Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Lê Cung Bắc. Show all posts
Showing posts with label Lê Cung Bắc. Show all posts

Tuesday, November 14, 2023

TÂM TÌNH CỦA DIỄN VIÊN, ĐẠO DIỄN LÊ CUNG BẮC (1946-2021) QUA TẬP HỒI KÝ "BỤI CÁT CHÂN MÂY" – Đỗ Tư Nhơn



Đại thi hào Nguyễn Du đã viết bài thơ Độc Tiểu Thanh Ký nhằm bày tỏ mối thương cảm, tri âm cùng ngƣời con gái đời Minh, tài hoa bạc mệnh, oan khiên, đau đớn. Khi kết thúc, ông đã không khỏi ngậm ngùi tự hỏi:
 
“Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”
 
Sự đồng cảm, tri âm là điều cần thiết vô cùng đối với văn nghệ sỹ, nghệ thuật. Hơn 70 năm sống giữa cuộc đời, gần 40 năm dấn thân, đam mê đi vào con đường sân khấu, điện ảnh, diễn viên - đạo diễn Lê Cung Bắc như chưa muốn dừng bước. Nhưng căn bệnh trầm kha, đột ngột cắt đứt dự phóng nghệ thuật của anh. Một tập hồi ký cuối đời đã được vội vàng kể ra bằng lời, đứt quãng, hụt hơi vì hóa trị, nhức nhói, đuối sức. Nhưng anh vẫn kiên cường chiến đấu cho đến hơi thở cuối cùng . Đó là tác phẩm BỤI CÁT CHÂN MÂY, được nhà văn Hồ Sĩ Bình trân quý biên tập để nhà xuất bản HNV ấn hành vào tháng 5 năm 2023, gần đến ngày giỗ lần thứ 2 của anh.
Chính trong thời gian ngắn, từ ngày 5-4-2021 cho đến trước khi anh từ giã trần gian, chỉ hơn hai tháng quằn quại trong cơn đau, anh đã kể lại cho diễn viên Hồng Ánh, Võ Sông Hương và chị Bùi Thị Giang (vợ anh) ghi âm.

Cuối cùng, chính người vợ của anh phải chấp bút, ghi lại trong tâm cảm yêu thương vô cùng, trong phần “Lời thưa” chị đã bộc bạch: “... đó cũng là cách tôi được đối thoại với hương linh của anh nên tôi đã miệt mài viết, và đôi lần dừng lại tôi có cảm tưởng mình viết trong mộng du”. Trong bản ghi âm đầu tiên anh đã nói lên tâm sự chân thành của mình như sau:

“Tôi nói những dòng này để Võ Sông Hương ghi lại trong lúc tôi biết rằng dòng đời của tôi đã cạn, tôi không biết ngày nào sẽ rời khỏi thế gian. Cổ nhân thường nói : tiếng hót của con chim sắp chết rất đáng thương..., lời nói của người sắp chết rất chân thành.Tôi ghi lại trất cả những gì tôi đã nhìn thấy, đã trải qua, đã sống trong suốt cuộc đời , từ lúc sinh ra ở một ngôi làng nhỏ miền trung...”
 
Tập hồi ký có tất cả 6 chương và 3 phần phụ, đây là nơi anh đã trải lòng, dòng sông tâm tình bắt đầu cội nguồn quê hương, tổ tiên, đại gia đình. Sau đó là hồi ức về tuổi thơ, thời hoa niên học tập, con đường hình thành sự nghiệp, phận đời sau 1975, gia đình yêu quý, hành trình đi tới đam mê.
 
* Nghĩ Về Nguồn Cội, Tổ Tiên.

Anh đã ghi lại câu nói của Bruce Weil như một nguyên tắc sống: “Một người không yêu nguồn cội của mình thì sẽ không yêu ai cả”. Đó là tình yêu quê hương, nơi tổ tiên tạo dựng, hình thành những truyền thống đạo lý, tri thức cao đẹp để con cháu về sau tiếp tuc phát huy.
Với Lê Cung Bắc, làng Xuân Thành, xã Triệu Độ của anh thật là nhỏ bé, như một cù lao, sông nước bao quanh, đi hết một vòng e chưa tàn điếu thuốc, nhưng là đất văn hiến, khoa bảng đáng tự hào. Chính ông nội anh, ngài Lê Phát đỗ Đệ tam giáp Tiến sĩ, làm chức quan tại Quốc sử Quán, sau thăng Thừa Lĩnh Thị độc, sung vào Nội các Sự vụ. Các đời sau, con cháu của ngài cũng nhiều người đỗ đạt. Cha anh làm Hàn Lâm Viện Thị Giảng. Dân chúng Quảng Trị đã ghi nhận truyền thống vẻ vang trên bằng câu ngạn ngữ “Họ Hoàng Bích Khê, họ Lê Xuân Thành”
 
* Hồi Ức Tuổi Thơ

Những hồi ức về tuổi thơ tại làng quê gian khổ trong chiến tranh, người dân phải sống giữa hai làn đạn. Giữa một đêm tối mịt mùng, cha anh bị một nhóm người lạ bắt đi và giết chết đau đớn tức tưởi ! Anh cho biết gia đình anh có bốn ông anh đi bộ đội Việt Minh. Anh mồ côi cha từ đêm hôm đó, vừa được 10 tháng tuổi, để lại cho ngƣời mẹ trẻ tần tảo nuôi 3 đứa con. Từ đây anh côi cút giữa cuộc đời, lúc thì vào tận SG, nhờ gia đình người anh trai để được học. Mấy năm sau về lại làng quê bên mẹ. Anh làm cho mẹ vui lòng nhờ kết quả học tập, luôn luôn giỏi cho đến ngày lên tỉnh, bước vào tuổi hoa niên.
 
* Tuổi Hoa Niên.
 
