Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, June 17, 2013

Nhân ngày NHÀ BÁO VN, 21.6: "THỰC LÒNG TRI ÂN VÀ NGHIÊNG MÌNH KÍNH PHỤC NHỮNG NHÀ BÁO TỰ DO VIỆT NAM HÔM NAY..." - Lê Thiên Minh Khoa (tổng hợp)

      Tạp chí TIẾNG QUÊ HƯƠNG*: Nhân ngày NHÀ BÁO VN, 21.6 năm nay, nhận được nhiều thư, thơ, bài viết về nghề báo và nhà báo của độc giả nhờ chuyển tới các nhà báo tự do VN. Chúng tôi chọn đăng nguyên văn ba bài, trong đó, bài đầu tiên là bài viết thật sự cảm động.


      THỰC LÒNG TRI ÂN VÀ NGHIÊNG MÌNH KÍNH PHỤC NHỮNG NHÀ BÁO TỰ DO VIỆT NAM HÔM NAY 
      
      Nhân ngày nhà báo VN 21 tháng 6 năm nay, chúng tôi - một nhóm bạn yêu văn chương muốn thổ lộ tấm lòng yêu quí, kính trọng, cảm phục và biết ơn của chúng tôi đối với những người làm báo tự do ở VN hiên nay và  kính nhờ Diễn đàn đăng chuyển tới họ.
     
      Thuật ngữ báo chí tiếng Anh gọi họ là freelance (chiết tự là: cây thương tự do), nghĩa là cây bút độc lập, nhà báo tự do. Họ không thuộc về biên chế một cơ quan, tòa soạn, hãng tin ... thông tin ngôn luận nào, nhưng họ viết cho mọi diễn đàn phù hợp với quan điểm, chính kiến của mình. Họ còn là những người chủ  trương, thành lập và điều hành những diễn đàn phục vụ cho cộng đồng xã hội, không phụ thuộc và phục vụ một phe cánh chính trị nào. Ở Việt Nam ta hiện nay, những freelance nầy chủ yếu hoạt động trong lảnh vực báo mạng. Họ là những người có tâm huyết với đất nước, với nhân dân, yêu nghề báo, có tay nghề cao và muốn dùng ngòi bút, diễn đàn của mình để phục vụ cho dân tộc, đồng bào mình, không có và không vì một lợi ích nào khác. Hiện nay, những người thành lập và chủ biên những tờ báo mạng tư nhân (tự do) ở nước ta chuyên về văn hóa nghệ thuật là những nhà thơ, nhà văn, VNS nổi tiếng , tự nguyện đặt ra mục tiêu tôn chỉ cao đẹp cho diễn đàn của mình và tự giác tuân theo. Nhiều người trong họ đã "tự ý nghỉ việc " ở ban biên tập một tòa soạn hoặc một cơ quan quản lý văn nghệ - báo chí với  nhiều quyền lợi về địa vị, tiền lương, bổng lộc... để "ôm" lấy một mảnh đất nhỏ trên cánh đồng mạng mà lặng thầm "cày" suốt ngày đêm. Giờ thì họ làm việc không lương, không những bỏ công sức mà còn đem cả tiền của ra để nuôi tờ báo của mình. Nào là tiền thuê bao mạng, điện thoại, tiền công cho người phụ giúp, chi phí cho cộng tác viên, giao lưu tiếp khách... đều là từ ngân khố gia đình. Điều chúng tôi cảm phục nhất là nhiều người trong họ mặc dù chẳng phải dư dã gì, nhưng đã từ chối sự tài trợ thường xuyên của các cá nhân và tập thể có lòng. Họ e ngại lệ thuộc về chuyên môn chính kiến cũng có, nhưng nguyên nhân chính là lòng tự trọng ... Và chúng tôi còn biết thêm những điều thú vị về họ: Có người bỏ cả những thú vui chính đáng đời thường mà họ đam mê trước đây (là văn nghệ sĩ mà!) như: giao lưu, liên hoan chè chén, hẹn hò, du lịch v.v... để dồn cả thời gian, công sức cho tờ báo mạng  của mình ...

     Ở đây, chúng tôi đang nói đến những tờ báo mạng tư nhân, độc lập, có uy tín, có địa chỉ công khai, danh chánh ngôn luận hẳn hoi. Họ khác với nhiều diễn đàn cũng tự do, nhưng là tự do phát biểu linh tinh,  thông tục hoặc cực đoan, phá rối... phổ biến trên mạng hiện nay. Những người làm báo chân chính nầy có quan điểm, chủ trương minh bạch, công khai và luôn dũng cảm  giữ gìn,  bảo vệ chủ trương quan điểm của  mình và công lý xã hội. Họ đăng tin bài, tác phẩm văn học  viết về những sự kiện chính trị xã hội nhạy cảm của đất nước hiện nay với một thái độ không thiên kiến, một tinh thần thực sự xây dựng và vì cộng đồng. Nhưng họ cũng phê phán, lên án mạnh mẽ, thẳng thừng  những kẻ a dua, cơ hội, lưu manh chính trị muốn làm rối loạn đất nước để làm lợi cho kẻ khác và phê phán tệ nạn tham nhũng, bất công xã hội ... cũng như vạch mặt những người có chức quyền, địa vị nhưng thờ ơ, bàng quan, "trùm chăn" trước hiện tình nhân dân và hiện trạng đất nước ...  Có thể kể ra đây những diễn đàn tư nhân có uy  tín trên mạng chuyên về văn hóa - nghệ thuật:  nguyentrongtao của nhà thơ nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo, gacvandongnai của nhà văn Khôi Vũ - Nguyễn Thái Hải, tiengquehuong của nhà thơ Lê Thiên Minh Khoa, datdung của VNS Tây Ninh, vannghequangtri của dịch giả Nguyễn Khắc Phước, triamcac của nhà thơ Võ Văn Hoa,  lucbat.com của một nhóm VNS tâm huyết với  thơ ca  dân tộc, triancuocdoi, vandanviet, nguoibanduong (Nga), v.v...
    
