Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, July 4, 2021

MỜI BẠN VỀ THĂM QUẢNG TRỊ QUÊ TÔI - Vỏ Văn Cẩm

MỜI BẠN VỀ THĂM QUẢNG TRỊ QUÊ TÔI

Võ Văn Cẩm

  

   Quảng Trị là một tỉnh nghèo nhất nước, không có tài nguyên thiên nhiên, phía Nam giáp Thừa Thiên Huế, phía Bắc giáp Quảng Bình, phía Tây giáp Lào, phía Đông giáp Biển Đông.

  Trên đường xuyên Việt từ Huế ra nhìn bên tay trái cả một dảy Trường Sơn hùng vĩ, bên tay phải những rặng cát trải dài từ đầu đến cuối tỉnh. Chăm chú lắm mới thấy đồng ruộng Hải Lăng và Triệu Phong. Vùng đất này là vựa lúa, nguồn thu nhập chính của tỉnh.

  Địa thế Quảng Trị:

* Diện tích 4.763km2

* Dân số 650.320 người (2018).

* TP Đông Hà.

* 8 Huyện gồm:  Hải Lăng, Triệu Phong, Cam Lộ, Darkrong, Hương Hóa, Gio Linh, Vĩnh Linh, Đảo Cồn Cỏ.

* 7 Thị trấn, thị xã: Hồ Xá. Gio Linh. Cam Lộ. Khê Sanh, Ái Tử.  Hải Lăng. TX Quảng Trị. 

  Các cơ quan hành chính tỉnh đóng tại TP Đông Hà, một giao lộ của trục đường xuyên Á.

 Quảng Trị có cửa khẩu Quốc tế Lao Bảo, nằm trên đường 9 Nam Lào.

 Những ngày giãn cách tôi nhớ về quê hương, nhớ thời thanh xuân, nhớ những bữa ăn thật đơn giản, nhớ những món ăn đặc sản quê nhà, nhớ những danh lam thắng cảnh. Nhớ vùng đất quê nhà. Nhớ những trận lụt bão kinh hoàng, những cơn nắng gió Lào rát mặt.

   Quảng Trị không có tài nguyên thiên nhiên lớn, không còn rừng nguyên sinh, không có mỏ, quặng, núi rừng có độ nghiêng lớn nên khó canh tác.

  Quảng Trị không có khu công nghiệp, nên dân Quảng Trị mãi mãi là một tỉnh nghèo, con dân phải đi kiếm vùng đất  lành sinh sống.

  Hầu hết các cháu học Đại học đều ở lại các tỉnh Miền Nam, phần lớn tại TPHCM.


TIỀM NĂMG DU LỊCH QUẢNG TRỊ.

  Cách đây hơn 20 năm, anh Hoàng Hữu Ly có một dự án du lịch khá hoàn chỉnh nhưng có lẽ còn quá sớm, nên không được triển khai.

  Muốn Quảng Trị giàu lên, các nhà lãnh đạo phải có tầm nhìn chiến lược về ngành không khói: Ngành du lịch.

  Quảng Trị tuy khí hậu khắc nghiệt, nhưng được bù lại nhiều điểm du lịch rất hấp dẫn, tạo nên một Tour du lịch lý tưởng như:

* Thánh địa La Vang.

* Thành Cỗ.

* Khu di tích cựu Dinh Nguyễn Hoàng ở Ái tử Trà Bát.

* Khu lưu niệm TBT Lê Duẩn ( Chợ Sãi).

* Quần thể  du lịch nghỉ dưỡng Bàu Sen-họ Đoàn Đâu Kênh.

* Các bãi tắm Mỹ Thủy. Phương Lang, Cửa Việt.

* Bãi tắm nữ hoàng Cửa Tùng.

* Địa đạo Vĩnh Mốc. 

* Khu giới tuyến Bến Hải.

* Đường mòn HCM.

* Khu nghĩa trang Trường Sơn - Đường 9.

* Khu di tích Tân sở Cam Lộ.

* Cầu Treo Dakrong.

* Căn cứ Ba Lòng.

* Căn cứ Làng Vây.

* Sân bay Tà Cơn.

* Cửa khẩu Lao Bảo.

* Khu du lịch Hướng Phùng có Thác nước và hang động đẹp nhất Việt Nam, đang khai thác.

