mẹ tôi… (Mùa tứ quí)
Ước nguyện “làm mùa tứ quí”, đấy là sáng tạo nghệ thuật độc đáo của nhà thơ. Ở thế giới bên kia người mẹ cũng cảm thấy ấm lòng vì có đứa con trai tuyệt vời đến vậy!.
 Bài thơ dài Lời nghĩa trang là bài thơ tạo nên sự ám ảnh, day dứt, gây thổn thức và cấu véo tâm can người đọc:
Chúng tôi đã thành cát bụi cả rồi Những người con gái con trai thiết tha yêu đất nướcTôi hy sinh mùa thu 45Đòn gánh phá kho thócTôi hy sinh trong chiến dịch Thu ĐôngÁo trấn thủ vợ may sũng máuTôi hy sinh năm 50 Biên GiớiTrong reo hò đồng đội xung phongTôi hy sinh giữ khúc điệu hào hùngQua miền Tây Bắc núi vút ngàn trùng xaTôi hy sinh khi nhận thấy ngọn cờBay phần phật trên nóc hầm Đờ cát/…/
Tôi hy sinh những ngày cuồng sátNúi sông chia cắt Hiền LươngTôi hy sinh ngoài địa ngục Côn SơnLưng chằng chịt lằn roi cá đuốiTôi hy sinh những ngày 59 luật 10 máy chém kéo lêTôi hy sinh trong tức nước vỡ bờCái sống đứng lên Đồng Khởi/.../
Chúng tôi hy sinh trăm ngàn cách khác nhauNgười còn nguyên hài cốt/Người chỉ là tờ báo tử mầu xanhChúng tôi hy sinh không nhớ thời gian/Non sông ba chục năm loạn lạcChúng tôi chết khắp mọi miền đất nước/Rừng dài biển thẳm non caoChúng tôi người vừa tân hônNgười trầu cau mới dạmNgười đã có con dâu con rểCha vượt sóng con băng rừngChúng tôi chết nhớ triền đêChết vọng về đồng bểChết lang thang quay hồn về núiTìm suối chảy ra sôngTất cả chúng tôi không thể già hơnMộ đời cỏ mọc xuân sangChúng tôi hy sinh người không lời trăng trốiNgười nói gọi đôi câuCó ai mang theo gì đâuNgoài bóng hình đất nước/…/
Đó là lời của những linh hồn đã hy sinh vì sự nghiệp cao cả của cuộc đời này, lời cảm tạ sâu sắc của những người đang sống đối với những người đã ngã xuống cho Tổ quốc đẹp giàu, lời nhắc nhớ về ý thức trách nhiệm của những người đang sống hôm nay. Phải sống chết thế nào cho phải phép. Điệp câu: “Chúng tôi đã thành cát bụi cả rồi/ Những người con gái con trai thiết tha yêu đất nước
“Không làng xã nào không xây dựng nghĩa trangKhông thị thành nào không xây dựng nghĩa trang”- Thảm họa của chiến tranh cực kỳ khủng khiếp! Nhưng cái đau khổ nhất mà bão tố chiến tranh đem đến cho con người không chỉ là mất mát, tang thương, điêu tàn mà còn là những vết thương lòng rỉ máu, những ám ảnh kinh hoàng còn mãi trong ký ức, xiết chặt tâm hồn người thời hậu chiến.
Nguyễn Nguyên Bảy cũng dành những vần thơ nghe ai oán để nói về Nguyễn Du, về Thúy Kiều, về Đạm Tiên, Hằng Nga, Trương Chi, Từ Thức, Mỵ Nương, về thánh thơ Cao Bá Quát… khơi gợi nơi người đọc bao điều trắc ẩn về lẽ sống, niềm tin, cả những chiêm nghiệm, những suy ngẫm sâu sắc về thế sự nhân sinh…
Nạn ách vì thơ và sự suy ngẫm về một thời đã qua- Trong bài Ru cháu giống ai gợi lên cho người đọc bao nỗi niềm: Cháu đừng giống ông/ Ăn thơ ăn báo/ Cháu đừng giống bà/ Ăn cháo ăn ngô… / Ông cười ướt mắt/ Nhìn trời mênh mông.
Lời trò chuyện, lời căn dặn của ông đối với cháu nghe sao mà xót xa. Ông cười để cho cháu vui nhưng thực ra là ông đang khóc: “Ông cười ướt mắt”. Có lẽ đứa cháu còn quá nhỏ nó chưa hiểu và chưa nhận ra vì sao ông lại dặn cháu như thế. Nhưng tôi tin rằng, vào một ngày khi đứa cháu ấy đã lớn, cháu sẽ hiểu rõ vì sao ông lại dặn những lời gan ruột như vậy.
Có lẽ người mà thi sĩ Nguyễn Nguyên Bảy dành những tình cảm đặc biệt nhất đó là người vợ- người bạn đời- thi sĩ Lý Phương Liên. Người đã cùng ông gánh chịu bao niềm đau, bao ghềnh thác, bão giông của cuộc đời. Có nhiều bài thơ ông viết về bà, nói về bà như là lời biết ơn chân thành và sâu sắc nhất. Nguyễn Nguyên Bảy có hẳn một tập thơ để tặng vợ, đó là tập 99 khúc tặng Liên (Nhà xuất bản Văn học, 2012). Khi đọc tập thơ này, nhà thơ Nguyễn Minh Khiêm nhận định: “Mới. Lạ. Mở. Dạt dào cảm hứng. Ý tứ mênh mang. Chữ như mây vỡ. Rất thực mà ảo. Rất ảo mà thực. Tình chắp cánh cho trí bay lên. Trí làm cho tình găm lòng người ở lại. Ông viết như mê. Ông viết như say. Ông viết như không. Ông viết như chơi. Không khuôn mẫu. Không lặp lại. Biến hóa. Sáng tạo. Sáng tạo mà không cứng. Nhuần nhuyễn. Đầy chất thơ. Đầy chất thi sĩ…
Đọc 99 khúc tặng Liên, bạn đọc sẽ nhận thấy có một thi sĩ Nguyễn Nguyên Bảy rất mực tài hoa, lãng mạn nhưng cũng vô cùng thực tế và sâu sắc.
Nhà thơ cho rằng, việc ông gặp Lý Phương Liên và kết duyên chồng vợ, đó có lẽ là duyên số. Ông ví von: Chúng tôi chỉ là đôi bồ câu/ Không biết véo von chỉ biết gù/ Chim vợ gù giọng thủy/ Chim chồng gù giọng thổ…
Tiếng gù bồ câu không có lời than thở/ Công danh là chuyện mưa rào/ Mưa rào bồ câu không xuống sân nhặt thóc/ Đói khổ là chuyện ngập lụt/ Bồ câu biết lưới cá tôm/ Trong tiếng gù bồ câu chỉ có lời tình/ Vợ chồng như đất và nước/ Khắc này là khắc tương sinh/ Anh nguyện yêu em trọn một đời tình/ (Tiếng gù bồ câu trống)
Trước cuộc đời đầy giông bão, nhiều thăng trầm, chiến tranh loạn lạc, hai con người ấy vẫn một lòng một dạ sống tình nghĩa, thủy chung:
Này bồ câu trống em gọi là chồng/ Giữa thời bom rơi đạn nổ/ Mà anh muốn cưới tình/ Cưới tình thời chiến tranh phải thề không được chết/ Trống mái không con nào được chết/ Trước khi tình đầu bạc răng long/ (Tiếng gù bồ câu mái)
Tận trong sâu thẳm con tim mình, ông bày tỏ sự biết ơn chân thành nhất đến người con gái họ Lý kia:
Cho anh lạy tạ tình taTạ ơn em tiếng oa oa con chàoBao nhiêu sung sướng nghẹn ngàoĐôi ta gieo hạt máu vào nhân gian/ (Thơ tạ)
Đọc thơ ông, người ta sẽ nhận thấy đây là một nhà thơ, một hồn thơ, một giọng thơ có nhiều điều khác biệt. Sở dĩ tôi khẳng định là khác biệt vì nhiều lẽ. Với  Nguyễn Nguyên Bảy thơ đã trở thành lẽ sống, niềm tin bất diệt. Ông đã có thơ từ những năm 60,70 của thế kỉ trước, ông viết nhiều và viết đều đặn. Những bài thơ của ông dù được đăng báo hay không, dù được khen hay chê nhà thơ vẫn coi đó là những đứa con tinh thần của mình dứt ruột đẻ ra. Ông lưu giữ đến ngày hôm nay những sáng tác của những năm tháng khổ đau, đày ải, những năm tháng loạn ly do khói lửa chiến tranh… Nếu không phải là người “dũng cảm”, sẵn sàng sống chết với văn chương, coi văn chương như là đức tin tôn giáo thì chắc chắn vợ chồng ông đã bỏ cuộc. May thay điều đó đã không xảy ra. Bạn đọc hôm nay có được cơ hội để thưởng thức những bài thơ, câu thơ hay của đôi vợ chồng thi sĩ tài hoa này.
Tôi rất thích mấy câu thơ trong bài Gặp mừng, được viết vào mùa xuân năm 1975:
Anh đã cùng thơ đi khắp những miền xaTưởng tượng những địa đàng ẩn nấpAnh chẳng dám tin ngày hôm nay có thậtGiữa Sài Gòn thong thả du ca
Đó là niềm vui sướng, hân hoan của nhà thơ vì đất nước đã được hoàn toàn giải phóng, Bắc- Nam đã được sum họp một nhà. Cũng từ đây mọi điều sẽ khác, thi sĩ Nguyễn Nguyên Bảy có điều kiện để “thong thả du ca”.
Ngôn ngữ là nguyên liệu duy nhất của nghệ thuật văn chương. Nó là sự chắc lọc tinh khiết tạo nên vẻ đẹp quyến rũ cho tác phẩm nghệ thuật. Trong sáng tác của mình Nguyễn Nguyên Bảy đã vận dụng sáng tạo trong việc lựa chọn và kết hợp từ ngữ tạo nên những hình ảnh thơ độc đáo:
Gái tầm tang da bóc trứng gàLưng ong cong mềm khung cửi/ (Mười rằm mồng một)
Mở lòng mà đón ban maiYếm trăng buộc lại thiên thai hẹn chiều/ (Ban mai)
Thả mình phơi trong đỏ biển chiềuAnh theo sóng cắn mềm bờ cát/ (Biển đổ chiều)
Con biết ở cõi trờiMẹ muốn khóc cũng không thể khócVì thế ở cõi ngườiNgày ngày con đem tiếng khóc mẹ ra phơi/  (Mẹ khóc)

