Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, October 10, 2011

NGUYỄN HỒNG TRÂN: NHÌN DÒNG THẠCH HÃN


Nhìn dòng Thạch Hãn chốn quê hương,
Đã trải bao năm với chiến trường.
Súng đạn xương người còn dưới đáy,
Bom mìn hài cốt ẩn trên nương.


Con sông lặng lẽ ngấm buồn tủi,
Thác suối rì rào nỗi tổn thương.
Ai biết bao giờ bù đắp lại?
Gian nan mất mát khổ trăm đường!...



Nguyễn Hồng Trân (ĐH Huế)

(Phước Vĩnh, Huế,  năm Tân Mão 2011)

Photo: Hoàng hôn bên bên sông Thạch Hãn, ảnh từ trang ngduyen78.violet.vn
READ MORE - NGUYỄN HỒNG TRÂN: NHÌN DÒNG THẠCH HÃN

HỒ SĨ BÌNH - BÊN TRIỀN SÔNG Ô LÂU


Sông Ô Lâu nhìn từ làng Lương Điền


(Tặng nhóm bạn Nguyễn Hoàng 64-71 cùng du xuân Hiến, Thi, Hữu, Khôi, Phước, Hiền, Cúc, Dưong, Ngọc, Thúy)

Đầu năm nay tôi có dịp đi dọc sông Ô Lâu, một vùng đất mà nhièu lần qua lại chứ chưa có cơ hội để hiểu sâu sơn về vùng giáp ranh giữa 2 tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên. Thú thật tôi thực sự ngạc nhiên về những nẻo đường làng quanh co, những đình chùa miếu mạo, những bến sông huyền hoặc khói sóng. Ẩn tàng sâu hút trong những thôn xóm yên bình dân dã là những tầng sâu văn hoá riêng biệt mà cổ kính, khiêm tốn mà tự tin, khép kính mà bình tâm như vại cho dẫu làn sóng đô thị hoá cứ chực chờ dòm ngó. Cái chợ Mỹ Chánh vẫn vậy, xôn xao thị tứ bên quốc lộ mà quê kiểng vẹo xiêu như không thèm đếm xỉa tới thời gian, tới biến động hừng hực quanh mình. Có người cứ bảo sao mà chậm phát triển, sao mà cổ lổ sĩ đến vậy trong khi cuộc sống cứ lao về phía trước. Nhưng không hiểu sao trong nét cổ xưa ấy tôi lại tìm thấy bóng mình với một nỗi niềm an ủi. Nhớ ngày còn trẻ cùng người bạn về đây lục dưới tủ thờ trong căn nhà của Nguỵ Ngữ, những trang viết đánh máy dở dang mà nhà văn còn bỏ lại. Nơi bến chợ này là bối cảnh những truyện ngắn đầy ray rứt ngập ngụa bi kịch, ám ảnh của chiến tranh trong một không gian vang vọng những ý thức phản tỉnh đầy nhân văn cuốn hút bạn đọc miền Nam từ cuối thập niên 60 của nhà văn sinh ra trên vùng đất Ô Lâu, đặc biệt là truyện ngắn Con thú tật nguyền được chuyển thể thành phim. Ngày ấy tôi còn nhớ đứng bên này cầu Mỹ Chánh nhìn ra bến sông, chiều chưa kịp xuống mà nhìn đâu cũng thấy một không khí ngột ngạt chiến tranh

