Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành
Showing posts with label Lê Giao Văn. Show all posts
Showing posts with label Lê Giao Văn. Show all posts

Tuesday, December 20, 2022

ĐỌC “TRẦM TÍCH CA” TẬP THƠ CỦA LÊ GIAO VĂN - Châu Thạch


   
Nhà thơ Lê Giao Văn, bạn tôi, vừa xuất bản tập thơ lấy tựa đề “Trầm Tích Ca”.
 
Viết cho bạn là đương nhiên nhưng dầu là bạn mà thơ không hay thì cũng không viết, bởi viết như thế thì hại mình trước tiên chớ chưa nói là hại bạn. Thế nhưng “Trầm Tích Ca” đã được một nhà phê bình văn học có uy tín  Nguyễn Công Lý khen là “Những lời thơ lắng đọng qua một giọng thơ hào sảng của thi sĩ lãng du”, thì sao tôi lại không  viết cho bạn tôi được.


                           Châu Thạch và Lê Giao Văn

Quả thật vậy, thơ trong “Trầm Tich Ca” được nhận xét “Lục bát thì mượt mà tình cảm, Đường Luật chuẩn niêm, chuẩn luật, không bệnh, thơ tự do thì phóng khoáng, ý tưởng tràn trề, câu chữ nhảy múa, viết về bạn bè đậm tình tương ngộ tương giao, viết về vợ thì dạt dào sâu đậm tình nghĩa thuỷ chung. ‘Trầm Tích Ca’ có ngôn ngữ giản dị, diễn đạt trong sáng,  tất cả ăm ắp, sâu đậm nỗi niềm…”
 
Vậy thì tôi xin bình một bài thơ tiêu biểu để xem nó có thật như nhận xét trên không. Bài thơ “Trầm Tích Ca” đăng ở trang 19 được dùng làm tựa đề cho cả tập thơ:
 
 Khổ 1 của bài thơ như sau:
 
Đời dấu trong anh vài hớp rượu
Anh dấu trong anh cái khốn cùng
Mai – nếu em làm viên đá cuội
Anh làm khe nước để bao dung
 
Chỉ đọc hai câu thơ đầu của khổ đầu, ta cũng có thể hiểu khái quát tâm trạng của nhà thơ đang sống giữa cuộc đời nầy. “Đời giấu trong anh vài hớp rượu/ Anh giấu trong anh cái khốn cùng”“Giấu” là để một vật vào nơi kín đáo không ai thấy hay không cho ai biết một điều mình đã biết. Trong nền văn hoá nước ta rượu tượng trưng cho lễ, rượu thể hiện cho niềm vui, rượu còn là phần thưởng để ban cho người khác. Đời giấu trong nhà thơ Lê Giao Văn vài hớp rượu nghĩa là đời keo kiết với anh. Đời chỉ cho anh vài hớp rượu hay suy ra đời chỉ cho nhà thơ một vài niềm vui nhỏ, những niềm vui đó cũng chỉ có anh âm thầm tự biết trong lòng mình mà thôi.
 
Từ câu thơ thứ nhất đọc qua câu thứ hai, ta hiểu cuộc đời của thi nhân niềm vui thì ít  nhưng khốn cùng thì nhiều. Ngược lại với đời, Lê Giao Văn không giấu niềm vui đến với mình mà lại giấu sự khốn cùng nhiều lần đến với đời anh: “Anh giấu trong anh cái khốn cùng”. Qua câu thơ ta hiểu Lê Giao Văn là con người luôn luôn lạc quan yêu đời, anh nuốt vào lòng những đắng cay mà đời đem đến, giấu đi những phiền muộn ưu tư để cất tiếng cười sảng khoái, nâng ly, ngâm thơ ca hát trả lễ cho đời, vui cùng bạn hữu, cho, hay làm quà tặng tha nhân.
 
Ai chơi với Lê Giao Văn thì biết rằng hai câu thơ trên nói lên điều rất thật.
 
Hai câu thơ tiếp theo “Mai - nếu em  làm viên đá cuội/ Anh làm khe nước để bao dung” cho ta hiểu được tấm lòng trong veo mát rượi của nhà thơ. Lê Giao Văn dùng đá cuội là loại đá đa dạng màu sắc, có tính thẩm mỹ cao đem làm hình tượng em  như là phát hiện một tứ thơ mới độc đáo trong thi ca. Em là viên đá cuội còn anh là khe nước cho ta hình dung được cảnh đẹp thiên nhiên. Đem cảnh đẹp thiên nhiên đó làm bức tranh thể hiện cuộc tình chung thuỷ, lặng lờ, âu yếm, bao dung đã nói hết được tấm lòng quảng đại, tình yêu trường tồn, vị tha của tác giả.
 
Đọc qua khổ thơ thứ hai, ta biết Lê Giao văn là con người bốc lửa, chơi là chơi đến cùng, yêu là yêu đến tận, nhà thơ bị tù túng trong cuộc đời nầy bởi những ràng buộc trần gian:
 
Đời dạy làn hơi chừng mực quá
Làm sao tim phổi ngực… căng hơi
Anh thương những giọt nồng men lửa
Như đã thương em đốt nỗi sầu
 
Ai chơi với Lê Giao Văn thì biết nhà thơ uống như hủ chìm nghĩa là như chiếc hủ chìm xuống đáy dòng sông, bất cần nổi lên hay chẳng nổi lên. Ai chơi với Lê Giao Văn thì biết nhà thơ uống như Lưu Linh, nghĩa là uống như một trong Trúc Lâm Thất Hiền thời xưa, là những danh sĩ uống rượu làm thơ mà người đời ca tụng. Ai chơi với Lê Giao Văn thì biết nhà thơ làm thơ trên bàn rượu lưu loát như gió như trăng, đọc thơ trên bàn rượu có khi như tiếng sóng gầm, có khi như tiếng suối reo, quả là Hồ Trường “Rót về Đông phương, nước biển Đông chảy xiết sinh cuồng  loạn / Rót về Tây phương, mưa  phương Tây từng trận chứa chan.. .”  Bởi thế khi đọc khổ thơ trên ta hiểu nhà thơ như con Hổ của Thế Lữ đau lòng nằm nơi “tầm thường giả tạo” chịu sự gò bó của “Hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng”. Với tấm lòng “bao dung” Lê Giao Văn yêu, nhưng đã yêu thì nóng như “giọt nồng men lửa” để “đốt nỗi sầu” cho cháy bùng lên.
  
