Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, September 26, 2013

HOA HỌC TRÒ -Truyện ngắn của Trần Hữu Thuần - Kỳ 1

(Viết theo lời kể của một người bạn)


(Kỳ 1)

Hái một nụ thơm em
Là bước đầu biết khổ,
Hái thêm lá em mở
Đau suốt đời ngẩn ngơ
Khi vẫn là hai bờ,
Một dòng sông ngang trái.
Hoàng Cầm (Duyên kiếp)

Tôi men bờ đi ngược nguồn sông Thạch Hãn ở khúc quanh An Đôn. Sông Thạch Hãn bề ngang không rộng, nước không chảy cuồn cuộn mà lặng lờ trôi qua như dòng thời gian trôi qua, lặng lờ đến nỗi không cho tôi kịp ý thức ngày tháng đời tôi đã không còn bao lâu nữa. Tôi ngẫn ngơ nhìn dòng sông trong khi niềm đau ngẩn ngơ ray rứt âm thầm trong lòng tôi bỗng cuồn cuộn dậy sóng, vết thương lòng bỗng rỉ máu như ngày xưa tháng cũ của thuở ban đầu.
Quảng Trị quê tôi có mấy dòng sông, bé nhỏ mà tên ghi vào lịch sử như sông Bến Hải, chảy siết quanh năm gây vất vả cho người gò lưng dọc hai bờ kéo thuyền khách đi lên ngược dòng như sông Đông Hà, quê mùa nhưng ghi vào ca dao như sông Ô Lâu:

Cây Đa bến Cộ còn lưa,
Mà người tri kỉ đi mô chưa chộ về.

Nhưng với tôi, sông Thạch Hãn là con sông đáng ghi nhớ nhất vì ở đó chôn vùi kỉ niệm chua xót của một phần đời tôi. Không như trong ca dao, người tình chờ đợi người tình cho dẫu mõi mòn vẫn hi vọng có ngày người tri kỉ trở về, tôi chờ đợi nhưng biết chắc chắn chẳng bao giờ gặp lại được người tôi yêu dấu trong thế giới này vì người tri kỉ của tôi đã bỏ tôi đi vào trong một thế giới khác. Đứng bên bờ sông Thạch Hãn lúc này, tôi như đang về đến cây đa bến cũ của lòng tôi với niềm đau chất ngất. Hoàng Cầm suốt đời ngẩn ngơ chỉ vì người tri kỉ xa cách hai bờ một dòng sông ngang trái. Tôi suốt đời ngẩn ngơ vì người tri kỉ của lòng tôi không phải chỉ xa cách đôi bờ mà đã một đi không bao giờ trở lại, ra đi mang theo cả thời thơ ấu vụng dại của đời tôi với tình cảm nhẹ nhàng như hơi gió thoảng qua, vô tội như loài người thuở hồng hoang chưa biết thế nào là tội lỗi. Một nơi nào đó trong cõi u linh, trên chốn thiên đường, tôi đoan chắc người đó đang kề cận người vợ yêu thương của tôi, cũng như người đó, đã bỏ tôi ra đi một lần để không bao giờ trở lại nữa. Tôi mơ thấy hai người tôi thương yêu nhất đời đang mỉm cười chờ đón tôi, không phải để nối lại dây thân ái ô trọc của thế trần ô trọc, mà để tận hưởng niềm hoan lạc không bao giờ mờ nhạt, không bao giờ chấm dứt, niềm hoan lạc tuyệt đối mà không một niềm hoan lạc nào trên trần thế hợp tan này có thể so sánh cho bằng.

Nguyệt  ơi, em bỏ anh đi một lần để anh suốt đời cay đắng cho đến giờ đây hai thứ tóc đã pha trộn trên đầu anh.