      Những người làm báo tự do chân chính ở VN hiện nay đã có nhiều đóng góp  rất hữu ích, hiệu quả cho xã  hội  và cộng đồng. Chỉ riêng trong lãnh vực xã hội, công lao của họ là làm cho nền báo chí - truyền thông nước nhà phong phú, đa dạng, dân chủ hơn, ngôn luận tự do hơn, xã hội hóa báo chí thực sự  và tạo thêm  nhiều  điều kiện, cơ hội  hơn cho người dân bày tỏ tâm tư , khát vọng của mình.

      XIN THỰC LÒNG TRI ÂN  VÀ  NGHIÊNG MÌNH KÍNH PHỤC NHỮNG NHÀ BÁO TỰ DO VIỆT NAM HÔM NAY ĐÃ LẶNG LẼ , ÂM THẦM HIẾN DÂNG CHO ĐỜI, nhân ngày NHÀ BÁO VN
                                                       THÂN HỮU (Sài Gòn)


      NGHỀ BÁO  LÀ NGHỀ CAO QUÝ

      Là người coi báo hằng ngày, tôi  hay nghĩ về những người viết báo, và tôi cho đó là nghề cao quý. Bởi báo chí là một nghề cần đến học vấn, am hiểu thực tế đời sống xã hội và cái TÂM TRONG SÁNG.

      Muốn viết được tin, bài chính xác nhà báo còn có lòng kiên nhẫn, khiêm nhường để có thể tiếp cận được mọi tầng lớp người, mọi thành phần, địa vị trong xã hội. Họ tìm hiểu cặn kẽ những tin bài mà họ đưa lên báo có căn cứ và chính xác.

      Họ có bản lĩnh nghề nghiệp dám bảo vệ những việc đúng, phê bình thói hư tật xấu trong sinh hoạt xã hội và đạo đức mới. Họ không uốn cong ngòi bút của mình trong những vụ việc lập lờ che phủ những mảng tối. (Dĩ nhiên cũng có những con sâu làm rầu nồi canh).

      Không có báo chí thì những tư tưởng tiến bộ không thể đến với đông đảo mọi người và có những kết quả tích cực. Qua các thời kỳ cách mạng, nghề báo là một lợi khí phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc phản ảnh không khí sôi sục trên chiến trường, nêu cao những tấm gương chiến đấu ngoan cường. Họ đã cùng đoàn quân ra trận với ý thức trách nhiệm cao. Vũ khí của họ là cây viết, cuốn sổ, máy quay phim, máy ảnh.

      Trong cuộc chiến đđchống  bần cùng lạc hậu tiến lên công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước. Báo chí cũng kịp thời biểu dương người tốt, việc tốt những tập thể và cá nhân anh hùng trong thời kỳ đổi mới. Báo chí cũng vạch trần bọn mọt nước, sâu dân, vơ vét của công, tha hóa, trụy lạc, đấu tranh cho xã hội trong sạch lành mạnh, công bằng.

      Qua những văn phong của người làm báo, người đọc còn được dạo chơi các danh lam, thắng cảnh của non sông, những lễ hội hào hùng về với cội nguồn của đất nước ngàn năm văn hiến và những thành tựu xây dựng xã hội của nhân dân trong thời kỳ mở cửa - hội nhập nầy.

      Nói tóm lại, nghề làm báo là MỘT NGHỀ CAO QUÝ , sức mạnh của báo nằm trong cây bút của người cầm bút chân chính có nhân cách rồi lan tỏa đến với người đọc, đi vào đời sống công chúng, được công chúng thừa nhận.

      Nhân ngày nhà báo Việt Nam, xin được nói lên niềm tự hào của một công dân về nền báo chí Việt Nam đã phát triển cả về nội dung và hình thức, nắm bắt kịp thời đại công nghệ thông tin – kinh tế – tri thức.
                                          Trúc Lệ  (Cần Thơ)