Năm bảy năm trước khi làng cổ Phước Tích gần đó còn là một làng cổ, tôi về lại nhiều lần nằm đong đưa bên võng dưới mái hiên ngôi nhà cổ của người bạn đắm chìm trong không gian của hoa nhài, hoa lan, hoa bưởi, hoa cau, những ngõ làng còn trải cơ man là những mảnh gốm vụn dấu tích của một ngôi làng nổi tiếng là làng “độôc đôộc” bây giờ được xem là một địa chỉ du lịch đã bê tông nhiều thứ, hàng quán ầm ào xe ngựa, tự dưng nơi mình đã mất đi niềm say đắm thuở nào. Bởi vậy lần đầu về thăm người bạn gái cùng trường ở làng Hội Kỳ thật sự xúc động. Bạn đã sống hết đời của một công dân làm việc nhà nước ở thị xã Quảng Trị rồi bỏ hết chốn phù hoa về lại nơi ngôi nhà cổ xưa trong làng. Khu vườn rộng thênh thang nhiều hoa trái, bạn chỉ sống một mình lặng lẽ giữa sương đêm. Cứ tưởng rằng chắc là bạn mình buồn bã lắm nhưng ngược lại suốt cả ngày bạn lạc quan vui vẻ, trong những tiếng cười rộn rã đó chứng tỏ con người đã bỏ hết thị phi tuế toái của đời vì tìm thấy nỗi vô vi đốn ngộ nơi ngôi nhà của chính mình. Bạn trở lại ngôi nhà cũ còn để lo hương khói cho ông bà cha mẹ Thái độ và tâm trạng của bạn như còn phảng phất hình bóng của Nguyễn Trãi khi trở lại Côn Sơn : Thân xưa hương hoả chăng còn ước / Chí cũ công danh đã phỉ nguyền…(Thuật hứng-Quốc âm thi tập)

Năm nay tiết trời rét quá, bạn chỉ tiếc vườn mai đại lão không kịp nở hoa để đón bạn bè.

Mô hình lập làng của Hội Kỳ có nét na ná Phước Tích, vẫn quanh co lối xóm những hàng chè tàu, những nhà vườn cây trái và những ngôi nhà cổ hằng trăm năm trầm tích tư lự neo bóng bên dòng sông, khác chăng với Phước Tích là Hội Kỳ vẫn thế, trăm năm nước chảy qua cầu Mỹ Chánh, con người vẫn gìn giữ được nếp nhà xưa. Tôi thầm cám ơn thôn xóm hiền hoà này bởi đã đánh thức nỗi hoài cảm trong tâm hồn

Chúng tôi gồm một nhóm bạn cũ của mấy chục năm về trước, tóc ai cũng lấm tấm hạt đau của mây trời nhưng hình như suốt cả cuộc hành trình không bao giờ thiếu tiếng cười. Mấy người bạn tại chỗ chỉ con đường làng đi học ngày xưa, bới cơm vừng, khoai sắn đi về hơn hai chục cây số, mùa mưa đường lầy lội rét căm căm mà nhóm học sinh con nhà nghèo chỉ phong phanh áo tơi lá, thế mà vẫn kiên trì không vắng một buổi học nào. Rồi sau đó lên cấp 3 lại phải khăn gói cơm đùm gạo bới ra trường tỉnh học khốn khổ trăm bề nhưng vẫn đeo đuổi dù có người vì hoàn cảnh phải dừng lại giữa đường nhưng giấc mơ đèn sách vẫn luôn nuôi dưỡng trong lòng. Vùng đất học bên Ô Lâu rạng danh từ rất lâu khi cụ Bùi Dục Tài người ở Câu Nhi là người đỗ tiến sĩ từ thời vua Lê Hiển Tông, đây là vị tiến sĩ khai khoa của xứ Đàng Trong. Ông từng thăng quan đến chức Tả thị lang Bộ Lại nhưng vì bản tính cương trực, thẳng thắn nên đã bị gian thần hãm hại. Trên những con đường chân quê của mấy trăm năm trước, bằng những khát vọng đầy trời những sĩ tử đời sau vẫn không ngừng chăm chắp bước tới để bây giờ làng Câu Nhi được dân gian gọi bằng một cái tên thật đáng tự hào : làng tiến sĩ. Tôi về làng, nơi ngã ba sông nhìn ra bến chợ và dòng sông , ngôi đình được dựng theo góc nhìn phong thuỷ truyền thống. Đình làng nghe nói được lập từ thời Lê sơ, di dời về đây từ thời Tây Sơn rồi can qua chiến trận xây đi dựng lại trùng tu tôn tạo vẫn còn vương vấn một màu lịch sử của sáu trăm năm không ngừng biến động.