* * *

Làng An Đôn nơi tôi đang cư ngụ vào những năm 1930 còn  đang là rừng rú “chim kêu vượn hót” nói theo sáo ngữ quen dùng. Vượn thì tôi chưa nghe “hót” tại khu rừng quanh làng chúng tôi, nhưng chim thì vô số, có cả chồn cáo rắn rết và nhiều loại thú không hiền lành. Mạn trên làng trải dài một khu rừng mênh mông, con nít như tôi không thể biết được đâu là ranh giới. Người lớn nói rừng sâu có cọp, beo, và cả voi nữa. Các loại thú hung dữ to lớn đó làm lũ con nít chúng tôi chỉ nghe tên thôi cũng đã co rúm người lại, nghịch ngợm cách mấy cũng chẳng dám héo lánh  vào rừng. Lúc nhỏ, vì không hề nghe cọp gầm voi hú ở quanh đây bao giờ, tôi nghĩ người lớn nói thế để hăm dọa không cho chúng tôi đi sâu vào rừng sợ không may lạc đường mất lối. Lớn lên thêm một chút, tôi biết người lớn nói thực, vì đi ngược lên hướng tây hai ba chục cây số là đến vùng Nam Đông, Nam Tây, Cam Lộ, nằm ở sườn đông rặng Trường Sơn. Từ đó, theo hướng tây băng qua đèo Lao Bảo là đến vùng ba biên giới Việt-Miên-Lào. Tôi đã từng được theo đoàn người giàu có từ dưới thị xã đi săn bắn ở khu rừng phía bắc An đôn, cho dẫu người ta chỉ cho phép tôi ngồi trên xe đậu bên đường để giữ xe cho họ. Một lần săn được một con voi lớn, họ chỉ lấy cặp ngà, bỏ nguyên thịt voi lại cho cả làng chia nhau tùy ý. Mẹ và anh chị tôi đều đi làm vắng nhà, tôi rủ Nguyệt rồi hai chúng tôi hăm hở theo người khác đến nơi cắt thịt đem về. Trẻ dại chẳng biết thịt nào ngon thịt nào dỡ, nhất là thịt voi chưa từng nếm tới, tôi cắt chẳng biết chỗ thịt nào trên mình voi mà khi nấu chín lên, chẳng ai trong gia đình tôi nhai nỗi một miếng. Đúng là dai như … voi.

Nguyệt là cô bé gái ở cạnh nhà tôi. Tôi chơi thân với Nguyệt không hề phân biệt trai gái. Chẳng hiểu tôi với Nguyệt tại sao lại quen nhau, quen nhau từ lúc nào, bắt đầu quen bằng chuyện gì. Khi đủ khôn lớn để chơi đùa chia vui sẻ buồn với nhau, hai đứa lại càng thân thiết khắng khít bên nhau, gần như nửa bước không rời. Trừ lúc ăn lúc ngủ hoặc phải đến trường, hiếm khi người ta thấy đứa này mà không thấy đứa kia. Hai chúng tôi thân nhau đến nỗi trừ hai gia đình và bà con họ hàng, mọi người đều nghĩ là anh em ruột thịt. Tôi không nhớ đã có lúc nào ngủ bên cạnh Nguyệt tại nhà Nguyệt để mạ Nguyệt phải bế tôi về nhưng Nguyệt đã ngủ nhiều lần cạnh tôi ở nhà tôi để mạ tôi phải bế Nguyệt về giao cho mạ Nguyệt. Càng lớn lên, hai chúng tôi càng quấn quít nhau hơn cả anh em ruột thịt. Anh trai em gái ruột thịt hiếm khi hết sức khắng khít nhau. Phải chăng đó là một đặc tính trời định sẵn nhằm tránh tình cảm bất chính riêng tư nẩy sinh giữa máu mủ ruột thịt? Thêm vào đó, hai đứa càng thân thiết nhau hơn khi hai bà mẹ coi nhau như chị em ruột thịt, hai đứa đều là con út, cả hai đều mồ côi cha, ít nhất tôi nghĩ thế về phần tôi.