      NHÂN NGÀY 21/6, NÓI CHUYỆN BÁO CHÍ VIỆT NAM BUỔI ĐẦU

      Nhà báo đầu tiên của Việt Nam là ông Trương Vĩnh Ký (1837-1886). Ông sử dụng thành thạo 26 ngoại ngữ, là một học giả lớn nghiên cứu nhiều lĩnh vực nổi tiếng về ngôn ngữ được xem là nhà Việt ngữ học lỗi lạc và được xếp vào hàng “Thế giới thập bát văn hào” là tác giả của hàng nghìn bài viết và những tác phẩm tiêu biểu như:
      - Grammaire de la langue Anamite (Ngữ pháp Tiếng Việt)
      - Cours pratique de langue Anamite (Giáo trình thực hành Tiếng Việt)                      
      - A berégé de grammaire Anamite (Tóm tắt ngữ pháp Tiếng Việt) v.v...
      Theo lịch sử báo chí Việt Nam, tờ báo Quốc ngữ đầu tiên của nước ta do E Doteau thông ngôn của Soái Phủ Nam Kỳ làm chủ bút, đó là tờ  "Gia Định Báo”. Số đầu tiên ra ngày 15-4-1865, mỗi tháng báo ra một số. Đến năm 1869, Thống Đốc Nam Kỳ giao cho ông Trương Vĩnh Ký làm giám đốc, ông Huỳnh Tịnh Của làm chủ bút. Nội dung của báo gồm hai phần. Phần công vụ đăng các nghị định thông tư của Pháp. Phần tạp vụ đăng tin trong nước, chủ yếu là tin Nam Kì.
      “Thông Loại Quá Trình” của ông Trương Vĩnh Ký (1888-1889) ra tháng 6 năm 1889, về sau “Thông Loại quá trình” đổi tên là “Sự loại thông khảo” đầu đề đó viết bằng chữ Hán.
        Tờ “Nhật trình Nam Kì” xuất bản năm 1883 viết bằng hai thứ tiếng Pháp – Việt chủ nhân là người Pháp.
        Tờ “Đại Nam Đồng Văn nhật báo” phát hành năm 1892 in bằng chữ Hán, năm 1907 đổi thành “Đông Cổ tùng báo” in hai thứ tiếng Việt – Hán.
        Tờ “Đại Việt tân báo” ra đời năm 1905 do ông E Nerst Babut làm chủ in hai thứ tiếng Việt – Hán, với sự cộng tác của ông Đào Nguyên Phổ, chủ bút của tờ ”Đại Việt tân báo”, là tờ báo của tư nhân nhưng được chính phủ tài trợ.
        Tờ ”Nhật báo tỉnh” của Georges xuất bản tại Sài Gòn năm 1905 dịch từ tờ báo Pháp “Le Moniteur des provinces”  ra Tiếng Việt.
       Tờ “Phan Yên báo” là tờ báo tư nhân do ông Diệp Văn Cương là chủ bút, số đầu ra tháng 12-1898 xuất bản hàng tuần. Do báo đăng một loạt bài có nội dung yêu nước nên chỉ ra được 8 số thì bị cấm.
      Tờ “Nông cổ mín đàm” (1901-1924) số đầu ra ngày 1-8-1901 là tờ báo Kinh tế đầu tiên ở Nam Kì bàn luận về các vấn đề nông nghiệp.
       Đầu thế kỉ 20, tờ “Lục tỉnh tân văn” ra đời trong phong trào Duy Tân, số đầu ra ngày 14-11-1907 đến năm 1921 sát nhập với báo “Nam Trung Nhật Báo” tờ báo này do ông Trần Chánh Biểu, một người nhập làng Tây có thiện chí với phong trào Đông Du của ông Phan Bội Châu làm chủ. Báo có nội dung tiến bộ, chống hủ tục, tranh luận về lập trường dân tộc, giải thích về cuộc vận động Minh Tân, và luận bàn về thời sự Quốc tế.

                                              TRẦN KHANH SẮC ( TP. HCM )


 Nguồn: Lê Thiên Minh Khoa - tapchitiengquehuong.

*****

*Vì Tạp chí Tiếng Quê Hương gặp sự cố về kỹ thuật nên VNQT hân hạnh được đăng bài này trước. Cám ơn nhà thơ Lê Thiên Minh Khoa và các tác giả. VNQT.
READ MORE - Nhân ngày NHÀ BÁO VN, 21.6: "THỰC LÒNG TRI ÂN VÀ NGHIÊNG MÌNH KÍNH PHỤC NHỮNG NHÀ BÁO TỰ DO VIỆT NAM HÔM NAY..." - Lê Thiên Minh Khoa (tổng hợp)

NHỮNG LỖI - BỆNH TRONG KHI LÀM THƠ ĐƯỜNG LUẬT - Sưu tầm



      IMG_5472.F.jpg


Tài Liệu Tham Khảo
Wikipedia – Ái Hoa
Dương Quảng Hàm – Văn Học Việt Nam
Quách Tấn – Thi Pháp Thơ Đường


NHỮNG LỖI - BỆNH TRONG KHI LÀM THƠ ĐƯỜNG LUẬT



 Bệnh của Đường thi
    (Thể thất ngôn)

1. Bệnh Bình Đầu
2. Bệnh Thượng Vỹ
3. Bệnh Phong Yêu
4. Bệnh Hạc Tất
5. Bệnh Bàng Nữu
6. Bệnh Chánh Nữu
7. Bệnh Đại Vận
8. Bệnh Tiểu Vận


Lỗi của Đường thi

1. Lạc vận
2. Lạc đề
3. Thất niêm, thất luật
4. Thất đối
5. Khổ độc
6. Điệp thanh
7. Điệp điệu
8. Điệp âm
9. Trùng vận
10. Trùng từ/ Điệp từ
11. Trùng ý / Hiệp Chưởng
12. Phạm đề/ Mạ đề


******************************************************

1. Thất luật

Để biết một bài thơ có thất luật hay không thì nhìn vào các chữ thứ 2, 4, 6.
Trong mỗi cặp câu thì các chữ thứ 2, 4, 6 của câu trên phải khác nhóm thanh (bằng hay trắc) với chữ thứ 2, 4, 6 của câu dưới.
Trong cùng một câu thì chữ thứ 2 phải khác nhóm thanh với chữ thứ 4 và cùng nhóm thanh với chữ thứ 6. Ví dụ bài thơ thất luật:

              TỰ TRÀO
Vùng đất Sơn Tây nảy một ông
Tuổi chửa bao nhiêu văn rất hùng
Sông Đà núi Tản ai hun đúc
Bút thánh câu thần sớm vãi vung
Chữ chữ nôm nôm nào kém cạnh
Khuyên khuyên điểm điểm có hay không
Bởi ông hay quá ông không đổ
Không đổ ông càng tốt bộ ngông 
                                  Tản Đà