Niên học 1959-1960 anh thi đỗ vào trường trung học Nguyễn Hoàng, ngôi trường trung học công lập danh tiếng của Quảng Trị và miền Trung một thời.Ở nơi đây anh bắt đầu được hưởng nền giáo dục mang tính chất Dân tộc – Nhân bản - Khai phóng. Chính môi trường này đã cung cấp kiến thức, kỹ năng để tiếp tục đi trên con đường tương lai. Ở đây anh bắt đầu tập dượt các vở kịch lịch sử cùng bạn bè để sau này lên Đại học Đalat, SG phát triển đích sau cùng. Trường Nguyễn Hoàng cho anh 5 năm học trập, nhưng đã để lại trong anh biết bao kỷ niệm đẹp. Một mối tình học trò trong trắng, nhưng cũng cho anh nhiêu thương nhớ khi chia xa. Bài thơ ngắn đã ghi lại tình yêu dang dở đầy xúc động của chàng thư sinh Lê Cung Bắc:
 
“Mười năm nữa có khi về phố cũ
Cổng nhà em in nửa dấu hài rêu
Trông từng chiếc lá vàng bay bỡ ngỡ
Buồn xa xưa Kim Trọng nhớ nhung Kiều”

(Trích bài viết “Thư gởi H.D nữ sinh lớp đệ tam C Nguyễn Hoàng (NK 63-64)” của LCB).
 
Những người bạn thân thiết, sau này tìm lại nhau, ngồi bên nhau qua dâu bể, như Lê Văn Trạch, Lê Quang Ngân, Lê Đình Lộng Chương... Anh cho rằng: “trung học Nguyễn Hoàng luôn ở trong trái tim tôi.” Điều đó đã được chứng thực từ những năm 90 của thế kỷ 20, khi thầy trò Nguyễn Hoàng đã nối kết, sinh hoạt do BLL NH SG được hình thành. Anh Lê Cung Bắc đã tham gia từ những ngày đầu cho đến khi anh qua đời, chị Bùi Thị Giang đến dự thay anh.
Kế tiếp là 2 năm anh học trường Quốc Học –Huế, được học và giao tiếp thêm, anh bắt đầu định hướng cho tương lai sau khi đỗ tú tài 2, lên Đalat học Đại học. Anh từng xác định: trường Quốc Học – Huế là cái nôi hình thành nhân sinh quan.
 
* Con Đường Định Hình Sự Nghiệp (trước 1975).

Tại Đalat, anh theo học trƣờng Chính trị - Kinh doanh của Viện đại Học Đalat, anh cùng các bạn đam mê nghệ thuật sân khấu thành lập ban kịch, diễn được 3 tháng rồi tự giải tán.Một nhóm kịch mới anh và bạn bè xây dựng mang tên TRƯỜNG GIANG. Bởi lúc này anh vừa tìm thấy một người đẹp từ Nha Trang lên học Văn khoa, năm đó là chị Bùi Thị Giang! Ban đầu anh khá vất vả để chiến thắng nữ thần Tình yêu. Nhưng cuối cùng cũng đưa nhịp tim hai người về một chỗ. Nhóm Trường Giang đã diễn nhiều vở của GS Vũ Khắc Khoan nổi tiếng. Thầy đã quý mến trò, nên đã đến dự lễ cưới của anh chị tại SG năm 1972. Mối tình thầy trò qua kịch nghệ- sân khấu đó kéo dài cho đến khi thầy qua đời, anh cùng vài bạn làm giỗ nhớ thầy xưa. Sau khi tốt nghiệp cử nhân Chính Trị  - Kinh Doanh anh về Sài Gòn học Cao học Luật. Rồi anh bị động viên, đi các chiến trường cho đến ngày thống nhất đất nước. Một trang đời mới bắt đầu.
 
* Phận đời sau 30 tháng 4 năm 1975.

Tâm trạng của Lê Cung Bắc sau 1975 khi được hỏi đến, anh trả lời thành thực: “Buồn vui lẫn lộn, vui vì đất nước thống nhất, chiến tranh chấm dứt nhưng lo sợ mình sẽ làm gì, số phận mình sẽ bị xử lý thế nào…”. Lúc bấy giờ anh và nhà văn Cung Tích Biền đạp xe ba gác đi bán mía, chiều về uống cốc bia, nhìn nhau và khóc.
Cũng như mọi quân nhân chế độ cũ tại miền Nam sau 75, anh đi học tập cải tạo, lúc đầu gian khổ, nhưng cũng được ra về nhờ người anh ở Hà Nội bảo lãnh sau 2 năm sáu tháng học tập cải tạo. Đoạn đời đi kinh tế mới đầy gian lao, hai anh chị cùng nhau chịu đựng, không thể nào kể cho hết được.
 
Gia Đình Yêu Quý.

Ôn lại tình yêu của anh và chị Bùi Thị Giang, anh cho tình yêu đó là định mệnh. Hai người, suốt thời thanh xuân đã có rất nhiều kỷ niệm lãng mạn, đó là hành trang, gia tài để gắn bó với nhau, dù trong đời sống không thiếu gì những sóng gió, chông chênh...
Chị Giang theo đạo Thiên Chúa, nhưng anh theo đạo Phật, lúc kết hôn anh phải rửa tội. Nhưng về sau không đi nhà thờ. Chị trách một hồi thì cũng chấp nhận. Và những bóng hồng không ngừng đi qua đời anh, có người lặng lẽ giúp làm nhà, anh giấu vợ, bảo là bạn bè hỗ trợ. Cũng có người quá đáng, muốn tham dự “chuyện tình ba người” nhưng anh không ngã lòng, chung thuỷ. Vợ anh cảm thông chất nghệ sĩ đa tình của anh, cùng nhau vun đắp hạnh phúc. Thật đáng trân quý! Kết quả vườn tình của anh đơm hoa kết trái, hai cậu con trai xinh xắn, khoẻ mạnh lớn khôn, học tập thành tài. Sau những năm tháng khó khăn, ở nhà trọ, anh chị đã mua đất làm nhà đặt tên Tĩnh Tâm Cốc – là không gian cho tâm thức lắng đọng, tu tâm, buông bỏ theo lời Phật dạy cho đến ngày cơn bệnh trầm kha đến, anh chấp nhận, chịu đựng trong lời niệm Phật. (Một điều bất ngờ là anh được một gia đình ở Thái Bình nhận anh làm nghĩa tử ví anh giống một người con trai của họ bị thất lạc do nạn đói năm 1945 lúc cậu ấy 11 tuổi. Anh đã ra thăm, chia sẻ buồn vui với bà con mới nhận ra, ghi nhiều hình kỷ niệm).
 