… Hà Nội rạng đôngMáu đã chảy lên thành Quả Mặt Trời/ (Quả Mặt Trời)

/…/
 “Thơ ông giàu có về hình ảnh. Hình ảnh này gọi hình ảnh kia. Hình ảnh chồng lợp lên nhau, giao thoa nhau. Một tầng. Hai tầng. Nhiều tầng. Câu chữ sóng động. Sự biểu cảm phong phú. Đa thanh. Đa sắc… Cách viết của ông không giống ai. Không gồng lên. Không cố tạo khác biệt. Ấy thế mà trộn vào đâu cũng không lẫn…” (Nguyễn Minh Khiêm).
Ngôn ngữ thơ Nguyễn Nguyên Bảy là thứ ngôn ngữ có ma lực. Bởi nhiều từ ngữ ông sử dụng với những giá trị và ngữ nghĩa riêng:
Trắng như da ngực trinh tânHỏi trăng, trăng đã một lần ai hôn?
/ Gió no thơ phưỡn bụng buồmCò đói thơ đứng thả buồn bờ ao
Gió kinh thành ngũ sắc hoan ca/
Bóng đè sông Mê, thuyền neo bến Lú/
Quốc ca hát đỏ sông HồngNơi ấy là kinh thành cổ tích/
/Phì nhiêu khoan nhặt gù tình…/
/ Xóm Hạ Hồi thoang hương sữa lạnhHoa từ vú lụa thơm ra/
Cỏ lau cưới lắt lay đầuSông lăn tăn sóng thoa bầu vú trăng /
/…/
Khảo sát ngôn ngữ thơ Nguyễn Nguyên Bảy, ta có cách cảm nhận riêng về thơ ông trong sự khám phá thế giới.
Nhìn chung Nguyễn Nguyên Bảy bộc lộ một khả năng tưởng tượng phong phú khi tạo dựng các chiều không gian khác nhau.  Mọi không gian trong thơ ông đều được vĩnh viễn hóa, bất tử hóa trong chiều sâu ký ức. Miền ký ức tuổi thơ và những năm tháng khổ đau, nạn ách lần lượt sống dậy trong những trang thơ của người thi sĩ tài hoa này.
Trả lại hết sướng vui nạn ách. Chuyền tay chữ hát xuống thuyền. Thung thăng ngược bến cỏ non…
Thời gian nghe nặng mưa tuôn/ Giọt xối xả chảy, giọt bồn chồn rơi
Tư tưởng và triết lý Phật Giáo được đưa vào thơ, những từ nói về chùa chiền, về Phật, về tu, về nạn kiếp… được đề cập đến nhiều trong thơ ông. Cho thấy ông là người thấm nhuần và hiểu biết sâu sắc về Phật pháp.
… Bể đời khổ sao bể đời vẫn chật?/ … Trí dũng tát cạn được bể lửa/ Dám dâng thân cứu nạn triệu sinh linh/ Sao không tự cứu được mình/ Trước sông Mê bến Lú
Hóa ra con người cũng dễ bị cám dỗ, dễ bị sập bẫy trước đồng tiền và danh lợi? Bằng cách nói hình ảnh: “Sông Mê, bến Lú” gây được ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc.
Viết cho người bạn văn quá cố Trần Hoài Dương, thi sĩ Nguyễn Nguyên Bảy đau đáu rằng: / Dẫu dài đời cũng trăm nămSao chẳng trăm năm nương cửa PhậtBể đời khổ sao bể đời vẫn chậtNào mấy người vào bể Như Lai(Vào chùa)
Thủ pháp ẩn dụ, so sánh, nhân hóa… cũng được nhà thơ sử dụng để tạo ra những tứ thơ bất ngờ, mới lạ, đem lại sắc điệu thẩm mỹ mới trong thơ.
- Ngực buồm no gió thuyền sayAnh là gió lộng vun đầy thuyền son/ (Hát không đề)
- Em trói sóng lời ru mềm lắmMơ hồ buồn sóng lặng lẽ về khơi/ (Viết trên giường bệnh)
- Tôi đổ tuổi tác vào nồi ký ứcTóc lau ngồi nín cời than/ (Ký ức còn lại)
- Trăng vàng rơi qua kẽ tayTrôi bồng bềnh rồi rơi vào sóng bạc/ (Ca trù mùa thu)
- Nếu em là hạt mưa xuânAnh là chồi biếc uống chầm chậm em/ (Bốn mùa)
- Ly hương ư? Mắt bà heo mayLưng còng ngồi se sợi gió/ (Tinh tú ngộ duyên)
Mới hay trăng sáng thì thầmGió ôm trăng nói gió cầm trăng đi/ (Lời tóc cỏ lau)
/…/
Điều đặc biệt, trong thơ Nguyễn Nguyên Bảy tần số sử dụng điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc câu xuất hiện dày đặc. Phải chăng đây cũng là điểm mạnh của thơ ông. Thơ Nguyễn Nguyên Bảy giàu ẩn ngữ, mang tính triết luận, nhiều khi gây khó hiểu đối với người tiếp nhận. Vì vậy, đọc thơ ông phải đọc đi đọc lại nhiều lần, vừa đọc vừa ngẫm nghĩ mới thấy được những chân giá trị và ý đồ nghệ thuật mà nhà thơ muốn gửi gắm. Chẳng hạn: chỉ 4 câu trong bài thơ ngắn Chân hương cũng gợi ra bao nhiêu suy nghĩ và đặt ra những vấn đề mang tính triết lý về lẽ sống và cuộc đời:/ Cháy rồi, cháy hết phần thơmChân hương đứng lặng nỗi buồn vô viRồi mầu phẩm nhuộm phai  điDẫu chẳng còn gì vẫn đứng chân hương
Thơ Nguyễn Nguyên Bảy là thơ của một con người từng trải, một con người đã từng chứng kiến bao thăng trầm dâu bể của lịch sử dân tộc, gánh chịu bao đau khổ, điều tiếng không tốt, có lúc bị quy kết chuyện này chuyện khác và phải chịu những hệ lụy vì thơ. Tai nạn nghề nghiệp- gặp cơn thác dữ về thơ năm 1970 từ người vợ Lý Phương Liên và những phát ngôn về thơ của ông đã bị đánh “lên bờ xuống ruộng”. Nhưng hai con người ấy, hai tâm hồn ấy, hai thi sĩ ấy vẫn miệt mài, bền bĩ, lặng lẽ “nhả thơ” trong bóng tối của đời mình.
Đọc thơ Nguyễn Nguyên Bảy, nhà thơ Hoàng Xuân Họa cho rằng: “Thế giới thơ Nguyễn Nguyên Bảy là thế giới của cái đẹp, cái đẹp những dòng sông, tình yêu, cuộc sống; nhiều vấn đề của cuộc sống được anh khai thác thả vào thơ để mong người đời hướng thiện”.
Thơ Nguyễn Nguyên Bảy là thơ đáng để đọc. Nhìn trên tổng thể, thơ ông viết có rất nhiều bài, nhiều câu thơ, nhiều hình ảnh thơ đặc sắc. Thơ ông không màu mè, hoa lá nhưng có chỗ ông rất sáng tạo trong việc tạo dựng các hình ảnh, kết hợp và tạo ra nhiều từ ngữ lạ và độc đáo với một trình độ tư duy nghệ thuật mới.
Nguyễn Nguyên Bảy là một nhà thơ lặng lẽ nhưng say mê làm mới và sáng tạo hình thức thơ ca trữ tình hiện đại. Ông đem lại cho ngôn ngữ thơ những tín hiệu thẩm mỹ mới về khả năng dung chứa và phản ánh hiện thực. Ông kế thừa và làm mới thơ trên nhiều phương diện. Vận dụng linh hoạt những thủ pháp nghệ thuật: ẩn dụ, so sánh, nhân hóa, điệp từ, điệp câu … trong cấu trúc hình thức tác phẩm.
Tôi không dám lạm bàn về thơ Nguyễn Nguyên Bảy. Nhưng với tấm lòng của một người yêu văn chương, yêu thích thơ- với khả năng và sự hiểu biết có hạn tôi chỉ nêu lên vài cảm nhận của riêng mình như thế về thơ ông. Bởi tôi nhận thấy rằng: thơ Nguyễn Nguyên Bảy- đúng như con người của ông và những phát ngôn của ông: Thơ là thơ. Tôi đặc biệt ấn tượng và thích kiểu loại thơ đó. Thơ là đời, là người, là cuộc sống như nó vốn có. Vì thế thơ Nguyễn Nguyên Bảy không cao giọng, không hô hào, không khẩu hiệu… mà nó thật như những gì vốn có của cuộc sống, của cuộc đời. “Đời tự nhiên đã muôn mầu muôn sắc, cớ chi thơ không muôn sắc mầu. Vấn đề là trước cảnh, trước người, trước sự, trước việc ấy lòng ta buồn hay lòng ta vui? Thành thực với chính mình, thì buồn vui gì cũng tuôn chảy ra vần điệu, và đó chính là thơ… Thành thực với chính mình ắt nhận ra tình yêu, tình thích, tình giận, tình thù và ngay cả những sục sôi phẫn nộ. Muốn vậy, phải cố mà tránh những khuôn mẫu nghĩ, những thói bầy đàn lười biếng, những dụ dỗ của danh tiền tầm thường, để mặc vội vã cho ngôn từ tấm áo “bảo là thơ” để tụng ca minh họa, để trăm bài thơ giống ngàn bài thơ, một giọng, một điệu, thậm chí một vần đều như đúc ra từ một khuôn thơ, thành thứ tân văn vần (không phải văn vần mới, vì văn vần mới hàm chứa một sự sáng tạo)… Thiếu gì những chuyên nghiệp thi sĩ khai sinh một rừng biển thơ toàn những lời hô hào rỗng tuyếch, toàn những lời diễn ca chính sách, toàn những lời tụng ca, những dạy dỗ và tôn vinh những giả dối mọn hèn. Thế nên, thơ của họ làm sao vươn tới tầm vĩ đại của dân tộc đổ máu dằng dặc những năm dài giữ nước, của khổ nghèo nhân dân thắt lưng buộc bụng cho tiền phương giết giặc. Thế nên, thời tôi sống, nào được mấy trang thơ chói lóa trả ơn cho những hy sinh, những đau đớn khổ cực của Mẹ Việt Nam Anh Hùng”. Đó là những lời sẻ chia đầy tâm huyết của thi sĩ Nguyễn Nguyên Bảy.
Hãy để thời gian, công chúng thưởng thức và những nhà chuyên môn đánh giá, khai mở những tầng giá trị và ý nghĩa của thơ ông. Riêng tôi, tôi thật sự kính trọng, khâm phục tài năng và phẩm hạnh của một người cầm bút như ông. Thơ Nguyễn Nguyên Bảy, Thơ là Thơ…

