Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, January 17, 2026

THƠ CHÂU LỆ DUNG - MỘT GIỌNG THƠ NHẸ NHÀNG LÃNG MẠN VÀ KHÔNG KÉM PHẦN KHẮC KHOẢI

 


 THƠ CHÂU LỆ DUNG 

- MỘT GIỌNG THƠ NHẸ NHÀNG LÃNG MẠN 

VÀ KHÔNG KÉM PHẦN KHẮC KHOẢI

 

 “Thơ tình không gửi”: có những tình yêu không cần gửi trao, có những nỗi nhớ không cần đích đến, và có những vần thơ chỉ cần được viết ra như một lẽ tự nhiên của tâm hồn.

 

Đây là tác phẩm đầu tay của Châu Lệ dung, xuất bản trong quý IV năm 2025. Tập thơ gồm hai phần: Phần một (cũng là phần chiếm chiếm ưu thế) là thơ, phần 2 có thêm 10 bài tản văn. Nội dung cho thấy những tâm sự vui buồn đem gửi gắm vào thơ như một sự cứu cánh. Nhờ câu chữ, chị giải bày cảm xúc, làm cho cuộc sống tinh thần thêm phong phú và giúp người ta vượt lên trên những bộn bề của cuộc sống.

“Thơ tình không gửi” bởi có những tình yêu không cần gửi trao, có những nỗi nhớ không cần đích đến, và có những vần thơ chỉ cần được viết ra như một lẽ tự nhiên của tâm hồn. Tập thơ “Thơ tình không gửi” của Châu Lệ Dung chính là một dòng chảy tự nhiên như thế - chắt lọc từ những thăng trầm, mất mát và cả sự kiên cường lặng lẽ của một đời người.

Xuất thân từ vùng đất Bạc Liêu, nơi giao thoa của văn hóa, đất và người, Châu Lệ Dung mang trong mình chất hào sảng của miền sông nước cùng sự sâu lắng của một nhà giáo từng gắn bó với Sài Gòn. Hiện tại định cư tại Hoa Kỳ. Là người xa xứ, như những người khác, chị đã tần tảo làm lụng nuôi hai con gái ăn học nên người, gác lại những ước mơ riêng để ươm mầm cho tương lai thế hệ sau. Và giữa nhịp sống hối hả nơi xứ người, thơ ca đã trở thành chốn dung thân, là nơi chị trở về với chính mình, với những yêu thương chưa bao giờ thôi khắc khoải.

“Thơ tình không gửi” - nhan đề ấy tự thân đã chứa đựng một nỗi niềm. Đó là thứ tình cảm đong đầy nhưng không thể, hoặc không cần, cất thành lời trao đi. Nó tồn tại như một sự hiển nhiên, một mạch ngầm trong trẻo vỗ về tâm hồn người viết. Chị viết về tình yêu có dáng hình xưa, có kỷ niệm và có những nỗi nhớ chưa thể nguôi ngoai. Tất cả được viết bằng một giọng thơ nhẹ nhàng, lãng mạn và chừng mực của phong cách một nhà giáo.

Tập thơ được diễn đạt bằng nghệ thuật đa dạng phong phú qua nhiều thể loại, từ thơ lục bát truyền thống, thơ tự do, đến thơ 5 chữ, thơ 7 chữ, thơ 8 chữ, song thất lục bát và cả thơ Đường luật. Sự đa dạng ấy không phải là sự trình diễn kỹ thuật, mà là minh chứng cho một tâm hồn phóng khoáng, không chịu gò mình trong một khuôn khổ nào, luôn tìm tòi để diễn đạt trọn vẹn nhất mọi cung bậc cảm xúc.

Mở đầu tập thơ là những câu thơ đầy hình ảnh và màu sắc:

“Đã thấy chiêm bao vài bữa trước

lang thanh trời đất nắng vàng bung

Hình như hoa cỏ dùng gương lược

Chải đẹp thinh không cả một vùng”

Đó là một giấc mơ đẹp, tinh khôi và trong trẻo lạ thường. Nhưng ngay sau khoảnh khắc xuất thần ấy, hiện thực ùa về với những “hao hụt”, với “từng giọt hoàng hôn thoáng nhẹ bay”. Sự chuyển dịch cảm xúc ấy xuyên suốt tập thơ, tạo nên một nhịp điệu riêng: giữa mộng và thực, giữa ký ức và hiện tại, giữa quê hương và nơi định cư.