           ĐÈO BA DỘI
Một đèo, một đèo, lại một đèo
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo
Cửa son đỏ loét tùm hum nóc
Hòn đá xanh rì lún phún rêu
Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc
Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo
Hiền nhân quân tử ai là chẳng
Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo
                      Hồ Xuân Hương

2. Thất niêm

Muốn xét một bài thơ có thất niêm hay không thì nhìn chữ thứ 2:
- Chữ thứ 2 câu 2 cùng nhóm thanh với chữ thứ 2 câu 3
- Chữ thứ 2 câu 4 cùng nhóm thanh với chữ thứ 2 câu 5
- Chữ thứ 2 câu 6 cùng nhóm thanh với chữ thứ 2 câu 7
- Chữ thứ 2 câu 8 cùng nhóm thanh với chữ thứ 2 câu 1

Ví dụ bài thơ thất niêm:

           DĨ HOÀ VI QUÝ
Ở thế đừng tranh tiếng trượng phu
Làm chi cho có sự đôi co
Ðấy cậy đấy khôn, đây chẳng nhịn
Ðây rằng đây phải, đấy không thua
Duật nọ hãy còn đua với bạng
Lươn kia hầu dễ kém chi cò
Chữ rằng: Nhân dĩ hòa vi quý
Vô sự thì hơn, kẻo phải lo

       Nguyễn Bỉnh Khiêm

              HÀ TIỆN
Giàu thì ba bữa khó thì hai
Lần lữa cho qua tháng thiếu đầy
Nón đổi lá ngoài quần đổi ống
Dép thay da mặt túi thay quai
Dặn vợ có cà đừng gắp mắm
Bảo con bớt gạo bỏ thêm khoai
Thế gian mặc kẻ cười hà tiện
Ta chẳng phiền ai chẳng luỵ ai
               Nguyễn Minh Triết

3. Lạc vận/Cưỡng vận

Vần là yếu tố quan trọng để tạo nhạc cho thơ. Do đó cần phải tránh gieo vần cưỡng ép hay lạc vận. Nếu không dùng vần chính thì nên lựa vần thông càng gần nhau càng tốt.
Ví dụ bài thơ lạc vận:

               THU VỊNH
Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu
Nước biếc trông như tầng khói phủ
Song thưa để mặc bóng trăng vào
Mấy chum trước giậu hoa năm ngoái
Một tiếng trên không ngỗng nước nào
Nhân hứng đã vừa toan cất bút
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào
                Nguyễn Khuyến

         THU THỜI LOẠN
Lửa hồng từ dậy mái thành đô
Đòi chốn lầm than chyện được thua
Xanh biếc thú quê người ẩn dật
Bạc đen đường thế khách bôn xu
Suy tường mỗi mỗi đau lòng trí
Tính quẩn trần trần nát dạ ngu
Muốn đến Vỵ Xuyên tìm hỏi Lữ
Rằng Thương xưa cũng thế này ư
                              Khuyết danh

Thơ cưỡng vận:

KHÔNG CHỒNG MÀ CHỮA
Cả nể cho nên hoá dở dang,
Nỗi niềm chàng có biết chăng chàng.
Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc,(1)
Phận liễu sao đà nảy nét ngang.(2)
Cái nghĩa trăm năm chàng nhớ chửa?(3)
Mảnh tình một khối thiếp xin mang.(4)
Quản bao miệng thế lời chênh lệch
Những kẻ không mà có mới ngoan (5)
                           Hồ Xuân Hương

(1)-(2) ở đây, dùng lối chơi chữ Hán. Chữ Thiên là trời nhô đầu lên thì thành chữ Phu là chồng; chữ Liễu là rõ hoặc hết, đồng âm với cây liễu chỉ người con gái, nếu thêm một nét ngang thì thành chữ Tử là con. Hai câu này ý nói: Gái chưa chồng mà sao đã có con trong bụng?
(3)-(4) Tình và nghĩa gắn liền đặc tính truyền thống của Hồ Xuân Hương nhấn mạnh cái nghĩa, cái trách nhiệm mà người đàn ông nào đó thường vô tâm trước hậu quả để lại cho người phụ nữ.
(5) Tác giả đứng về phía người con gái mà dùng ý một câu ca dao: “Không chồng mà chửa mới ngoan; Có chồng mà chửa thế gian sự thường”

               ĐÊM BUỒN
Trời không chớp bể với mưa nguồn
Đêm nảo đêm nao tớ cũng buồn
Bối rối tình duyên cơn gió thoảng
Nhạt nhèo quang cảnh bóng trăng suông
Khăn khăn áo áo thêm rầy chuyện
Bút bút nghiên nghiên khéo giở tuồng
Ngủ quách sự đời thây kẻ thức
Bên chùa thằng trọc đã hồi chuông
                         Trần Tế Xương

4. Thất đối

Đối chiếm địa vị quan trọng trong thơ Đường luật. Bỏ đối đi thì không còn được gọi là thơ Đường luật nữa. Ví dụ bài thơ thất đối:

              NGHE HÁT
Phách ngọt đàn say nệm gối êm
Tiếng ca buồn nổi giữa trời đêm
Canh khuya đưa khách lời reo ngọc
Mơ gái Tầm Dương thoảng áo xiêm

Ai lạ nghìn thu xa tám cõi
Sao vàng như động phía châu liêm

Nao nao khói biếc hài thương nữ
Trở gối hoa lê rụng trắng thềm
                 Vũ Hoàng Chương

           NGHẸN BƯỚC
Nắng rụng gầy sương đường lỡ thì
Thương người khăn gói nghẹn chân đi
Quán nghiêng nửa mái chờ giông tố
Ngõ hẹp mây đùn sập nét mi