Lớn lên một chút, đến độ tuổi chín mười, tôi bắt đầu nhận ra sự khác biệt giữa Nguyệt và tôi. Sinh sống ở miền quê, tôi và đám bạn trai gái cùng trang lứa kể cả Nguyệt gần như suốt ngày chạy nhảy ngoài trời. Thế nhưng, trong khi chúng tôi da tóc nắng cháy, Nguyệt vẫn mang dáng dấp thanh thoát của một cô bé thành thị, da dẻ mịn màng trắng hồng, khuôn mặt bầu bĩnh với đôi mắt đen nháy mà người lớn gọi là đôi mắt hột nhãn lúc nào cũng long lanh như đang mỉm cười. Đặc biệt, mái tóc Nguyệt dày đen huyền chảy dài phủ xuống hai vai không như tóc đám bạn nguyệt, đứa lủn củn lơ thơ, đứa vàng hoe cháy nắng. Khi lớn lên, mỗi khi nghe ca tụng mái tóc thề của con gái xứ Huế, tôi lại âm thầm nhớ đến mái tóc yêu kiều của Nguyệt. Tôi hơn tuổi Nguyệt vài tháng một năm gì đó, khó ai biết rõ vì người Việt tính tuổi bằng năm Tị năm Mùi truyền thống. Người ta đếm ngón tay Tí Sửu Dần Mão bao nhiêu con giáp rồi nói tuổi. Bé mở mắt chào đời đã được tính một tuổi, tính cả thời gian nằm trong bụng mẹ. Lớn lên, tôi cho rằng cách tính tuổi của người Việt là một điểm son vì mặc nhiên công nhận đứa bé tượng hình trong bụng mẹ đã thực sự là một con người, không cần phải là người Công giáo hoặc người theo phe ủng hộ sự sống để tin là thế.

Gia đình tôi sáu người gồm mạ tôi, chị đầu, anh thứ hai, chị thứ ba, chị thứ tư, và tôi là em trai út. Từ khi biết phân biệt người quen kẻ lạ, tôi chưa bao giờ thấy cha tôi nên nghĩ tôi đã mồ côi cha. Có lần tôi tò mò hỏi, mạ tôi chỉ thở dài rồi bảo đợi lớn tí nữa mạ nói cho nghe. Người Bình Trị Thiên chúng tôi không gọi nhau bằng thứ tự Cả, Hai, Ba như người Bắc, cũng chẳng gọi bằng Hai, Ba, Tư như từ Quảng Nam đổ vào Nam. Con cái lớn nhỏ đều được cha mẹ gọi thẳng bằng tên, xấu đẹp do cha mẹ đặt cho, thậm chí cả tên nghe thô tục với lí do để tránh ma bắt. Đàn bà có chồng được gọi bằng tên chồng, ít ai biết tên thật là gì nếu về làm dâu làng khác. Vợ chồng khi có con sẽ được xóm giềng gọi bằng tên đứa con đầu lòng, vì thế con cái lớn lên nhiều khi không biết tên thực của cha mẹ. Đây không phải là một thiếu sót mà là một phong tục, phong tục kị tên kị húy, người dưới không được phép gọi tên người trên, con cái khi gặp từ ngữ trùng tên tổ tiên ông bà cha mẹ còn phải nói hoặc đọc trệch sang từ khác, cha mẹ đặt tên con không được phép trùng lấp với ai trong dòng tộc, thậm chí còn cả họ cả làng. Người Bình Trị Thiên kị húy không chỉ gia đình vua quan, mà tất cả mọi gia đình không phân biệt sang hèn. Đó cũng là một đặc điểm không mấy nơi khác giống như vậy.

Năm tôi lên năm tuổi, một hôm thật tình cờ, mạ tôi kéo tôi chạy vội chạy vàng ra đứng dưới bốn chục bậc cấp lên nhà thờ An Đôn đón một người đàn ông ốm yếu bệnh hoạn đang đỗ xe kéo bước xuống. Mừng rỡ kéo tôi chạy lại bên người đàn ông đó, mạ bảo đó là cha tôi. Tôi ngỡ ngàng nhìn lên người đàn ông xanh xao ốm yếu đang cúi xuống ôm chầm lấy tôi. Thì ra tôi không mồ côi như thường nghĩ. Mạ tôi giục:

“Con không mừng cha răng?”

Tôi trả lời lắp bắp:

“Có chơ, con mừng cha chơ.”

Mạ tôi đưa hai tay ra như muốn ôm lấy người đàn ông nhưng rồi ngập ngừng buông thỏng hai tay xuống. Đàn bà phương Đông như mạ không quen biểu lộ tình cảm ra bên ngoài. Tôi không nhìn người đàn ông nữa mà nhìn chằm chặp vào mặt mạ như muốn mạ cho tôi một dấu hiệu chứng thực mạ đang không đùa. Như hiểu ý tôi, mạ tôi nhắc lại:

“Cha con đó.”