 Hãy nhìn tổng thể những điểm du lịch sinh thái, tâm linh và di tích khá hấp dẫn.

 Quảng Trị chỉ khai thác những địa danh  ấy sẽ vực dậy nền kinh tế của tỉnh, tạo hằng ngàn việc làm cho người dân.

  * KHU DU LỊCH LA VANG

   La Vang là vùng đồi bằng phẳng phía Nam thị xã Quảng Trị, có nhiều cây Lá vằng, dân Quảng Trị dùng nấu nước uống và đặc biệt dùng cho các bà sinh đẻ.

  Xa xưa, vùng đất La Vang là vùng đất Phật, có một vị tu sĩ  xây dựng một ngôi Chùa nhỏ để tu học,  người dân đến lễ Phật. Có truyền thuyết cho rằng,  một đêm mưa gió bão bùng, sấm chớp liên hồi. Trên ngôi chùa có nhiều đám mây bay chậm, có hình của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát hiện ra. Vùng đất này  trở nên linh thiêng, người dân trong vùng thường đến cúng vái, cầu nguyện  điềm lành.

  Vào Triều vua Tự Đức, chính sách sát Đạo gắt gao. Những con chiên ngoan đạo của xứ Hạnh Hoa, xứ họ Đạo Trí Bưu và Thạch Hãn phải di dân lên vùng La Vang sinh sống.

    Càng ngày con chiên càng đông, người theo Phật ít lại.

   Sau khi thương lượng, vị Tu Sĩ phải bán ngôi chùa cho người Thiên Chúa giáo.

  Khi ngôi chùa biến thành nhà thờ La Vang, dân Hạnh hoa, Trí Bưu lên ở nhiều hơn và câu chuyện Đức Mẹ hiện ra sau đó.

   Cứ 3 năm tổ chức Kiệu La Vang một lần. Nhiều con Chiên trên Trái Đất đến dự.

    Theo nhiều sử liệu cho rằng: LA VANG là do người Pháp đọc trại chữ LÁ VẰNG mà có.

 Cũng có giả thiết cho rằng: Vào những năm sát đạo, nhiều người bị giết trong đêm, tiếng kêu la vang khắp cả một vùng. Vì thế tiếng La Vang xuất hiện ở vùng đất thiêng này. Địa danh LA VANG có từ thời đó.

  Trong chiến tranh Thánh địa La Vang bị bình địa, chỉ còn lại tháp chuông và tượng Đức Mẹ.  Sau 1975 tòa Thánh Vatican muốn xây dựng lại nơi du lịch tâm linh này.  Mãi tới giữa thập niên 2010 mới được phép tu tạo lại thánh đường La Vang như hiện nay.

 

  * KHU DI TÍCH THÀNH CỖ

Vào Triều Minh Mạng thành được xây dựng theo mô hình Đại nội Huế, đây là bức thành trấn giữ phía Bắc. Trong chiến tranh thành được làm căn cứ  quân sự của tỉnh với tên gọi thành Đinh Công Tráng.

Mùa hè đỏ lửa 1972, hàng vạn tấn bom, hàng chục ngàn thanh niên ngả  xuống trên mảnh đất nhỏ bé này, máu nhuộm đỏ cả dòng sông, Cỗ Thành bị bình địa. Sau năm 1975, nơi đây đã xây dựng lại làm nơi du lịch tâm linh. Hàng trăm ngàn du khách đến để thắp những nén hương lòng cho người nằm lại và thả hàng chục ngàn ngọn nến trên sông để nhớ ơn những người đã hy sinh  vào rằm tháng bảy mùa Vu Lan báo hiếu.

 

 * KHU DI TÍCH CHÚA TIÊN NGUYỄN HOÀNG

    Năm 1558, Chúa Tiên dẫn đoàn tùy tùng vào trấn giữ Phía Nam, đoàn theo sông Thạch Hãn lên dừng chân ở Ái tử và đóng đô ở đó. Năm 1563 dời Dinh về Trà Bát.

 Quần thể du lịch này sẽ được phục dựng lại và đây là Cựu Dinh của Chúa Nguyễn Hoàng.