* Hành Trình Đi Tới Đam Mê.

Khi cô thư ký Võ Sông Hương hỏi Lê Cung Bắc: 
Khi chú nổi tiếng nhờ nghề diễn viên, đạo diễn, chú có bao giờ mặc cảm vì chú làm cái nghề “xướng ca vô loại” theo định kiến không chú ?.

Anh đã thành thật trả lời: “Có chứ con. Con nói đúng…Chú nổi tiếng kể mà đôi lúc chú buồn… Đa phần trong xã hội, người ta coi những người trong giới showbit này rất tầm thường, là những người ‘mua vui cũng được một vài trống canh’…”.

Nhớ về ngày đầu bước chân vào điện ảnh thật sự, anh kể về lần gặp đạo diễn Lê Dân năm 1982, tình cờ trên đường đi, ông mời anh nhận vai nhạc sĩ phản chiến trong phim Pho tượng. Đây là vai diễn đầu tiên. Tính đến năm 1992 anh đã tham gia hơn 200 vai diễn điện ảnh, video, truyền hình. Năm 19991, anh lập nhóm kịch Lê Cung Bắc trên sân khấu Ca nhạc kịch Điện ảnh cùng các nghệ sĩ Thương Tín, Minh Trang, Hồng Vân tham gia vở Lưỡi không xương của Henri Bardot được đón tiếp nồng nhiệt.
Rồi cùng nhà văn Nguỵ Ngữ, người viết kịch bản người đóng vai Trí trong phim Con thú tật nguyền. Rồi được đạo diễn Việt Linh chọn đóng vai Lão Cùi trong Dấu ấn của quỷ. Đó là những vai diễn để đời.
Bước sang nghề đạo diễn, anh nhận thấy máu đạo diễn đã manh nha từ khi còn là học sinh, sinh viên. Anh đã đọc sách, nghiên cứu, quan sát sau khi tham gia đóng phim của rất nhiều đạo diễn. Phim đầu tiên anh làm đạo diễn là Trên cả hận thù, đó là bài thi tốt nghiệp đạo diễn của anh được hội đồng nhanh chóng thông qua. Muốn có phim hay thì phải có kịch bản hay.Tuy nhiên tác phẩm điện ảnh là biểu lộ tư duy sáng tác của của người đạo diễn. Ngoài ra đạo diễn phải nắm được kiến thức kỹ thuật, có khả năng diễn đạt tâm lý nhân vật để lựa chọn diễn viên cho phù hợp. Là đạo diễn, anh quan niệm để cho diễn viên tự do thăng hoa cảm xúc, không gượng ép trong một khuôn khổ nào đó. Tôi rất ưng ý về diễn viên Việt Trinh vì cô ấy biết diễn bằng đôi mắt. Trong phim Vó ngựa trời Nam, diễn viên nam Huỳnh Đông xứng đạt giải nam xuất sắc trong liên hoan phim truyền hình toàn quốc năm 2010.

Cũng cần nói đến khuynh hướng làm phim, anh nặng về tính nhân bản, những nhân vật chính trong phim đều là những người mang nặng trên vai lòng nhân ái. Theo anh đạo diễn làm phim là cách lập ngôn của mình... Người đạo diễn phải trải lòng ra, chuyển tải tâm thức, mang cái đẹp đến người xem. Khuynh hướng làm phim của Lê Cung Bắc thiên về triết lý sống cao đẹp, tôn vinh giá trị Chân-Thiện-Mỹ. Qua trình hành nghề đạo diễn của anh đã đạt nhiều thành tựu, giả thưởng Phim Nhịp đập trái tim năm 1994, Giải thưởng đạo diễn phim đầu tay. Phim Không thể rẽ trái năm 1996 - Huy chương vàng trong LHPTHTQ. Phim Dòng đời Giải Đạo diễn xuất sắc (52 tập) năm 2001. Phim Duyên trần thoát tục (Phim nhựa) ghi vào Kỷ lục Phật giáo VN. Phim Những chiếc lá thời gian - Giải Đặc biệt của BGK trong LHPQG năm 2006. Phim Vó ngựa trời Nam- Huy Chương Vàng - PHIM XUẤT SẮC NĂM 2010 - Giải I Cánh Diều Vàng Đạo Diễn xuất sắc năm 2010 - Giải Cánh Diều Bạc năm 2010 cho phim Vó ngựa trời Nam

Bằng những thành tích đạt được, Lê Cung Bắc xứng đáng với danh hiệu Nghệ Sỹ Ưu Tú do nhà nước phong tăng năm 2001. Tuy nhiên niềm vui của anh chưa được trọn vẹn khi cuốn phim cuối đời do anh đạo diễn là GIÃ TỪ CÔ ĐƠN đã được làm xong nhưng chưa kịp phát hành thì anh đã từ giã trần gian – Về trong Cõi Tịnh ngày 13-6-2021. Chắc nơi cõi trăng sao đó, anh đã gặp thầy Vũ Khắc Khoan của khoa Kịch Nghệ - Đại học Đalat và các bạn Nguỵ Ngữ, Đỗ Tư Nghĩa một thời cùng học trường Nguyễn Hoàng Quảng Trị.

Bây giờ mọi người cầm trên tay tác phẩm Bụi cát chân mây của anh, nghe những tâm tình của anh. Tập hồi ký đã ra mắt gần đến ngày Đại Tường của anh như một bó hoa thơm tưởng nhớ anh - Hai năm xa lìa trần gian. Tất cả đọc và cảm thông, thương yêu và trân quý những gì anh đã đóng góp cho nghệ thuật, phong cách của người nghệ sĩ chân chính, ví lý tưởng, bằng cả tấm lòng nhân ái, hướng đến Chân - Thiện - Mỹ. Những tập sách của anh đã được người vợ thương yêu thay mặt anh ký tặng quý cô thầy, các bằng hữu từ Sài Gòn cho đến Quảng Trị, Đông Hà, Huế, Đà Nẵng... và các thư viện trường THPTTXQT, trường QUỐC HỌC, trường HAI BÀ TRƯNG – HUẾ như một lời cảm ơn chân thành của một ngƣời học trò năm xưa. Và cũng có ý nghĩa khơi gợi các lớp trẻ, hãy tư duy, sáng tạo đóng góp cho nghệ thuật và tri thức cho tương lai đất nước Việt Nam.
 