                                                 
Tác giả:  Nguyễn Văn Hòa
             Địa chỉ liên hệ:  Nguyễn Văn Hòa
Trường phổ thông cấp 2-3 Xuân Phước,
huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên
Điện thoại: 0984.833.247                                            Email:nguyenvanhoa.phuyen@gmail.com
READ MORE - THƠ NGUYỄN NGUYÊN BẢY, THƠ LÀ THƠ… - Nguyễn Văn Hòa

Monday, February 25, 2013

MỘT VÀI CẢM NHẬN KHI ĐỌC SÁCH "VĂN BẠN VĂN 1" - Hòa Phú Yên


MỘT VÀI CẢM NHẬN KHI ĐỌC SÁCH "VĂN BẠN VĂN 1"
(Chủ biên: Nguyễn Nguyên Bảy- Nhà xuất bản Văn học, 2013)
                                                                                                Hòa Phú Yên

Trong bầu không khí nền văn học nước nhà hiện nay có phần u ám, nhiều xô bồ, nhiễu loạn; người ta đang tự ca tụng những điều viển vong, hư ảo, thậm chí có người lại thờ ơ và quay lưng lại với văn chương; Văn Bạn Văn 1 ra đời trong bối cảnh ấy là một sự kiện thực sự có ý nghĩa, là điều vô cùng đáng quý và đáng trân trọng.
Văn Bạn Văn 1 là tập sách tập hợp 38 bài, bao gồm những bài nhận định, đánh giá, những bài ký, đò đưa, chân dung, truyện ngắn của 34 tác giả đến từ mọi miền của đất nước. Và 1 bài viết hết sức có ý nghĩa “Cửu tụng bạn văn Trần Hoài Dương” thay cho lời mở đầu của Chủ biên Nguyễn Nguyên Bảy. Bài Cửu tụng nói lên được nhiều điều về đức tính, phẩm hạnh, tài năng của Trần Hoài Dương. Nói rộng ra đó là những phẩm chất mà người viết chân chính cần phải có. Đừng vì lợi ích cá nhân, đừng vì con đường công danh, vị nể, đừng vì những suy nghĩ viễn vong mà làm những điều không đáng…
Sự góp mặt của những tác giả trên với những tác phẩm trong tập sách, ở nhiều thể loại nó đã làm nên sự đa dạng, phong phú của tập sách.
Bên cạnh những nhận định, những bài đò đưa về thơ, về một số tác giả, tác phẩm đã từng ghi dấu ấn trong lòng bạn đọc một thời còn có những bài ký sự, những truyện ngắn hết sức độc đáo, mang tính thời sự và có giá trị nhân văn. Đánh thức phần lương tri, trách nhiệm của con người trong cuộc sống vốn đa diện, đa chiều của đời sống hiện đại.
Sách Văn Bạn Văn (Tập 1) dày 300 trang, bìa cứng, khổ 20 x 20, Nhà xuất bản Văn học ấn hành tháng 1/2013, tập hợp gồm 34 tác giả với 38 tác phẩm. Tác giả góp mặt ít nhất 1 bài, nhiều nhất là 2 bài. Với cách bài trí từ bìa sách đến nội dung từng phần trong sách và nhất là những tác phẩm được chọn, theo cá nhân tôi nhận thấy nó rất bài bản, ấn tượng và chất lượng. Đặc biệt là cách phân chia và gọi tên từng phần trong sách cũng rất “lạ”. Cách phân chia ấy chứng tỏ chủ biên Nguyễn Nguyên Bảy là một người rất am tường và chuyên nghiệp về văn chương chữ nghĩa. Sự phân chia và gọi tên như thế cho thấy ông là người rất cẩn trọng tỉ mỉ và công phu trong việc đọc chọn, sắp xếp và biên tập. Tôi thích nhất cách mà Nguyễn Nguyên Bảy gọi những bài bình bằng một cái tên khác cách gọi thông thường đó là “Đò đưa”, cách gọi này vừa quen, vừa lạ, vừa giản dị khiêm nhường nhưng nó cũng hàm chứa ý nghĩa vô cùng sâu sắc. Phải chăng, cuộc đời cầm bút với những trải nghiệm thực tế đã giúp ông đưa ra những cách gọi mới, sát đúng với thực tế như vậy?.
Sách Văn Bạn Văn (Tập 1) được chia làm 2 phần:

Phần 1: Văn ngắn (Luận, Sự, Ký, Đò đưa, Chân dung…)

Với sự  góp mặt của Hoàng Thụy Anh, Phạm Đình Ân, Trần Văn Cung, Văn Giá, Trần Vân Hạc, Nguyễn Văn Hòa, Hoàng Xuân Họa, Nguyên Khôi, Vũ Bình Lục, Nguyễn Khắc Phục, Lê Xuân Quang, Nguyễn Thái Sơn, Hoàng Trung Thông, Hoàng Vũ Thuật, Trần Huy Thuận, Nguyễn Anh Tuấn, Triệu Xuân.
Trong phần 1 này, người đọc sẽ được thưởng thức nhiều bài viết rất ấn tượng và sâu sắc. Điều chắc chắn là sẽ gợi lên cho người đọc bao điều thú vị. Các bài viết mổ xẻ, phân tích, bình giá … trên nhiều phương diện và góc độ khác nhau. Và ở đó, chúng ta sẽ biết thêm được nhiều điều, nhiều kiến thức bổ ích, nhiều tư liệu quý … Một Nguyễn Khoa Điềm với những suy tư, trăn trở, những chiêm nghiệm cuộc đời trong “Cõi lặng” khi trở về- sau cuộc giã từ chính trường, sống cuộc đời tự do, khẳng định bản lĩnh và nhân cách của một tâm hồn thi sĩ đích thực (“Nguyễn Khoa Điềm và chuyện ngược dòng về Cõi lặng”- Hoàng Thụy Anh). Một Văn Cao là Nhạc sĩ- Thi sĩ tài hoa với những thăng trầm và bao biến cố đẩy đưa của cuộc đời (“Văn Cao: Uống rượu say rồi hát Quốc ca”- Lê Xuân Quang). Bài văn luận “Cái tai và văn hóa nghe” của Trần Huy Thuận” cho ta nhiều bài học về lẽ sống, về văn hóa ứng xử, giao tiếp hằng ngày …
Hà Nội mảnh đất hùng thiêng, là trái tim yêu của Tổ quốc, nơi những người con ở chính đất này đi xa ai cũng nhớ về nó với một nỗi nhớ da diết, khôn nguôi; nơi mà những người phương xa khi đến cũng đều có sức quyến rũ họ một cách kỳ lạ, với những người chưa từng đến Hà Nội thì ai cũng khao khát một lần được đặt chân đến mảnh đất này. Hà Nội có điều gì đặc biệt, Hà Nội có những gì mà có sức cuốn hút kỳ diệu và lạ lùng như thế? Bạn đọc sẽ được thưởng thức qua một bài Tùy bút điện ảnh viết khá đặc sắc với sự hiểu biết uyên thâm của một người từng sống và gắn bó với Hà Nội. Đó là bài “Hà Nội bốn mùa” của Nguyễn Anh Tuấn. Mở đầu bài tùy bút, Nguyễn Anh Tuấn đã có cách giới thiệu ấn tượng: “Đối với rất nhiều người Việt Nam ở khắp đất nước và ở khắp các phương trời xa xôi, Hà Nội là nỗi niềm đau đáu nhớ thương … Và Hà Nội cũng trở nên gần gũi thân quen một cách lạ lùng đối với nhiều thế hệ người Việt Nam cũng như đối với không ít vị khách nước ngoài… điều đó có thể lý giải bằng nhiều nguyên cớ- mà nguyên cớ trực tiếp nhất, và cũng sâu xa nhất, chính bởi Hà Nội có bốn mùa thật rõ rệt và đặc sắc, mà người ta có thể cảm nhận được qua da thịt từng sự thay đổi nhỏ bé của hoa lá, mặt sông gương gương hồ, con đường lối ngõ, những gương mặt người…
Đặc biệt, trong phần giới thiệu chân dung, độc giả sẽ được biết cụ thể hơn, rõ hơn về một hồn thơ tài hoa Lý Phương Liên, một tên tuổi từng gây xôn xao dư luận trên thi đàn những năm 70 của thế kỉ trước. Lý Phương Liên xuất hiện như “một ngôi sao băng” rồi vụt tắt, mãi đến năm 2011 công chúng yêu thơ mới biết có một Lý Phương Liên thật, đang hiện hữu trên cuộc đời này. Bạn đọc sẽ được tìm hiểu kỹ hơn về cuộc đời và thơ của bà qua 7 bài viết của các tác giả: Hoàng Trung Thông, Phạm Đình Ân, Trần Vân Hạc, Hoàng Xuân Họa, Nguyễn Văn Hòa, Nguyễn Anh Tuấn, Triệu Xuân.

Phần 2: Văn truyện

Với sự góp mặt của 19 tác giả: Tạ Duy Anh, Ngọc Bái, Lê Thế Biên, Văn Chinh, Phùng Thành Chủng, Lê Bá Duy, Nguyễn Hiếu, Hoàng Xuân Họa, Nguyễn Minh Khiêm, Văn Thành Lê, Lại Văn Long, Phùng Gia Lộc, Trần Nhương, Lê Xuân Quang, Bùi Ngọc Tấn, Võ Diệu Thanh, Nhật Tuấn, Triệu Xuân, Phùng Hải Yến.
Trong phần văn truyện, bạn đọc tiếp tục được thưởng thức những tác phẩm của những tác giả đã khá thành danh và khẳng định chỗ đứng trên văn đàn. Những tác phẩm truyện của các tác giả này họ khai thác ở nhiều đề tài, chủ đề khác nhau nhưng chung quy lại vẫn là đề cập đến con người, sự sống và những mối quan hệ xã hội trong đời sống hiện nay. Đọc những tác phẩm ở phần văn truyện chắc hẳn sẽ gợi lên cho người đọc nhiều suy ngẫm về vấn đề đạo và đời trong đời sống con người hiện đại hôm nay.
34 tác giả với  38 bài văn góp mặt ở sách Văn Bạn Văn- Tập 1 thực sự là những tác phẩm đáng để đọc.
Có lẽ sự thành công của Văn Bạn Văn – Tập 1 nằm ngoài sự mong đợi của của những người thực hiện tập sách. Rất tiếc vì dung lượng Tập sách có hạn nên đành gác lại một số tác giả và tác phẩm khác. Hy vọng rằng những tác phẩm có giá trị chưa được chọn ở tập này sẽ được chọn in ở các tập tiếp theo.
Tôi tin rằng trong rừng sách bạt ngàn như hiện nay thì sách Văn Bạn Văn - Tập 1 sẽ là tập sách mà những người yêu thích văn chương và các em học sinh, sinh viên đọc sẽ thích.
                                                                                      H.P.Y