Trong vòng tay người được gọi là cha tôi, quả thực tôi có chút mừng rỡ vì từ nay không còn sợ bị chê là con mồ côi nữa nhưng chưa thực sự cảm thấy chút rung động tình cha con nào trong lòng tôi. Không chỉ riêng tôi mà cả hai người chị liền trước tôi cũng không thấy biểu lộ xúc động cuống quít khi gặp lại cha tôi. Chẳng khác tôi, hai chị cũng đã thiếu vắng tình cha con trong quá nhiều năm tháng để còn biết tình cảm đó là gì và như thế nào. Tình cha mẹ con cái cho dẫu thiêng liêng vẫn cần có cơ hội và thời gian phát triển đủ lớn mạnh để gây nên xúc động. Con cái bị cho làm con nuôi người khác thường không tìm được tình cảm tự nhiên gắn bó với cha mẹ đẻ như đã từng có với cha mẹ nuôi. Trong khi đó, cha tôi thực sự vui mừng khi nhìn thấy lại mạ tôi, anh chị tôi, và nhất là tôi, đứa con út mà cha chỉ gần gủi lúc tôi còn chưa biết gì. Cha ôm tôi vào lòng, đưa ra cho tôi một chiếc hộp gỗ nhỏ mà nắp có khe đẩy ra đẩy vào, trên nắp đã đục sẵn nhiều lỗ thông hơi nhỏ. Làm sao cha biết tôi thích chơi dế? Tôi ôm trong hai tay cái hộp đựng dế tuyệt vời, lòng thầm nghĩ nhờ nó tên tuổi tôi sẽ nổi bật hơn lên trong “làng” đá dế mà tôi vốn đã là một trong vài tay cự phách. Nhìn thấy nó, chắc chắn đám bạn tôi không đứa nào giấu được nỗi mơ ước thèm khát .

Không may, niềm vui không mồ côi cha của tôi không kéo dài  được lâu. Mấy tuần sau ngày sum họp lại với gia đình, cha tôi bệnh liệt giường rồi qua đời vì không qua khỏi được cơn bệnh nặng ông đã mang sẵn trong người.   Những ngày cha tôi nằm liệt một chỗ, ba chị em chúng tôi vẫn chưa nẩy nở đầy đủ tình cảm cha con trong lòng. Hằng ngày, mạ và anh chị lớn của tôi phải đi làm kiếm sống, hai chị kế tôi có bổn phận trông chừng cha tôi và cả tôi ở nhà. Thế nhưng, để khỏi buồn chán, thay vì ở nhà trông chừng cha, hai chị dẫn tôi lên nhà thờ An Đôn đánh “thẻ”  trong khi tôi lủi thủi chơi một mình. “Đánh thẻ” là trò chơi con gái trổ tài khéo léo bằng cách bắt gom và múa may một bó đũa trong khi vật để đo lường thời gian được tung lên trời, rơi xuống chạm đất rồi nẩy lên như một quả banh hoặc chưa chạm đất nếu không thể nẩy lên được như trái ổi hoặc cục đá, viên sỏi. Người hoàn tất mọi động tác qui định trước sẽ phạt người chưa hoàn tất bằng cách dùng bó thẻ đánh vào bắp chân, cũng theo thời gian vật đo lường rơi xuống, đánh bao nhiêu cái mỗi lần và bao nhiêu lần cũng tùy qui định.

Được ai đó đã báo tin cha tôi đang hấp hối ở nhà, cha Sở, linh mục coi sóc giáo xứ chúng tôi, đã xuống lo liệu nghi thức cuối cùng cho cha tôi theo lệ của người Công giáo. Khi trở về lại nhà thờ, tình cờ đi ngang qua thấy hai chị tôi vẫn còn mãi mê đánh “thẻ,” cha mắng:

“Lũ bay, không biết chi răng? Cha bây sắp chết rồi, chạy kêu mạ bây về liền đi.”