Hình tượng trung tâm, xuyên suốt và ám ảnh nhất trong thơ Châu Lệ Dung chính là “em”- người đàn bà. Một người đàn bà được khắc họa với đầy đủ những phẩm chất đẹp đẽ và cả những trăn trở, tổn thương:

“Em người đàn bà không ích kỷ

Tụng bộ kinh đời đãi tha nhân

Em người đàn bà tiền không thắng

Vẫn mãi nhớ nhà có con sông”

“Em” hiện lên với một tấm lòng vị tha, rộng mở “kinh đời đãi tha nhân”, không bị vật chất trói buộc “tiền không thắng”, nhưng luôn da diết hướng về cội nguồn, về “con sông” tuổi thơ. Đó là hình ảnh của sự hy sinh thầm lặng, của một sức chịu đựng phi thường nhưng cũng đầy mong manh: “Em người đàn bà nhiều lỡ hẹn/ Khung trời khoảng trống rối đường tơ”. Chữ “rối” dùng thật đắt, nói lên cả một tâm trạng bề bộn, ngổn ngang của đời sống nội tâm.

Và trong hành trình tự vấn ấy, ký ức là điểm tựa vững chắc nhất. Ký ức về quê hương hiện lên trong thơ chị không phải bằng những hoài niệm sầu muộn, mà bằng những hình ảnh chân thực, sống động, đầy sức sống:

“Nhớ quê nhà nhớ cánh đồng êm ả

Sáng tinh sương con trâu đã đi cày…

Thấy đất trời cỏ hoa dường thân mật

Nó lời gì mà đồng lúa xôn xao”

Đọc những câu thơ ấy, ta nghe như có hơi thở của đồng quê, thấy được cái rung động tinh vi của cỏ cây, đất trời. Tình yêu quê hương trong thơ Châu Lệ Dung là một tình yêu cụ thể, nồng nàn và tự nhiên như hơi thở.

Sâu đậm hơn cả trong dòng chảy ký ức ấy là hình bóng người mẹ. Nếu những bài thơ tình khác có thể là “không gửi”, thì những vần thơ về mẹ lại là món nợ tinh thần phải trả, phải cất lên cho thỏa lòng thương nhớ:

“Nhớ rất rõ, rất rõ

Dáng mẹ đi chợ về

Lấy ra từ cái giỏ

Phần ăn sáng từng người”

Sự giản dị của khổ thơ lại chứa đựng sức nặng của tình mẫu tử. Hình ảnh “phần ăn sáng từng người” là chi tiết nhỏ nhưng vô cùng xúc động, nói lên sự tảo tần, chắt chiu và tình yêu thương vô bờ của mẹ. Và rồi, đứa con trong chị, dù đã trưởng thành, vẫn luôn khắc khoải: “Đứa trẻ trong tôi nhớ mẹ hoài/ Công nuôi dưỡng dục tháng năm dài”. Đó là tiếng lòng chung của bao người con xa xứ, luôn mang theo nỗi nhớ và lòng biết ơn vô bờ bến.

Thơ Châu Lệ Dung, vì thế, là hành trình đi tìm lại chính mình, đi tìm sự cân bằng giữa hai thế giới. Chị viết về nỗi cô đơn, về những “muộn phiền” mà cũng viết về khát khao hòa hợp với đất trời, với cuộc sống. Giọng thơ khi thì thầm, sâu lắng “Khe khẽ nhớ”, khi day dứt, suy tư “Giấc đêm qua”, lúc lại phảng phất một nỗi buồn đẹp, rất thực“Lật ngược lá cuối mùa/ Úa vàng hơn quá nửa”.

Phần tản văn trong tập thơ chính là sự bổ sung, mở rộng và giải mã cho những cảm xúc được cô đọng lại trong thơ. Nếu thơ là những khoảnh khắc chớp nhoáng, những tứ thơ hàm súc, thì tản văn là dòng chảy trầm tư, kể lại những câu chuyện đời, những chiêm nghiệm thấm đẫm chất nhân văn.

 

Hình chụp tại buổi ra mắt tập thơ "Thơ Tình Không gửi"

      “Thơ tình không gửi” của Châu Lệ Dung vượt ra ngoài khuôn khổ của một tập thơ thông thường. Nó là nhật ký tâm hồn, là bản sonate của một cuộc đời với đủ các cung bậc: hoài niệm, nhung nhớ, tan vỡ, kiên cường và yêu thương. Nó cho thấy sức mạnh của ngôn từ trong việc chữa lành và giúp con người ta đứng vững trước những xáo trộn của số phận.