Kỷ niệm nhỏ của người viết.

Năm 1992, tôi vào Sài Gòn thăm bà con, qua bạn bè đồng hƣơng Quảng Trị, biết Lê Cung Bắc ở cư xá Bắc Hải. Tôi đến nhà chơi, anh em chúng tôi vốn biết nhau thời cùng học trường Nguyễn Hoàng, tôi hơn anh hai lớp, cùng tham gia văn nghệ, báo chí của trường. Hôm đó anh chở tôi đến rủ bạn Nguyễn Văn
Bổn, tìm quán nhậu lai rai. Khi về lại nhà, tôi nhìn lên tủ sách của Lê Cung Bắc, anh biết tôi thích sách, lấy xuống quyển Tất Cả Những Dòng Sông Đều Chảy của NANCY CATO. NXB Trẻ 1989. Anh ghi hết cả trang đầu, nét chữ lớn:
Thân tặng Đỗ Tư Nhơn để nhớ một thời đã qua. Quảng Trị, Nguyễn Hoàng những năm 60. Cung Bắc 92.

Tình cờ, trong chuyến về Quảng Trị vừa qua của chị Bùi Thị Giang và con trai, khi ghé nhà tôi thăm trước lúc đi viếng Đức Mẹ La Vang. Tôi lấy ra quyển sách có chữ ký của Lê Cung Bắc, hai mẹ con chị thật bất ngờ và cảm động.
Chúng tôi ghi mấy tấm hình kỷ niệm. Chắc nơi xa anh Lê Cung Bắc sẽ mỉm cười, vui nhận chút tình xưa, bạn cũ. Khi ra mắt tập hồi ký Cát Bụi Chân Mây tại SG cùng thầy cô và đồng môn, chị đã ký tặng vợ chồng tôi và gởi ra bằng bưu điện. Tôi xin cám ơn tấm lòng của chị, và từ đó gặp lại nhau bỗng thấy thân thiết, trao đổi tin tức và hình ảnh cho nhau.
 
Trong phần cuối của tập tự truyện Để Gió Cuốn Đi, chị Bùi Thị Giang đã giải bày những tình cảm sâu kín và yêu thương của người yêu - người vợ đối với anh Lê Cung Bắc thật vô cùng cảm động:
 
“Gần hai năm anh giã từ cõi tạm mà vẫn có những đêm tôi giật mình thức giấc, tôi bỗng thấy hốt hoảng như anh vừa rời xa tôi. Nỗi nhớ anh dâng trào và nước mắt tôi tuôn chảy...
 
Anh ơi, em khóc anh...
Mộng thiên thu đã phai tàn
Người ơi tình đã theo làn khói bay
Ôm đau thương sống qua ngày
Buồn vương theo gió chia hai ngả hồn
Cơ duyên nặng một lòng son
Từ phân ly ấy héo mòn tình chung
Dặm đời điệp điệp phế hƣng
Dấu đi người đã nghìn trùng biệt tăm
Cô đơn làm lạnh chiếu chăn
Hôn mê một giấc tơ tằm phù du
Còn đôi vầng nhật nguyệt mù
 
Lạc vào cõi mộng âm u gọi người
Hồn ta cánh én chơi vơi
Giữa trời hoang phế chưa nguôi cơn sầu
Não nề mấy trận tiêu dao
Đau thương đã nhuộm úa màu thời gian
Âm dương xưa cũ mê man
Đem sầu dựng mộ cho tàn cuộc mơ”
 
Giữa những con chữ nghẹn ngào tiếc thương không dứt bỗng hồn thơ trong chị Bùi Thị Giang tự nhiên tuôn chảy. Điều này không khiến chúng ta ngạc nhiên, bởi chị là một nữ sinh viên văn khoa của Đại Học Đalat xứ sở của sương mù và hoa dã quỳ vàng, với cuộc tình lãng mạn cùng anh sinh viên Chính trị - Kinh doanh đa tình Lê Cung Bắc những năm 70 của thế kỷ XX.
 *
Nén tâm hương, tưởng nhớ anh Lê Cung Bắc.
Thương tặng chị Bùi Thị Giang và gia đình nhân ngày Đại Tường của anh Lê Cung Bắc.
 
Đỗ Tư Nhơn

READ MORE - TÂM TÌNH CỦA DIỄN VIÊN, ĐẠO DIỄN LÊ CUNG BẮC (1946-2021) QUA TẬP HỒI KÝ "BỤI CÁT CHÂN MÂY" – Đỗ Tư Nhơn

Monday, November 13, 2023

TÔI ĐỌC HỒI KÝ “BỤI CÁT CHÂN MÂY” CỦA ĐẠO DIỄN LÊ CUNG BẮC (1946 – 2021) – Hoàng Đằng



Gia đình anh Lê Cung Bắc gởi tặng tôi tập hồi ký “BỤI CÁT CHÂN MÂY” qua Ban Liên Lạc cựu học sinh trường Nguyễn Hoàng tại Quảng Trị.
 
Tôi đã nhận sách cách đây mấy ngày.
Tôi được tặng vì tình Nguyễn Hoàng - Lê Cung Bắc có học Nguyễn Hoàng từ Đệ Thất đến Đệ Tam (lớp 6 đến lớp 10 – 1959 - 1963) và tôi có dạy Nguyễn Hoàng từ 1965 đến 1970.
Tôi lấy làm tự hào và trân quý quà tặng.
Tôi đọc và viết ra mấy dòng này.

*
1- Qua tập hồi ký, trước tiên, tôi tìm hiểu ý nghĩa nghệ danh CUNG BẮC và ý nghĩa tựa đề tập hồi ký “BỤI CÁT CHÂN MÂY”.
 