 

  * KHU DU LỊCH NGHĨ DƯỠNG BÀU SEN

   Dây là lòng sông Thạch Hãn chuyển dòng còn lại. Bàu có diện tích gần 9 hecta thuộc làng Đâu Kênh xã Triệu Long, huyện Triệu Phong, tỉnh Quang Trị. Trước đây dân làng trồng sen, đến mùa sen nở thơm ngát cả một vùng. Lòng Bàu rất sâu mùa nắng gắt Bàu Sen vẫn còn nước. Ngoài sen Bàu còn nhiều loại cá, tôm, rau muống, lúa đặc biệt là nếp bầu. Đến mùa nếp trổ hoa, mùi hương thơm rất đặc trưng. Người ta kể rằng mùa nếp trổ bông bà bầu bị sẩy thai khi đi ngang qua. Giống nếp này nay không còn nữa.

  Hiện tại xã chuẩn bị  đầu tư thành khu du lịch nghỉ dưỡng, kết hợp với nhà thờ họ Đoàn trong quần thể du lịch Quảng Trị.

 

 * QUẦN THỂ DU LỊCH BẾN HẢI

   Cầu Bến Hải hay cầu Hiền Lương.

  Năm 1954 thi hành hiệp định Paris đất nước bị chia đôi, lấy sông Bến Hải làm ranh giới. Đất vùng Gio Linh và Vĩnh Linh làm trái độn.

 Cầu Hiền lương chia thành 2. Một nửa cầu thuộc chính quyền phía Bắc, một nửa cầu thuộc chính quyền Phía Nam. Cầu sơn 2 màu khác nhau. Mỗi bên đều có cột cờ rất cao và có hệ thống âm thanh cực đại.

   Mãi tới năm 1975, đúng 20 năm sau chiếc cầu nối liền một mối. Cầu được xây mới bằng xi măng cốt thép.

 

 * BÃI TẮM NỮ HOÀNG CỬA TÙNG

  Thời Pháp thuộc bãi tắm Cửa Tùng  được mạnh danh là bãi tắm Nữ hoàng của Đông Nam Á.

  Cầu Cửa Tùng được bắc qua hạ nguồn sông Bến Hải. Dòng nước chảy xiết,  xói mòn chân cầu.

 Không nghiên cứu kỹ dòng chảy, chưa giải quyết được bài toán. Người ta cho xây dựng một đường dài ra biển hơn 50 mét, mùa lụt nước tạo thành xoắn ốc mang cát từ bãi tắm Cửa Tùng bồi vào Phía Nam. Bãi tắm trở thành vực sâu không còn tắm được. 


 * ĐỊA ĐẠO VĨNH MỐC

   Vào những năm chiến tranh ắc liệt, dân vùng Giới tuyến phía Bắc, phải đào hầm dưới lòng đất để sống, làm việc và chiến đấu theo gợi ý của tướng Trần Nam Trung.

  Địa đạo Vĩnh Mốc được thiết kế và thi công ở dưới một ngọn đồi cao gần 30 mét so với mặt biển diện tích hơn 36 ngàn m2, tổng chiều dài hầm hơn 2000 mét. Hầm có 13 cửa, 7 cửa thông ra biển.

Địa đạo Vĩnh Mốc  được khởi công năm 1965 và hoàn thành năm 1967 do công trình sư Lê Xuân Vỹ tại làng Vĩnh Mốc, xã Vĩnh Thành, huyện Vĩnh Linh.

  Địa đạo có 3 tầng:

    • Tầng 1 sâu từ 12 đến 15 mét dùng để chiến đấu.

    • Tầng 2 sâu từ 16 đến 18 mét dùng làm việc, dân ở, có bệnh xá, nhà hộ sinh,   đã có 17 cháu ra đời, có hệ thống nước, nhà vệ sinh.

  • Tầng 3 sâu hơn 25 mét, cách mặt biển 3 mét. Nơi đây là kho chứa và hậu cần cho đảo Cồn Cỏ, chính 7 cửa hầm là nơi vận chuyển và dùng cho dân ra đổi khí trời.

   Nhờ không khí thổi vào làm cho đất cứng lại. Các cửa hầm có khung gỗ gia cố. Đến nay hệ thống hầm đều tốt, thuận lợi cho các tour du lịch. Đây là nguồn thu lớn của tỉnh. 