Quỷ dựng đàng sau muôn lớp ải
Lòng nghe nai gặm cỏ biên thuỳ

Xoa tay nhớ lại mùa xuân trước
Phấn bướm còn vương nhịp trúc ty
                                       Vũ Hân

5. Khổ độc

Lỗi khổ độc rất phổ biến trong các người làm thơ Đường luật mà không rành luật thơ, ngay cả đối với một số nhà thơ nổi tiếng cũng có khi mắc phải. Ví dụ:

                HÁT BỘI
Đứa mắc ghẻ ruồi, đứa lác voi
Bao nhiêu xiêm áo cũng trơ mòi
Người trung mặt đỏ đôi tròng bạc
Kẻ nịnh râu hoe mấy sợi còi
Trên trính có nhà còn lợp lọng
Dưới chân không ngựa lại giơ roi
Hèn chi chúng nói bội là bạc
Bôi mặt đánh nhau, cú lại thoi
                        Phan Văn Trị

6. Trùng vận

Thơ Đường luật chỉ dùng đơn vận, nếu cùng một chữ vần được dùng lặp lại ở hai câu khác nhau thì gọi là trùng vận, bài thơ sẽ hỏng.
Tuy nhiên nếu chỉ là tiếng đồng âm mà khác nghĩa thì được coi là 2 chữ vần khác nhau, không phạm lỗi. Tuy nhiên không nên để hai vần đồng âm gần nhau để tránh nghe đọc không hay. Ví dụ:

THĂNG LONG THÀNH HOÀI CỔ
Tạo hoá gây chi cuộc hí trường
Đến nay thắm thoát mấy tinh sương
Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Nước còn cau mặt với tang thương
Nghìn năm gương cũ soi kim cổ
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường
                      Bà Huyện Thanh Quan

Chữ “trường” câu 1 với chữ “trường” câu 8 có nghĩa khác nhau nên không phạm lỗi trùng vận .
Cũng vậy trong bài sau, hai chữ cờ có nghĩa khác nhau:

              CẢM TÁC
Mấy chục năm qua gió bụi mờ
Tưởng rày bớt đục hoá thêm nhơ
Mặt đành bôi mặt gà chung mẹ (1)
Tay sẵn ngon tay gió phất cờ (2)
Ruột đứt non sông trời Bến Hải
Sầu vương cây cỏ đất Cần Thơ
Đêm đêm dưới nguyệt gươm mài hận (3)
Ai nữa chung tay lật thế cờ
                                              T. X.

(1) Gà nhà bôi mặt đá nhau
(2) Theo gió phất cờ
(3) thơ Đặng Dung: Kỷ độ Long tuyền đái nguyệt ma (dưới trăng bao bận tuốt gươm mài)


Nhưng nếu để hai vần đồng âm gần nhau sẽ nghe rất dở! 


Ví dụ:
Tám phương bước lạc đến công trường
Thấy cảnh tình ai khỏi đoạn trường
                                 Khuyết danh

7. Trùng từ

Cùng một chữ được dùng nhiều lần ở trong bài thơ, ngoại trừ trường hợp cố ý, thì gọi là lỗi trùng từ hay điệp từ.
Ví dụ bài thơ trên của Bà Huyện Thanh Quan (Thăng Long Thành hoài cổ) bị trùng từ ở hai chữ “cũ”. Dùng lại chữ một lần thì tạm chấp nhận, dùng lại hai, ba lần thì bài thơ bị đánh giá là kém cỏi.
Trong trường hợp sử dụng mỹ từ pháp điệp ngữ thì không tính là lỗi. 
Ví dụ:

             DẠI KHÔN
Thế sự đua nhau nói dại khôn
Biết ai là dại biết ai khôn ?
Khôn nghề cờ bạc là khôn dại
Dại chốn văn chương ấy dại khôn
Mấy kẻ nên khôn đều có dại
Những người có dại mới nên khôn
Cái khôn ai cũng khôn là thế
Mới biết trần gian kẻ dại khôn
                    Trần Tế Xương



     GHẸO CÔ BÁN CAU
Hỏi cau ai bán tiếng nghe rao
Tốt vóc mà trong biết thế nào
Giấu để trong buồng e đóng đục
Bày ra trước mắt thấy ngon dao
Muốn mua nên phải coi từ vú
Có bán xin cho thử chút mào
Chuốt ngót của mình ai dám chắc
Biết lòng biết mặt xỉa tiền trao
                       Đỗ Thanh Tân

     HỎI THĂM ÔNG ẤM
Tôi hỏi thăm ông đến tận nhà
Trước nhà có miếu có cây đa
Vườn ao đất cát chừng ba thước
Nửa lá tre pheo đủ mọi toà
Mới sáu bận sanh đà sáu cậu
Trong hai dinh ở đủ hai bà
Lưng ông mốc thếch như trăn gió
Ông được phong lưu tại nước da
                        Trần Tế Xương

Cũng là trùng từ khi hai chữ đọc khác nhau nhưng cùng một nghĩa, Ví dụ:

           TẶNG BIỆT
Dù bắc dù nam cũng một trời
Ba sinh tan hợp cái trò chơi
Cười ta tri kỷ bên mình ít
Mừng bạn cao đường dưới gối vui
Trăng nước Cù Giang duyên mãi thắm
Cỏ hoa Hồng Lĩnh bút thêm tươi
Những đêm êm ấm lòng rung động
Là biết nơi đây tớ nhớ người
                                    T.X.


Ta và tớ đều nói cùng một nghĩa, phạm lỗi trùng từ nên giá trị bài thơ cũng giảm sút nhiều.