 Lê Cung Bắc tên thật là Lê Hữu Ty. Anh mồ côi cha lúc mới 10 tháng tuổi. Lớn lên trong vòng tay của mẹ. Mẹ anh có gốc Bắc (người Nam Định); vào đời, hoạt động nổi tiếng trong kịch nghệ và điện ảnh, để tỏ lòng ngưỡng vọng đến mẹ, anh dùng từ Cung Bắc (kính cẩn đối với đất Bắc – quê Mẹ) để làm nghệ danh.
 
“BỤI CÁT CHÂN MÂY” là tập hồi ký cuối đời của Lê Cung Bắc. Anh không tự chấp bút được mà, dù không được khỏe khi đang trên giường bệnh điều trị ung thư phổi vào giai đoạn cuối, sốt sắng kể lại cho diễn viên Võ Sông Hương ghi âm bắt đầu từ 05/4/2021 – nghĩa là trước lúc anh lìa đời không lâu (anh mất ngày 13/6/2021).
 
Tựa đề sách ban đầu định lấy tên là “THẾ GIAN KÝ”, tập sách ghi lại chuyện trong đời; nhưng sau anh muốn đổi lại là BỤI CÁT CHÂN MÂY. Anh lý giải: “Chân mây là cái gốc; cát bụi cũng có cái gốc của nó …”; ý nghĩa là con người sinh ra từ bụi cát, chết tan thành bụi cát; như vệt mây ở chân trời hiện rồi tan và, trong tâm trạng nôn nóng, nói với diễn viên Võ Sông Hương: “Chú chỉ mong nhìn được CÁT BỤI CHÂN MÂY trước khi rời cõi tạm. Không phải để làm gì to tát mà chú chỉ muốn đó là một kỷ niệm đẹp cuối đời của chú đối với những người chú yêu thương và thương yêu chú, kể cả những người không thương chú”

*
2- Qua tập hồi ký, tôi tìm hiểu quê quán và dòng dõi của Lê Cung Bắc.
 
Quê anh là làng Xuân Thành – một làng quê nhỏ thuộc xã Triệu Độ, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
Xuân Thành đã trở thành tên xưa. Từ năm 2019, thôn Xuân Thành không còn là một đơn vị hành chánh nữa. Vì là thôn nhỏ, chỉ có 60 hộ dân, chính quyền đã đem nhập với thôn Quy Hà có 229 hộ dân thành thôn mới lấy tên là thôn Xuân Quy.
Đất làng Xuân Thành là cồn nổi được bồi tụ qua thời gian do phù sa sông Thạch Hãn; thuở xưa, cồn nổi ấy do làng Giáo Liêm chiếm lĩnh.
 
Tiến sĩ Lê Phát lấy vợ là chị của quan Ngự Sử Phan Thiệu Khanh, người làng Giáo Liêm.
 
Làm quan, thương lượng với làng Giáo Liêm nhượng cồn nổi ấy rồi ngài Tiến Sĩ Lê Phát đem dân Xuân Thành đang sống trên sông nước ở bờ Bắc sông Thạch Hãn thuộc huyện Gio Linh lên lập cư và lập ra làng Xuân Thành ở bờ Nam sông Thạch Hãn thuộc huyện Triệu Phong.
 
Xuân Thành là làng bao quanh bởi nhiều dòng nước, đất phù sa màu mỡ, phong cảnh hữu tình, ươm mầm cho những tài năng, trong đó có anh Lê Cung Bắc.
 
Ngài Tiến Sĩ Lê Phát (1854 – 1898), người đã lập ra làng Xuân Thành thuộc huyện Triệu Phong, là ông nội của anh Lê Cung Bắc, đỗ Tiến Sĩ năm 1895, làm quan dưới triều nhà Nguyễn. Do bệnh, ngài cáo quan về quê nhà rồi mất 1898.
 
Thân sinh anh Lê Cung Bắc là ngài Lê Hữu Sảng (? – 1947) - con trai trưởng của ngài Tiến Sĩ Lê Phát – học trường Quốc Tử Giám, rồi ra làm quan, công tác ở một vài tỉnh miền Trung; cuối cùng, tòng sự tại bộ Hình trước khi về hưu trí tại quê với hàm Hàn Lâm Viện Thị Giảng. Năm 1947, bị một số kẻ lạ mặt bắt đem đi giết, gia đình tìm được thi hài hôm sau trên bờ ruộng.
 
Các chú của anh Lê Cung Bắc cũng là những bậc khoa bảng: Ngài Lê Hữu Tiềm (có tên khác Lê Nguyên Lượng) đỗ Phó Bảng năm 1919, ra làm quan; ngài Lê Hữu Phổ đỗ Cử Nhân, cũng ra làm quan.
 
Thân sinh của anh Lê Cung Bắc – ngài Lê Hữu Sảng – có 3 bà vợ. Lê Cung Bắc là con út trong gia đình và cũng là con út bà thứ 3 (1922 ? – 1998). Lê Cung Bắc có 3 bà chị (02 bà là con của mẹ thứ nhất + 01 bà cùng mẹ) và 09 ông anh (04 anh của bà mẹ nhất, 04 anh của bà mẹ nhì và 01 anh cùng mẹ).
 
Các ông anh có người theo Việt Minh chống Pháp, có người làm công chức cho chế độ Quốc Gia.
Ở cả 2 chế độ, họ đều giữ những chức vụ tương đối lớn. Có ông anh – con bà mẹ 2 – được truy phong Anh Hùng Lực Lượng Võ Trang và bà mẹ nhì được truy tặng danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng.
 
Nhờ danh tiếng của gia đình, nhờ vai vế của các ông anh, Lê Cung Bắc, dù sinh ra và lớn lên trong thời dâu bể, vẫn có may mắn, lợi thế hơn nhiều người cùng trang lứa.

*
3- Qua tập hồi ký, tôi tìm hiểu con đường học vấn của Lê Cung Bắc.
 
Lê Cung Bắc đi học khá sớm, bắt đầu từ năm 1950 – lúc mới tròn 4 tuổi. Học trong vùng Việt Minh, do tình hình chiến sự, buổi học buổi nghỉ. Hiệp định Genève ký kết; những lớp học tạm bợ này chấm dứt.
 