 

Hình chụp tại buổi ra mắt tập thơ "Thơ tình không gửi"

       Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc một tiếng thơ chân thành, một tâm hồn đẹp và một tấm lòng luôn hướng về quê hương, dù đã đi qua nửa vòng trái đất. Những vần thơ ấy, dù “không gửi”, nhưng chắc chắn sẽ tìm được lối đi vào trái tim của những người đồng điệu, những con người luôn mang trong mình nỗi nhớ về một miền quê yêu dấu và niềm tin yêu vào cuộc sống.

Saigon, ngày 3/9/20225

Hoàng Thị Bích Hà

 habich1963@gmail.com

 

READ MORE - THƠ CHÂU LỆ DUNG - MỘT GIỌNG THƠ NHẸ NHÀNG LÃNG MẠN VÀ KHÔNG KÉM PHẦN KHẮC KHOẢI

CON SÁO SANG SÔNG - Thơ Trần Hữu Thuần

 

Nhà thơ-nhạc sĩ Trần Hữu Thuần

Con Sáo Sang Sông

Trần Hữu Thuần

 

 

Chợt nghe xao xuyến trong lòng,

Chừng như con Sáo bên sông quay về (1),

Trên môi giọt nóng si mê,

Ôi chao, con Sáo ủ ê giọng trầm.

 

Từng không xám ngắt lặng câm,

Tuyết mênh mông tuyết âm thầm tuyết rơi,

Bay bay như lòng chơi vơi,

Ai đày con sáo lạc nơi trần hoàn.

 

Em ơi, đời, kiếp tân toan,

Đắng cay là chén, trái oan là tình,

Sẩy chân lỡ bước phù sinh,

Tay chàm trót lỡ, thôi đành đành thôi.

 

Chợt nghe lòng lạnh đơn côi,

Ai đem được Sáo xa xôi quay về,

Gian nan cách trở Tấn Tề,

Đầu Nam cuối Bắc cận kề được không?

 

Giá băng lạnh lẽo mênh mông,

Sang sông con Sáo sổ lồng bay xa.

 

(Grand Rapids, Michigan 17 / 01, 2026)

(1) “Ai đem con Sáo sang sông,

Để cho con Sáo sổ lồng nó bay.” (Ca dao)

T.H.T.

jbtranthuan@hotmail.com

 

 

 

 

 

 

 

READ MORE - CON SÁO SANG SÔNG - Thơ Trần Hữu Thuần

GIỮA TRỜI HƯ VÔ - Thơ Huỳnh Liễu Ngạn

  


HUỲNH LIỄU NGẠN 

GIỮA TRỜI HƯ VÔ

 

anh về ăn bát canh dưa

lắng nghe một tiếng gà trưa não nùng

từ khi xa núi xa rừng

xa con sông rộng giữa trùng vây đêm

 

tình em giọt nước hắt thềm 

giọt mưa cũng lạnh nỗi niềm trả vay

trắng tay một kiếp đời này

đành như ngọn cỏ lưu đày héo khô

 

nghìn năm mấy trắng xô bồ

vết thương thành bóng trăng nhô nẻo về

như con cò lội bờ đê

cành mềm đậu phải dòng khê xa rồi

 

chân còn xước một biển khơi

nên không thể để bốc hơi lên trời

quê nhà xa lắm ai ơi

nhớ thương như đá tảng trôi vào lòng

 

ước làm dòng nước thong dong

hòa cùng nhịp đập lưu vong xứ người

mai sau còn một tiếng cười

đã tan thành bụi giữa trời hư vô.

 

6.1.2026

 

HUỲNH LIỄU NGẠN

hiephuynh479@gmail.com

Tranh: Đinh Trường Chinh


 

READ MORE - GIỮA TRỜI HƯ VÔ - Thơ Huỳnh Liễu Ngạn

CHÙM THƠ 1981 ĐƯỜNG LUẬT - Lưu Lãng Khách

 


BỎ HỌA

 

Thầy dạy cho em bước khởi đầu

Em nào có vẽ được chi đâu

Nhỏ to cần giấy không còn giấy

Đậm nhạt mầu tô chẳng có mầu

Bút mực nét thường không đẹp mấy

Bút chì hay ấn lẹm nông sâu

Đồi non dạo ấy xa thầy mãi

Bỏ họa em nay đã biết sầu.