8. Trùng ý

Trong bài thơ Đường luật nếu có câu chữ nào lặp lại ý của các câu chữ đã dùng mặc dù dùng từ khác đi thì cũng bị lỗi trùng ý. Nếu lỗi trùng ý nằm trong hai câu thực, hoặc hai câu luận thì gọi là hiệp chưởng (câu trên câu dưới đối nhau mà ý nghĩa giống nhau như hai bàn tay úp lại). 


Ví dụ:

          THÁCH HOẠ
Thế sự nhìn xem rối cuộc cờ
Càng nhìn càng nghĩ lại càng dơ
Đánh tan tục niệm hồi chuông sớm
Gõ vỡ trần gian tiếng mõ trưa

Chu tử ngán mùi nên vải ấm
Đỉnh chung lợm giọng hoá chay ưa

Lên đàn cứu khổ toan quay lại
Bể ái trông ra nước đục lờ
Công chúa em vua Minh Mạng



        VỊNH PHÁO TRE
Đông tàn xuân đã đến đây be
Bốn phía rền vang những pháo tre
Mắng tiếng giật mình loài quỷ xó
Nghe hơi mất vía lũ ma hè

Trêu người trướng gấm kinh hồn điệp
Ghẹo kẻ màn loan tỉnh giấc hoè

Trừ cựu mượn chàng kêu một tiếng
Mừng xuân muôn cửa chán tai nghe
                                   Hương Kiểu

Nếu hai cặp thực và luận trùng ý nhau thì gọi là sàng túc (hai chiếc giường chồng lên nhau) hay là điệp sàng xá ốc (giường nhiều lớp, nhà gác chồng).

9. Phạm đề / Mạ đề

Trong hai cặp thực và luận không được dùng chữ của đầu bài, nếu có chữ nào của đề lọt vào thì bị lỗi phạm đề hay mạ đề. Ví dụ:

    THEO VOI ĂN BÃ MÍA
Ăn mía theo voi tiếng đến giờ
Vì chi miếng bã để trò dơ
Rón chân những chực khi vòi nhả
Rát lưỡi đành xơi cái ngọt thừa
Ấy đã theo đuôi thời phải hít
Còn đâu nên tấm nữa mà vơ
Nghìn năm bia miệng là câu thế
Những khách ăn tàn đã biết chưa
                                      Tản Đà

Bài này bị phạm đề ở chữ "theo" trong câu 5.

10. Điệp điệu

Điệp điệu là khi nhiều câu liên tiếp ngắt nhịp cùng một cách. Lỗi này thường hay xảy ra ở các câu giữa của bài thơ. 


Ví dụ:

  GIỮ MỰC THANH LIÊM
Chớ nghĩ là quan đã bảnh bao
Yêu nhau một giống nghĩa đồng bào
Bới lông tìm vết / lòng không nỡ
Giục bị xui nguyên / tội xiết bao
Dấu đỏ loè dân / trò lính lệ
Môi thâm hót nhảm / lối cường hào
Kiếm xu không phải mình không thạo
Bắt nạt dân đen có lẽ nào
                         Đặng Xuân Bảng



                HẰNG NGA
Hỡi chị Hằng Nga náu Quảng Hàn
Bốn mùa trăng gió với giang san
Áo tiên / tuy nhuộm / mùi Vương Mẫu
Hương tục / còn nồng / lửa Hậu Lang
Mắt phượng / đã say / miền ngọc thỏ
Cung nghê / nỡ phụ / khúc cầm loan
Nếu không duyên nợ cùng người thế
Xin chớ gieo mình nước hợp loan
                          Hồ Xuân Hương

11. Bình đầu

Bài thơ mà có nhiều câu liên tiếp bắt đầu bằng những tiếng cùng một từ loại, cùng một cấu trúc câu thì phạm lỗi bình đầu, ngoại trừ trường hợp cố tình làm có mục đích rõ rệt. 


Ví dụ:

               ĐĨ GIÀ ĐI TU
Lầu xanh thánh thót tiếng chuông chiền
Tỉnh giấc Cao đường lúc ngửa nghiêng
Mượn chiếc thuyền tình qua bể ái
Đưa con sóng sắc tới rừng thiền
Trông gương trí tuệ đau lòng tục
Lần chuỗi bồ đề kết trái duyên
Mát mẻ cửa Không trăng gió sẵn
Dầu chưa nên Phật cũng nên tiên
                        Huỳnh Mẫn Đạt

              ĐÓN TẾT
Anh em đừng tưởng tết tôi nghèo
Tiền bạc trong kho chửa lĩnh tiêu
Rượu cúc nhắn đem hàng biếng quẩy
Trà sen mượn hỏi giá còn kiêu
Bánh đường sắp gói e nồm chảy
Giò lụa toan làm sợ nắng thiu
Thôi thế thì thôi đành tết khác
Anh em đừng tưởng tết tôi nghèo
                        Trần Tế Xương

12. Thượng vỹ

Trong bài thơ Đường luật thất ngôn bát cú nếu chữ thứ 5, 6, 7 của nhiều câu liên tiếp (nhiều hơn 3) cùng từ loại và cấu trúc thì bài thơ phạm lỗi thượng vỹ. 