Lớn hơn một chút nên hiểu chuyện hơn, chị thứ ba của tôi chạy vọt đi tìm mạ và chị lớn của tôi trong khi chị thứ tư lật đật dẫn tôi về nhà. Anh trai tôi, sau thời gian tu Dòng nhưng không được chọn đã quay về nhà rồi giúp cha Sở An Đôn trước cha Sở hiện tại. Anh tôi đã đi theo khi cha Sở trước đổi đi giáo xứ khác nên không có mặt ở nhà lúc cha tôi hấp hối, mấy hôm sau mới về nhà khóc cha. Ngày đưa tang cha tôi, gia đình tôi mặc áo tang vải xô trắng ngà ngà đi theo sau quan tài. Mạ Nguyệt và một vài thân nhân đi theo sau gia đình tôi. Nguyệt không đi cùng mạ Nguyệt mà đi cạnh tôi. Mạ tôi tru tréo khóc lóc. Các chị cũng tru tréo khóc lóc. Anh tôi cũng khóc. Tôi cũng khóc nhưng chỉ chút ít, khóc vì thấy mạ và các anh chị tôi khóc hơn là vì thương tiếc đã mất cha. Nguyệt cũng khóc thật nhiều mà tôi chẳng hiểu tại sao vì thực sự Nguyệt chẳng mất mát gì như chúng tôi mất cha để phải khóc lóc. Có phải Nguyệt khóc vì lây vì tiếng khóc của mạ của anh chị tôi, hoặc tại thấy tôi khóc? 



(Còn tiếp)

Trần Hữu Thuần

READ MORE - HOA HỌC TRÒ -Truyện ngắn của Trần Hữu Thuần - Kỳ 1

NƠI MẶT TRỜI NGỦ YÊN - thơ Phan Minh Châu



Em đi về phía xa xôi
Anh đi về phía mặt trời ngủ yên
Đất này dẫu đất không tên
Phồn hoa vẫn cứ chông chênh nỗi buồn
Em đi thả mộng bên trời
Để anh mặc niệm những lời héo hon
Tình trong như mảnh trăng non
Bỗng dưng hụt hẫng thấm hồn anh đau
Giật mình một giấc chiêm bao
Trái tim lỡ vận ngọt ngào vẫn yêu
Em đi về phía không chiều
Để anh ôm trái đìu hiu tội tình
Lời nhàu nát cả câu kinh
Gởi cho em chút tình này sẻ chia
Phố buồn rắc hạt sương khuya
Sớm mai trở giấc rộ tia nắng hồng
Mai này gội nắng đầu sông
Nhớ em khua áo trên dòng nước xuôi
Chở che một chút ngậm ngùi
Để trăm năm cũ còn khơi bóng người

                    PHAN MINH CHÂU
      3b Âu Cơ Nha Trang Khánh Hòa


READ MORE - NƠI MẶT TRỜI NGỦ YÊN - thơ Phan Minh Châu

ĐIỆP KHÚC BUỒN - thơ Trương Nguyễn


Trương Nguyễn



Tôi lớn lên
Trên cánh đồng đời đá sỏi
Đào bới mỗi ngày nhầm những rủi ro
Cành cây ngọn cỏ héo khô
Ươm mầm ước mơ gặp mùa giông bão
Cánh diều trôi xa tắp
Mang tuổi thơ đen màu khói đạn
Và trái tim đầy rẫy vết thương


Tôi nghĩ về quê hương
Dòng sông vắt ngang trí óc
Hàng tre bến đò mái đình xưa cũ
Cây bàng già thêm nỗi nhớ
Ký ức phong rêu mỗi bận quay về
Trang giấy mỏng đậm nét tái tê
Ngòi bút cong vuốt  hoài chả thẳng
Cứ mòn dần đầy lên cay đắng
Lời cho em....
Đau đáu mệnh người


Tôi viết về tôi!
Giữa phố đông người
Kẻ hát rong gào trong cô độc
Văn chương rêu mốc
Cuộc sống quắt quay hư ảo loạn cuồng
Lời chân tình hóa luận điệu suông
Thành phố bịt tai nhắm mắt
Hởi người hành khất ...
Hát chi?