Khổ thơ thứ ba:
 
Rượu và em -  hiện thể bình thường
Như trăng với nước mãi hoài thương
Chờ qua khỏi dốc cơn tình mộng
Anh lại thương anh cái dị thường
 
Nhà thơ yêu rượu và yêu em ngang nhau. Tình yêu đó trong trẻo vô biên và quyến luyến vô cùng, như trăng và nước muôn đời tồn tại trong thi ca. Tình yêu đó của Lê Giao Văn “nồng men lửa”“đốt nỗi sầu” nhưng nó không phải là những con đường  bằng phẳng có trăng và nước để “mãi  hoài thương”. Rượu và em trong Lê Giao Văn có khi là những “cái khốn cùng” mà nhà thơ phải giấu đi, để một mình vượt “qua khỏi dốc cơn tình mộng” của mình.
 
Là thi sĩ nghĩa là phải mộng, phải “Ru với gió, mơ theo trăng và vơ vẩn  cùng mây”. Lê Giao Văn là thi sĩ, còn là thi sĩ có con “tim phổi ngực… căng hơi”, nhưng ngược lại “đời chừng mực”, tình yêu em cho cũng “chừng mực quá”, rượu uống vì yêu cũng “chừng mực”, không giãi được thành sầu, cho nên tâm tư phải vượt qua bao con dốc là chuyện bình thường. Khi vượt qua con dốc rồi, nhà thơ nhìn lại chỉ thấy mình cô đơn, chỉ thấy mình dị thường, chỉ thấy mình phải yên lặng để “Anh dấu trong anh cái khốn cùng”. Từ đó Lê Giao Văn thốt lên câu thơ tán thán: “Anh lại thương anh cái dị thường”, dị thường vì đã yêu rực lửa, dị thường vì đã uống lưu linh, dị thường vì đã đối đãi với đời trung thực, mà bây giờ qua con dốc tình mộng thấy mình tay trắng, lạc lỏng, bơ vơ! Khổ thơ diễn đạt sự hụt hẫng của một con người năng động, của một tình yêu đam mê và của một linh hồn thật thà cả tin và phóng khoáng.
 
Khổ thơ thứ bốn và cũng là khổ thơ cuối cùng của bài thơ:
 
Rượu rót cho đời vài chất độc
Anh rót cho anh cái mỏi mòn
Đời hóa thân em ly rượu đắng
Anh hoá vần thơ chết… khỏi chôn.
 
Lê Giao Văn tắm mình trong rượu, tắm mình trong tình để cuối cùng ngộ ra rượu và tình hay rượu và em đều là chất độc. Biết thế nhưng không có rượu, không có em thì không thể có vần thơ. Nhà thơ tự nguyện hiến dâng mình cho rượu và em, nghĩa là nhà thơ tự nguyện hóa thành vần thơ, cho dầu vần thơ đó một ngày kia có chết đi cũng “khỏi chôn”, bởi vì thơ thì không có thể xác, nó sẽ bay vào thời gian, tồn tại trong không gian vĩnh viễn đến muôn đời.
 
 Bài thơ “Trầm Tích Ca” nói đến rượu, nói đến tình, nói đến đời nhưng cuối cùng mục đích của nó là gì? Mục đích là tôn vinh thơ. Thơ hiện hữu trong rượu, thơ hiện hữu trong tình, thơ căng đầy buồng tim lồng ngực để cuối cùng tất cả cái đó ở trong anh để “Anh hoá thành vần thơ chết…khỏi chôn”.
 
“Trầm Tích Ca” của Lê Giao Văn là bài ca của sự lắng đọng, nhưng không phải là sự lắng đọng của đất đá xuống đáy dòng nước mà là sự chắt lọc tinh tuý của tinh thần trong sự sống. Tinh tuý ấy chìm xuống đáy dòng đời, hiện nguyên hình thành thơ trong con người thơ. Con người thơ đó là Lê Giao Văn vì Lê Giao Văn đã hoá thành vần thơ trong cả cuộc đời anh!                                                                                                     
Châu Thạch

READ MORE - ĐỌC “TRẦM TÍCH CA” TẬP THƠ CỦA LÊ GIAO VĂN - Châu Thạch

Thursday, December 8, 2022

ĐỌC “TỨ HỮU ĐỒNG VỌNG” TẬP THƠ CỦA 4 TÁC GIẢ - Châu Thạch


  
“Tứ Hữu Đồng Vọng” là tuyển tập thơ của 4 tác giả, họ tự xưng là “Bốn chàng lãng tử bốn câu thơ tàn”. Tác giả được giới thiệu đầu tiên trong sách là Lê Giao Văn, quê Quảng Nam, hiện sống tại Bà Rịa – Vũng Tàu. Tác giả thứ hai là Minh Đạo quê Thừa Thiên – Huế. Tác giả thứ ba là Hồ Kim Công quê Quảng Nam. tác giả thứ tư là Nguyễn Minh Hồ quê Bến Tre. Cả ba tác giả sau đều sống tại thành phố Thủ Đức – Hồ Chí Minh.
   
Đây là tuyển tập thơ 4 câu, dày 146 trang của 4 tác giả “đồng thanh tương ứng”. Châu Thạch tôi mạo muội xin đơn cử mỗi tác giả một bài thơ mà mình yêu thích theo chủ quan để viết đôi lời cảm nhận, hầu gởi đến quý vị yêu thơ và không chê văn Châu Thạch, có một vài phút vui nghe Dế gáy. Không dám viết dài vì sợ mệt mắt mệt tâm quý vị.
 
Lê Giao Văn (Văn Anh Tuấn): Xin chọn bài thơ có tựa đề  “Thắp” trong 32 bài thơ ông đăng trong “Tứ Hữu Đồng Vọng”.
 
THẮP!
   
Thắp tâm - hồn sáng làm người
Thắp tình - rực rỡ nụ cười thơm hoa
Thắp thơ  - mới rõ xót xa
Thắp trăng – ôm trọn quan hà vào mơ!
 
Thơ 4 câu là một loại thơ dễ làm nhưng khó hay, dễ làm vì nó ngắn, khó hay vì nó chỉ có 4 câu nhưng phải làm nổi bậc một ý nghĩa, một nỗi niềm, đánh động trực chỉ nhân tâm vào khiếu thẩm thấu văn chương của người đọc, khiến họ thăng hoa ngay như vừa bắt gặp một điều thú vị.
 