                Hạ 1981

        Duy Toàn Bàu Đình

         

CON BIC

 

Chó Bic nhà tôi lưỡi mãi lè

Bà con đến sợ nó hăm he

Thanh niên lực lưỡng bao phen khiếp

Lóc nhóc choi choi mấy bận tè

Trước cửa phòng canh ngồi chễm chệ

Sau nhà bảo vệ đứng le le

Người quen gượm hỏi sao kinh thế

Nó phẩy phe đuôi liếm liếm thè.

 

 

LỰC SĨ HUỲNH CHƠI

 

Phải nói đường phuy không dễ nhích

Huỳnh Chơi sư phụ là vô địch

Nghiêng người giạng háng bắp to banh

Xuống tấn dang tay cơ chắc nịch

Một cú ôm lên đã đạt thành

Hai lần đặt xuống đều ngay đích

Tên đồn trâu nước thiệt y danh

Ba tạ phuy đường đâu dễ nhích.

             Hạ 1981

         

MƯA ĐÔNG TRỄ HỌC

 

Mưa về trông thấy ghét

Xám xịt còn giông sét

Tối đất đạp lao nhanh

Mù trời băng giá rét

Áo tơi phạch phạch phành

Nhẹp nhẹp sa bô khét

Trễ học đã quen danh

Đường xa phi gió thét.

         Đông 1981

    Duy Toàn Bàu Đình

 

MƯA KHỔ

 

Trời tuôn như thác đổ

Đi học mùa mưa khổ

Đạp vắt cẳng mươi cây

Ổ gà trăm mấy lỗ

Đông về học quá gay

Hạ đến xong cùng cố

Khánh đã chuyển sê hai (C2)

Còn Giao kề mấy độ.

             Đông 1981

     Duy Toàn Bàu Đình xứ

 

NHẢY TƯỜNG

 

Cổng đóng nên ông phải nhảy tường

Đường xa cộc cạch sớm tinh sương

Quanh năm trễ học thầy cô chán

Mỗi sáng canh chờ Bác Nhượng thương

Cả khóa phi vèo qua trót lọt

Đôi lần líu quíu cẳng tay vương

Nhà nghèo rõ chán xe hư mãi

Nhẵn mặt thầy cô thấy cũng thường.

 

                                 Hạ 1981

                     

PHƠI CỦ

 

Đẩy cát trương bằng như mặt cót

Bao nừng củ sắc không cần lót

Thay cha nắng đổ củ ra phơi

Giúp mẹ mưa tuôn khoai vào sọt

Xuân hạ mấy sào nuốt nghẹn hơi

Thu đông chục mủng nhai ớn ót

Nhà nghèo mãi độn thiếu cơm xơi

Chống đói phơi khô phòng mối mọt.

            Xuân hè 1981

          Duy Toàn Bàu Đình

 

TỚ LẠI ĐỜN

 

Chán vẽ buồn thơ tớ lại đờn

Từ khi có nhỏ đã đời hơn

Không lo nắng quá thêm niềm lẻ

Chẳng ngại mưa nhiều lắm nỗi đơn

Sôn phốc bùm bum bừng khí thế

Sì lô mướt mát nhẹ tay mơn

Tân gô ba lát cùng bô lé

Chán vẽ buồn thơ tớ lại đờn.

            Hạ 1981

        Duy Toàn Bàu Đình 

 

TỰ NHIÊN THÈM CẮT CỎ

 

Lâu rồi không cắt cỏ

Chợt thấy nơi đầu ngõ

Bốn đứa quảy khiêng đầy

Hai thằng ôm vác nhỏ

Anh Ba quảy gánh thay

Tụi trẻ mừng vui ngó

Bé thuở nọ nghiêng mày

Tự nhiên thèm cắt cỏ.

             Hè 1981

  Duy Toàn Bàu Đình xứ

 

THƯƠNG CON THÌ MẸ KHỔ

 

Hôm kia trời mưa đổ

Sấm sét như bom nổ

Mẹ lẳng lặng ra đồng

Con nằm khuynh ấm tổ

Liên hồi mấy trận giông

Chớp giật thêm vài vố

Ngủ dậy thấy me gồng

Thương con thì mẹ khổ.