(Nguyễn Văn Hòa, Giáo viên Trường phổ thông cấp 2-3 Xuân Phước,
Đồng Xuân, Phú Yên)
READ MORE - MỘT VÀI CẢM NHẬN KHI ĐỌC SÁCH "VĂN BẠN VĂN 1" - Hòa Phú Yên

Thursday, December 13, 2012

CA BÌNH MINH- GIỌNG CA NHÂN ÁI, GIÀU TÍNH TRIẾT LÝ VÀ MANG NHIỀU HOÀI NIỆM - Nguyễn Văn Hòa

(Nhân đọc Ca bình minh của Lý Phương Liên, Nhà xuất bản Văn học, 2011)






Ca bình minh của thi sĩ Lý Phương Liên là một tập thơ mà nó chất chứa  biết bao tình cảm thiết tha, nồng ấm. Cả tập gồm 46 bài, phần lớn là thơ tự do, chỉ có 14 bài lục bát nhưng tôi đánh giá cao những bài thơ lục bát của chị bởi lối viết uyển chuyển, sáng tạo và có sự cách tân. Dù số lượng thơ lục bát không nhiều nhưng nó làm nên chất đằm thắm, dịu dàng, hồn nhiên, trong sáng của hồn thơ Lý Phương Liên. Việc chị ưu tiên sử dụng thể thơ tự do trong sáng tác của chị cũng có cái lý của nó. Phải chăng Lý Phương Liên chọn thể thơ ấy để dễ bày tỏ tình cảm, cảm xúc, thể hiện một cách tận cùng sâu thẳm mọi cung bậc cảm xúc và mọi ngõ ngách của tâm hồn. Điều đặc biệt ở Ca bình minh, đó là tất cả 46 bài thơ đều được chị viết vào thời điểm những năm của thập niên 60, 70 của thế kỉ XX. Viết ở thời điểm ấy mà chị có những cách tân và sáng tạo trong ý tứ, câu chữ, thể thơ như vậy thì quả là điều đáng được ghi nhận.

Danh hiệu nhà thơ theo đúng nghĩa của nó vô cùng cao sang và đáng trân trọng, càng đáng ghi nhận và tôn vinh hơn nữa nếu họ có những bài thơ để đời sống mãi với thời gian. Lý Phương Liên xứng đáng là nhà thơ theo đúng nghĩa của từ này. Chị đến với thơ khá sớm, ngay từ những năm chị mười tám đôi mươi, chị làm thơ không phải với ý định muốn mình trở thành một nhà thơ tên tuổi, thực thụ mà chị làm thơ để ghi chép lại những cảm xúc, những tiếng lòng, những nỗi niềm gan ruột của cuộc đời mình. Có lẽ vì vậy mà thơ Lý Phương Liên thực sự hay, thực sự có giá trị và sống được trong lòng bạn đọc. Dù rằng tên tuổi của Lý Phương Liên xuất hiện chỉ vài năm rồi đột ngột im hơi lặng tiếng trên thi đàn. Sự im lặng và vắng bóng của một giọng thơ lạ và tài hoa ấy nó càng gây thêm sự tò mò, chú ý của những người yêu thơ và thực sự quan tâm đến thơ suốt hơn 40 năm qua. Thơ chị viết ra là những cảm xúc chân thực, không hề giả tạo, nó cứ dạt dào tuôn chảy theo dòng cảm xúc, nói bằng chính con tim, bằng những gì chân thành và sâu thẳm nhất tận đáy tâm hồn mình chứ không hề có sự đẽo gọt, trau chuốt chữ nghĩa một cách cầu kỳ, giả tạo. Nói thế không có nghĩa là thơ chị không sử dụng ngôn từ độc đáo mà có chỗ chị dùng rất đắc địa. Do vậy, không khó để người đọc tìm ra những bài thơ hay, câu thơ hay, tứ thơ lạ trong tập Ca bình minh. Nhiều bài thơ của chị đã được các chiến sĩ chép vào sổ tay mang ra chiến trường trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, họ đọc cho nhau nghe với một niềm yêu mến và kính phục. Có thể kể ra một số bài thơ để lại ấn tượng sâu đậm, được nhiều người nhắc đến khi nói về thơ Lý Phương Liên như: Ca bình minh, Trò chuyện với Thúy Kiều, Em mơ có một phiên tòa, Lời ru với anh, Lời ru trong đêm, Chờ anh dưới cột đồng hồ, Xin phép mẹ đi lấy chồng …

Nhà thơ Lý Phương Liên
Điều đáng quý ở Lý Phương Liên đó là sự khiêm tốn, một sự khiêm tốn đáng kính trọng, dù tên tuổi đã nổi tiếng một thời, thơ chị cũng đã sống được và khẳng định giá trị đích thực của nó với thời gian nhưng chưa bao giờ chị nhận mình là nhà thơ. Chị từng giãi bày: “Lý Phương Liên tôi, cha mẹ mất sớm, thất học, vì thế thơ tôi chỉ là đôi ba hoa cỏ, ghi chép lại chính cuộc đời mình, nào ngờ thành tiếng mõ cầu rung lên hỉ ái, và cũng là sấm sét nộ ố những năm 1970 và dài theo nhiều năm sau đó”. Thi sĩ Lý Phương Liên cũng từng khẳng định: “Thơ tôi chỉ là thơ học trò bình thường, nếu không muốn nói là tầm thường, ăn may là do hoàn cảnh éo le đắng đời nên lấy được nước mắt của người đọc mà thành thơ. Tôi trở nên nổi tiếng có lẽ là cơ may, vậy thôi! Có biết bao nhiêu người tài hoa thời ấy, được học hành bài bản, được đào tạo qua các lớp chuyên môn thì tôi làm sao dám sánh với họ”.

Con đường đến với thơ của chị như một cơ duyên, chị mượn thơ để nói lên tấm chân tình của mình, lấy thơ để ghi lại những gì xảy ra trong cuộc sống của chính mình, quanh mình và của thời đại mình. Cũng chính vì thơ, yêu thơ mà người thi sĩ họ Lý kia phải chịu bao hệ lụy đáng tiếc. Tai nạn nghề nghiệp là cái rủi cho thi sĩ Lý Phương Liên và gia đình chị nhưng cũng là cái may cho nền văn học nước nhà. Vì có được thêm một giọng thơ lạ và độc đáo.

Có thể nói rằng, chị đã quá may mắn khi được gặp Nguyễn Nguyên Bảy và hạnh phúc khi phu-thê cùng Nguyễn Nguyên Bảy. Đời thơ, đời người với bao thăng trầm, bao dâu bể, lên thác xuống ghềnh của Lý Phương Liên đều liên quan và gắn liền với Nguyễn Nguyên Bảy. Có lẽ vì thế mà chị có rất nhiều bài thơ viết về “anh”, nhắc đến “anh” với một niềm kính trọng và yêu thương da diết (trong tập thơ Ca bình minh có khoảng 2/3 số bài thơ chị viết về Nguyễn Nguyên Bảy). Cho nên chị có ước muốn: Em muốn anh như bàn tay/ Xòe ra là gặp. Dù có đi đâu, làm gì, hình ảnh của “anh” vẫn luôn hiện hữu, vẫn luôn thường trực trong trái tim của chị. Để rồi có lúc chị phải thốt lên: Xa anh nói nhớ làm sao/ Chân đứng tổ kiến lòng chao gió cành/ Lẽ nào em buộc cánh anh/ Buộc cánh anh/ Buộc cánh anh cũng chẳng thành tình yêu.