Ví dụ:

        KHUYÊN NGƯỜI ĐỜI
Cho hay thiên hạ khéo xem gương
Hễ khó thời thôi mấy kẻ màng
Miệng nói đã đành mua chuyện ghét
Tay không chưa dễ ép người thương
Khéo khôn ai cũng tranh phần được
Trong sạch ta thời giữ mực thường
Ði lại chẳng qua thời với mệnh
Cũng đừng thắc mắc, chớ lo lường
                        Nguyễn Công Trứ

          THAN NGHÈO
Chẳng lợi danh gì lại hóa hay
Chẳng gì phiền lụy chẳng ai rầy
Ngoài vòng cương tỏa chân cao thấp
Trong thú yên hà mặt tỉnh say
Liếc mắt coi chơi người lớn bé
Vểnh râu bàn những chuyện xưa nay
Của trời trăng gió kho vô tận
Cầm hạc tiêu dao đất nước này
                  Nguyễn Công Trứ

13. Điệp thanh

Trong thơ thất ngôn, một câu có 4 tiếng bằng và 3 tiếng trắc hoặc bốn tiếng trắc và ba tiếng bằng. Những tiếng bằng hay trắc đó phải có thanh độ khác nhau thì câu thơ mới giàu âm điệu. Ví dụ câu thơ có 4 tiếng bằng thì chỉ nên dùng 2 chữ có dấu huyền (trầm bình thanh), dùng 3 hoặc cả 4 chữ có dấu huyền làm câu thơ yếu ớt, giọng trầm trầm khó nghe. Ngược lại nếu dùng nhiều tiếng không dấu (phù bình thanh) sẽ làm câu thơ nghe ngang ngang không êm dịu. 


Ví dụ:

             CUNG OÁN
Trên đài hiu hắt ngọn đèn hoa
Gang tấc xem bằng mấy dặm xa
Một kiếp đã đành rằng để vậy
Chín trùng có thấu đến chăng là
Ỏi tai ngán nỗi đàn ve gảy
Tan mặt buồn tênh cái nhện sa
Ví biết than này chi khó bấy
Quyền môn chen chúc chẳng bằng thà
                                    Ôn Như Hầu

             THAN NGHÈO
Chẳng chán ru mà quấy mãi đây
Nợ nần dan díu bấy lâu nay
Mang danh tài sắc cho nên nợ
Quen thói phong lưu hoá phải vay
Quân tử lúc cùng thêm thẹn mặt
Anh hùng khi gấp cũng khoanh tay
Còn trời còn đất còn non nước
Có lẽ ta đâu mãi thế này
                 Nguyễn Công Trứ

14. Điệp âm

Điệp âm là những chữ có cùng âm đứng gần nhau trong một câu hoặc cùng vị trí trong hai câu.


Ví dụ:

Hồng dẫu hư lông đâu sợ sẻ
Chồn toan mượn lốt để hù nai
Giàn treo trã cá vung không đậy
Bếp tạt mưa đêm nước nhỏ đầy
Chim oanh đường cũ đương bay nhảy
Chồi quế sân trong muốn thập thò
                             Khuyết danh

Hai tiếng cùng âm đứng kế liền nhau, các từ đôi lắp láy thì không kể là lỗi.


Ví dụ:

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
                   Nguyễn Khuyến

Ngàn mai lác đác chim về tổ
Dặm liễu bâng khuâng khách nhớ nhà
                     Bà Huyện Thanh Quan

Cái kiếp tu hành nặng đá đeo
Chỉ vì một chút tẻo tèo teo
Thuyền từ cũng muốn về Tây Trúc
Trái gió cho nên phải lộn lèo
                      Hồ Xuân Hương

15. Đại vận

Bài thơ Đường luật chỉ gieo vần ở các chữ cuối câu. Nếu chữ thứ 4 trong câu cũng vần với chữ cuối câu thì phạm lỗi đại vận
Ví dụ:

Bâng khuâng ngày xế cả than trời
Ai đố cho người gánh nạn đời
Làng đế đành theo ông hữu đạo
Cõi phàm hỗ ngó lũ vô quân …
             Nguyễn Đình Chiểu

Siếu mai chi dám tình trăng gió
Bồ liễu thôi đành phận mỏng manh
                         Hồ Xuân Hương

Nước non nào phải của ai đâu
Nhiều ít công hầu cũng mặc dầu
               Nguyễn Bỉnh Khiêm

16. Tiểu vận

Nếu chữ thứ 2 trong câu vần với chữ thứ 6 hoặc thứ 7 thì phạm lỗi tiểu vận.


Ví dụ:


Chưa mở trí khôn đừng dở dại
Muốn xong việc nước phải êm nhà
                      Nguyễn Đình Ngọc

Chín bệ dâng lời dù khép nép
Bốn phương trông ngóng cũng nương nhờ
                                        Phan Huy Ích

Ví dụ cả đại vận và tiểu vận:

           THI HỎNG
Mai này tớ hỏng tớ đi ngay
Cúng giỗ từ nay nhớ lấy ngày
Học đã sôi cơm nhưng chửa chín
Thi không ăn ớt thế mà cay
Sách đèn phó mặc đàn con trẻ
Thưng đấu nhờ tay một mẹ mày
“Cống hỉ” “mét xì” đây thuộc cả
Chẳng sang Tàu tớ cũng sang Tây
                         Trần Tế Xương

17. Phong yêu

Nếu chữ cuối câu trùng thanh dấu với chữ thứ 2 trong cùng câu thì gọi là lỗi phong yêu.
Ví dụ:

Để bụng phải đeo điều nhẹ nặng
Ôm tai mặc quách tiếng chê khen
                         Trần Tế Xương

Cầm lái mặc ai lăm đỗ bến
Giong lèo thây kẻ ráp xui ghềnh
                    Hồ Xuân Hương

18. Hạc tất

Nếu chữ cuối câu trùng thanh dấu với chữ thứ 4 trong cùng câu thì gọi là lỗi hạc tất.