Điệp khúc buồn
READ MORE - ĐIỆP KHÚC BUỒN - thơ Trương Nguyễn

CÔ EM HÀNG XÓM - thơ Nguyễn Thanh Bá


Minh họa: Nguyễn Thanh (tuoitre.vn)


Gió quén sương tan sân nắng đầy
Bên thềm hong tóc thả hương bay
Bồi hồi đứng lặng nhìn giây lát
Vương đọng trong lòng chút ngất ngây

Em chỉ là hàng xóm của tôi
Yêu thương chưa nói được nên lời
Từ lâu tự thấy rất thân thiện
Mỗi bận bên nhau lòng rộn vui

Đời trai theo  cánh gió ngàn phương
Ngày tháng âm thầm mang nhớ thương
Ba năm chinh chiến về thăm lại
Quê mẹ điêu linh bãi chiến trường

Tìm em - chừ biết ở nơi đâu ?
Sông núi hoang tàn cảnh bể dâu
Đất nước kéo dài cơn biến loạn
Em ơi ! chịu lắm nỗi cơ cầu

Thế rồi cuộc chiến cũng qua đi
Rủ áo phong sương trở bước về
Dựng tạm nhà tranh trên nếp cũ
Dầm thân cày xới ruộng đồng quê

Bên em trơ trọi mảnh vườn hoang
Nắng vẫn hồng tươi vẫn dịu dàng
Tiếc chẳng còn em ngồi xõa tóc
Tôi còn phen dậu lén nhìn sang

Từ đấy mong chờ mòn tháng năm
Phương trời nào có biết hay chăng ?
Em ơi ! nhẹ gót quay về lại
Tôi tỏ lời yêu dẫu muộn màng!

                  Nguyễn Thanh Bá


READ MORE - CÔ EM HÀNG XÓM - thơ Nguyễn Thanh Bá

VIẾNG THĂM THÁP CỔ BÌNH THẠNH - Thanh Nhàn

                               


Tháp uy nghi lộng lẫy như một loài cây cổ thụ của thiên nhiên, đứng sừng sững giữa trời mây...  

Một lần, tôi cảm hứng viếng thăm cổ tháp, nhìn chung quanh vạn vật đều nghiêm trang lặng lẽ...mê đắm theo nhịp điệu của đất trời cổ tháp như sống cùng với người xưa…Có gì mầu nhiệm ? Đứng trên gò tháp cao độ 1,5m, vuông đất khoảng 01 mẫu, tôi cứ say ngắm nhìn vài chục cây cổ thụ  hẳn đà cao niên kỷ mà chiêm nghiệm đất trời...Trải qua bao thăng trầm nắng gió, bao bom đạn mịt trời, cổ tháp vẫn hiên ngang, nguyên vẹn hình hài…   

Đang ngơ  ngẩn, bỗng một đàn chim từ đâu bay đến dần toả như trời trở về mùa xuân. Ngồi thật lâu, không tỏ cùng ai, mà nỗi lòng thì ngập tràn vương vấn. Tôi thầm nghĩ, có lẽ vết tích này của bàn tay khối óc người xưa, biết nhìn thiên nhiên, biết sáng tạo nghệ thuật, biết bỏ ra nhiều công sức, đã tạo thành một kiệt tác tạo hoá mà lưu giữ nghìn đời.   
 
Nhìn vào bia, đề rõ tháp cổ có từ cuối thế kỷ  VIII, đầu thế kỷ IX, thuộc nền văn hoá Ốc eo, một ngàn hai trăm năm đi qua, hầu như không có thứ gì có thể tồn tại trước thời gian, vậy mà tháp vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt. Tháp cao khoảng hơn 10m, được xây bằng gạch liền nhau mà không thấy chất kết dính ? Diện tích khoảng 5m vuông vức, hoa văn tinh xảo cầu kỳ. Cửa vào,ở  phía Đôngđược làm bằng đá xanh mài nhẵn, trang trí  hoa văn độc đáo.Trên “mi cửa” là  một phiến đá lớn, hình chữ nhật cao 0.80 x 2 m chạm nổi hình hoa cúc cách điệu, hai vách bên cửa chính cũng chạm nổi hai mảng phù điêu.    