Có đau khổ, mất mát nào lớn hơn khi mà mình không còn bố, không còn mẹ? Càng hụt hẫng và đau đớn gấp bội phần khi bố mẹ mình mất trong thảm cảnh? Chị đã phải gánh chịu liên tiếp những nỗi đau chồng chất. Chị không những đau nỗi đau riêng của gia đình mình mà còn thêm nỗi đau cho đất nước, cho nhân dân; nỗi đau của một người dân sống trong cảnh chiến tranh tang tóc:

Tôi sinh ra giữa cơn lốc xoáy tròn đất nước
Một nghìn chín trăm năm mươi
Cả dân tộc đổ xuống đầu giặc Pháp
Cơn phẫn nộ muốn làm người
Gian nan chỉ thấy môi cười
Bao máu đỏ nhuộm nên cờ chiến thắng
Hai mươi năm không ai ngồi đếm ngày đếm tháng
Những ngày sáu chín bảy mươi
Chẳng có nơi đâu tuyệt diệu con người
Vai gánh nặng cuộc chiến tranh hủy diệt
Mỗi người dân đều nhận phần mất mát
Chia đều nhau bom đạn với cơm ăn
Khổ chẳng riêng ai nên khổ chẳng một mình
Chung số phận với nhân dân mà chiến đấu
Thúy Kiều ơi, thời tôi sống biết bao người đổ máu
(Trò chuyện với Thúy Kiều)

Đất nước những năm chiến tranh đã đặt ra cho con người không ít những thử thách, đặc biệt là trong việc chọn lựa lẽ sống: Em tuổi hai mươi như tất cả mọi người/ Chọn số phận ở thời mình đang sống.

Hoàn cảnh lịch sử không cho phép con người ngủ yên trong đời chật mà phải ra đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc và nơi họ gặp nhau không đâu khác chính là nơi chiến trường. Họ ra đi vì nghĩa lớn nên có cùng chung một mục đích, một lý tưởng, một con đường, một niềm tin vào tương lai là đất nước sẽ được giải phóng, nhân dân sẽ được sống trong hòa bình: Đất nước chiến tranh nhân dân còn cơ cực/ Khi cái chết vãi từ trên phản lực/ Bom chùm bom lửa bom bi …/ Đời còn nhiều gian khổ phải qua/ Để đến được mùa hoa sai quả trĩu/ Cơ thể của nhân dân cơ hàn đang phải chịu/ Số phận mình là số phận của nhân dân.

Hiện thực đau thương trở thành động lực sống và khát khao về một thế giới hòa bình, đất nước độc lập, nhân dân hạnh phúc là động lực để họ vượt qua mọi nhọc nhằn, khó khăn của cuộc sống: Đường ra biển có thể dài năm tháng/ Mất mát nhiều hơn gian khổ cũng nhiều hơn/ Nhưng một điều chắc chắn phi thường/ Chúng tôi sẽ lên bờ vào một ngày nắng đẹp (Trò chuyện với Thúy Kiều).

Đế quốc Mỹ- kẻ cướp nước, làm những điều phi nghĩa, trái với lương tâm đạo lý nên chắc chắn sẽ thất bại. Chân lý thuộc về lẽ phải, chính nghĩa sẽ thuộc về ta. Cái chết bi thảm của người mẹ Lý Phương Liên và 50 con người xấu số khác vào một buổi chiều định mệnh (Trong một chuyến đò ngang trên con sông Hồng trong một trận bom Mỹ đánh phá cầu Long Biên vào năm 1966) là một minh chứng cho tội ác tày trời của đế quốc Mỹ. Trước tội ác của giặc, chị lại có ước mơ là sẽ có một phiên tòa mở ngay trong nhà chị để kết tội kẻ gây ra bao tội ác. Để chúng hiểu rằng gia đình chị và biết bao nhiêu gia đình khác trên nước Việt Nam này đã và đang gánh chịu không biết bao nhiêu nỗi đau do chúng gây ra. Em mơ có một phiên tòa là một bài thơ đã làm lay động không biết bao nhiêu con tim, đặt ra bao điều nhức nhối về lẽ sống, về lương tri, giá trị nhân bản của con người và thời đại:

Bom và súng/ Giết một dòng sông/ Giết một con đò/ Có mẹ em và năm mươi cuộc sống./Bom và súng/ Ai dạy mi giết người?/ Bầy giặc lái cúi đầu im lặng/ Có khác chăng sông Hồng/ Dòng PôtôMác nước xanh/ Nước xanh nước hồng đâu cũng nước dòng sông/ Nếu bom đạn Việt Nam đổ xuống dòng Pô Tô Mác?/ Em trừng mắt nhìn lũ người làm giặc/ Chúng im lặng cúi đầu… / Chúng bắn dòng sông Hồng/ Ta không bắn dòng sông PôtôMác/ Chúng đốt nhà ta/ Ta không đốt những vườn nho của chúng/ Chúng giết mẹ ta/ Ta không giết mẹ chúng/ Chúng đến Tổ quốc ta/ Việt Nam/ Ta không sang/ Nước Mỹ/ Không phải dài lời về chân lý/ Súng và bom/ Bom và súng/ Chúng giết ta/ Thì ta tiêu diệt chúng…    

Nhà thơ Hoàng Xuân Họa nhớ lại: “Hồi đó ở một cánh rừng già biên giới miền Trung đầy bom đạn, cánh lính trẻ chúng tôi chụm đầu đọc cho nhau nghe bài thơ trên. Nghe xong cả tiểu đội giàn giụa nước mắt, chẳng ai bảo ai, tất cả đều phẫn uất cầm lấy súng hướng lên chốt giặc”.

Dù phải gánh chịu bao nỗi đau, nhưng những điều đó không làm cho chị gục ngã, chị vẫn sống, vẫn cố gắng vươn lên, hướng đến một ngày mai, một tương lai tươi sáng: Tôi cứ đi chuyên cần bền bỉ/ Trông xa về phía trời hồng.

Trong những lúc đi làm ca ba tại nhà máy điện Hà Nội, Lý Phương Liên vẫn hăng say, nồng nhiệt, vui vẻ và gọi ca ba đó là ca bình minh:

Em đi làm ca ba/ Đêm buông dày đường phố/ Hà Nội vào giấc say trẻ nhỏ/ Em đi giữa lòng đường/ Hát khẽ …/ Tuổi ca ba rất trẻ/ Đêm ca ba lại dài/ Mười tám, đôi mươi/ Tuổi như em khỏe ăn khỏe ngủ/ Bạn bè em có nhiều ý lạ/ Khi nói tới ca ba/ Ca của những đêm hè trời đầy sao hoa/ Ca của những đêm đông bập bùng ánh lửa/ Còn em với niềm vui bé nhỏ/ Em gọi ca ba là ca bình minh (Ca bình minh).

Từ lời ru của mẹ thuở nào gợi lên trong chị bao suy ngẫm về cuộc đời, về những tháng ngày khó khăn cơ cực, về những hụt hẫng, niềm đau xót đến tận cùng gan ruột. Để rồi có lúc chị lại tự vấn bằng những lời nghe ai oán, não ruột làm sao: Có lẽ nào những lời ru của mẹ/ Hóa những lời tiên tri/ Cò cha cò mẹ bay đi/ Cò con côi cút lấy gì nuôi nhau… Bằng cách nói ẩn dụ : “cò cha”, “cò mẹ”, “cò con” gợi lên cho người đọc bao thương cảm, xót xa.

Mới tám tuổi đầu/ Cha mất/ Mẹ lặn lội thân cò phố chợ bến sông…(Từ lời ru của mẹ).

Bằng nghị lực, niềm tin, sự yêu thương đùm bọc của bà con hàng xóm- đặc biệt là “những bà mẹ láng giềng”, đã giúp chị và gia đình chị vượt qua thảm cảnh: Nào ngờ thuyền chúng con bị cuốn vào bão lớn/ Năm chị em ôm nhau/ Mẹ mất/ Lời tiên tri đúng thật/ Con là cây buồm mười tám tuổi chông chiêng/ Ôm chúng con là những bà mẹ láng giềng/ Rá gạo mớ rau/ củi lửa/ Con thuyền xô nghiêng, con thuyền xô ngửa/ Cả xóm chung tay không để thuyền chìm... (Từ lời ru của mẹ).