 


  * KHU DI TÍCH LỊCH SỬ QUỐC GIA TÂN SỞ, CAM LỘ

 Khi quân Pháp chiếm Hà Nội lần thứ nhất 1873, Triều đình nhà Nguyễn lo sợ phải ký Hòa ước Giáp Tuất 1874. Trước sự xâm lăng của Pháp. Ký xong hòa ước, Triều Nguyễn cho lập các căn cứ quân sự ở các tỉnh miễn Trung để ngăn ngừa hậu họa, gọi là Sơn phòng. Trong các căn cứ ấy, căn cứ Tân Sở là căn cứ chiến lược, phòng khi Kinh Đô thất thủ.

  Căn cứ Tân Sở được quan Phụ Chánh Nguyễn văn Tường khỏi công xây dựng từ 1883 đến 1885 mới xong.

 Tân Sở được xây trên một diện tích gần 30 hecta, tại làng Mai đàn, xã Cam Chính, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, một vùng đất được bao quanh bởi những dãy núi khá hiểm trở, phía Đông Nam có một nhánh sông, vượt qua chiếc cầu là huyện lỵ Cam Lộ cách thành phố Đông Hà hơn 10km.

 Nếu theo đường 9 Nam Lào từ Đông Hà lên 12 km rẽ phải khoảng 7 km đấy là Tân Sở. Vùng bình nguyên đất đỏ ba zan. Là kinh Đô kháng chiến.

 Thành được xây dựng kiên cố không kém gì thành nội Huế, có đầy đủ nhà cho các quan Đại thần làm việc và cung điện của vua.

Ngày 23/5/1985 phái chủ chiến tiến quân đánh úp giặc Pháp nhưng thất bại.

 Khi vua Hàm Nghi thất thủ 1885, Nhà vua và Triều đình được quan Đại thần Tôn Thất Thuyết phò ra Tân Sở ban bố hịch Cần Vương ngày 13/7/1885.

 Pháp đưa quân ra Quảng Bình chận lại. Tôn Thất Thuyết phải tìm đường đưa Triều đình ra Nghệ An.

 Quân Pháp cho binh lính lên phá và san bằng Căn cứ Tân Sở không còn dấu tích. Người dân vùng Cùa   dùng nơi đây trồng cây ăn trái và trồng rừng.

 Ngày 13/7/1888 vua Hàm Nghi bị bắt và đày sang Châu Phi. Phong trào Cần vương kéo dài 10 năm khi Phan Đình Phùng thất bại1895.

  Trong cuộc nội chiến tương tàn. Căn cứ Tân Sở được Mặt Trần Giải Phóng Miền Nam đặt làm thủ phủ. Cũng tại nơi này Trung ương Cục Miền Nam chọn làm Bản doanh.

  Sau ngày thống nhất, đến năm 1995, Tân Sở được chọn làm di tích lịch sử Quốc gia. Tân Sở là kinh Đô thứ 2 Triều Nguyễn nhưng vẫn chưa được quan tâm. Trước sự tàn phá của thiên nhiên và thiếu sự chăm sóc, Tân Sở  trở thành hoang phế.

 Mãi tới nằm 2018 chính quyền huyện Cam Lộ mới vận động xây dựng tu tạo thành Tân Sở như hiện nay, nhưng không quy mô và xứng tầm của di tích lịch sử Quốc gia. 

 Khi xây xong, ngày 12/7/2020, Chủ tịch UBND huyện Cam Lộ có chương trình vào kinh Thành Huế  rước Long vị vua Hàm Nghi, Binh bộ Thượng thư Tôn Thất Thuyết, Kỳ vĩ quận công Nguyễn Văn Tường, các Văn Thân Sĩ phu yêu nước của Phong trào Cần Vương.

  Ngày 13/7/2020, Long vị vua Hàm Nghi và các Quần thần đã an vị tại ngôi nhà 5 gian ở di tích lịch sử Quốc gia Tân Sở. Đây là điểm du lịch trong quần thể du lịch Quảng Trị.

  Tôi cho việc không quan tâm tới khu di tích Lịch sử Tân Sở nhiều năm là một thiếu sót lớn đối với những bậc tiền bối có công dựng nước. Đây là niềm tự hào của con người và vùng đất thiêng, vùng Địa linh nhân kiệt Quảng Trị.