Do cửa chính và ba cửa “giả” đều được xây nhô  ra ngoài, cùng với các mô típ trang trí được xây lặp lại ở các phần thu nhỏ dần lên  đỉnh tháp, tạo cho toàn bộ ngôi tháp có nhiều góc, cạnh, cộng thêm vào các bức phù điêu được  đắp nổi quanh ngôi tháp nên đã tôn tạo vẻ kỳ  quang. Gạch, bây giờ đã loang lổ, màu vàng rêu phong cổ kính, nhưng vẫn khoe kiểu dáng lạ lẫm của mình. Tháp vẫn đứng trầm mặc, giữa những bóng cây  đại ngàn. Lòng người dâng lên niềm tự hào khôn tả. Cảm hứng trước công trình tạo hoá tuyệt vời, tôi viết ngay bài thơ tứ tuyệt:

Từ thuở  nghìn năm, cổ tháp này !
Ông cha tạo dựng, lộng trời mây !
Đắm say cổ tháp làng Bình Thạnh
Kiệt tác con người, đã dựng xây         
                                                        
TN

*Trích Blog Câu lạc bộ thơ Tháp Cổ Bình Thạnh

( lvthat,vnweblogs.com)

READ MORE - VIẾNG THĂM THÁP CỔ BÌNH THẠNH - Thanh Nhàn

CẢM NGHĨ KHI ĐỌC BÀI THƠ “TÔI MUỐN VỀ THĂM BÌNH THẠNH” - TÁC GIẢ CHÂU THẠCH * - Thanh Nhàn


(Kính tặng nhà thơ Châu Thạch)


TÔI MUỐN VỂ THĂM BÌNH THẠNH
Châu Thạch

Tôi muốn về thăm Bình Thạnh
Một chốn nào đâu đó xứ Tây Ninh
Có tiếng thơ bay bổng rất chân tình
Thổi qua mạng khiến hồn tôi mơ mộng.


Tôi tưởng tượng nơi đây nhiều gió lộng
Thả cánh diều căng vút tận trời xanh
Để hồn thơ lên đến cõi trong lành
Khiến xa lắm tôi còn nghe tiếng nhạc.


Tôi tưởng tượng nơi đây cây cũng hát
Nên cụ  già, em nhỏ cũng làm thơ
Thơ thanh trong như tiếng suối qua bờ
Thơ rung động như câu vàng nam bộ.


Tôi tưởng tượng được về nơi Tháp Cổ
Nhìn ngôi thơ  lưu di tích trăm năm
Nghe tiếng thơ  vang vọng dưới trăng rằm
Và tận mặt cầm tay nhiều thi hữu.


Tôi mơ  ước nhìn hội thơ thành tựu
Những ếch vàng hóa hoàng tử xinh trai
Để bây giờ và đến cả ngày mai
Nàng công chúa Ly Tao về Bình Thạnh.


Và nơi  đó một vương triều vững mạnh
Những lầu thơ đẹp ngất giữa trần gian
Thơ xây trăng cung điện những đường làng
Thơ thượng uyển trong khu vườn cây trái.


Những ước ao thật xa rời thực tại
Có hề  chi vì thi sĩ là mơ
Có hề  chi khi lầu mộng là thơ
Đã hiện thực trong con người Bình Thạnh.                                               
CT


Nhà thơ Thanh Nhàn



Thơ, theo tôi nghĩ thật là độc đáo khi có sự hài hòa nổi bật của những nét đẹp: một là lời, hai là tấm chân tình ba là chất thơ. Cái đẹp của tình rất rộng lớn, đầy yếu tố sáng tạo, tinh vi thể hiện tình người nhất là nhân nghĩa. Bất cứ nơi đâu, nghĩa bóng nghĩa đen cũng là hiện tượng làm cho đọc giả hiểu được câu thơ, ngâm ngầm những âm thanh, ý nghĩa xuất phát tự đáy lòng. Bài thơ “ Tôi muốn về thăm Bình Thạnh” của tác giả Châu Thạch đã toát lên những cái đẹp ý tưởng đó.

Những vẻ  đẹp này, cao thượng ở trong tôi, nên xem thơ hiểu được thơ cũng giống như một cuộc hòa tấu năm bảy cây đàn nhạc cụ trỗi lên cấu tạo  đồng hòa nhịp nhau thành một bản nhạc tuyệt dịu, thì giá trị chất thơ càng cao hơn nữa. Thơ hay do người nghệ sĩ tạo tác, muôn màu muôn vẻ từ trong vốn từ ngữ vô cảm mà biến thành từ ngữ hữu cảm. Những bài thơ khác nhau, nếu trở thành bài thơ hay, đều giống nhau cùng chung nguồn nước, nhưng khi thoát ra thì không nguồn nước nào giống nhau cả. Ở đây, tôi muốn nói lên cái tấm chân tình của nhà thơ Châu Thạch dành cho CLB Bình Thạnh Tây Ninh thật là ngưỡng mộ vô cùng. Tôi xin trích 4 câu thơ khổ thứ tư của bài thơ:

Tôi tưởng tượng được về nơi Tháp cổ
Nhìn ngôi thơ lưu di tích trăm năm
Nghe tiếng thơ vang vọng dưới trăng rằm
Và tạn mặt cầm tay nhiều thi hữu     

Bốn câu thơ  lưu luyến tình đầy tâm đắc cho CLB thơ Bình Thạnh. Bài thơ như nguồn nước hiền hòa miên man xuôi chảy về dòng sông Vàm Cỏ thân yêu. Thật là trìu mến thân thương, CLB thơ Bình Thạnh trân trọng yêu mến. Khi đọc, Thanh Nhàn tưởng tượng như mùa xuân biết nói, tháp cổ cũng thành khúc ca, từng hàng cây cổ thụ cũng reo hò vang vọng, cũng rung động trái tim, cũng trải lòng thi sĩ…. Khi hoàng hôn buông xuống, những cánh cò chiều bay lả, những đàn chim về tổ, đồng xanh mênh mông, con đường đất đỏ quanh quanh…đầy thơ mộng đã từng là nguồn cảm hứng của bao nhà thơ Bình Thạnh. Chính vì thế, mà nhà thơ Châu Thạch cũng mong muốn về tháp cổ một chuyến, gặp gỡ nhiều thi hữu tay bắt mặt mừng để tìm hiểu ta với ta và ngắm bức tranh quê Bình Thạnh thơ mộng làm sao. Vui biết bao nhiêu nguồn thơ bên Tháp Cổ….   
Đọc bài thơ “ Tôi muốn về thăm Bình Thạnh” của tác giả Châu Thạch làm cho Thanh Nhàn nhớ lại thời gian qua, tác giả viết bài cảm nghĩ bài thơ “ Tặng em chiếc quạt trầm hương” của Thanh Nhàn, thật tình mà nói cảm mến vô cùng. Thanh Nhàn cũng ước mong sao gặp gỡ tác giả Châu Thạch để học hỏi thêm trên bước đường văn học. Dẫu cách xa ngàn dặm, Thanh Nhàn cảm thấy như đã có gì vương vấn với nhau trong lời thơ ý đẹp này.     
 
Nhân dịp, Thanh Nhàn kính tặng tác giả Châu Thạch vài nét về Tháp Cổ Bình Thạnh viết trong bài “Viếng thăm Tháp Cổ Bình Thạnh” đã khá lâu. Những lời văn làng quê của Thanh Nhàn cũng hy vọng rằng, khi tác giả đến thăm Tháp Cổ như đã quen thuộc rồi. CLB thơ Bình Thạnh rất chân thành đón tiếp nhà thơ Châu Thạch.  

Hẹn gặp.

TN 
READ MORE - CẢM NGHĨ KHI ĐỌC BÀI THƠ “TÔI MUỐN VỀ THĂM BÌNH THẠNH” - TÁC GIẢ CHÂU THẠCH * - Thanh Nhàn

HẸN ... - Lê Đức Diệu


                 Kính tặng nhà thơ Võ Văn Hoa




Hẹn ngồi Tri Âm Các,
Uống rượu cùng thi ông (*)
Nhìn trăng sao bất diệt
Quên ưu tư trong lòng.

                     *
Xóa ngăn cách tuổi tác
Còn thơ, rượu, vầng trăng.
Son cháy ngời trong mắt
Nhớ chuyện xưa dao cầm (**)

                    *
Trăng dọc ngang trong chén
Thơ tung hoành hồn nhau.
Đời  được mất phù phiếm
Vô tình – ta  về đâu ? 
       
                 Lê Đức Diệu

(*) Thi Ông: Người làm thơ/ cũng có nghĩa quê của nhà thơ Võ Văn Hoa.
(**) Dao cầm: Điển tích về Bá Nha- Tử Kì.


Ảnh trên: Một góc Tri Âm Các.


READ MORE - HẸN ... - Lê Đức Diệu