Từ cuộc đời với những tháng ngày nếm trải bao tủi hờn, cơ cực- Lý Phương Liên nghiệm ra rằng:

Cái nghèo chẳng dễ hiểu đâu
Xa sâu như tiếng đàn bầu trong khuya
Linh thiêng lời mẹ dặn dò
Kiếp người là một gánh lo hãi hùng

Tình yêu mà chị dành cho người yêu của mình cũng có nhiều điều đặc biệt, thể hiện sự bao dung, nhân ái, hiếm có của một người đang yêu. Tâm lý thường tình của những người con gái đang yêu khi hẹn hò, chờ đợi người tình của mình đến nếu không đúng giờ thì hay dỗi hờn, trách móc; thậm chí còn có những lời lẽ không hay, xúc phạm đến người yêu. Với chị, chị có một thái độ bao dung hiếm có. Lý Phương Liên tin rằng “anh” sẽ không lỡ hẹn, và nếu có lỡ hẹn đi chăng nữa âu đó cũng là chuyện bất đắc dĩ mà thôi. Biết vậy nên chị đã cố gắng và kiên trì đợi chờ “anh” mãi  … Điệp khúc “Anh không nhỡ hẹn bao giờ” trong bài “Chờ anh dưới cột đồng hồ” được lặp lại 4 lần, đã cho thấy sự tin tưởng tuyệt đối và lòng vị tha của chị .

Anh không nhỡ hẹn bao giờ/ Chẳng giận anh đâu/ Chỉ muốn vặn lại kim đồng hồ (Kim ngắn chỉ vào số bảy/ Kim dài chỉ số mười hai …) / Để anh khỏi áy náy/ Để anh khỏi xin lỗi em (Chờ anh dưới cột đồng hồ).

Có lắm lúc, chị thật hồn nhiên trong tình yêu. Cách yêu của chị cũng khiêm tốn, chậm rãi, không phải vội vàng, hời hợt. Lời lẽ dịu dàng, nhẹ nhàng, đằm thắm và sâu sắc lắm: Anh hay bỏ quên đồ đạc/ Em muốn khuyên anh/ Em lại muốn khuyên anh/ Đừng bỏ cơm nhỡ bữa/ Ăn vội mẫu bánh mì quanh phố/ Em lại muốn khuyên anh/ Trà chén năm xu đừng nghiện/ Chuyện ngồi lê đôi mách đừng nghe/ Em lại muốn khuyên anh ngủ sớm/ Đêm đông đừng lấy rượu làm bạn/ Đêm hè đừng đốt thuốc tàn canh... (Bài thơ về những điều khó nói). Nhưng cũng có lúc tình yêu và nỗi nhớ trong chị trào dâng một cách nồng nàn, mãnh liệt: Biết anh vắng nhà/ Sao em vẫn đến/ Bởi trong lòng em/ Lửa nhớ đã chín/ Biết anh vắng nhà/ Sao em vẫn đến/ Tình chẳng muốn xa/ Nên lòng cứ hẹn … (Hẹn).

Lòng em như bãi cỏ khô
Tình anh gieo lửa đốt cho mỡ màu
Và từ ngày ấy yêu nhau
Cây đời đã nẩy lộc đầu non xanh
(Bài lục bát nháp dưới lá thư anh)

Lòng em như cốc nước đầy
Cốc nước đầy để trên bàn nhỏ
Cuộc địa chấn yêu rung từng nhịp thở
Sóng sánh nước tràn ra
…………………………
Anh ùa vào đời em như gió như hoa
Như cánh buồm nâu ùa ra cửa biển
Ngoài cửa sổ đôi cánh chim chao liệng
Trên bàn yêu một đĩa sấu chín vàng
                                                                         (Đôi ta)

Biết bao gánh nặng áo cơm đè lên đôi vai gầy của Lý Phương Liên, một người con gái mà cả tuổi thơ phải gánh chịu bao nhọc nhằn, cay đắng. Sinh ra trong gia đình đông em và trong thời buổi loạn lạc, bố mẹ lại mất sớm. Cứ nghĩ rằng người con gái chân yếu tay mềm ấy sẽ khó vượt qua. Nhưng với nghị lực phi thường, tình thương và niềm tin đã giúp chị vượt qua mọi thách thức, mọi khắc nghiệt của cuộc đời.

Sông Hồng là đối tượng mà chị cũng thường hay nhắc đến. Có lẽ chính con sông này đã gắn với bao ký ức niềm thương, nó cũng là chứng nhân lịch sử, nó cũng bao dung, nhân hậu, cũng đau đớn trước cảnh tan tác đau thương. Bằng cách dùng thủ pháp nhân hóa, Lý Phương Liên đã cho người đọc thấy rõ điều này:

Chào sông Hồng/ Sao mỗi lần gặp em mặt sông rầu rĩ thế?/ Em hát cho sông nghe lời ru của mẹ/Dẫu gian khổ mấy đừng buồn …/ Sông Hồng ơi cái nắng buổi mai
………………………

Em yêu con sông bởi lẽ chân thành/ Sông là bạn của mẹ em sớm khuya vất vả/ Mẹ thường kể: sáng nay sông êm ả/ Chiều qua sông giận dữ ầm ào …/ Mẹ sang sông về sông không bỏ buổi làm nào/ Sông thương mẹ vẫn cặp đò đúng bến.

Thế rồi một buổi chiều định mệnh, cũng chính từ nơi con sông Hồng phù sa đỏ nặng ấy, mẹ chị lại vĩnh viễn ra đi:

Một buổi chiều sắc tím/ Buổi chiều này có thật hay không?

Cái chết thảm khốc của người mẹ là một sự mất mát quá lớn lao và đột ngột nên chị nấc nghẹn trong một câu hỏi đầy nghẹn ngào:

Buổi chiều này có thật hay không?
Mẹ trôi sông
Gió khản hơi đuổi hoài bóng mẹ …
Những quả bom giặc Mỹ
Để lại cho đời bao trẻ mồ côi
Sông Hồng ơi! Sông Hồng ơi!
Khóc lóc bao nhiêu cũng chỉ là nước mắt
Phù sa đỏ hãy vì đời bồi đắp
Mẹ hồi sinh trong cuộc sống mỡ màu
Qua mất mát này chúng ta thêm yêu nhau …

Lý Phương Liên tin tưởng và hy vọng rằng: “Mẹ sẽ hồi sinh”, mẹ sẽ sống, mẹ sẽ luôn dõi theo từng bước trưởng thành của chị và các em của chị.

Những triết lý về cuộc đời, về lẽ sinh tử, mất còn được nhà thơ nói đến một cách sâu sắc. Chị nghiệm ra rằng: Khóc lóc bao nhiêu cũng chỉ là nước mắt. Cái quan trọng nhất bây giờ là phải sống, phải sống sao cho đúng nghĩa, sống sao cho thực sự giá trị người. Chị đã ý thức như vậy nên khi bố mẹ không còn trên cõi đời này nữa, cô gái trẻ Lý Phương Liên vẫn nhớ như in những lời mẹ dặn, về niềm tin và lẽ sống: Đời con còn đó mai sau/ Sống là điều mẹ nguyện cầu cho con; Em đón nhận đời em sau một thoáng hãi hùng/ Chôn mẹ nuôi đàn em thơ dại/ An phận ư? Mơ hồ sợ hãi/ Sống vẫn là lời mẹ dặn thiêng liêng (Trò chuyện với Thúy Kiều).

Ngày người em trai duy nhất lên đường ra mặt trận, để động viện, tiếp thêm sức mạnh, ý chí và niềm tin cho em, Lý Phương Liên  đã dặn dò em trai của mình bằng những lời lẽ cảm động, sâu sắc và mang nhiều ý nghĩa: Nhà ta có mình em ra trận/ Chị nhắc lại điều này vì chị muốn như em/ Thành tầm bay của những mũi tên/ Nhưng chị đã thành trụ cột gia đình ta mồ côi cha mẹ/ Em hãy coi chị như người chiến sĩ/ Dù gia đình ta mình em được lên đường…

Lý Phương Liên dặn em trai rằng: Em sẽ lên đường và chiến đấu, vì mẹ vẫn luôn ở bên em, mẹ cũng sẽ “về” để đưa em lên đường ra mặt trận. Em có nghe hình như đâu đây vẫn còn những tiếng kêu thương thảm thiết của mẹ dưới làn bom của Mỹ?