Bài thơ “Thắp” của Lê Giao Văn có 4 câu thơ là 4 câu triết lý tròn ý nghĩa. Chữ tâm có thể viết được trăm trang trong giáo ly tôn giáo, trong đạo đức làm người, nhưng rõ ràng khi tâm đã được thắp lên là ánh sáng chân lý làm cho tỏ rạng tâm hồn con người. Chữ tình mang ý nghĩa sâu xa và cao rộng trong đó có tình yêu trai gái và tình người. Chữ tình được thắp lên sẽ cho tâm hồn thăng hoa để hương tâm hồn lan toả, để thấy cuộc đời tươi đẹp. Chữ thơ diễn tả mọi tâm tư trong cuộc sống. Thắp thơ lên là thắp nguồn trong trẻo vô biên để soi rọi ngóc ngách của tâm hồn, trong đó hiểu được những niềm vui mà đời ban tặng cùng những xót xa mà đời đem đến. Cuối cùng trăng là thứ “nằm sòng soãi trên canh liễu”, là thứ “Ánh sáng tuôn tràn cả lối đi”. Nhà thơ thắp trăng lên để hoá thân vào vũ trụ, dang tay ôn trọn quan hà trong giấc mơ cao rộng của mình.
 
Bài thơ “Thắp” chỉ có 4 câu nhưng đã đưa ánh sáng của nhân phẩm, của tình người, của nội tâm và của thiên nhiên lung linh chiếu sáng, soi rọi chân lý viên miễn thắp sáng lên giữa cuộc đời tục luỵ!
 
Minh Đạo (Dương Đức Lộc): Xin chọn bài thơ có tựa đề “Ước” trong 32 bài thơ tác giả đăng trong “Tứ Hữu Đồng Vọng”
 
       ƯỚC     
                     
Mấy lâu ước được lên ngôi    
Mà duyên chẳng đến nên ngồi đợi trông      
Thấy tim chợt đổi máu hồn     
Y như cánh nhạn bay vòng quanh ta 
  
“Ước” của tác giả Minh Đạo là ước mơ. Ước mơ là sự khao khát của mỗi người chúng ta, ao ước về một điều gì đó vật chất hay tinh thần. Ước mơ thường là mục tiêu hướng đến trong cuộc sống. Ước mơ cho ta mộng tưởng và làm cho  cuộc đời thú vị hơn. Tuy thế, ước mơ không thành dễ đem đến cho ta chán đời, mặc cảm. Bài thơ của Minh Đạo nói về những ước mơ không thành. Nhà thơ ước được lên ngôi, có thể lên ngôi trong cuộc sống, hay lên ngôi trong tình yêu, nhưng sự lên ngôi đó không thành bởi duyên không đến, khiến người ước mơ dài năm tháng chờ mong.
   
Bài thơ không có gì để nói nếu không có hai câu thơ sau: “Thấy tim chợt đổi máu hồng/Y như cánh nhạn bay vòng quanh ta”. Đây là hai câu thơ lạc quan. Ước mơ không thành nhưng ước mơ đã làm thăng hoa trong cuộc sống. Máu hồng trong tim là niềm vui trong trái tim lành mạnh, cánh nhạn bay vòng thể hiện  một bầu trời tự do cho những hy vọng bay lượn trên cao.
   
Nhà thơ Minh Đạo có nhiều ước mơ không thành, nhưng không ưu tư, không buồn phiền, không mặc cảm, lại nẩy sinh ra nhiều hình ảnh đẹp quanh ông. Chính điều nghịch lý với sự thường tình khiến cho ý thơ thẩm thấu vào tâm hồn ta. Những thi vị trong suy tư mới lạ và sâu nhiệm đem vào thơ, làm cho bài thơ 4 câu trở thành độc đáo! Đọc thơ ta nghe như những ước mơ chưa thành trở nên sinh khí làm nóng dòng máu đỏ trong con tim đầy mong muốn, làm nhẹ đi nỗi buồn thất vọng, chia ly và tình yêu  mãi mãi hoài mong.
 
Hồ Kim Công: Xin chọn bài thơ có tựa đề “Chơi Vơi” trong 32 bài thơ đăng trong “Tứ Hữu Đồng Vọng”.
 
CHƠI VƠI
 (Tặng D)
 
Sao nàng sơn nữ cứ trêu ngươi
Giang rộng đôi tay với tới trời
Nơi núi giao mây hoà cảm xúc
Khiến cho hồn lạ cũng chơi vơi
    
Bài thơ chỉ là một bức tranh đẹp, một bức tranh đẹp mà được diễn tả nổi bậc trong 4 câu thơ là một thành công nổi bậc.  Nàng sơn nữ giang rộng đôi tay trên đỉnh non cao tiếp với mây trời, dưới chân nàng chắc chắn trùng trùng điệp điệp rừng xanh có vô vàn khe suối. Đó là một bức tranh nên thơ và hùng vỹ. Bức tranh nên thơ và hùng vỹ đó được người hoạ sĩ vẽ bằng thơ bởi những nét chấm phá điểm xuyết, đủ khơi dậy trí tưởng tượng của con người thấy được toàn cảnh.
 
Hình ảnh đẹp của nàng sơn nữ làm “trêu ngươi” người đứng ngắm. Trêu ngươi có nghĩa là làm cho người ta bực mình một cách cố ý. Ở đây trêu người có nghĩa ngược lại, nghĩa là làm cho đắm đuối đôi mắt người thưởng thức. Hai câu thơ tả tình trước rồi tả cảnh sau đã vẽ được thắng cảnh và nói được diễn biến trong tâm hồn người ngắm.
  
Thế rồi hai câu thơ tiếp hoà điệu được cảm xúc của con người cùng núi cao mây trời trong vô vi vũ trụ. Hai câu thơ “Nơi núi giao mây hoà cảm xúc/Khiến cho hồn lạ cũng chơi vơi” đã nhân cách hoá núi và mây và con người đồng điệu trong sự rung cảm của con tim. Hình như mọi vật bây giờ đều chơi vơi, chơi vơi bởi hình ảnh tuyệt đẹp của người sơn nữ đang giang rộng đôi tay hứng vũ trụ vào lòng.
 
Bài thơ 4 câu của Hồ Kim Công chỉ là một bức tranh, nhưng là một bức tranh treo mãi trong tâm hồn ai thẩm thấu được màu sắc, âm thanh và con tim rung động trong thơ.
 