 

 * CẦU TREO DARKRONG

   Cầu sắt bắc ngang qua sông Darkrong cách TP Đông Hà chừng 30km trên đường Quốc lộ 9.  đây là đầu nguồn sông Thạch Hãn, cũng là cầu chính của đường mòn HCM.

 Năm 1975, Chinh phủ Cu Ba cho xây mới. Đây là chiếc cầu treo (cầu Dây Văng) đầu tiên ở Việt Nam. Cầu dài 100 mét rộng 6m.

  Năm 2000 cầu được xây mới bằng dây văng, quy mô hơn, đến năm 2003 thì xong, là chiếc cầu đẹp, biểu tượng núi rừng miền Tây Quảng Trị, cũng là điểm dừng chân của quần thể du lịch Lao Bảo. Đây là điểm đầu của Quốc lộ 14 Bình Phước.

 

  * KHU DU LỊCH KHE SANH-LAO BẢO.

  Từ cầu Đarkrong lên 20km là Thị trấn Khe sanh, khu di tích  Làng Vây, sân bay Tà Cơn. Nằm 1969, tại căn cứ này là trận đánh lớn nhất trong cuộc chiến Việt Nam. Đi thêm khoảng hơn 10km là cửa khẩu Lao Bảo nối Savanna Khẹt Lào. Là cửa khẩu lớn nhất Việt Nam. Ở Lao Bảo có nhà tù lớn nhất thời Pháp thuộc.

 Trên đường trở về, rẽ trái sẽ có thác nước rất đẹp và hùng vĩ. Động Hương Phùng do một Đoàn thám hiểm người Anh tìm ra gần đây. Quảng Trị đang đầu tư khai thác sắp đưa vào hoạt động. Động  này lớn hơn Động Phong Nha Quảng Bình.

  Vùng đất Hương hỏa còn là nơi khai thác về nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng sạch: Năng lượng Mặt Trời và năng lượng Gió.

Quảng Trị là một trong 3 Tỉnh có thế mạnh này như Darlac và Bình Thuận. Tuy nhiên nguồn tài nguyên này khai thác với kỹ thuật thấp  sẽ kém hiệu quả và một tai họa khó lường về môi trường.

 Tương lai tiềm năng  du lịch Quảng Trị sẽ phát triển mạnh.

Hiện nay trên Thế giới đang hướng tới công nghệ chế biến cát thành sản phẩm công nghệ cao. Nếu các nhà đầu tư thành công công nghệ cao này. Nghĩa là biến cát thành vàng thì chắc chắn Quảng Trị sẽ nơi phồn vinh và có đời sống cao nhất nước.

Võ Văn Cẩm

  

READ MORE - MỜI BẠN VỀ THĂM QUẢNG TRỊ QUÊ TÔI - Vỏ Văn Cẩm

ĐỊNH HƯỚNG & THÀNH QUẢ TÙNG VÂN THI XÃ BÊN DÒNG LỢI NÔNG - Lê Quang Thái

 

Sông An Cựu, Huế.
 Ảnh: Cam Do Xuan.

Định hướng & thành quả 

Tùng Vân thi xã 

bên dòng Lợi Nông


Lê Quang Thái

 

Lợi Nông là tên gọi khác của sông An Cựu nắng đục mưa trong. Con sông đào chia nước sông Hương lần lượt chảy qua từ phường Đúc cho đến các phường Vĩnh Ninh, Phú Nhuận, An Đông trước khi đổ về đầm Hà Trung, huyện Phú Lộc. Ngày nay bờ vỉa và các chiếc cầu bê tông bắc ngang qua sông lần lượt được tôn tạo và xây dựng mới làm cho cảnh quang đô thị Huế ngày một khang trang và bề thế hơn.

 

 
Phủ Tùng Thiện Vương 
-tụ điểm của Mặc Đình thi xã & Tùng Vân thi xã xưa.
Nguồn ảnh: lendang.vn/

Mỗi lần du khách đi ngang qua phủ thờ Tùng Thiện Vương bên bờ sông Lợi Nông, số 91 đường Phan Đình Phùng hiếm người biết hơn 160 năm về trước, xưa kia nơi này ngoài Mặc Đình Thi xã còn có Tùng Vân Thi xã nổi tiếng lan tỏa thanh danh của di tích văn hóa ra ở trong nước và ngoài nước.