Ngã ba sông Ô Lâu (trái) và sông Mỹ Chánh (còn gọi là sông Thác Ma) (phải), nhìn từ đình làng Lương Điền

Đi dọc triền sông từ Lương Điền, Văn Quỷ, Hà Lỗ, Đồng Dương, Hưng Nhơn mỗi làng mỗi không gian quê kiểng riêng biệt. Có một điều dễ nhận ra cái chung nhất chính là ý thức lập vườn của con người. Nhà nhỏ nhà to thường có cổng ngõ chè tàu, hồ nước, hoa nhài hoa sói, vườn cây trái xum xuê nên tâm tính người dân thiên về hướng nội, dạt dào tình cảm. Thêm nữa, về đây đi đâu cũng gặp sông. Sông Ô Lâu từ miền cao của Huế chảy ra, quẫy một vòng cung uốn lượn theo hình con rắn ngoằn ngoèo để lại những ngôi làng như những ốc đảo Phước Tích, Mỹ Xuyên, Hội Kỳ trước khi về Mỹ Chánh gặp sông Thác Ma ( còn gọi là sông Mỹ Chánh) lượn lờ rồi xuôi ra biển.

Chia tay với Ô Lâu ở ngã ba sông ở làng Câu Nhi, sông Mỹ Chánh mang một tên mới là Ô giang trôi xuôi một đường ra huyện Triệu Phong để gặp sông đào Vĩnh Định trong nỗi cô đơn không hề muốn cùng ai chia sẻ . Cuộc chia tay đầy quyến luyến không dứt để lại nơi ngã ba Câu Nhi những hẹn hò bên lở bên bồi và những bến đò ở hạ nguồn dằng dặc với những tình sử miên man buồn thảm một thời Trăm năm còn lỗi hẹn hò/ Cây đa bến cộ con đò khác đưa. Và trên dòng sông mênh mang thơ mộng này biết bao câu hò điệu lý đầy mô tê của một vùng xứ sở đa đoan thế sự hình thành một nền văn nghệ thấm đẫm màu khói sóng. Có một nhạc sĩ tài hoa đã âm thầm lên đường mang nặng tâm thức hoài vọng của tình yêu tuổi trẻ và đất nước để những dòng nhạc dù kinh qua khói lửa chiến tranh vẫn mượt mà biêng biếc màu xanh của những dòng sông quê nhà. Tác giả của nhũng tình ca bất hủ như Lời người ra đi, Sơn nữ ca, từ Mạc tư Khoa nghe câu hò xứ Nghệ..,đó là Trần Hoàn.

Sông Ô Lâu ngày tôi về, tháng giêng non trời đất, dòng sông một màu xanh thẳm để đất trời như bát ngát sâu hút hơn. Trong nỗi niềm yên ba thâm xứ, tôi chợt nhận ra trong màu nước trong xanh kia đấy hình như còn in bóng những giấc mơ lập thân của những bậc tiền nhân, những người đi trước nghĩa khí ngất trời. Hẳn nhiên là thế, bởi ngày trước giao thương chủ yếu bằng đường thuỷ cho nên trên những quảng sông này một thời vang bóng của khách thương hồ xuôi ngược mua bán. Hệ quả để lại là vô số những bến đò, những đình làng bãi chợ, những ngôi nhà vườn quay mặt về hướng sông. Lịch sử đã đi bằng những tháng năm dài, những xôn xao sông nước đã không còn, để lại những con đò lơ thơ giăng mắc trên bến vắng.

Ngược qua Ô giang, lên bến đò Hà Lỗ ghé thăm người bạn gái cùng lớp. Khác với người bạn ở Hội Kỳ, bạn từng có nhiều năm bươn chải mưu sinh chốn thị thành nhưng rồi tai nạn gia đình, bao nhiêu gánh nặng đè lên vai một phụ nữ yếu đuối, không còn cách nào khác đành phải khăn gói quy cố hương, rồi bạn được địa phương bố trí đi dạy trường làng. Ngôi nhà của bạn tuy đơn sơ mà ấm cúng, trong vườn trồng rất nhiều chè và cây trái. Trong đôi mắt và những câu chuyện đời của bạn, có lẽ đã qua đi thời tăm tối. Bạn vốn là người đa cảm, có lẽ vì cảm động nên nước mắt rưng rưng. Có một nhà văn nói đúng : Chỉ có con người phụ bạc quê hương nhưng quê hương luôn thuỷ chung cứ mãi chờ ta…Đối với trường hợp bạn, quê nhà đích thực là nơi chốn để nương nhờ. Chia tay mà lòng cứ bịn rịn.