Nguyệt Minh Hồ (Đỗ Minh Huệ): Xin chọn bài thơ “Mang Đi” trong 33 bài thơ tác giả đăng trong “Tứ Hữu Đồng vọng”:
 
MANG ĐI
                   
Cánh phượng em hái cạnh nhà                 
Mang theo từ đó…đi xa                  
Tâm tư bao mùa phượng nở                    
Bón xanh tưới gốc si già
   
Như tôi đã nói ở trên, thơ 4 câu dễ làm khó hay, bài thơ phải như một chiếc hồ lô có phép thuật chứa đựng con người, không gian, thời gian và mọi vật. Tất nhiên bài thơ “Mang Đi” của nhà thơ Nguyệt Minh Hồ chưa phải là chiếc hồ lô, nhưng đây là một bài thơ 4 câu chứa nhiều ẩn dụ về một mối tình buồn, và cô đọng không gian, thời gian của cuộc tình ly cách.
 
Câu thơ “Cánh phượng em hái cạnh nhà” không khác chi câu thơ “Nhà nàng ở cạnh nhà tôi/Cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn” trong bài thơ “Người Hàng Xóm” của Nguyễn Bính. Rồi thì người con gái mang cánh phượng kỷ niệm đi xa, để thi nhân ở lại với tâm tư nhớ thương mỗi mùa phượng nở. Tình yêu như trăm ngàn tình yêu đầu đời khác, bài thơ như trăm ngàn bài thơ tình đầu khác, khác chăng là câu thơ thứ 4 thành một tứ thơ lạ kỳ, độc đáo, mang trọn vẹn ẩn ý về một cuộc tình lớn lên trong năm tháng đợi chờ.
 
Người con trai trong thơ đã ôm mối tình, nhớ thương chờ đợi tháng ngày, và cứ mỗi mùa phượng nở thì tình yêu sâu đậm thêm. Cây si là ẩn dụ của tâm tư thương nhớ, cây si xanh là mối tình cứ lớn theo tháng năm. Gốc si gìà là cây đã thành cổ thụ, cây thành cổ thụ nghĩa là tình đã trải qua mưa gió, vươn cao giữa đời trong phong ba bão táp.
 
Câu thơ chót “Bón xanh tưới gốc cây già” trong bài thơ “Mang Đi” làm đôi cánh cất bài thơ bay cao. Bài thơ tưởng như đơn sơ, từ ngữ nhẹ nhàng nhưng tan chảy âm thầm trong thơ một tình yêu thuỷ chung, trường tồn và sâu đậm.
 
Bốn bài thơ trên đây của 4 tác giả không phải là những bài thơ hay nhất trong tập “Tứ Hữu Đồng Vọng”. Đó chỉ là 4 bài thơ người viết thấy hợp với mình trong phút giây chọn lựa. Ước mong quý vị có cơ hội đọc tập thơ để hoà điệu với những vần tuyệt tác mà 4 thi nhân đã đồng vọng giữa vườn thơ trong trẻo vô biên và quyến luyến!
                                       
Châu Thạch

READ MORE - ĐỌC “TỨ HỮU ĐỒNG VỌNG” TẬP THƠ CỦA 4 TÁC GIẢ - Châu Thạch

Friday, May 14, 2021

ĐỌC “BIỆT TAM THANH” THƠ LÊ GIAO VĂN – Châu Thạch


  
           Nhà thơ Lê Giao Văn

 
BIỆT TAM THANH
 
Bài 1
 
Anh trải thế tình qua thế sự
Dòng sông Vĩnh Định đục hay trong...?
Cố quận - quê người đều đất trích
Chỉ có quê thơ sống tận lòng
 
Cùng một bào thai, hai thế kỷ
Bể dâu gởi trả cuộc Nam hành
Bao nhiêu Từ Thứ, bao Từ Hải...
Anh bạn của huynh - em bạn anh !
 
Lòng đất anh về tìm sao Đẩu
Sao Khuê em lặng ngắm qua mành
Giấy úa, còn nguyên hình nét bút
Đường trần thao thức nhớ Tam Thanh.
 
 
BIỆT TAM THANH
 
Bài 2.
 
Chiếu thơ điểm lại biệt Tam Thanh
Cõi mộng riêng anh bước độc hành
Dâu bể không sờn khi sóng lớn
Tang bồng chẳng thẹn với ngày xanh
Tứ thơ bay bổng toan dừng lại
Sự nghiệp cao sang cũng phải đành
Nằm lại Vũng Tàu nghe biển hát
Ngàn thu bên Chúa giấc mơ lành.
 
                                Lê Giao Văn  
 
*

Nhà bình thơ Châu Thạch

 
ĐỌC “BIỆT TAM THANH” THƠ LÊ GIAO VĂN
                                                         Châu Thạch
 
(Khóc bạn thơ hay hơn khóc bạn tình)
 
Nhà thơ Tam Thanh, tên thật Nguyễn Tiềm, sanh 1929, quê Thanh Lê - Quảng Trị, mất 2011. Nhà thơ Lê Giao Văn quê Quảng Nam, hiện sông tại Bà Rịa-Vũng Tàu, tiễn bạn thơ của mình bằng hai bài thơ “Biệt Tam Thanh”, bài thứ nhất là Thơ Mới, bài thư hai là thơ Đường luật. Cả hai bài thơ không có nước mắt, vì hình như nước mắt đã hóa thành hơi, bay lên vùng sao Đẩu sao Khuê.

Đọc khổ thơ đầu tiên của bài thơ thứ nhất cho ta thấy ngay nỗi đau của nhà thơ quá cố Tam Thanh không phải là nỗi đau bình thường, đó không chỉ là nỗi đau ly hương mà còn là nỗi đau thân phận như thân phận của kẻ bị lưu đày:
 
Anh trải thế tình qua thế sự
Dòng sông Vĩnh Định đục hay trong ...?
Cố quận - quê người đều đất trích
Chỉ có quê thơ sống tận lòng
 
“Thế tình” là thế thái nhân tình, là thời đại và lòng người. “Thế sự” nói khái quát là việc đời. Câu thơ đầu “Anh trải thế tình qua thế sự” cho thấy nhà thơ Tam Thanh đã sống trường trải với bao nỗi thăng trầm trong đời, đã kinh qua nhiều vui buồn trong cuộc sống.
 