             Hè 1981

      Duy Toàn Bàu Đình xứ

 

From:  Nguyễn Duy Toàn luulangkhach@gmail.com

 

READ MORE - CHÙM THƠ 1981 ĐƯỜNG LUẬT - Lưu Lãng Khách

CÂY NÊU TÂM ẢNH - Trần Kiêm Đoàn

 


CÂY NÊU TÂM ẢNH

 

Bụt trong văn hóa Việt Nam là một hiện thân vừa nhân hậu vì hay cứu khổ giúp đời mang hình ảnh đức Phật, vừa là vị thần linh có quyền phép trấn tà, trừ vọng mang hình ảnh thần thánh. Đó là biểu tượng hiền thần, hỷ thánh trong nếp sống tinh thần dân gian Việt Nam. Hễ nơi nào có đau khổ, bất công, nguy khốn là có Bụt hiện lên cứu cấp. Người Việt đi vào đời bằng Bụt, rồi đi sâu vào đạo bằng Phật.

 

Trong tâm thức Việt:

Bụt là cánh cửa tâm hồn, nơi lòng tin nhân hậu được gieo.

Phật là con đường dấn thân tiếp nối vào đời, nơi trí tuệ và giải thoát được mở ra.

 

Cây nêu ngày Tết Việt Nam là tâm ảnh về Bụt, là bài học đầu thật dễ thương của tuổi thơ; là sự khôn ngoan mềm dẻo của người dân hiền trừ ma, ếm quỷ hung ác thường tìm cách dẫn lối đưa đường; là tinh thần khôn ngoan của người dân chân đất giữ làng giữ nước được sự mách bảo quyết đoán mà hiền từ, đơn thuần mà trí tuệ của Bụt.

 

Bởi thế, cứ đến ngày 23 tháng Chạp, khi các ông Táo cả nước cưỡi cá chép lên chầu Ngọc Hoàng Thượng Đế, sợ nhà cửa bị bỏ trống, ma quỷ kéo vào xâm hại nên người ta phải cắm cây nêu mời tổ tiên và thiện trụ “ăn oản giữ nhà”. Nhìn ngọn nêu tre cao vút phất phơ trong gió, người âm cũng như người dương đều dường như bắt gặp tín hiệu an hòa của Bụt với chiếc áo cà sa cổ tích trãi rộng trên đầu ngọn tre để che bóng cho con người với câu nói của người Mẹ mở rộng vòng tay che chở, bao che nhân gian trước móng vuốt ma quỷ đang chực chờ xâu xé: “Bóng áo cà sa che mặt trời trải rộng tới đâu thì quỷ sứ phải tránh ra để nhường đất lại cho người.” Mảnh đất tâm linh đã trải dài xa rộng mênh mông. Phần che nắng, phủ đất bên ngoài chỉ mới là không gian đo đếm được; mảnh đất bên trong mới chính là giang sơn vô biên của con người níu ngọn cây nêu, giải trừ quỷ sứ theo dòng cổ tích văn hiến Việt Nam.

 

Niềm tâm cảm dân gian tin rằng, cây nêu là một nhịp cầu nối tâm linh giữa nhân thế và cõi vô hình. Con người thấp cổ bé miệng nên phải nhờ cây tre cao vút. Trên ngọn tre có treo phong linh để tạo ra âm thanh cảnh báo. Có luôn cả các vật dụng ra mắt và phẩm vật chân quê như cau, trầu, thuốc, rượu... cùng lễ nghi với lời khấn nguyện được viết trên mực Tàu giấy đỏ treo dọc theo thân tre. Sự giao tiếp giữa hai thế giới qua nhịp cầu tre chân phương mà huyền nhiệm: Đó là cây nêu ngày Tết – Cây Nêu Tâm Ảnh. Khi hình tượng đã an trú trong tâm ảnh, mọi thước đo của nhân gian đều trở nên bất lực; bởi ký ức ấy không thuộc về một đời người, mà thuộc về chiều sâu lặng lẽ của nhiều thế hệ. 

 

Năm mươi năm qua, người Việt đã có dịp tỏa ra khắp bốn phương trời. Mỗi người có thể khác nhau về giới hạn địa phương, hoàn cảnh xuất thân, điều kiện kinh tế, xã hội... nhưng trong cùng thẳm của mỗi tấm lòng đều lắng đọng tâm ảnh quê hương; trong đó, cây nêu tâm ảnh vẫn hiển hiện và nhắc nhở những bóng dáng nguồn cội. Cứ ngỡ rằng khi xa thì lòng cũng vắng, như xa mặt cách lòng; nhưng có trải nghiệm những năm dài tha hương rồi mới hiểu, ai cũng mang trong mình một quê hương thiên cổ để trở về.