Năm 1955 (?), Lê Cung Bắc được ông anh cả (con mẹ thứ nhất) là ông Lê Hữu Kỷ đang làm công chức lớn trong ngành hàng hải của chính phủ Quốc Gia Việt Nam đem vô học bậc Tiểu Học chương trình Việt – Pháp tại trường Lê Bá Cang Sài Gòn.
 
Mùa thu năm 1957 (?), trở về quê, Lê Cung Bắc được nhận vô học lớp Nhì (lớp 4 bây giờ) rồi lớp Nhất (lớp 5) trường Tiểu Học Gia Độ.
 
Xong lớp Nhất (lớp 5 bây giờ) tức là xong bậc Tiểu Học, Lê Cung Bắc trúng tuyển kỳ thi tuyển vào lớp Đệ Thất (lớp 6) năm học 1959 – 1960 (?) trường trung học Nguyễn Hoàng tại tỉnh lỵ Quảng Trị. Lê Cung Bắc học ở đây đến xong lớp Đệ Tam (lớp 10).
 
Qua trung học đệ II cấp – Đệ Tam, Đệ Nhị, Đệ Nhất (lớp 10, 11, 12 trung học phổ phông bây giờ), Lê Cung Bắc chọn ban C – ban Văn Chương Sinh Ngữ. Năm sau, Nguyễn Hoàng chưa có lớp Đệ Nhị (lớp 11) ban C, Lê Cung Bắc vào Quốc Học Huế học tiếp lớp Đệ Nhị, Đệ Nhất C cho xong Tú Tài.
 
Trong thời gian học Nguyễn Hoàng ở tỉnh lỵ Quảng Trị, Lê Cung Bắc xa quê Xuân Thành khoảng non 20 cây số, phải ở trọ, cũng không gặp khó khăn gì vì ở đó, Lê Cung Bắc có nhiều người thân.
 
Trong hai năm học Quốc Học Huế, Lê Cung Bắc cũng có nhà của ông anh Lê Hữu Khải (con bà mẹ nhất) đang giữ chức lớn trong ngành thủy lâm và nhà bà chị ruột Lê thị Hoàng Oanh đang làm thư ký tại ty Thủy Lâm.
 
Xong Tú Tài, Lê Cung Bắc định thi vào trường Không Quân, thụ huấn để trở thành phi công, nhưng mẹ không cho, lấy cớ là có 5 ông anh (4 ông là con của mẹ nhì + 1 ông cùng mẹ) đang theo chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, không chừng đang chiến đấu ở miền Nam, chả lẽ anh em chém giết nhau.
 
Lê Cung Bắc lên Đà Lạt học trường Chính Trị Kinh Doanh thuộc Viện Đại Học Đà Lạt. Nơi đây, việc ăn ở có phần thuận tiện vì người em - con ông chú - tên Lê Phỉ (sinh năm 1927) đang làm hiệu trưởng trường tư thục Việt Anh ở đó. Với thêm, mộng của Lê Cung Bắc là sẽ ra ứng cử Dân Biểu, Nghị Sĩ hoặc sẽ công tác trong ngành ngoại giao, vì vậy, xong 2 năm học tổng quát, bắt đầu năm 3, Lê Cung Bắc chọn ngành Bang Giao Quốc Tế.
 
Tốt nghiệp Cử Nhân Chính Trị Kinh Doanh năm 1971, Lê Cung Bắc ghi danh học tiếp Cao Học ở Sài Gòn. Nơi đây, lúc đó, Lê Cung Bắc cũng có nhiều gia đình trong nội thân.
Con đường học vấn của Lê Cung Bắc tương đối suôn sẻ, học xa quê ở đâu cũng có nhà anh em để nương tựa.
 
Điều đặc biệt nơi Lê Cung Bắc, khi anh kể để ghi vào tập hồi ký, là lòng trân quý, tình cảm đối với những lớp, những trường mà anh đã kinh qua: từ những lớp vỡ lòng tạm bợ tại quê Xuân Thành với buổi học, buổi nghỉ vì tránh giặc càn, qua trường tiểu học Gia Độ với cơ sở đơn sơ, nhưng đầy ắp tình thầy tình bạn, trường Nguyễn Hoàng mà Cung Bắc bảo là “trong trái tim tôi”“đã giúp anh có những kiến thức cơ bản để phát triển tư duy”, trường Quốc Học là nơi Lê Cung Bắc gọi là “cái  nôi hình thành nhân sinh quan, định hướng bản thân”, đến Viện Đại Học Đà Lạt – nơi để Cung Bắc bung nở tài năng sau này.
 
Lê Cung Bắc khác nhiều người ở chỗ là không quên, không lơ những nơi mà anh đi qua khi đứng trên đỉnh vinh quang sự nghiệp dù nơi đó đơn sơ, nghèo hèn, không tiếng tăm gì.
 
Ngọt bùi nhớ lúc đắng cay,
Ra sông nhớ suối, có ngày nhớ đêm. 
                                  (Thơ Tố Hữu) 
*
4- Qua tập Hồi Ký, tôi tìm hiểu sự nghiệp của Lê Cung Bắc.
 
Dù học trường Chính Trị Kinh Doanh, tốt nghiệp ngành bang giao quốc tế, ra đời, Lê Cung Bắc không làm gì trong lãnh vực chính trị và ngoại giao.
 
Anh có dạy giờ tại trường trung học tư thục Việt Anh do ông em - con ông chú - là Lê Phỉ làm hiệu trưởng tại Đà Lạt lúc đang là sinh viên Đại Học Đà Lạt. Việc dạy học của anh chưa đáng gọi là nghề mà chỉ là phương tiện kiếm tiền phụ vào chi phí học đại học.
Lúc về Sài Gòn học Cao Học, Lê Cung Bắc có cộng tác với một số tờ báo; nhưng viết báo cũng chỉ là phương tiện để mở rộng giao lưu và kiếm thu nhập phụ vào những khoản chi tiêu chứ chưa phải là nghề.
Từ ngày 24/4/1972 đến 30/4/1975, Lê Cung Bắc thi hành lệnh tổng động viên. Sau thời gian thụ huấn tại quân trường, Lê Cung Bắc ra làm trung đội trưởng Địa Phương Quân ở quân khu 3 một thời gian ngắn; rồi nhờ quen biết, nhờ tài năng kịch nghệ đã có tiếng tăm, Lê Cung Bắc được thuyên chuyển về đơn vị không tác chiến. Như thế, dù mang cấp bậc cuối cùng là Thiếu Úy, Lê Cung Bắc làm sĩ quan chỉ là việc bất đắc dĩ, nên chưa thể gọi là nghề quân nhân.
 