Quê Hương của Tam Thanh là Quảng Trị, làng Thanh Lê nằm bên dòng sông Vĩnh Định. Nhà thơ Lê Giao Văn cho rằng dầu Tam Thanh ở tại quê nhà hay làm dân ngụ ở Bà Rịa - Vũng Tàu, vẫn là thân phận của một kẻ bị đày đi xa ở nơi “đất trích”
 
“Đất trích” là gì?
 
“Đất trích” xuất từ tiếng “Trích điạ” trong bài thơ Tỳ Bà Hành của thi sĩ Bạch Cư Dị:
 
Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân,
Tương phùng hà tất tằng tương thức.
Ngã tòng khứ niên từ đế kinh,
Trích cư ngoạ bệnh Tầm Dương thành.
 
Thi sĩ Phan Huy Vịnh dịch:
 
Cùng một lứa bên trời lận đận,
Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau.
Từ xa kinh khuyết bấy lâu,
Tầm Dương đất trích gối sầu hôm mai.
 
Ngày xưa, những ông quan có tội thường bị Vua phạt bằng cách đổi đi làm quan ở những nơi xa đô thị, ở những vùng hoang vắng khỉ ho, cò gáy, chó ăn đá, gà ăn muối. Quan lại Tàu gọi việc viên quan bị đày đi xa là bị “biếm trích”, gọi nơi vị quan bị đày đến là “trích địa”.
 
Nhà thơ Lê Giao Văn chỉ dùng lại hai chữ “đất trích” của thi sĩ xưa, đã nói lên được tất cả nỗi đau của Tam Thanh, thi sĩ thời nay, ông không chỉ ở nơi đất trích là nơi ngụ cư, mà còn ở nơi đất trích trên chinh quê hương Quảng Trị của mình, vì nơi đây chắc ông bị ruồng bỏ, hành hạ, đọa đày, đối xử như là người tù bị biếm trích trên chính quê hương ông. Bởi thế Tam Thanh phải thoát ly đến miền trích địa xứ người. 
 
Qua khổ thơ thứ hai:
 
Cùng một bào thai, hai thế kỷ
Bể dâu gởi trả cuộc Nam hành
Bao nhiêu Từ Thứ, bao Từ Hải...
Anh bạn của huynh - em bạn anh !
 
Nhà thơ Tam Thanh chính là bạn với hai người anh của nhà thơ Lê Giao Văn: “Cùng một bào thai, hai thế kỷ”. Sau đó qua hai người anh của mình, tình thơ của Văn và Thanh nẩy sinh từ đó: “Anh bạn của huynh - em bạn anh”
 
“Từ Thứ” (160-220) là mưu sĩ của sứ quân Lưu Bị, sau đó là đại thần nhà Tào Ngụy thời Tam Quốc trong lịch sử Trung Hoa. “Từ Hải” là nhân vật Nguyễn Du yêu thích trong tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Đại thi hào Nguyễn Du đã xây dựng hình tượng Từ Hải lên một bước mới, dùng hình tượng anh hùng của Từ Hải để thể hiện nguyện vọng thầm kín của mình. Vị anh hùng ấy, ngòai thói đa tình, còn thêm hai đức tính đặc biệt khác nữa là, lòng kiêu hãnh, chí độc lập ngang tàng.
 
Lê Giao Văn đã mô tả hoặc xây dựng bạn thơ của mình, Tam Thanh thành một nhân vật đa trí đa tài như những anh hùng trong sử sách thuở xa xưa. Để làm chi? Để nhà thơ nằm xuống, như một nhân vật “Kinh luân khởi tâm thượng/Binh giáp tàng hung trung” (Việc chính trị đã định sẵn trong lòng/Việc giáp binh đã sắp sẵn trong bụng) nhưng đã bị thế thời trói tay, thời cuộc làm cho thân bại danh liệt, phải đem thân biếm trích ngụ cư vào nơi đất trích xứ người!
 
Nhà thơ Tam Thanh mất năm 2011, Lê Giao Văn không khóc, chỉ thao thức đêm trường đọc thơ Tam Thanh trên “Giấy úa còn nguyên hình nét bút”:   
 
Lòng đất anh về tìm sao Đẩu
Sao Khuê em lặng ngắm qua mành
Giấy úa, còn nguyên hình nét bút
Đường trần thao thức nhớ Tam Thanh.
 
Sao Đẩu là sao gì? Đó là một nhóm gồm bảy ngôi sao ở phía Bắc trái đất, trong chòm sao Đại Hùng. Những tàu thuyền đi trên biển ngày xưa ngắm nhóm sao nầy để định hướng đi cho mình. 
 
Lê Giao Văn muốn linh hồn bạn mình đi tìm sao Đẩu, là muốn bên kia thế giới, bạn mình không còn như con thuyền mất hướng, lênh đênh phiêu dạt như trên đời trần gian nầy nữa. 
 
Trong văn hóa Đông Á và Việt Nam, sao Khuê là biểu tượng của văn chương, học thuật. Khuê Văn Các được xây dựng tại Quốc Tử Giám, trường Đại học đầu tiên của Việt Nam, mang biểu tượng này. Những bậc bác học lỗi lạc trong lịch sử được ví là sáng như sao Khuê; một trong số đó là Nguyễn Trãi, đã được Lê Thánh Tông cho tạc bia: Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo (Tâm hồn cao thượng của Ức Trai sáng như sao Khuê)
 
Lê Giao Văn thao thức hằng đêm, đọc thơ bạn mình trên giấy úa, lặng ngắm ngôi sao Khuê qua mành, là ước vọng ở trên cao kia, bạn thơ Tam Thanh thỏa vui, vẫy vùng nơi chốn văn chương, không bị tự khóa tay bịt miệng như chốn trần gian nầy. 
 
Bài thơ thứ hai Lê Giao Văn đưa tiễn Tam Thanh là một bài Đường thi, tiếng thơ nghe bình tĩnh lạ thường, âm thanh như những con sóng gối đầu lên nhau, nhưng nỗi sầu cứ nhẹ bay, nhẹ bay như khói hương quyện lên giữa bầu trời trong xanh, trong ngày linh hồn người bay bổng lên cao. Hai câu thơ cuối “Nằm lại Vũng Tàu nghe biển hát/Ngàn thu bên Chúa giấc mơ lành” hòa nhập thiên nhiên cùng cõi vĩnh hằng nơi mộ chí, như ngàn vạn con sóng biển vọng muôn đời, tan linh hồn vào cõi vô vi. Hai câu thơ như hai cánh chim bay, mang linh hồn cả người sống và người chết vào miền an tịnh vô biên:
 
Chiếu thơ điểm lại biệt Tam Thanh
Cõi mộng riêng anh bước độc hành
Dâu bể không sờn khi sóng lớn
Tang bồng chẳng thẹn với ngày xanh
Tứ thơ bay bỗng toan dừng lại
Sự nghiệp cao sang cũng phải đành
Nằm lại Vũng Tàu nghe biển hát
Ngàn thu bên Chúa giấc mơ lành.
 