 

Lúc sinh thời, Đại thần Trương Đăng Quế, nhạc phụ của Thi ông, bút hiệu Quảng Khê, đã làm thơ tặng thi xã nổi tiếng này ở đất thần kinh văn vật:

 

松蕓會上列群英

雔主騷壇唱首盟

下人材歸嚏帝女

風琉江右說三卿

 

Tùng vân hội thượng liệt quần anh

Thùy chủ Tao đàn xướng thủ minh

Thiên hạ nhân tài quy đế nữ

Phong lưu giang hữu thuyết Tam Khanh

 

Như Tịnh dịch:

 

Tùng vân Thi xã kết tài danh

Chủ soái Tao đàn ai xướng thanh

Nhân tài noi hướng theo công nữ

Bên sông nghe vẳng chuyện Tam Khanh.

 

Đế nữ được chuyển thành công nữ, ám chỉ ba công nữ: Trọng Khanh, Thúc Khanh và Quí Khanh. Tuyệt nhiên không có một thành viên chủ yếu nào của thi xã Tùng Vân có tên là “cô Tam Khanh” như một số chú giải gần đây trên sách báo làm nhiễu thông tin cho giới trẻ học sinh-sinh viên tiếp thu sai lệch tri thức thực tiển văn hóa-lịch sử.

 

 Thật không dư thừa một khi cần trưng dẫn lý lịch trích ngang của ba công chúa được diễm phúc học tập với anh ruột mình là Tùng Thiện công Nguyễn Phúc Miên Thẩm để thành danh được người đời tôn phong là “nữ sĩ”.

 

1. Nguyễn Phúc Vĩnh Trinh (1824-1892), con gái thứ 18 của vua Minh Mạng với bà Thục Tần Nguyễn Thị Bửu; tự là Trọng Khanh, biệt hiệu là Nguyệt Đình. Năm Canh Tuất-1850, hoàng nữ lấy chồng là Phò mã Đô Úy Phạm Đăng Thuật; năm Kỷ Tỵ 1869, được phong Quy Đức công chúa. Khi mất, được nhà vua ban thụy Cung Thục. Trong xướng họa, Tùng Thiện công thường tỏ ý khen thi tài của Trọng Khanh bằng dấu son khuyên vòng thành những chuổi lung linh.

 

2. Nguyễn Phúc Trinh Thận (1826-1904), con gái thứ 25 của nhà vua, tự Thúc Khanh; hiệu Mai Am và Nữ Chi. Hoàng nữ lấy chồng là Thân Trọng Di, năm 1869 được phong Diệu Liên công chúa, dưới thời Thành Thái đổi thành Lại Đức công chúa vì do kỵ húy. Chưa rõ thụy được ban tặng sau ngày mất. Tác phẩm để lại Diệu Liên Thi tập. Danh sĩ Hà Đình tức Thượng thư Hà Tôn Quyền thầy dạy Miên Thẩm đã viết lời khen vào tập thơ:

 

Ngân đáo ức mai thanh vận tuyệt

Bất phương biệt hiệu tác Mai Am

 

(Thanh vận “ức mai” vô cùng tuyệt

Danh hiệu Mai Am đáng để đời)

 

3. Nguyễn Phúc Tĩnh Hòa (1830-1882), con gái thứ 34 của nhà vua, tự Quý Khanh và Diễm Chi, biệt hiệu Thường Sơn. Năm Tân Hợi – 1857, lấy chống là Phò mã Đô úy Đặng Văn Cát. Tác phẩm để lại Huệ Phố Thi tập. Năm 1869, được phong Thuận Lễ công chúa. Lúc mất được ban thụy Mỹ Thục.

 

Cả ba công chúa đều trở thành nữ sĩ do được hấp thu lối giáo dục ở chốn cung đình dưới sự dạy dỗ của các Nữ sử, dưới thời nhà Nguyễn quen dùng thuật ngữ Nữ học sĩ, lớn lên các công nữ lại được thầy dạy chữ, dạy làm thơ là anh ruột mình mà vẫn quen gọi là “Đức Thầy” một cách tôn kính dễ thương.