 

Tôi xa Huế đã 44 năm. Nhớ cái Tết xa nhà đầu tiên năm 1982 ở trại tạm cư Chi-Ma-Wan, đảo Hồng Kông. Phút Giao Thừa im ắng, cả đoàn người mới ly hương ra đứng nhìn biển Đông chìm trong đêm tối, hướng về vùng trời Quê Mẹ Việt Nam mà tưởng tượng ngọn nêu mang chút chân trời viễn xứ có chăng giọt nước mắt thương mẹ, nhớ nhà. Biền biệt từ đó, 43 cái Tết đi qua hơn nửa sau đời mình. Những cái Tết tiếp theo chỉ còn là ý niệm trong ký ức khó phai mờ. Tết không ở quê hương thì nơi nào mà chẳng Tết khi cây nêu tâm ảnh đã mang đậm dấu ấn quê hương đầy đạo vị trong thần trí và tâm tưởng của chính mình.

 

Quê hương là Đất Tổ nơi mình sinh ra, là cửa ngõ để vào đời; nhưng không phải là nơi duy nhất để mình dựng được cây nêu đón thiện thần và hồn thiêng sông núi trong dịp Tết đến, Xuân về.

 

Trong số 130 quốc gia trên toàn thế giới, có khoảng 6.5 triệu người Việt đang sinh sống thì riêng Hoa Kỳ là đất nước “kỳ khôi” hơn cả. Tuy chỉ có 5 chủng tộc chính thức là đen, vàng, đỏ, trắng, nâu nhưng có tới 300 sắc dân. Hàng năm có từ 8 đến 10 “Năm Mới” thành văn nhưng có tới hàng mấy mươi kiểu “Tết” theo phong vị đất lề quê thói để chúc mừng nhau Năm Mới.

 

Từ khoảng thập niên 2010, và trở nên rõ nét sau năm 2020, trong bối cảnh xã hội phương Tây ngày càng ý thức sâu về tính đa văn hóa, danh xưng “Tết Trung Hoa” (Chinese New Year) dần được thay bằng “Tết  Âm Lịch” (Lunar New Year). Sự chuyển dịch này không nhằm phủ nhận vai trò lịch sử của văn hóa Trung Hoa, mà để nhìn nhận thực tế rằng Tết Âm lịch là di sản chung của nhiều nền văn hóa Đông Á, trong đó có Việt Nam, Hàn Quốc và Triều Tiên đã nói lên một không gian ký ức rộng mở, nơi nhiều quê hương cùng có quyền trở về.

 

Cứ ngỡ mình lâu ngày, xa quá dần quên, nhưng thật lạ lùng, thế giới ngày xưa càng ngày càng hiển hiện. Tuổi đời càng cao, ký ức càng mỏng lại; bao nhiêu hình ảnh xuôi ngược bốn phương nhạt dần với bộ nhớ phôi pha cho cây đa bến cũ, cây nêu ngày Tết thời xa xưa hiện về:

 

“Ảnh bất tại ngoại, tâm tức kỳ nguyên:”

Ảnh không lơ lửng ở ngoài,

Tâm là nguồn cội quan hoài bóng xưa.    

 

Hơn nửa đời người xa quê hương, quãng đường ấy đủ dài để những hình ảnh bên ngoài dần mờ đi, nhưng cũng đủ sâu để những gì thuộc về tâm lại hiện rõ hơn.

 

Trong hành trang của người Phật tử sống xa quê, có những thứ không thể mang theo bằng vali, nhưng vẫn theo mình rất bền. Cây nêu là một trong số đó. Mùa Tết ở xứ người, ngoài một số chùa viện Phật giáo và các trụ sở hội đoàn người Việt còn có nơi dựng nêu như một biểu tượng truyền thống văn hóa, nhà tư nhân không ai dựng cây nêu trước sân. Nhưng lạ thay, mỗi khi năm cũ sắp khép lại, trong tôi lại hiện lên rất rõ hình ảnh một cây tre thẳng, mảnh, đứng lặng lẽ giữa trời đất.