Nhóm bạn chúng tôi trải qua những biến cố chiến tranh, vì hoàn cảnh thời cuộc nên có người bên này bên kia chiến tuyến thế nhưng gặp lại nhau chao ơi là thắm thiết như thể chưa hề có những khoảng cách. Hình như với những ai sau những trải nghiệm đầy giông bão cuộc đời, điều còn lại là tình yêu thương, một tình bạn đã gắn liền khúc ruột được chắt chiu từ một ký ức xa thẳm, không ai có thể chia lìa. Gabrien Market nói đúng : Người ta già nua không phải vì thời gian tuổi tác mà già nua chỉ đối với những ai không còn yêu thương được nữa…Có lẽ chính tình cảm bạn bè được khơi gợi và bộc lộ chân thực nên suốt cuộc hành trình, những người bạn sau nhiều năm gặp lại thấy mình như tuổi đôi mươi, tâm hồn như bay bỗng trên sông nước.

Buổi chiều bên dòng Ô Lâu, dưới bóng cây đa cổ thụ, có người bạn thể hiện một mong ước mà ai cũng chia sẻ, rằng bạn sẽ về dựng một ngôi nhà bên sông, trồng rất nhiều cau, mà phải là giống cau quê, cây vừa cao hoa vừa thoảng hương thanh khiết. Cau quê còn là nơi chim sẻ về làm tổ, buổi chiều tối bầy chim sẻ trở về ríu rít, xôn xao cả một khoảng không nghe mới tuyệt làm sao…

HSB
Đà Nẵng, 2011

Ảnh : Ng. Khắc Phước
READ MORE - HỒ SĨ BÌNH - BÊN TRIỀN SÔNG Ô LÂU

LIỄU HẠNH - ĐẾN VỚI BÀI CA DAO MƯỜI QUẢ TRỨNG

Nữ sinh trường Terexa Tri Bưu. Ảnh từ trang my.opera.com/tribuu


Tháng giêng, tháng hai, tháng ba, tháng bốn, tháng khốn, tháng nạn
Đi vay đi dạm, được một quan tiền
Ra chợ Kẻ Diên mua con gà mái
Về nuôi ba tháng; hắn đẻ ra mười trứng
Một trứng: ung, hai trứng: ung, ba trứng: ung,
Bốn trứng: ung, năm trứng: ung, sáu trứng: ung,
Bảy trứng: cũng ung
Còn ba trứng nở ra ba con
Con diều tha
Con quạ quắp
Con mặt cắt xơi
Chớ than phận khó ai ơi!
Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây

(Ca dao Bình Tr Thiên)

Đây là bài ca dao được khá nhiu tác gi bình lun. Nhìn chung, h đu gp nhau mt đim: trong hoàn cnh khn cùng ca cuc sng, người nông dân vn lc quan, tin tưởng vào ngày mai. Song nếu nhìn t góc đ tư tưởng ca triết lý âm - dương, chúng ta s khám phá nhng điu bt ng và đy thú v n cha trong bài ca dao, đó là li tư duy s l và tính cách lc quan, tin tưởng ca người Vit Nam.

1. Tư duy s l

Qua hình nh by qu trng b ung và ba chú gà con cũng không th tránh khi s phn bi đát, ta bt gp mt cp s by và ba theo li tư duy s l.

Phi tha nhn rng, tư tưởng triết lý âm dương nh hưởng rt ln đến tư duy, tính cách ca người Vit Nam. Người Vit Nam rt thích dùng s l, thm chí đơn gin như vic tng hoa, cm hoa hng ngày, h cũng thường chú ý đến s lượng bông hoa: mt, ba, năm, by, chín Vì sao vy? Theo triết lý âm dương, s chn là âm, s l là dương (cũng như hình vuông = âm, hình tròn = dương, lnh = âm, nóng = dương , ti = âm, sáng = dương).

Không nm ngoài li tư duy truyn thng đó, cp s by - ba bài ca dao trên minh chng cho li tư duy s l ca người Vit Nam. Tư duy s l còn th hin trong hàng lot cách nói ví von: ba chìm by ni, ba hn chín vía, ba lo by liu, ba bè by mi, ba vành by v,... Xét rng ra, tư duy s l không ch dng li cp s by và ba mà còn th hin nhng cp s khác như: ba mt mt li, năm thê by thiếp, năm ln by lượt, hay mt câu nhn chín câu lành, mt li nói di sám hi by ngày,...