 

Nhà văn Trần Thanh Mại đã dày công nghiên cứu về ý nghĩa các thuật ngữ Nữ sĩ, Nữ học sĩ, Nữ sử một cách nghiêm cẩn. Căn cứ vào bài văn “VIÊM BANG TÚ KHÍ” bằng chữ Hán được chép lẫn lộn trong một tập thơ có nhan đề CẨM NGỮ ấn hành dưới triều vua Thành Thái (1889-1907). Sách mang kí hiệu Thư viện khoa học Trung Ương, mã số HTV 1867, có đoạn viết và được dịch ra Việt ngữ như sau:

 

“Nước ta từ khoảng hơn một trăm năm lại đây, những bậc khuê tú hay thơ cũng không phải là ít; như Đoàn Thị Điểm ở Bắc Ninh, Phạm Lan Anh ở Quảng Nam, Hồ Xuân Hương ở Hà Nội, và gần đây, người ta có nhắc đến bà nữ học sĩ Thanh Quan là người tỉnh Nam Định. Bốn người ấy đều là tài danh tao nhã, lòng gấm miệng thêu nếu họ cùng sinh cùng trong một thời với LẠI ĐỨC công chúa, rồi lập ra văn đàn cùng nhau xướng họa, kết thành bầu bạn thơ văn trong hàng khăn yếm, thì há không phải là một việc tốt đẹp hay sao?”

 

DIỆU LIÊN Thi Tập của Lại Đức công chúa đã được hai nhà thơ Trung Quốc nhận đề tựa. Đó là Giải nguyên Hoàng Diệu Khuê, người ở Tân Môn và danh sĩ Trương Bỉnh Thuyên khen thơ của nữ sĩ Mai Am có hai câu tiêu biểu:

 

KHỞI DUY TÀI ĐIỆU SIÊU HỒ PHẠM,

BAN TẠ Ư KIM HỮU THẾ NHƠN

 

Cụ Ưng Trình và giáo sư Bửu Dưỡng đã dịch:

 

Há chỉ hay hơn Hồ Xuân Hương, Phạm Lan Anh là hai nàng của nước Nam mà thôi đâu;

Lại còn sánh vai với Ban Chiêu, Tả Phần là Nữ sĩ trứ danh ở Tàu ngày trước.

 

 Nội dung lời khen này không có tính cách hữu nghị hoặc ngoại giao mà đây đích thực thể hiện biểu cảm của người nhận viết lời Tựa sách biết tư lự, đối chiếu để có một cách nhìn, một quan điểm phê bình văn học theo lối hàn lâm của các danh sĩ. Họ luôn luôn có một cách bình phẩm khách quan và khoa học. Vinh danh này thuộc về tài sáng tạo của Mai Am nữ sĩ, về Tam Khanh và kể cả những người có nhiều bậc “anh thư” về văn học ngang tầm với Mai Am công chúa.

 

Ngôn ngữ nước ta thật phong phú, đa dạng mà lại thâm uyên, thâm hậu nữa. Tùy theo đẳng cấp lũy tiến mà người viết biết đắn đo khi thì dùng thuật ngữ nữ tử, khi thì dùng các thuật ngữ khác như học sĩ, nữ học sĩ, nữ quan, nữ sử để định vị cho bậc quốc sắc thiên hương. Chúng ta đâu nỗi có cái tâm không rộng lượng để định vị và đánh giá tài năng và đạo hạnh của những người tài sắc, mà anh hoa phát tiết ra ngoài một cách chuẩn xác. Cũng như các bậc tiên hiền thì chính nhờ vào đạo đức nội tại của các ngài mà hậu thế tôn xưng là bậc hiền tài của quốc gia làm rạng danh trong sử sách nước nhà. Danh vị “Nữ sĩ” của Tam Khanh là do tài năng, trí tuệ và đạo hạnh của tự thân ba công chúa mà có: hữu xạ tự nhiên hương.

 

Trong thuật viết văn, thú thật đôi lúc cũng cần phải thể hiện tính nghiêm mật một cách chu đáo theo phép rào trước đón sau. Đời xưa Ban Thái Cơ tiếp tục công việc của anh mình để lo liệu chép nốt cho hoàn tất bộ Hán Sử. Vì vậy người đương thời đã gọi Ban Thái Cơ là Nữ Sử để tỏ lòng kính phục và quý trọng một nhân cách lớn của một sử gia nổi tiếng.