Nghề thực sự của Lê Cung Bắc thuộc lãnh vực kịch nghệ và điện ảnh.
Ở lãnh vực này, anh vừa là diễn viên, vừa viết kịch bản, vừa đạo diễn, tài năng được đánh giá cao với nhiều giải thưởng, và được Nhà Nước công nhận danh hiệu Nghệ Sĩ Ưu Tú. Qua kịch nghệ và điện ảnh, Lê Cung Bắc đã thành danh và nổi tiếng ở tầm mức quốc gia, thậm chí ở tầm mức quốc tế - ở trang 95 và 96 của Hồi Ký, Lê Cung Bắc kể: “Một điều thú vị là lúc tôi đang trong nhà binh mà lại được vinh dự đại diện cho ngành kịch nói Sài Gòn (dạo đó gọi là thoại kịch) sang Pháp và Canada nghiên cứu về lãnh vực này, đồng thời tham dự Liên Hoan Thanh Niên Thế Giới Các Quốc Gia Nói tiếng Pháp; tại Liên Hoan, tôi được mời làm trợ lý cho đạo diễn người Pháp khá nổi tiếng Caude Jerry để dựng vở kịch Les Nègus; sở dĩ tôi được chọn vì tôi đã khá nổi tiếng trong giới kịch nghệ và giỏi tiếng Pháp”.
*
Lê Cung Bắc giỏi kịch nghệ mà không học trường Kịch Nghệ - điều khiến tôi và có thể nhiều người thắc mắc.
Tôi lượm lặt những lời anh kể rải rác trong hồi ký để tìm giải đáp:
 
1- Lê Cung Bắc có năng khiếu bẩm sinh về kịch nghệ. Năng khiếu ấy thừa hưởng từ gia đình. Anh (con mẹ nhất) của Lê Cung Bắc là ông Lê Hữu Khải học thủy lâm, ra đời công tác trong ngành thủy lâm, nhưng lại có máu kịch nghệ. Cuối thập kỷ 1950, lập ban kịch Xây Dựng diễn tại hội Quảng Tri Huế, biên soạn và dàn dựng nhiều vở kịch. Ông Lê Hữu Khải còn nghiên cứu chuyên sâu về kịch nghệ, biên soạn công trình nghiên cứu được học giới đánh giá cao; vì vậy, từ giữa thập kỷ 1960, ông Khải được mời dạy kịch nghệ tại Đại Học Văn Khoa và Đại Học Sư Phạm Huế với tư cách học giả.
 
2- Lê Cung Bắc mê đọc truyện kiếm hiệp từ lúc còn học tiểu học. Truyện kiếm hiệp chứa đựng nhiều kịch tính. Mang dòng máu thích kịch nghệ, Lê Cung Bắc đã nghĩ ra và dàn dựng những vở kịch ngắn trong thời gian học tiểu học và trung học. Các vở diễn nào cũng được nhà trường khen thưởng và đồng môn đồng khóa tán dương.
Thời gian ở Đà Lạt, Lê Cung Bắc đã cùng bạn bè lập ban kịch, dàn dựng và diễn những vở kịch dài hơi của các kịch tác gia nổi tiếng (“Người viễn khách thứ mười” của Nghiêm Xuân Hồng, “Thành Cát Tư Hãn” của Vũ Khắc Khoan …). Vở diễn nào cũng được khán giả và giới sinh viên tán tụng; giáo sư Vũ Khắc Khoan, kịch tác gia, còn khen “Các anh chị diễn còn hay hơn sinh viên trường Quốc Gia Kịch Nghệ Sài Gòn”.
Dù vẫn biết rằng Lê Cung Bắc có tài diễn xuất, có tài dàn dựng Trời ban, những lời đánh giá tích cực ban đầu từ công chúng, bằng hữu và các bậc thầy vẫn là nguồn khích lệ cho sự bùng nở tài năng nơi Lê Cung Bắc.
 
3- Việc Lê Cung Bắc tiến sâu, tiến xa được trong lãnh vực kịch nghệ và điện ảnh còn nhờ anh thông minh về trí tuệ, đẹp trai về nhân dạng. Đó là dựa theo lời kể của anh và theo nhận xét từ công chúng và từ bạn bè anh. Còn tôi, tiếc là chưa có may mắn gặp mặt anh lần nào.
 
4- Việc Lê Cung Bắc trở nên lỗi lạc trong lãnh vực kịch nghệ và điện ảnh cũng nhờ anh am hiểu nhiều về triết học, văn học, sử học … Với lại, ngành học chính trị kinh doanh, bang giao quốc tế cũng giúp anh kỹ năng thu phục lòng người, sử dụng người đúng vai, đúng vế, biết quản lý và sắp xếp công việc hợp tình hợp lý.

*
Tập Hồi Ký BỤI CÁT CHÂN MÂY dài đến 224 trang, in trên giấy tốt, thiết kế và trang hoàng bìa mỹ thuật, chứa đựng nhiều nội dung về cuộc đời của anh Lê Cung Bắc.
 
Trong tâm trạng vui mừng được tặng sách, tôi đọc vội vàng và sau khi đọc xong, trong tâm trí tôi lắng đọng lại những điều mà tôi đã ghi trên đây.
 