Có lẽ không quá đáng khi tôi nói “ ‘Biệt Tam Thanh’ thơ Lê Giao Văn, khóc bạn thơ hay hơn khóc bạn tình”. Thật vậy, khóc bạn tình thì rơi nhiều nước mắt, khóc bạn thơ thì nước mắt ít rơi hoặc không rơi, nhưng tiếng thơ rơi vào trong lòng, như rơi vào cõi quyến luyến vô biên, như tiếng thủy tinh tan vỡ, như tiếng ngọc va vào vách đá, như tiếng nước rơi từ thạch nhũ trong động sâu, và như tiếng sóng biển thì thầm muôn đời cùng tinh tú.
 
Đọc thơ Lê Giao Văn tiễn đưa bạn về trời, tôi thấy hình như có đủ những thanh âm mà tôi đã nói ở trên.
 
                                                          Châu Thạch

 

READ MORE - ĐỌC “BIỆT TAM THANH” THƠ LÊ GIAO VĂN – Châu Thạch

Wednesday, April 17, 2019

ĐỌC “GIAI ĐIỆU TÌNH SI” THƠ LÊ GIAO VĂN - Châu Thạch


                                             Nhà thơ Lê Giao Văn


GIAI ĐIỆU TÌNH SI
(Riêng tặng những người tình, được tái ngộ sau 1975)

Cũng có thể khi chúng mình gặp lại
Con đường xưa cỏ úa lá rụng đầy
Anh sẽ nói với em là như vậy
Cuộc tình nào không có lúc chua cay

Cũng có thể khi chúng mình gặp lại
Cây khô ran bỗng thức dậy đâm chồi
Anh sẽ nói với em đừng trăn trối
Trái tình yêu cắn ngọt vị đầu môi

Cũng có thể khi chúng mình gặp lại
Phút tái sinh líu lưỡi nỗi oan cừu
Trăng thần thoại nhập hồn bờ ảo giác
Hạt răng cùn- cắn phập tuổi hai mươi

Cũng có thể khi chúng mình gặp lại
Phím tình xưa sụp vỡ hết cung đàn
Anh sẽ đặt lên hai bờ ngực rộng
Một tiếng lòng như tiếng sấm rền vang

Sợi tóc bạc dẫn đường giờ tương ngộ
Phấn hồng nhan lem luốc bụi phong trần
Bờ châu thổ rùng mình hương dạ thảo
Mặt trời xưa ! - sa lệ với giai nhân.

                                Lê giao Văn


    
        Nhà bình thơ Châu Thạch


ĐỌC “GIAI ĐIỆU TÌNH SI” THƠ LÊ GIAO VĂN
                                                                   Châu Thạch

Giai điệu là gì? Giai điệu được giải thích theo nhạc lý thì sâu rộng, được giải thích gọn nhẹ, dề hiểu là chuổi âm thanh hoàn chỉnh góp phần tạo nên bản nhạc. Một bản nhạc có ba phần: nhịp điệu, hòa âm và giai điệu. Giai điệu chính là cá tính của mỗi tác phẩm âm nhạc, cho ta cảm xúc khi thưởng thức cái hay riêng biệt của tác phẩm âm nhạc ấy.
Khi nói “Giai Điệu Tình Si” thì nhà thơ Lê Giao Văn đã hư cấu sự rung động của con tim thành âm thanh và âm thanh đó có tiết tấu hoàn chỉnh. Đầu đề bài thơ như vậy nên tiếng thơ của bài thơ cũng như vậy. Đọc nó ta nghe tiếng lá rụng, tiếng cây khô đâm chồi, tiếng sụp vỡ của cung đàn lỗi nhịp, tiếng sấm vang rền và cuối cùng cả tiếng lệ sa.
Toàn bộ bài thơ chỉ là một hy vọng, một hy vọng có thể gọi là hảo huyền. Nhà thơ luôn luôn mở đầu khổ thơ bằng câu thơ “Cũng có thể khi chúng mình gặp lại”. Đọc liên tiếp câu  thơ nầy ta cảm xúc, bởi một mong ước được nhấn mạnh, một mong ước như đã hằn sâu trong lòng tác giả. Âm thanh của câu thơ như tiếng gọi vang vọng giữa đất trời, lắng vào trong không gian vô hạn. Em có nghe không và em có về không? -“Cũng có thể!”, đó là một niềm tin như ngọn đèn le lói, như người ngồi bên song cửa trăm năm, để ngóng bóng ngựa hồng của người yêu quay lại. 
Ở khổ thơ đầu, khi “chúng mình gặp lại”, cuộc tình như “Con đường xưa cỏ úa rụng đầy”. Khi đó, Lê Giao Văn nói cùng em “Cuộc tình nào không có lúc chua cay”. Đó chính là sự chua cay trong lòng tác giả,  đó chính là sự đớn đau được thốt ra bằng những lời an ủi.
Khổ thư hai của bài thơ, khi “chúng mình gặp lại”, cuộc tình như “Cây khô ran đã thức dậy đâm chồi”.  Khi đó Lê Giao Văn thổn thức “Anh sẽ nói với em đừng trăng trối/ Trái tình yêu cắn ngọt vị đầu môi”.  Thật thì sắp chết mới trăng trối, có bao giờ tình đang nở hoa mà trăng trối đâu. Thật tình cây khô ran mới đâm chồi thì trái tình yêu ở đâu để cắn ngọt vị đầu môi. Thế nhưng tác giả đã nói vậy. Đây cũng chỉ là một ao ước, một câu thơ an ủi khi chúng mình còn quá xa nhau chưa biết ngày gặp lại. Tác giả nhớ lại tình xưa, tự nhủ sẽ nói với em những lời mật ngọt, nhưng tiếng lòng lại quặn thắt trong câu thơ vì sự gặp nhau chỉ là ước mơ vô định.
Rồi thì qua khổ thơ thứ ba, khi “chúng mình quay lại” thì nhà thơ Lê Gíao Văn cũng chỉ đau đớn rên rỉ trong phút tái sinh của cuộc tình đã mất bao năm:

Cũng có thể khi chúng mình gặp lại
Phút tái sinh líu lưỡi nỗi oan cừu
Trăng thần thoại nhập hồn bờ ảo giác
Hạt răng cùn- cắn phập tuổi hai mươi

Răng không còn là hàm mà đã thành “hạt” vì sự ly biệt đã quá lâu. “Hạt” là một tứ thơ hình tượng cho sự mòn mõi. “Cắn phập tuổi hai mươi” vì chiếc răng đã cùn nhưng nỗi rạo rực, đam mê muốn cắn lại cái thời xuân xanh ngày nào, đại khái mong được cảm nhận lại những gì rao rực của năm xưa. Một câu thơ gói trọn cường diệu, nhân hóa và hư cấu thật hay.
Ở khổ thơ thứ tư, nhà thơ đặt hai trái tim yêu trong bộ ngực rộng như biển khơi để nhịp đập trở thành “tiếng sấm rền vang”. Đây là nỗi đau không còn âm ỉ, không còn trầm lắng nữa, mà nó bùng lên như sóng thần, như hỏa diệm sơn khi “Cũng có thể khi chúng mình gặp lại/Phim tình xưa sụp vỡ hết cung đàn”. Ở khổ thơ nầy ta còn thấy tác giả không đè nén tâm tư để ao ước viễn vông. Nhà thơ đã gầm thét nỗi tuyệt vọng của mình, bày tỏ nỗi đau đó như tiếng sấm rền vang.
Qua khổ thơ cuối là sự thất vọng ê chề. Đầu tóc đã bạc, phấn hồng nhan lem luộc, mặt trời sa lệ là nỗi tuyệt vọng để bày tỏ tất cả ước mơ chỉ là ảo vọng, dầu cuộc tình xưa có gặp lại hay không thì nỗi đau vẫn khó vượt qua, cả hai đã già, đã quá tuổi xuân: 

Sợi tóc bạc dẫn đường giờ tương ngộ
Phấn hồng nhan lem luốc bụi phong trần
Bờ châu thổ rùng mình hương dạ thảo
Mặt trời xưa ! - sa lệ với giai nhân .

Quả thật đọc “Giai Điệu Tình Si” của lê Giao Văn ta nghe như có giai điệu buồn của tiếng sóng ầm ầm, vang vọng thê thiết từ ngàn xa liên tục dội vào bờ. Ta như thấy từng con sóng ập đến, con sóng sau to hơn con sóng trước, và cuối cùng nó đều tan tác bên rặng thùy dương. Bài thơ tình tưởng như mang đầy ước vọng đoàn tụ nhưng thực ra nó chất chứa nỗi đau triền miên của năm tháng đợi chờ, mòn mõi và tuyệt vọng nhiều hơn là hy vọng. Tim tôi rung động khi đọc thơ và tôi viết nó vội vàng, rất mau cũng để giải tỏa cho tôi những gì đồng cảm với Lê Giao Văn.

                                                                     Châu Thạch

READ MORE - ĐỌC “GIAI ĐIỆU TÌNH SI” THƠ LÊ GIAO VĂN - Châu Thạch

Sunday, August 12, 2018

ĐỌC “ƯỚC CHI” THƠ LÊ GIAO VĂN - Châu Thạch

    
            Nhà bình thơ Châu Thạch




ĐỌC “ƯỚC CHI” THƠ LÊ GIAO VĂN
                                                 Châu Thạch
Bài thơ tác giả tặng cho Phi - làng Đại Bường, Quảng Nam nên trước hết người viết xin giới thiệu qua về làng Đại Bường;
“Ngược dòng sông Thu Bồn, qua khỏi khu vực tháp Mỹ Sơn, huyện Duy Xuyên sông dần hẹp lại.Hai bên bờ có nhiều ghềnh thác, vực sâu... núi cao vời vợi soi bóng xuống dòng sông xanh ngắt. Chen giữa những thung lũng có nhiều ngôi làng nhỏ hiền hoà...Làng Đại Bường nằm về phía hữu ngạn sông Thu Bồn, thuộc xã Quế Trung, huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam một vùng quê yên ả, thanh bình. Nơi đây hội đủ các yếu tố về địa lợi, nhân hoà. Làng hoa trái Đại Bường là một làng nghề truyền thống nổi tiếng cung cấp trái cây chủ yếu cho Hội An Quảng Nam và Đà Nẵng. Nơi đây, có nhiều loại trái cây khá phong phú và đa dạng. Đến với Đại Bường du khách không chỉ được thưởng thức nhiều loại hoa quả lạ mà làng còn hiện lên nét văn hóa của làng quê Việt Nam xưa. Làng hoa trái Đại Bường ai đến đây cũng phải sững sờ trước những loại cây ăn quả từ nơi khác đều có ở Đại Bường. Mặc tình ai muốn gọi gì cũng được, có điều chắc chắn chính sự đa dạng, phong phú, đầy đủ của cây trái đã làm cho làng Đại Bường như một cõi lạ giữa miền Trung. Ngoài ra làng Đại Bường còn có một đặc điểm là, dầu làng ở miền trung du nhưng qua hai cuộc chiến tranh, không hiểu có thế lực thần quyền che chở hay không, mà không có một quả bom, hòn đạn nào lọt vào làng. Cuộc sống người dân vẫn an bình trong thời khói lửa.”
Làng Đại Bường như thế, cho nên khi thấy bài thơ đề tặng cho một người con gái làng Đại Bường thì trong ta đã dậy lên một cảm tình riêng với cô gái trong thơ rồi. Không nói ra nhưng ai cũng cảm nhận tự nhiên cái hương thơm của hoa trái ở đây ướp vào trong thịt da cô và cái bình yên của một ngôi làng lý tưởng làm cho tâm hồn cô cũng thùy mị trắng trong. Từ sự yêu mến ngồi làng và người con gái ấy, ta yêu mến bài thơ, bởi vì bài thơ cũng như một cánh hoa bay, nhưng bay chao đảo trong không gian quá khứ của ngôi làng và trong nỗi ước mơ của một thi nhân tóc bạc bởi phong sương. Ta thấy gì ở khổ thơ đầu tiên|

Hồi em gái quê mười bảy
Nồng nàn hương bưởi, hương cau
Quả đất đêm huyền lệch trụ
Bốn lăm năm mộng... còn say !