 

Bình sinh, Mai Am công chúa; Tam Khanh và Đức Thầy Tùng Thiện đã xác định trong việc lập ngôn, lập đức và lập công thì chẳng bao giờ chạy theo việc cầu danh. Không cầu danh mà có danh thì mới thật quý nhất trên đời.

 

Tùng Vân Thi Xã ngày xưa, một thời soi bóng bên dòng Lợi Nông, ngày nay dáng xưa của phủ Tùng Thiện có nhiều nét khác đổi thay theo vòng quay của đất trời mênh mang nhưng vẫn soi bóng chung cùng một dòng nước theo lối tư duy biến dịch “không ai tắm hai lần trong một dòng nước” mà Héraclite đã nói câu bất hủ ấy.

 

Ảnh thờ trong phủ Tùng Thiện Vương. 
Nguồn ảnh: lendang.vn

Đứng nhìn nước trôi trước bến Phủ, nhớ Tùng Thiện Vương, hoài niệm Tam Khanh và các quốc sĩ nặng lòng với nước non. Nhớ lại chính kiến của người xưa thiên cổ - Nhất đại Thi Ông đã từng viết như lời tuyên ngôn của hai Thi xã Mặc Vân và Tùng Vân:

 

“Đời xưa phải có người bán gươm và mua nghé, vì người làm ruộng nuôi được nhà binh; người làm ruộng nuôi cả người thơ; còn người làm thơ, đã không giúp ích gì cho nhà binh, mà cũng không giúp ích gì cho người làm ruộng.”

 

Ấy thế mà phủ Tùng Thiện đã sản sinh lắm bậc quốc sĩ thiên hương làm rạng danh nước Việt. Đó là điều, là việc, là chuyện khiến cho độc giả và du khách đến tham quan như nghe vẳng bên sông “tiếng xưa” để suy gẫm ra lắm chuyện hay giàu ý nghĩa và đầy vơi lý thú:

 

Văn như Siêu Quát vô Tiền Hán

Thi đáo Tùng Tuy thất Thịnh Đường.

 

L.Q.T

 *** 

 1. Trần Thanh Mại toàn tập, tập 3, Hồng Diệu sưu tầm, NXB Văn học, Hà Nội, 2004, tr.566.

  2. Tùng Thiện Vương (1819-1870), Nguyễn Phúc Ưng Trình và Nguyễn Phúc Bửu Dưỡng, Sài Gòn, 1970, tr.194.

  3. đd.


Nguồn: lieuquanhue.vn, 18/08/2009


 

READ MORE - ĐỊNH HƯỚNG & THÀNH QUẢ TÙNG VÂN THI XÃ BÊN DÒNG LỢI NÔNG - Lê Quang Thái

HỠI EM CÔ GÁI RĂCLÂY | LỜI CHO NGƯỜI ĐẾN HUẾ - Thơ Đoàn Vũ

Nhà thơ Đoàn Vũ


Đoàn Vũ

Hỡi em cô gái RắcLây

 

Em vẫn địu tình ta ư
mà nắng mai hồng
hồng đến vậy?

Em vẫn địu tình ta ư
mà đất ba dan hồng
hồng đến vậy?

Hương mùa thu
thơm lúa mới
mà anh chưa kịp quay về
biết em và trăng
mong
đợi…
đêm đêm gối hồn lên mơ

Hỡi em cô gái RắcLây
làn môi em trong như ngọc
ngày đi nai rừng đã khóc

Hỡi em!
cô gái RắcLây
đợi anh xong mùa chiến dịch
rừng khuya cùng trăng
tinh nghịch
chọn hoa cài thắm vườn hồn.

  

Lời cho người đến Huế

 

Hãy chạm vào lòng

của Huế

đi em

để thấy tâm hồn

anh

đang quẩn quanh

ở đó

đừng để

nụ hôn anh

vàng võ

vì em!...

 

Ðoàn Vũ – Hội viên hội Văn Nghệ Bình Thuận

Email: vudoan0102@gmail.com.

 


READ MORE - HỠI EM CÔ GÁI RĂCLÂY | LỜI CHO NGƯỜI ĐẾN HUẾ - Thơ Đoàn Vũ