Cũng không phi ngu nhiên mà khi lc vào thế gii truyn thuyết, c tích, chúng ta thường bt gp mô-típ: "Voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao,..." hay "vượt qua ba quả đồi, chín quả núi",... Tư duy s l còn thm sâu vào hn thơ dân tc, ví như H Xuân Hương tng h bút:

Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non

(Bánh trôi nước)

Hay trong "Giấc mơ anh lái đò" ca thi sĩ Nguyn Bính, con s 9 như là đim trung tâm ca bài thơ:

Đồn rằng đám cưới cô to
Nhà giai thuê chín chiếc đò đón dâu
Nhà gái ăn chín nghìn cau
Tiền cheo, tiền cưới chừng đâu chín nghìn
... Lang thang anh dạm bán thuyền
Có người trả chín quan tiền lại thôi ..

Rõ ràng, xut phát t ngun gc ca tư tưởng triết lý âm dương, tư duy s l không ch hình thành ngay trong cách nói hng ngày mà còn tr thành mt mô típ trong văn chương ngh thut.

2. Tính cách lc quan, t tin

Đon kết ca bài ca dao:

Chớ than phận khó ai ơi!
Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây

Tinh thn lc quan, tin tưởng vào tương lai là mt trong nhng tính cách ca người nông dân Vit Nam. Tính cách y suy cho cùng, cũng được bt ngun t tư tưởng triết lý âm - dương.

Theo quy lut ca triết lý âm - dương thì "trong âm có dương, trong dương có âm", t quy lut đó mà người Vit Nam suy lun: "trong họa có phúc", "trong rủi có may",... Hơn thế na, xut phát t quy lut âm dương chuyn hóa cho nhau "âm sinh dương, dương sinh âm" người Vit chúng ta hiu rt rõ nhng quan nim: "yêu nhau lắm, cắn nhau đau", "trèo cao ngã đau", "bĩ cực thái lai",... Điu đó cũng có nghĩa, bt kỳ vic gì đu phi có đim dng, không quá thp và không quá cao. Nói cách khác, đó chính là s th hin ca "triết lý sng quân bình". Và chính triết lý sng quân bình này đã to nên tính cách lc quan, t tin người Vit, h không nn chí trước khó khăn, h luôn tin tưởng vào ngày mai tt đp bi l "triết lý sng quân bình" đã thm sâu vào máu tht h, tinh thn t tin lc quan đã nm sâu trong ý thc ca h.

"Mười quả trứng" là bài ca dao th hin sâu sc tính cách y. Mc dù tài sn duy nht "mười quả trứng" cui cùng li tr v là con s 0 thm chí còn âm vì ch s hu ca nó phi "đi vay, đi dạm, ...". Song người nông dân Vit Nam vn tin tưởng, vn hy vng vào tương lai tươi sáng.

3. Thay li kết:

Tác gi bài viết này xin được b sung thêm mt câu "Không ai giàu ba h, không ai khó ba đi".

Li là nim hy vng và tính cách lc quan - có th nói đã tr thành mt nét đp văn hóa ca dân tc Vit Nam.


Liễu Hạnh

*******

“HÒ VÈ GIEO DUYÊN”

O…tê,…O tê..!!!..bớ …O..tê….
Côi đàng răng O khôô..ng đi mà O đi đưới Rọọ..ng ?
Ló đạ cắt rồi, O đi mỏi cẳng chưa ?
Mỏi rồi ngồi xuống Eng nói chò O nghe nì…
Khoai to vồồ..ng (thì) tốt cộ.
Đậu ba lá vừa un.
Gà mất Mạ lâu khun.
Trời sinh Trâu, sinh cỏ.
Trời sinh Giếng, sinh Mo.
Trời sinh O, sinh Tui.
Trai khôô..ng Vợ, thấu khộ.
Gái khôô..ng Dôô..ng cũng thấu khộ.
Khoai xấu dây (mà) tốt cộ.
Gió ngoài Biển (hắn) thổi vô.
Mây côi Trời (hắn) cuộn lại.
O với Tui cùng cuộn lại.
Miềng kiếm đứa còn Trai.
Nuôi cho đời đợ ốố..cc dộộ..c..
Được khôô..ng…Ha…ha…ha..a..a..a.

HLN sưu tầm.
READ MORE - LIỄU HẠNH - ĐẾN VỚI BÀI CA DAO MƯỜI QUẢ TRỨNG