Bài viết của tôi là sự bày tỏ lòng mến mộ của tôi đối với anh – một đồng trang tài năng (anh sinh 1946, tôi 1944), là sự tự hào của tôi về anh – một đồng hương, đồng môn nổi danh (cùng quê Quảng Trị, cùng gia đình trường Nguyễn Hoàng cũ), là nén hương lòng tưởng niệm và cầu nguyện cho linh hồn anh thảnh thơi nơi Tiên cảnh, cuối cùng, là lời cảm ơn gởi đến cô Bùi thị Giang – vợ anh - cùng các cháu – con anh - đã nghĩ đến tôi, gởi sách với lời ghi tặng thân thương: “Thân quý tặng thầy Hoàng Đằng”
 
13/6/2023
Hoàng Đằng

READ MORE - TÔI ĐỌC HỒI KÝ “BỤI CÁT CHÂN MÂY” CỦA ĐẠO DIỄN LÊ CUNG BẮC (1946 – 2021) – Hoàng Đằng

Wednesday, November 12, 2008

Lê Cung Bắc - HÀNH HƯƠNG VỀ ĐẤT PHẬT

Đoàn làm phim Sena tại Bồ Đề Đạo Tràng

Đạo diễn Lê Cung Bắc ở Nepal


NSƯT Lê Cung Bắc

Hành hương về đất Phật



Rằm tháng giêng Mậu Tý, bộ phim Duyên trần thoát tục sẽ công chiếu tại các rạp trên toàn quốc. Đạo diễn Lê Cung Bắc đã đến đất Phật ở Nepal, để quay ngoại cảnh cho bộ phim


Buổi sáng mùng 2 Tết, tại Tĩnh Tâm cốc ở nhà Lê Cung Bắc, bên tách trà thoảng hương sen, anh trầm ngâm kể công việc thực hiện bộ phim đã ảnh hưởng đến đời anh.


Khởi đầu từ nhân duyên
Từ nhỏ, Lê Cung Bắc được quy y với pháp danh Tâm Thí. Lớn lên, anh nghiên cứu nhiều kinh Phật và thầm ước ao có dịp hành hương về đất Phật. Đầu năm 2007, nhà biên kịch Phạm Thùy Nhân đưa anh kịch bản Duyên trần thoát tục. Nội dung nói về cô gái Lệ Quyên trong chuyến hành hương đến đất Phật, một nhà sư già đã tặng cô một cuốn kinh viết bằng chữ Phạn. Dù không biết chữ Phạn nhưng khi mở cuốn kinh ra, Lệ Quyên đã thấy được những tiền kiếp của cô... Từ cái “nhân” là kịch bản phim đó, tháng 3-2007, Lê Cung Bắc cùng diễn viên Việt Trinh (vai Lệ Quyên) và đoàn làm phim Sena lên đường sang Nepal.


Nửa tháng ở đất Phật, đoàn làm phim đã quay ngoại cảnh ở Lâm Tỳ Ni – nơi Phật sanh; Bồ đề đạo tràng – nơi Phật đắc đạo; vườn Lộc Uyển – nơi Phật chuyển pháp luân lần đầu tiên; núi Linh Thứu – nơi Phật thuyết pháp; Câu Thi Na – nơi Phật nhập niết bàn. Ngoài những cảnh quay sử dụng cho phim Duyên trần thoát tục, đoàn đã quay thêm rất nhiều cảnh để làm bộ phim tài liệu Hành hương về đất Phật sẽ phát hành vào dịp lễ Phật đản năm nay.


Theo đạo diễn Lê Cung Bắc, có một cảnh quay mà anh nghĩ do “duyên” mới có được. “Đó là buổi chiều sau khi quay xong cảnh ở Bồ đề đạo tràng, chúng tôi chuẩn bị trở về khách sạn để nghỉ thì thấy rất đông người kéo đến. Người hướng dẫn gốc Ấn Độ đi hỏi một vị sư rồi cho chúng tôi biết đêm nay có lễ lớn. Phật tử khắp nơi trên thế giới về đây làm lễ. Chúng tôi đã ở lại. Đêm đến, mấy chục ngàn người thắp nến sáng rực rỡ, tụng kinh thành kính, lễ ngũ thể đầu địa (lạy nằm dài, đầu chạm đất). Chúng tôi đã có dịp phỏng vấn một số nhà sư đến từ Thái Lan, Lào, Sri Lanka... Cảnh ấy dù có tiền cũng khó mà thực hiện được”.
*
Đến luật nhân quả
Cuối của bộ phim Duyên trần thoát tục là cảnh cô Lệ Quyên ngồi trên thuyền trôi trên sông Hằng và nghiệm ra rằng: Tất cả mọi việc trong đời đều do nhân quả, đúng như lời Phật dạy: “Muốn biết nhân kiếp trước hãy nhìn cái quả của kiếp này. Muốn biết cái quả của kiếp sau, hãy nhìn cái nhân của kiếp này”.


Tôi hỏi Lê Cung Bắc về vai diễn của Việt Trinh. Anh cho biết: “Việt Trinh đóng rất đạt vì đó là tâm nguyện của cô. Cô đã ngộ ra nhiều điều. Nhìn lại mình, nhìn lại quá khứ để hướng tới cái tốt đẹp hơn. Như một câu kinh Phật: Biển khổ mênh mông, quay đầu lại thấy bờ.”


Còn đối với Lê Cung Bắc, sau chuyến hành hương về đất Phật, anh đã thay đổi cái nhìn về mình và về người. “Về mình, tôi sẽ sống bớt tham sân si (chấp ngã). Vì còn chấp ngã là còn tạo nghiệp, còn sinh tử luân hồi. Về người, tôi sẽ sống hỉ xả hơn. Trước giận mười phần giờ chỉ còn một, hai vì nghĩ nguyên nhân đó do mình tạo ra nên người ta mới làm việc đó”. Bộ phim Duyên trần thoát tục mang thông điệp: Nếu sống bằng tình thương (từ bi hỉ xả), con người sẽ có hạnh phúc. Và 2/3 tiền thu được của bộ phim sẽ dành để giúp đỡ trẻ mồ côi ở Việt Nam, Ấn Độ, Nepal.



Khi chia tay, đạo diễn Lê Cung Bắc tặng tôi một chiếc lá bồ đề anh hái từ cội bồ đề nơi đức Phật ngồi đạt đạo. Anh mỉm cười không nói gì. Anh muốn chiếc lá sẽ giúp tôi hiểu về đời đức Phật, về tâm nguyện của anh hay về nhân duyên?


Thạch Biền

09-02-2008

http://www.nld.com.vn/tintuc/van-hoa/nguoi-cua-cong-chung/214792.asp
READ MORE - Lê Cung Bắc - HÀNH HƯƠNG VỀ ĐẤT PHẬT