Dễ hiểu quá và không có gì đặc biệt. Thế nhưng chỉ một chữ “lệch trụ” hay nói rõ hơn, câu thơ “Quả đất đêm huyền lêch trụ” nó làm cất cánh khổ thơ bay cao hơn những ý thơ cũng như thế của nhiều thi sĩ khác. Câu thơ không nói đến chiến tranh nhưng nó cho ta liên tưởng một biến động làm sai lệch ghê gớm của con người, của xã hội và của Thương Đế nữa. Sau sự sai lệch đó, thì nhân phải hứng chịu 45 năm nằm mộng và say. Cơn say triền miên dài dằng đặc của lê Giao Văn đã đánh động vào tâm hồn mỗi người đọc thơ cảm nhận giấc mộng của chính mình với người xưa nào đó và đồng cảm với thi nhân.
Rồi qua khổ thơ thứ hai:

Thời gian đi qua nhanh quá
Tóc xanh vội đã úa vàng
Lạc nhau giữa mùa tao loạn
Hương tình da thịt chưa tan!

Khổ thơ này cũng như mọi khổ thơ của biết bao thi sĩ khi nói về ký ức tình yêu, thấy thời gian qua mau, thấy tóc mình đã bạc, xót xa đã lạc nhau trong mùa tao loạn. Tuy vậy, đặc biệt nó có một câu thơ nâng cánh cho toàn khổ thơ như con chim đẹp bay lên cao: Câu thơ “Hương tình da thịt chưa tan!”. Đọc câu thơ ta không chỉ cảm nhận cái hương nầy là hương của một cô gái thanh tân như bao cô gái khác, mà ta còn cảm nhận thêm đây là thứ hương thơm của làng Đại Bường trong da thịt cô. Thứ hương diệu kỳ đó đã đi theo thi sĩ suốt nửa đời người không tan biến. Thứ hương đó đượm toàn mùi hoa quả ngọt ngào, bay qua thời gian bay qua không gian và không đọng lại trên khứu giác mà đọng lại trong tâm, trong trí, trong hồn tác giả bài thơ. Và thì, mỗi chúng ta, những người không có người yêu ở làng Đại Bường, khi đọc thơ, sẽ tưởng tượng được, sẽ thưởng thức được thứ hương hoa trong thịt da người con gái Đại Bường, khám phá dược thứ hương lạ của một vùng đất thắng cảnh xa xôi.
Thế rồi, thứ hương hoa vi diệu ấy đã làm Lê Giao Văn nhớ quá. Trong ước mơ đoàn tụ nhà thơ băng rừng vượt biển tìm nàng:

Nhớ quá ! Theo trăng tìm kiếm
Từ rừng đến biển ước mơ
Giọt môi đa tình ngày nọ
Nuôi anh sống mãi tận giờ

Một nhà thơ nào khác, khi đi tìm em thường diễn tả cuộc đi bằng một tâm trạng bi ai. Ngược lại Lê Giao Văn “theo trăng tìm kiếm” là mang cả một tâm hồn lãng tử. Nhà thơ đi theo đường trăng là nhà thơ đi trong lãng du, vừa tìm em vừa hưởng sự thi vị của tình yêu thôi thúc mình phiêu bạc. Đây là một tứ thơ lồng được niềm đau vào khung kính, biến cuộc đi thành lãng mạn, làm cho năm tháng du hành dưới trăng trở nên mộng mơ. Tứ thơ đó làm cho sự ly biệt, sự tìm kiếm mang đầy màu sắc cúa thơ. Màu sắc của thơ ấy còn hiển hiện trong một “giọt môi đa tình” đã “nuôi”. Cuộc tình sống mãi. Hai câu thơ “Giọt môi đa tình ngày nọ/ Nuôi anh sống mãi tận giờ” như một lời tạ ơn người tình ly biệt. Ý thơ đó giải thích được lý do cuộc đi theo trăng miệt mài năm tháng và khẳng định tình yêu bất diệt trong lòng tác giả.     

Qua vế thơ thứ tư tác giả dùng một ước vọng không tưởng để làm thăng hoa một mối tình ly tan. Sự ước vọng không tưởng của thi sĩ có tác dụng không làm cho mối tình khổ đau mà ngược lại, nẩy sinh một tình yêu trường tồn vĩnh viễn, đẹp như hoa như bướm, đẹp như sự hẹn hò giao tình trong “mùa xuân chín”.

Ước chi - đất trời chết yểu
Chúng mình làm cuộc tái sinh
Hoa ngàn, bướm rừng âu yếm
Hẹn nhau mùa chín... giao tình !

Bài thơ cho ta nhiều cảm hứng bất ngờ, nhà thơ đi tìm em từ tóc xanh cho đến tóc úa vàng, đi cùng với trăng và mang theo suốt cuộc hàng trình mùi hương hoa trái. Tất nhiên em đẹp. Tâm hồn thi sĩ của Lê Giao Văn tha thiết với vẽ đẹp nhân dáng phải có, nhưng tha thiết hơn bởi trong em mang vẽ đẹp của linh hồn quê hương. một miền trung du trù phú. Đọc thơ, nếu có một chút nhạy bén của tâm hồn nghệ sĩ, ta sẽ cảm nhận được bài thơ như một quả chín cây thơm và ngon tuyệt vời. Tôi viết về nó và có cảm tưởng hình như hương thơm hoa lá phản phất đâu đây. Trong hương thơm đó có một người đi dưới trăng và đi suốt cả cuộc đời để chỉ tìm em  ! 

                                                                      Châu Thạch

 
               Nhà thơ Lê Giao Văn

ƯỚC CHI
(Gởi PHI - làng Đại Bường- Quảng Nam)

Hồi em gái quê mười bảy
Nồng nàn hương bưởi , hương cau
Quả đất đêm huyền lệch trụ
Bốn lăm năm mộng...còn say !

Thời gian đi qua nhanh quá
Tóc xanh vội đã úa vàng
Lạc nhau giữa mùa tao loạn
Hương tình da thịt chưa tan!

Nhớ quá ! Theo trăng tìm kiếm
Từ rừng đến biển ước mơ
Giọt môi đa tình ngày nọ
Nuôi anh sống mãi tận giờ

Ươc chi - đất trời chết yểu
Chúng mình làm cuộc tái sinh
Hoa ngàn, bướm rừng âu yếm
Hẹn nhau mùa chín... giao tình !

                 Lê Giao Văn
                  8.1.2018

READ MORE - ĐỌC “ƯỚC CHI” THƠ LÊ GIAO VĂN - Châu Thạch