Hãy lên đường em nhé/ Yên tâm/ Đành là chị ở nhà phải gánh phần vất vả/ Nhưng vất vả nhất là nơi bom lửa/ Nơi ngày mai em tới đạn lên nòng…/ Hãy hoàn thiện đàn ông bằng đời chiến sĩ/ Và nhất định phải trở về… (Dặn em trai).

Cái đáng yêu của Ca bình minh là những cảm xúc tinh tế, nhẹ nhàng, nhiệt thành mà hồn hậu, những ký ức tuổi thơ, tình cảm với quê hương, người thân, những người ở nơi xóm nhỏ, anh thợ kính, chị tráng bánh đa nem, bà bán cau, bác thợ điện… lần lượt ùa về, gợi lên cho người đọc bao nỗi niềm ray rứt.
Chị viết về người cha đã khuất của mình bằng những lời thơ tha thiết, nằng nặng nỗi niềm thương nhớ; hình ảnh người cha như ẩn hiện đâu đây: “Con nhớ dáng ngồi lặng lẽ của cha”, “Khi mắc dây cha thường huýt sáo”, “Bàn tay cha săn như gọng kìm”Cha của chị dù ra đi đã lâu nhưng bà con vẫn còn nhắc hỏi, bởi vì: Cha em là công nhân sở điện Bờ Hồ/ Điện là bạn của người dân Hà Nội/ Nên cha em vắng lâu rồi bà con còn nhắc hỏi (Về người cha đã khuất).

Nghệ thuật cũng là một cách lý giải cuộc sống. Thay vì dùng một chuỗi luận lý để tìm cách chứng minh, thuyết phục. Lý Phương Liên đã dùng những từ ngữ, lời lẽ, hình ảnh, cảm xúc chân thành, giản dị từ chính trái tim mình- giống như lời trò chuyện, lời thủ thỉ, giãi bày mọi ngõ ngách tâm hồn mình. Vì thế mà thơ chị việc dùng điệp từ, điệp ngữ lặp đi lặp lại với tần số cao và hầu như bài nào cũng có. Phải chăng đó là một trong những nét riêng của thơ Lý Phương Liên và đó là sự thành công của chị trong việc tạo ra những vần thơ êm ái dễ đi vào lòng người, tăng sức biểu hiện, tăng nhạc tính của câu thơ. Nghệ thuật điệp có tác dụng nhấn mạnh ý, vừa tạo ra những điệp khúc độc đáo: Nuôi con suốt đời là dòng máu đỏ/ Gia tài của mẹ của cha/ Nuôi con suốt đời là dòng sữa mẹ/ Con đi hết đường xa …/ Dòng máu đỏ của mẹ cha/ Không phải là sắc màu tưởng tượng/ Không phải là thứ gì dễ trộn/ Chắt từ sắc đỏ của dòng sông/ Từ vị ngọt của lúa thơm/ Từ hương mát của hoa trái/ Từ sức gió chạy trên đồng hoang dại/ Từ bong bóng mưa tháng năm (Cội nguồn).

Cảm thức thời gian cứ trôi chảy cùng cảm thức về đời người, những hoài niệm về quá khứ đã trở thành nỗi khắc khoải, lo âu và cả sự đau đớn, nghẹn ngào: Lịch sử đã bao lần lặp lại/ Một dòng sông xâm lược một dòng sông/ Sông trời thác dữ mênh mông/ Sông quê em ngược lên chống giặc (Viết cho sông Kỳ Cùng).

Trong những bài thơ đặc sắc của Lý Phương Liên, chị đã có những suy nghĩ, khái quát có tầm triết lý về số phận con người, về quá khứ, hiện tại, về sự sống và cái chết, về vẻ đẹp của thời đại và con người Việt Nam.
Bên cạnh những thành công, Ca bình minh của Lý Phương Liên cũng có những điểm hạn chế nhất định. Vì viết theo mạch cảm xúc, lời thơ giống như lời trò chuyện, lời nói hằng ngày nên ở một vài bài chị còn kể lể dài dòng, từ ngữ không được đẽo gọt nên dễ gây cảm giác nhàm chán đối với người đọc.

Đời thơ của chị phải trải qua sóng gió, sau sự kiện bài thơ Nghĩ về Thúy Kiều (sau này đổi tên là Trò chuyện với Thúy Kiều) đăng trên Báo Văn nghệ năm 1970, chị bị phạt “lên ruộng,xuống bờ”. Thế là hồn thơ tài năng Lý Phương Liên từ đó bỗng dưng biến mất. Gia đình chị phải chịu bao hệ lụy vì nó. Cũng chính từ đó chị có lời nguyền không làm thơ, không công bố thơ, thậm chí cả những người thân yêu nhất như Nguyễn Nguyên Bảy- chồng chị, chị cũng chẳng dám đưa thơ mà đọc. Dù trong tâm can, huyết mạch chị thơ vẫn âm ỉ và dạt dào tuôn chảy:

Thỉnh thoảng buồn em vẫn ghi thơ
Trôi trên giấy điệu vần thương nhớ
Ạ ơi những lời ru cũ
Cánh cò chít trắng tang mây …
Chẳng dám chép tặng anh sợ rồi lại vạ
Thơ thương ta thơ đừng làm anh khổ
Em đơn chiếc một cánh cò
Mà trời bao la quá
Em chép lại đôi ba bài thơ nhỏ
Chỉ để nhớ để thương thơ …

Thật đáng tiếc cho hồn thơ tài năng Lý Phương Liên đã không gặp thời, để rồi lại phải im lặng trong suốt hơn 40 năm qua. Điều đáng mừng là qua sự sàng lọc, kiểm chứng của thời gian những gì thuộc về giá trị đích thực của văn chương đã được thừa nhận và trả về vị trí xứng đáng của nó. Ca bình minh ra đời năm 2011 không chỉ là niềm vui riêng của Lý Phương Liên và gia đình chị mà đó còn là niềm vui cho những người yêu thơ chân chính nước nhà.
Tác giả NGUYỄN VĂN HÒA

Một ngày mùa thu tháng tám năm 2012, tôi có dịp ghé thăm nhà người em gái thứ tư của chị, tại số 1 Quán Thánh, Quận Ba Đình, Hà Nội. Tôi mới hiểu và biết nhiều điều hơn về Lý Phương Liên. Em gái của chị kể trong lời nghẹn ngào, xúc động về người chị gái thân yêu của mình. Tôi cũng được trực tiếp xem bức ảnh mà gia đình chị đã vinh dự chụp chung với Bác Hồ, khi Bác về thăm gia đình  Lý Phương Liên vào 19h tối 30 Tết Nhâm Dần - 1962.

Thời gian đã qua đi, cô gái trẻ Lý Phương Liên thuở nào giờ đây mái tóc đã nửa xanh nửa bạc, và dù đã xuất hiện những nếp nhăn, nhưng trên gương mặt chị vẫn mang nét thanh tú, lịch lãm của một người con đất Hà thành. Dù đã xa Hà Nội mấy chục năm nhưng trong tâm can chị vẫn nhớ về nơi đất Bắc, nơi gắn với bao ký ức, niềm thương và cả những nỗi đau xót đến tận cùng.

Ca bình minh được in vào năm 2011 cũng là dịp để Lý Phương Liên trở lại với thơ, trả ơn những nguời yêu mến thơ chị một thời và đó cũng là dịp chị được thăm lại những người bạn vong niên; được gặp gỡ, được trao đổi, thông tin với những người đã từng yêu mến thơ mình trên khắp mọi miền Tổ quốc. Ca bình minh của Lý Phương Liên, Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2011 thực sự là một tập thơ mang nhiều ý nghĩa và có giá trị đặc biệt.


NGUYỄN VĂN HÒA
Giáo viên Trường phổ thông cấp 2-3 Xuân Phước
huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên 
                       Điện thoại: 0984.833.247
Email: nguyenvanhoaphuyen@gmail.com
READ MORE - CA BÌNH MINH- GIỌNG CA NHÂN ÁI, GIÀU TÍNH TRIẾT LÝ VÀ MANG NHIỀU HOÀI NIỆM - Nguyễn Văn Hòa