Ví dụ:


Nghe lời phi pháp tai làm điếc
Nghĩ nỗi nhân tình ruột lại đầy
                        Khuyết danh

   TÔN PHU NHÂN QUY THỤC
Cật ngựa thanh gươm ven chữ tòng
Ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông
Lìa Ngô bịn rịn chòm mây bạc
Về Hán trau tria mảnh má hồng
Son phấn thà cam dày gió bụi
Đá vàng chi để thẹn non sông
Ai về nhắn với Chu Công Cẩn
Thà mất lòng anh được bụng chồng
                           Tôn Thọ Tường

Bài này câu 2 phạm phong yêu, câu 3 phạm hạc tất.

                CẢM HOÀI
Chút nghĩa vương mang phải gắng đi
Tang bồng đành rõ khí nam nhi
Thuyền ngô phơi phới giăng hòn bạc
Khói đá phăng phăng lướt tích ti
La Hán dang tay chờ khách đến
Tướng quân hé mắt hẹn ngày về
Phen này miễn được hoà hai nuớc
Nỗi tớ xin đừng bận bịu chi
                     Phan Thanh Giản

Bài này câu 1, 4 phạm hạc tất, câu 5 phạm phong yêu.

19. Chánh nữu

Trong một câu có nhiều hơn hai chữ có cùng phụ âm đầu (hoặc bắt đầu bằng nguyên âm, không có phụ âm đầu) thì phạm lỗi chánh nữu. Ví dụ:

Lưng dậu phất phơ màu khói nhạt
Làn ao long lánh bóng trăng loe
                      Nguyễn Khuyến  

20. Bàng nữu

Nếu các chữ có cùng phụ âm đầu hoặc bắt đầu bằng nguyên âm nằm gần nhau trên hai câu liên tiếp thì phạm lỗi bàng nữu.


 Ví dụ:

                 ĐÓN TẾT
Anh em đừng tưởng tết tôi nghèo
Tiền bạc trong kho chửa lĩnh tiêu
Rượu cúc nhắn đem hàng biếng quẩy
Trà sen mượn hỏi giá còn kiêu
Bánh đường sắp gói e nồm chảy
Giò lụa toan làm sợ nắng thiu
Thôi thế thì thôi đành tết khác
Anh em đừng tưởng tết tôi nghèo
                        Trần Tế Xương

Câu 1, 8 và câu 7 phạm lỗi chánh nữu, câu 1-2 phạm lỗi bàng nữu.

 
Ví dụ:

Viếng thành Huế sau ngày đình chiến
Nắng nhạt chiều thu quạ rộn ràng
Sầu vương lau lách lạnh thành hoang
Tro tàn thư viện duyên ngao ngán
Đá nát hoàng cung bước ngỡ ngàng
Gầy gọ gió sương tùng Thế miếu
Bẽ bàng trăng nước trúc Hương giang
Trông vời Thiên Mụ mây man mác
Lơ lửng chuông hôm rụng tiếng vàng

                                               T.X.

                                                                   (SƯU TẦM)
READ MORE - NHỮNG LỖI - BỆNH TRONG KHI LÀM THƠ ĐƯỜNG LUẬT - Sưu tầm

TRONG HƠI THỞ MÙA XUÂN - TỰ TÌNH THÁNG 6 - thơ Hoàng Văn Chẩm

Hoàng Văn Chẩm

Trong hơi thở mùa xuân
     
Vẫn một mùa xuân trên tóc
Áo phai chưa hết nỗi buồn
Còn thương dòng sông trong mắt
Từ ly em bỏ ngọn nguồn
Quạnh hiu ngậm ngùi một gối
Chiếu hoa em dệt mộng thường
Thương ai về nơi nắng gió
Ngày đêm vẽ một nét thương
Xin em cho nhau lời cuối
Nắng khuya ngọt nụ tầm xuân
Bên thềm lòng như hoa nở
Giọt sương trên môi thật gần
Ngày xưa ai buông tiếng hát
Chín một mùa xuân yêu nhau
Bay cao lời thương chưa nói
Tình ơi! nối nhịp về sau.

tháng giêng-2013


                     
Tự tình tháng sáu

Tháng sáu ơi ngọn ngành xanh vườn cũ
Sông nước chiều xưa mở lối nhớ tình xa
Tay trong nhịp thở nghe tiếng buồn rơi rụng
Bến nước ân tình sâu lắng một mùa hoa.
Ta trở lại bên sông tìm giọt nắng
Tháng sáu thì thầm khúc hát gửi lòng ai
Mặt mày xưa ngó nhau buồn không nói
Sợi tóc nào bay vẽ nét tàn phai.
Lưng chừng con nước như dòng đời lặng lẻ
Nhớ ngày về theo dấu nụ hồng xưa
Em đong đếm hương nồng mùa hạ trắng
Chén hương cay môi thắm như cơn mưa
Bây chừ một chỗ ngồi còn trống trải
Còn đó ngày sang sông đi ngược đường tơ
Như bắt giữ bóng đời nhau qua dâu bể
Thì thầm âm xưa vọng tiếng đôi bờ.
Đợi vầng trăng khuất mượn màu hoa tím
Thuở đi về chải chuốt một giấc mơ
Tháng sáu có nhau trong từng hơi thở
Khéo tay buộc nối em giữ kín dòng thơ.
Nước không cạn bởi còn mùa hoa tháng sáu
Ngậm ngùi tôi ơi một thoáng với tóc mây
Nụ hôn muộn màng như đầu đời cất tiếng
Tình ơi!
Còn tuổi nào nghe ngóng giữa vòng vây.

Viết giữa mùa bằng lăng tím
04-06-2010


READ MORE - TRONG HƠI THỞ MÙA XUÂN - TỰ TÌNH THÁNG 6 - thơ Hoàng Văn Chẩm