 

Cây nêu trong ký ức tuổi nhỏ là dấu hiệu của Tết. Cây nêu trong tâm ảnh của tuổi già lại là dấu hiệu của sự dừng lại. Tôi không còn nghĩ cây nêu là để xua đuổi điều gì bên ngoài.

 

Sống đủ lâu, đi đủ xa, người ta hiểu rằng những thứ cần xua đuổi nhất không nằm ngoài cổng, mà nằm rất sâu trong chính mình: lòng tham, nỗi giận và thói quen bảo thủ là sự bám chấp một đời dễ đâu buông xả. Nhưng cây nêu, khi đi vào Phật giáo và đi sâu vào tâm thức, trở thành một lời nhắc cần buông bỏ sự cố chấp, thay đổi thói quen và làm dịu nhiễu động của năm cũ.

 

Bởi vậy, cây nêu dân gian đã gần gũi và mọc lên ở cửa thiền không chỉ tại Việt Nam mà khắp nơi có “mái chùa che chở hồn dân tộc” của chùa Việt, xứ người. Cây nêu Tết trong sân chùa qua tầm nhìn đại chúng là một pháp khí văn hóa thiền môn.

 

Trong chốn chùa chiền Huế, cây nêu không hiện diện để khuấy động niềm tin, mà để gợi mở sự lắng nghe. Tiếng phong linh theo gió không nhằm đánh thức thực dụng, cũng chẳng mượn phô trương huyễn hoặc. Nó đứng đó, an nhiên tùy duyên với sương gió, vươn cao trong tĩnh lặng, như một cột mốc của tâm theo phong cách người Huế sống đạo: không cực đoan, không ồn ào, không cần chứng tỏ. Cây nêu dạy tôi một bài học rất Huế rằng, đứng vững bằng chính xương sống và thần thái của bản thân và phẩm chất cần thiết của mình: cao không để mà ngự trị, thanh không phải lụy vào hình tướng, dễ tiếp cận không phải tuân phục dễ dàng, nhận lời phó thác mà không cần làm trung tâm.

 

Sống xa quê hơn nửa đời, tôi không còn tìm cách tái hiện Tết Việt cho đủ hình thức. Thay vào đó, tôi dựng cây nêu trong tâm. Mỗi độ Xuân về, tôi tự hỏi: trong năm qua, mình đã để bao nhiêu thứ không cần thiết treo lủng lẳng trong lòng? Bao nhiêu lời nói thừa? Bao nhiêu lo lắng quá mức? Bao nhiêu chấp trước không chịu buông? Trả lời được những câu hỏi ấy, với tôi, đã là một nghi lễ nghinh Xuân.

 

Cây nêu tâm ảnh không cần treo nhiều đồ phụ dụng.


Chỉ cần một tiếng chuông rất khẽ đủ để nhắc mình dừng lại: Dừng một chút trước khi nói để tập thói cẩn trọng. Dừng một chút trước khi phán xét để tránh nỗi oan khiên. Dừng một chút trước khi chạy để ngăn bớt tốc độ đời sống cuốn đi quá nhanh.

 

Là một Phật tử, tôi hiểu rằng, đạo không nằm ở việc mình đang ở đâu, mà ở cách mình đang sống. Cây nêu không cần phải được dựng lên trước mắt người khác. Nó chỉ cần được dựng đúng chỗ trong lòng mình. Khi cây nêu đã đứng vững trong tâm, thì dù ở đâu, Xuân cũng là Mùa Xuân Di Lặc.

 

Hơn nửa đời xa quê, tôi không còn nôn nao tìm lại hình ảnh cũ. Tôi chỉ mong giữ được tinh thần cũ: biết dựng lên một cột mốc lặng lẽ mỗi độ Năm Mới, để tự nhắc mình sống chậm hơn, nhẹ hơn và bớt làm khổ mình cũng như làm khổ người khác.

Và như thế, dù không còn sân nhà để dựng nêu, tôi vẫn biết:


Xuân đã về – khi lòng biết dừng.  

Tay buông tâm xả nhẹ vô ngần.

Cây nêu tâm ảnh không sân trước,

Vẫn chiếu trong ngời một ánh xuân.

 

                                          Sacramento, cuối đông 2026

                                                   Trần Kiêm Đoàn 

                                                 trankiemdoan@gmail.com

 

READ MORE - CÂY NÊU TÂM ẢNH - Trần Kiêm Đoàn